Bài viết sử dụng kết hợp các dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp có được từ cuộc khảo sát tại 62 doanh nghiệp trên khắp cả nước với 305 phiếu khảo sát được sử dụng để phân tích dữ liệu nhằm đưa ra được bức tranh tổng quát về nội dung quyền tự do hiệp hội theo cam kết của hiệp định CPTPP cũng như việc thực hiện quyền tự do hiệp hội trong quan hệ lao động doanh nghiệp Việt Nam.
Trang 1TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG DOANH NGHIỆP VIỆT NAM THEO CAM KẾT CỦA HIỆP ĐỊNH CPTPP: THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG GIẢI PHÁP
PGS.TS Nguyễn Thị Bích Loan 1
Tóm tắt: Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) là một hiệp định thương mại
tự do (FTA – Free Trade Agreement) có cam kết ở mức độ cao nhất hiện nay về quan hệ lao động Hiệp định CPTPP về cơ bản cũng giống như các FTA khác là không đưa ra các tiêu chuẩn mới về lao động mà chỉ nhấn mạnh nhiều đến quyền lao động thông qua nội dung chương 19 của hiệp định Trong đó, hiệp định CPTPP khẳng định lại quyền tự do lập hội theo quy định tại Công ước số 87 (năm 1948) của ILO và yêu cầu các thành viên của CPTPP phải cam kết thực hiện Bài viết sử dụng kết hợp các dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp có được từ cuộc khảo sát tại 62 doanh nghiệp trên khắp cả nước với 305 phiếu khảo sát được sử dụng để phân tích dữ liệu nhằm đưa ra được bức tranh tổng quát về nội dung quyền tự do hiệp hội theo cam kết của hiệp định CPTPP cũng như việc thực hiện quyền tự do hiệp hội trong quan hệ lao động doanh nghiệp Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả cũng đưa ra giải pháp đề xuất thực hiện quyền tự do hiệp hội trong quan hệ lao động
doanh nghiệp nước ta theo cam kết của hiệp định CPTPP
Từ khóa: Quyền tự do hiệp hội, quan hệ lao động doanh nghiệp, hiệp định CPTPP
Abstract: The comprehensive and progressive Trans-Pacific agreement (CPTPP) is a Free Trade Agreement
(FTA) committed to the highest commitment level of industrial relations The CPTPP is essentially the same
as the other FTAs that do not introduce new labor standards, but much emphasis on labor rights through the content of chapter 19 of the agreement In particular, the CPTPP reaffirmed the right to freedom of association according to the ILO Convention No 87 (1948) and requires all members of CPTPP to commit to implement The paper uses a combination of secondary data and primary data obtained from a survey of
62 enterprises across the country with 305 surveys used to analyze data in order to have the whole picture about the content of freedom of association according to the commitments of the CPTPP as well as the implementation of the right to freedom of association in Vietnamese enterprise’s labor relations On that basis, the author also proposed solutions to implement the right to freedom of association in our enterprise labor relations according to the commitments of CPTPP
Keywords: The right to freedom of association; industrial relations; CPTPP
1 GIỚI THIỆU
Quan hệ lao động (QHLĐ) trong doanh nghiệp (DN) là hệ thống tương tác giữa người sử dụng lao động (NSDLĐ) và người lao động (NLĐ) (hoặc tổ chức đại diện cho họ) xảy ra trong quá
1 Email: bichloandhtm@gmail.com, Trường Đại học Thương mại.
Trang 2trình hai bên hợp tác làm việc theo hợp đồng lao động để đạt được lợi ích cá nhân NSDLĐ, NLĐ
và mục tiêu chung của doanh nghiệp(DN) dựa trên cơ sở pháp luật
Quan hệ lao động là yếu tố giữ vai trò quyết định đến hiệu quả hoạt động của DN, là yếu tố ảnh hưởng đến uy tín và năng lực cạnh tranh của DN Sở dĩ như vậy bởi vì bản chất của QHLĐ phản ánh quan hệ tương tác cốt lõi nhất DN đó là quan hệ giữa sức lao động và tiền vốn được đại diện bởi NLĐ và NSDLĐ Hiện nay, cơ sở lý luận và tri thức về QHLĐ trong DN cần được bổ sung đáp ứng yêu cầu của thực tiễn trong xu thế hội nhập quốc tế Trong bối cảnh ra đời của nhiều định chế kinh tế mới có tính khu vực và toàn cầu thì điều kiện ra đời, vận hành, phát triển quan hệ lao động trong doanh nghiệp của một quốc gia tham gia ngày càng chặt chẽ và tiến gần hơn đến chuẩn mực quốc tế Do đó nguyên lý về các thành tố của quan hệ lao động trong doanh nghiệp bao gồm: chủ thể quan hệ lao động, các hình thức tương tác của quan hệ lao động, cơ chế và thiết chế quan
hệ lao động cũng cần có những bước chuyển thích hợp
Hiệp định đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) nay là hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) là một hiệp định thương mại (FTA – Free Trade Agreement)
có cam kết ở mức độ cao nhất hiện nay về QHLĐ (về những quyền cơ bản ở nơi làm việc: tự do hiệp hội, về đối thoại xã hội, về không phân biệt đối xử ) đặt ra nhiều thách thức đối với các yếu tố cấu thành QHLĐ và điều kiện vận hành QHLĐ ở các tất cả các quốc gia thành viên Đối với Việt Nam, đây là lần đầu tiên vấn đề lao động và giải quyết tranh chấp lao động được đưa vào khuôn khổ một FTA với những tiêu chuẩn thực thi cao (các đối tác thương mại trước đây chưa đưa ra/không đưa ra cam kết lao động) Do xuất phát điểm với trình độ sản xuất, lực lượng sản xuất, năng lực các chủ thể QHLĐ ở nước ta ở mức thấp hơn Đặc biệt còn bởi vì nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam có tính đặc trưng riêng cho nên những vấn đề còn tồn tại ở nước ta rất lớn
Bài viết tập trung vào nghiên cứu các nội dung về quyền tự do hiệp hội trong QHLĐDN theo cam kết của CPTPP và thực trạng nội dung này tại QHLĐDN Việt Nam để làm cơ sở đưa ra một
số định hướng giải pháp nhằm phát triển QHLĐDN Việt Nam lành mạnh và tuân thủ đúng điều kiện trong các FTA mà Việt Nam theo đuổi nói chung và CPTPP nói riêng
2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Quan hệ lao động bắt đầu được thừa nhận và trở thành hiện tượng phổ biến khi sức lao động thực sự trở thành hàng hóa, được đem ra trao đổi và chịu sự chi phối bởi các quy luật đặc thù của nền kinh tế thị trường Thực tiễn QHLĐ đã phát triển cùng với sự ra đời và trưởng thành của giới thợ và tổ chức đại diện cho họ trong xã hội tư bản Sự ra đời của Tổ chức Lao động Quốc tế - ILO vào năm 1919 với tư cách là tổ chức quốc tế liên chính phủ thành lập theo quyết định của Hội nghị hòa bình Pari, là cơ quan chuyên môn đầu tiên và duy nhất của Liên hợp quốc hoạt động trên nền tảng cơ chế ba bên (tổ chức đại diện cho NLĐ, NSDLĐ và các cơ quan chính phủ) đã không ngừng nỗ lực thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, hòa bình và ổn định lâu dài trên toàn thế giới thông qua việc thực hiện các quyền, nguyên tắc cơ bản trong lao động đã khẳng định giá trị thực tiễn mang tính toàn cầu của QHLĐ
Nghiên cứu về QHLĐ là một chủ đề được ưa thích và được lựa chọn bởi rất nhiều các nhà khoa học, nhà nghiên cứu trên thế giới (Godard & Delaney, 2000; Trif, 2004; Warner, 1996) Trong
đó, những chủ đề quan tâm của các học giả liên quan tới sự hình thành, ra đời, phát triển, chuyển đổi và những thách thức đối với QHLĐ Các nghiên cứu tập trung và 3 nhóm chủ đề: (i) Nguyên
Trang 3lý quan hệ lao động; (ii) Các yếu tố ảnh hưởng đến QHLĐ; (iii) Nghiên cứu thực tiễn QHLĐ ở các quốc gia, khu vực kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa
Quá trình hội nhập và toàn cầu hóa thương mại trên thế giới diễn ra ngày càng mạnh mẽ và
đã chứng kiến các thế hệ FTA lần lượt ra đời Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, mỗi hiệp định ngay khi hình thành ý tưởng và ở những bước ban đầu của quá trình đàm phán cũng đã trở thành chủ đề thảo luận của rất nhiều nhà nghiên cứu, với việc tập trung chỉ ra những cơ hội, thách thức của các quốc gia thành viên và nội dung lao động trong các FTA (nếu có) theo đó cũng được giới thiệu Một số công trình tiêu biểu có thể kể đến như:
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2012), Khuyến nghị phương án đàm phán Chương Lao động và Giải quyết Tranh chấp lao động (TCLĐ) - Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương Tài liệu này được xây dụng vào thời điểm cam go nhất của quá trình đàm phán
TPP và thực hiện theo nguyên tắc tham khảo nội dung lao động trong các hiệp định của các nước thành viên TPP đã ký kết để nêu ra các khuyến nghị đối với Việt Nam
Nguyễn Tiến Dũng, Đỗ Phú Trần Tình (2015), ”Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương và
những vấn đề đặt ra cho lao động Việt Nam”, Tạp chí cộng sản, số 107, năm 2015 Bài viết đã phân
tích cơ hội về việc làm và thu nhập của NLĐ khi Việt Nam tham gia hiệp định TPP do TPP đã đưa những quyền lao động cơ bản trở thành cốt lõi của hiệp định về lao động và buộc thực thi quyền đó thông qua giải quyết tranh chấp như những nghĩa vụ khác, trong đó có lựa chọn về xử phạt thương mại Bên cạnh những tác động tích cực, theo tác giả thì vấn đề tự do hóa thương mại của TPP sẽ làm cho một bộ phận lao động mất việc do một số DN trong nước không có khả năng cạnh tranh dẫn đến phải thu hẹp sản xuất, thậm chí phải giải thể hay phá sản Giải pháp được tác giả đề xuất đứng dưới góc độ của Nhà nước nhằm biến thách thức thành cơ hội khi tham gia TPP đó là: Nâng cao chất lượng lao động, cải thiện các điều kiện lao động trong nước để đáp ứng các yêu cầu cam kết; Xác lập cơ chế và các thay đổi về pháp luật một cách phù hợp nhằm đảm bảo từng bước đáp ứng các cam kết trong TPP; Tăng cường công tác giám sát pháp luật và có chế tài nghiêm khắc với những DN vi phạm an toàn vệ sinh lao động, DN sử dụng lao động trẻ em
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bài viết sử dụng các phương pháp tiếp cận hệ thống, logics, biện chứng để hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về nội dung cam kết tự do hiệp hội trong Hiệp định CPTPP Các phương pháp
cụ thể sử dụng để phân tích thực trạng nội dung tự do hiệp hội trong QHLĐDN Việt Nam bao gồm:
Phương pháp khảo sát điều tra
Phiếu điều tra được thiết kế bao gồm 01 mẫu Mẫu khảo sát điều tra bao gồm cả DN có quy
mô lớn DN quy mô nhỏ, đóng trên địa bàn ở tất các tỉnh, thành phố thuộc ba miền Bắc, Trung, Nam Dưới sự hỗ trợ của MOLISA, VCCI và VGCL phiếu điều tra được gửi tới 69 DN Việt Nam
và nhận được phản hồi của 62 DN đang hoạt động Ở mỗi DN đối tượng khảo sát được lựa chọn ngẫu nhiên theo cách thức sau:
Điều tra người sử dụng lao động: Số lượng phiếu phát ra: 120 phiếu (mỗi công ty gửi 1 - 3 phiếu
điều tra người đảm nhận một số chức danh như: Tổng giám đốc, giám đốc, phó giám đốc, trưởng
phòng nhân sự, phó phòng nhân sự…) Số phiếu thu về: 84 phiếu (số phiếu sử dụng được trong
nghiên cứu: 73; số phiếu không sử dụng được: 11 phiếu)
Trang 4Điều tra người lao động: Số phiếu phát ra: 240 phiếu (mỗi công ty lựa chọn ngẫu nhiên 2 - 4 NLĐ bao gồm: công nhân trực tiếp sản xuất (chủ yếu), CBNV các phòng ban) Số phiếu thu về: 206 phiếu
(số phiếu sử dụng được trong nghiên cứu: 178 phiếu, số phiếu không sử dụng được: 28 phiếu)
Điều tra CBCĐ: Số phiếu phát ra: 90 (mỗi công ty lựa chọn 1 - 2 CBCĐ) Số phiếu thu về:
67 phiếu (số phiếu sử dụng được trong nghiên cứu: 54 phiếu, số phiếu không sử dụng được: 13 phiếu)
Phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu
Sau khi tiến hành khảo sát, tác giả đã tiến hành phân loại và xác định có tổng cộng 305 phiếu hợp lệ Số phiếu này được tổng hợp và xử lý dữ liệu thông qua công cụ phân tích SPSS 20 Với ba đối tượng khảo sát khác nhau đã cung cấp đánh giá về các khía cạnh liên quan đến thực trạng nội dung tự do hiệp hội trong QHLĐDN so với các tiêu chuẩn trong cam kết của Hiệp định CPTPP So sánh, phân tích các ý kiến đó cùng với những dữ liệu thứ cấp đã giúp tác giả có được những đánh giá toàn diện, đa chiều về thực trạng tự do hiệp hội trong QHLĐDN Việt Nam trong mối tương quan với nội dung cam kết của Hiệp định CPTPP
4 NỘI DUNG CAM KẾT VỀ QUYỀN TỰ DO HIỆP HỘI TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG DOANH NGHIỆP CỦA HIỆP ĐỊNH CPTPP
4.1 Khái quát quá trình hình thành Hiệp định CPTPP
Hiệp định thương mại tự do là các cam kết mở cửa sâu hơn cam kết mở cửa thương mại bình thường Quá trình hội nhập và toàn cầu hóa thương mại trên thế giới diễn ra ngày càng mạnh mẽ
và đã chứng kiến thế hệ FTA ra đời
Nguồn: Nguyễn Thị Minh Nhàn (2014, 16)
Hình 1 Tiến trình hình thành các hiệp định thương mại tự do
Nguồn gốc ra đời
Hiệp định Đối tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) có nguồn gốc từ hiệp định hợp tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement – còn gọi là P4) - một hiệp định thương mại tự do được ký kết ngày 03 tháng 6 năm
2005, có hiệu lực từ ngày 28 tháng 5 năm 2006 giữa 4 nước Singapore, Chile, New Zealand, Brunei P4 là một hiệp định thương mại thuộc thế hệ thứ ba với mức độ cam kết tương đối mạnh trong các
FTA Thế hệ thứ nhất
Tập trung ở việc tự do
hóa lĩnh vực thương mại
hàng hóa (cắt giảm thuế
quan loại bỏ hàng rào phi
thuế quan)
FTA Thế hệ thứ hai
Mở rộng phạm vi tự do sang các lĩnh vực dịch
vụ nhất định (xóa bỏ các điều kiện tiếp cận thị trường trong các DV liên quan)
FTA Thế hệ thứ ba
Tiếp tục mở rộng phạm vi
về tự do dịch vụ đầu tư
P4 - Mở rộng phạm vi tự
do sang các vấn đề phi thương mại như lao động, môi trường
Thế hệ TPP
Đàm phán tự do mạnh mẽ: thuế quan, mở cửa dịch vụ, đầu tư, quyền sở hữu trí tuệ, vệ sinh dịch tễ,
TBT, cạnh tranh mua sắm công, lao động, môi trường.
Trang 5lĩnh vực, song vào thời điểm đó không gây ảnh hưởng lớn Cho tới khi cơ quan đại diện thương mại Hoa Kỳ (USTR) thông báo quyết định của Hoa Kỳ tham gia đàm phán P4 mở rộng và chính thức tham gia một số cuộc thảo luận về mở cửa thị trường dịch vụ tài chính với các nước P4 vào tháng 9 năm 2008, kể từ đó TPP trở thành tâm điểm của tiến trình tự do hóa thương mại quốc tế
Giai đoạn đàm phán với 12 thành viên
Tháng 11 năm 2008, các nước Australia, Peru và Việt Nam cũng bày tỏ sự quan tâm và tham gia đàm phán TPP, nâng tổng số thành viên tham gia lên 8 nước (Việt Nam đến ngày 13 tháng 11 năm 2010 mới tuyên bố tham gia đàm phán với tư cách thành viên đầy đủ, các nước khác quyết định tham gia chính thức ngay từ đầu) Cũng từ thời điểm này, đàm phán mở rộng P4 được đặt tên lại là đàm phán hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương - TPP Tuy nhiên, đàm phán TPP mới đã bị trì hoãn đến tận cuối 2009 do phải chờ đợi Hoa Kỳ hoàn thành kỳ bầu cử tổng thống
và chính quyền mới của Tổng thống Obama tham vấn, xem xét lại việc tham gia đàm phán TPP Tháng 12/2009 USTR mới thông báo quyết định của Tổng thống Obama về việc Hoa Kỳ tiếp tục tham gia TPP, chỉ lúc này đàm phán TPP mới được chính thức khởi động
Các vòng đàm phán từ tháng 3/2010 bao gồm 12 nước thành viên là Hoa Kỳ, Canada, Mexico, Peru, Chile, New Zealand, Australia, Nhật Bản, Singapore, Brunei, Malaysia và Việt Nam TPP được chính thức ký ngày 04/02/2016 và được dự kiến sẽ có hiệu lực từ 2018
Giai đoạn CPTPP với 11 thành viên (không có Hoa Kỳ)
Tháng 01/2017, Hoa Kỳ tuyên bố rút khỏi TPP, khiến TPP không thể đáp ứng điều kiện có hiệu lực như dự kiến ban đầu Mặc dù không có Hoa Kỳ, song bằng những nỗ lực vượt bậc tháng 11/2017, 11 nước thành viên TPP ra tuyên bố chung thống nhất đổi tên TPP thành hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) So với TPP thì CPTPP đã bổ sung 2 từ
“Toàn diện” (Comprehensive) và “Tiến bộ” (Progressive) Sự bổ sung này khẳng định tầm vóc, chất lượng và ý nghĩa của CPTPP – một hiệp định có tính tiêu chuẩn cao, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực Hiệp định CPTPP được chính thức ký kết vào ngày 08 tháng 3 năm 2018 tại Santiago, Chile (theo giờ Chile), tức sáng ngày 09 tháng 3 năm 2018 theo giờ Việt Nam bởi 11 nước thành viên còn lại của TPP (không bao gồm Hoa Kỳ) Về cơ bản, CPTPP vẫn giữ nguyên nội dung so với phiên bản gốc (TPP) với 8.000 trang và chỉ tạm hoãn thực thi 22 điều khoản chủ yếu liên quan tới
sở hữu trí tuệ nhằm bảo đảm sự cân bằng giữa 11 nước thành viên Cũng như TPP, CPTPP được coi là một FTA tiêu chuẩn cao, không chỉ đề cập tới các lĩnh vực truyền thống như cắt giảm thuế quan đối với hàng hóa, mở cửa thị trường dịch vụ, sở hữu trí tuệ, hàng rào kỹ thuật liên quan đến thương mại mà còn xử lý những vấn đề mới, phi truyền thống như lao động, môi trường, mua sắm của Chính phủ, doanh nghiệp nhà nước Ngoài ra, hiệp định CPTPP còn bổ sung các quy định về quy trình rút lui, gia nhập, rà soát lại hiệp định CPTPP trong tương lai, tạo tính linh hoạt của hiệp định và có thể sẵn sàng cho những đợt kết nạp thành viên mới
Việc hiệp định CPTPP chính thức được ký kết sẽ tạo thuận lợi cho việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo thêm nhiều việc làm, giảm đói nghèo và nâng cao chất lượng sống của người dân các quốc gia thành viên Hiệp định CPTPP, với cam kết mở cửa thị trường, là thông điệp mạnh mẽ chống lại xu hướng bảo hộ hiện nay trên thế giới cũng như hứa hẹn sẽ đem lại nhiều lợi ích kinh
tế cho 11 quốc gia thành viên
Trang 64.2 Nội dung cam kết về quyền tự do hiệp hội trong quan hệ lao động doanh nghiệp theo quy định của Hiệp định CPTPP
Trong toàn văn nội dung hiệp định CPTPP, chương 19 quy định về lao động, gồm 15 điều Theo CIRD (2016), các nội dung cơ bản về lao động trọng hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương CPTPP là: cam kết chung về quyền lao động, đầu mối liên lạc, hội đồng lao động, hợp tác giữa các bên, đối thoại, sự tham gia của công chúng, tham vấn lao động
Hiệp định CPTPP về cơ bản cũng giống như các FTA khác là không đưa ra các tiêu chuẩn mới về lao động mà chỉ nhấn mạnh nhiều đến quyền lao động, cũng như bảo vệ tính bền vững của môi trường, đảm bảo rằng tự do thương mại sẽ đóng góp vào phát triển bền vững Đồng thời, giúp người lao động và doanh nghiệp cùng được hưởng lợi ích kinh tế một cách công bằng Các nguyên tắc cụ thể là: quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người sử dụng lao động và người lao động; xóa bỏ lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc; cấm sử dụng lao động trẻ em và xóa
bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp Mỗi bên sẽ thông qua và duy trì các đạo luật và quy định, điều chỉnh những điều kiện làm việc có thể chấp nhận được về lương tối thiểu, giờ làm việc và an toàn sức khỏe nghề nghiệp Riêng chương lao động của hiệp định CPTPP được dựa trên Tuyên bố 1998 của ILO Chương này đưa ra mối liên hệ giữa việc thực hiện tuyên
bố trên với các điều kiện thương mại trong một khuôn khổ thời gian nhất định, bao gồm cả các biện pháp trừng phạt có thể áp dụng với các quốc gia thành viên
Hiệp định CPTPP khẳng định lại quyền tự do lập hội theo quy định tại Công ước số 87 (năm 1948) của ILO và yêu cầu các thành viên của CPTPP phải cam kết thực hiện Theo đó:
- Người lao động và NSDLĐ, không bị phân biệt vì bất cứ yếu tố gì, đều có quyền thành lập, chỉ phải tuân theo các quy định tổ chức liên quan và gia nhập các tổ chức mà họ tự lựa chọn mà không cần phải xin phép trước
- Các tổ chức của NLĐ và NSDLĐ có quyền lập ra điều lệ, những quy tắc quản lý, tự do bầu các đại diện, tổ chức việc điều hành hoạt động và soạn thảo các chương trình hoạt động của mình
- Các cơ quan có thẩm quyền phải tránh mọi sự can thiệp có tính chất hạn chế quyền đó hoặc cản trở việc thi hành hợp pháp quyền đó
- Các tổ chức của NLĐ và NSDLĐ không thể bị bất cứ một cơ quan hành chính nào buộc phải giải tán hoặc đình chỉ
- Các tổ chức của NLĐ và NSDLĐ có quyền hợp thành các liên đoàn, tổng liên đoàn, và mọi
tổ chức, liên đoàn hoặc tổng liên đoàn đó đều có quyền gia nhập đều có quyền liên kết với các tổ chức quốc tế của NLĐ và NSDLĐ
Như vậy, theo nội dung cam kết này, các chủ thể của QHLĐ bao gồm: Nhà nước, NLĐ và các tổ chức đại diện của NLĐ, NSDLĐ và các tổ chức đại diện của NSDLĐ Trong đó nhấn mạnh
sự tồn tại tất yếu của đồng thời nhiều tổ chức đại diện cho NLĐ, NSDLĐ trong hệ thống QHLĐ Cam kết về quyền tự do hiệp hội trong CPTPP sẽ tác động một các một cách sâu sắc nhất đến những quốc gia hiện đang có một hệ thống Công đoàn (CĐ) duy nhất bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ Với cam kết này, ở cấp độ DN, chủ thể của QHLĐ bao gồm: NLĐ và các
tổ chức đại diện của NLĐ (do NLĐ thành lập theo mong muốn, nguyện vọng của họ); NSDLĐ Trong quá trình đại diện bảo vệ, đấu tranh cho quyền và lợi ích của NLĐ ở DN, các tổ chức đại diện của NLĐ sẽ tiến hành các hoạt động đối thoại, thương lượng với NSDLĐ, cũng như tổ chức, lãnh đạo các cuộc đình công ở DN đó
Trang 75 THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN TỰ DO HIỆP HỘI TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG Ở DOANH NGHIỆP VIỆT NAM THEO HIỆP ĐỊNH CPTPP
Tự do liên kết/tự do hiệp hội là một nguyên tắc định hướng mang tính phổ quát của QHLĐ hiện đại, không phân biệt giai đoạn phát triển kinh tế - đó là nền tảng cho QHLĐ không chỉ ở các quốc gia đã phát triển, mà còn ở cả các nước đang phát triển Đây là quyền con người cơ bản và là quyền lao động, được tất cả các nước thành viên ILO và Liên Hợp Quốc công nhận Theo cam kết trong hiệp định CPTPP, các nước thành viên phải bảo đảm quyền của NLĐ được tự do thành lập và gia nhập tổ chức của NLĐ ở cấp cơ sở và cấp trên cơ sở, cụ thể 5 năm kể từ khi hiệp định có hiệu lực thì các quốc gia phải thực hiện các điều khoản về lao động CĐ Theo đó, tại Việt Nam, NLĐ tại doanh nghiệp có thể lựa chọn gia nhập Tổng LĐLĐ hoặc đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để tổ chức của mình được chính thức hoạt động, theo một quy trình minh bạch và được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật Tổ chức của NLĐ sẽ có quyền tự chủ phù hợp với quy định của ILO và pháp luật Việt Nam, các tổ chức của NLĐ ở cơ sở có thể gia nhập hoặc cùng nhau thành lập tổ chức của NLĐ ở cấp cao hơn, như cấp ngành, cấp vùng
Tác giả tiến hành đánh giá thực trạng thực hiện quyền tự do hiệp hội trong QHLĐ ở DN Việt Nam theo cam kết của CPTPP gắn với Tổ chức cộng đoàn cơ sở (TCCĐCS) trên các khía cạnh chủ yếu:
(i) Về thực hiện quyền thành lập, gia nhập TCCĐCS và hoạt động CĐ của người lao động tại DN
Để bảo đảm quyền CĐ của NLĐ, nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật như Hiến pháp 1957, 1980,1992, 2013; Bộ luật Lao động 1994 (được sửa đổi bổ sung năm 2002,
2006, 2013); Luật Công đoàn 1957, 1990, 2012 và nhiều văn bản pháp luật khác Có thể nói hệ thống văn bản pháp luật về quyền của NLĐ, quyền CĐ được hình thành sớm và thường xuyên được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, đã tạo hành lang pháp lý cho NLĐ thực hiện quyền CĐ của mình trên tất cả các mặt: quyền thành lập TCCĐ; quyền gia nhập TCCĐ và quyền hoạt động CĐ; qua đó đã phát huy tác dụng góp phần giải phóng con người, động viên NLĐ tích cực tham gia xây
dựng và phát triển đất nước Theo điều 6, khoản 2 Luật Công đoàn của Việt Nam quy định:“ Công đoàn được tổ chức và hoạt động theo Điều lệ Công đoàn Việt Nam, phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước” Điều 7: “Hệ thống TCCĐ gồm có Tổng LĐLĐ Việt Nam và Công đoàn các cấp theo quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam” Như vậy,
cho đến thời điểm này, Công đoàn Việt Nam là tổ chức đại diện chính thức của NLĐ trong các cơ chế QHLĐ (bao gồm cả cơ chế hai bên và cơ chế ba bên), là tổ chức duy nhất được đại diện cho tập thể lao động trong thương lượng tập thể và lãnh đạo CĐ là chưa phù hợp với cam kết về quyền
tự do hiệp hội trong hiệp định CPTPP
Theo Tổng LĐLĐ, thực hiện Nghị quyết Đại hội XI CĐ Việt Nam, các cấp CĐ đã tích cực triển khai công tác tuyên truyền, vận động phát triển đoàn viên CĐ Theo thống kê của 83 LĐLĐ tỉnh, thành phố và CĐ ngành trực thuộc Tổng Liên đoàn, các cấp CĐ, cả nước đã kết nạp mới hơn 364.000 đoàn viên, đến nay cả nước có hơn 9,7 triệu đoàn viên, đạt 84,9% chỉ tiêu Đại hội XI CĐ Việt Nam đề ra Gắn công tác phát triển đoàn thì việc thành lập CĐCS cũng được chú trọng triển khai, tính đến ngày 31/5/2017 các cấp CĐ thành lập mới 2.699 CĐCS Trừ số CĐCS được giải thể, sáp nhập, tăng thêm thực tế 956 CĐCS nâng tổng số đến nay cả nước có 126.516 CĐCS; trong đó, khu vực nhà nước có 80.641 CĐCS, khu vực ngoài nhà nước có 45.875 CĐCS Mặc dù số lượng
đoàn viên CĐ và CĐCS không ngừng gia tăng, quyền thành lập CĐ của NLĐ ở nhiều DN vẫn chưa
Trang 8đáp ứng được cam kết trong hiệp định CPTPP Nhiều chủ DN vẫn tìm cách né tránh, không tạo
điều kiện để NLĐ thực hiện quyền gia nhập, thành lập TCCĐ ở DN
Theo Nguyễn An Ninh (2016), hiện nay còn khoảng 80% DN ngoài nhà nước, 60% DN đầu
tư nước ngoài chưa có TCCĐ Không ít NSDLĐ cho rằng khi thành lập CĐCS thì CĐ sẽ thực hiện quyền kiểm tra giám sát, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của họ dẫn đến những DN đã đi vào hoạt động nhiều tháng, thậm chí nhiều năm nhưng vẫn trì hoãn, không tạo điều kiện cho TCCĐ
tiếp được thành lập (ví dụ xem Hộp 1) Theo ông Nguyễn Việt Dũng, Chủ tịch LĐLĐ thành phố Vũng Tàu: “Nhiều DN có đủ điều kiện thành lập TCCĐ nhưng không thực hiện Thậm chí một số chủ DN còn có những hành vi phân biệt đối xử đối với NLĐ tham gia CĐ hoặc can thiệp vào công việc của CĐ, nhất là trong việc lựa chọn CBCĐ và việc sử dụng tài chính của CĐ ”
Quan điểm của chuyên gia cũng tương đồng với kết quả khảo sát của tác giả (xem Hình 2),
theo đó các nhận định phản ánh quyền tự do thành lập, gia nhập và hoạt động CĐ của NLĐ đều nhận giá trị ở mức trung bình thấp (từ 2,47 đến 3,13 điểm) Một bộ phận NLĐ chưa được tạo điều kiện tham gia TCCĐ, tham gia hoạt động CĐ trong và sau giờ làm việc Thậm chí, tham gia TCCĐ có thể ảnh hưởng đến việc làm của NLĐ và một số bị đe dọa để buộc từ bỏ tham gia
tổ chức này
Nguyên nhân của tình trạng này không chỉ do sự chưa tương thích về quyền tự do hiệp hội trong quy định của pháp luật Việt Nam với cam kết trong Hiệp định mà còn do hiểu biết của cả NLĐ, NSDLĐ và CBCĐCS về quyền tự do hiệp hội đều ở mức kém với giá trị trung bình lần lượt
là 1,29; 1,63; 1,35/5,0 điểm (xem Hình 3) Trong đó, NLĐ được đánh giá có hiểu biết về quyền tự
do hiệp hội là kém nhất với giá trị trung bình chỉ là 1,29 điểm Nhận thức về quyền tự do hiệp hội yếu kém của cả ba chủ thể dẫn tới hành động cản trở thực hiện quyền tự do hiệp hội: NLĐ không
nỗ lực thành lập, tham gia tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; CĐCS hoạt động kém hiệu quả; NSDLĐ trì hoãn việc thành lập và hoạt động của TCCĐCS
Hộp 1: Thành lập CĐCS tại một số doanh nghiệp ở tỉnh Ninh Bình
Nhà máy xi măng Duyên Hà có khoảng 1.200 công nhân nhưng sau nhiều năm hoạt động đến nay vẫn chưa có TCCĐ Theo ông Nguyễn Văn Hòa - Chủ tịch LĐLĐ huyện Hoa Lư, Ninh Bình: Liên đoàn LĐ huyện đã tìm cách tiếp cận, tuyên truyền, vận động thành lập CĐCS ở đây trong nhiều năm nhưng kết quả thu về vẫn là con số 0 Nguyên nhân chủ yếu là việc khó tiếp cận với chủ DN Khi CBCĐ đến làm việc, nhà máy vẫn tổ chức tiếp đón nhưng cán bộ Liên đoàn LĐ huyện chỉ được gặp đội ngũ tham mưu, giúp việc chứ không được trao đổi trực tiếp với lãnh đạo - những người có tiếng nói quyết định trong vấn đề này tại DN Đặc biệt khi CBCĐ kiên trì đến làm việc thì hết lần này đến lần khác họ hứa nhưng không thực hiện…
Công ty cổ phần xi măng Hướng Dương (thành phố Tam Điệp) có tới hơn 400 công nhân đóng BHXH Liên đoàn LĐ thành phố đã thực hiện đầy đủ các quy trình để tiếp cận, tuyên truyền nhưng chưa thành lập được CĐCS tại đây (Chỉ tính riêng trong năm 2014, LĐLĐ thành phố đã có
10 văn bản đề nghị làm việc với lãnh đạo DN để vận động thành lập CĐ, DN gửi lại 4 công văn trả lời, từ chối)
Nguồn: Duy Hiền (2015)
Trang 9Như vậy, mặc dù Việt Nam đã đảm bảo quyền thành lập, gia nhập TCCĐ cho NLĐ thông qua
hệ thống văn bản pháp luật, nhưng quá trình thực tế triển khai thực hiện ở cơ sở lại tồn tại bất cập, quyền thành lập, gia nhập TCCĐ của một bộ phận NLĐ chưa được đảm bảo Nhiều DN chưa tạo điều kiện tốt nhất để NLĐ được thực hiện quyền tự do hiệp hội, tham gia hoạt động CĐ cả trong
và sau giờ làm việc Một trong những nguyên nhân được được phát hiện thông qua kết quả điều tra
đó là sự hạn chế trong hiểu biết của NLĐ, CBCĐCS, NSDLĐ về quyền tự do hiệp hội theo cam kết của Hiệp định CPTPP
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả
Hình 2: Đánh giá thực hiện quyền thành lập, gia nhập, tham gia
hoạt động CĐ của NLĐ tại DN
Hình 3: Ý kiến đánh giá hiểu biết của các chủ thể về cam kết
QHLĐ trong CPTPP
(ii) Về thực hiện quyền tự quyết đối với cách thức hoạt động của CĐCS tại DN
Theo cam kết của hiệp định CPTPP, tổ chức đại diện NLĐ phải được độc lập trong quá trình
tổ chức các hoạt động nhằm hướng tới bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ
Tại Việt Nam, CĐCS tại các DN thường tổ chức một số hoạt động trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của CĐCS trong DN ngoài nhà nước được quy định tại điều 20 Điều lệ CĐ Việt Nam
2013 rất dày dặn như: tuyên truyền, phổ biến, vận động NLĐ thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của TCCĐ và nội quy, quy chế của DN; Đại diện tập thể lao động thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thỏa ước lao động tập thể; phối hợp với NSDLĐ hoặc đại diện NSDLĐ thực hiện quy chế dân chủ, mở hội nghị NLĐ, xây dựng và ký kết quy chế phối hợp hoạt động; hướng dẫn NLĐ giao kết hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc Đại diện cho tập thể lao động tham gia giải quyết các tranh chấp lao động; Tập hợp yêu cầu, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và NLĐ; tổ chức đối thoại giữa NLĐ
và NSDLĐ; phối hợp với NSDLĐ tổ chức các phong trào thi đua, phát triển sản xuất kinh doanh chăm lo đời sống vật chất, tinh thần đối với NLĐ; vận động NLĐ tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao, hoạt động xã hội, hỗ trợ giúp đỡ nhau trong công việc và trong cuộc sống; Giám sát việc thực hiện pháp luật có liên quan đến quyền, nghĩa vụ NLĐ và CĐ; tham gia các hội đồng của DN theo quy định của pháp luật và điều lệ DN; tham gia xây dựng nội quy, quy chế có liên quan đến NLĐ; tổ chức, quản lý mạng lưới an toàn và giám sát công tác an toàn vệ sinh lao động, chăm sóc sức khỏe NLĐ trong DN
Trang 10Tuy nhiên ở nhiều DN, CĐCS tồn tại mang tính hình thức, chịu chi phối từ phía NSDLĐ Chủ
DN thường muốn kiểm soát CĐCS để đảm bảo rằng NLĐ sẽ chấp nhận các chế độ của DN mà không có những hành động phản kháng, gây tổn hại kinh tế và uy tín của DN CĐCS biến thành
bộ phận thực hiện chức năng phúc lợi cho DN với các hoạt động văn hoá, thể thao, vui chơi, tham quan du lịch, ít chú ý tới tuyên truyền pháp luật, kiến thức văn hoá, các hiểu biết về TCCĐ cho đoàn viên (Chang – Hee Lee, 2018)
Kết quả điều tra đã chứng minh cho những nhận định trên của tác giả, theo đó khả năng đại điện, bảo vệ, liên kết của CĐCS đều được đánh giá ở mức dưới trung bình Đặc biệt, giá trị trung
bình cho nhận định “CĐCS không bị chi phối bởi NSDLĐ trong việc ra quyết định về hoạt động CĐ” chỉ đạt mức trung bình kém là 2,31 (xem Hình 4).
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả
Hình 4: Ý kiến đánh giá năng lực tổ chức hoạt động của CĐCS tại các DNVN
(iii) Mức độ độc lập về nhân sự của TCCĐCS ở Việt Nam
CBCĐ là gốc, là đầu tàu kéo toàn bộ hoạt động của CĐCS Tuy nhiên CBCĐCS trong phần lớn DN Việt Nam thường chịu sự chi phối của chủ DN, họ thường kiêm nhiệm các chức danh quản lý, có mức lương và lợi ích cao hơn so với những NLĐ bình thường Lợi ích cá nhân là một trong những yếu tố chính ràng buộc thái độ và hành vi của CBCĐCS trong bảo vệ quyền và lợi ích
của NLĐ Kết quả điều tra của tác giả cho thấy nhận định “Tổ chức CĐCS không bị chi phối bởi NSDLĐ quyết định về nhân sự” và “Ban chấp hành CĐCS không có sự tham gia của cán bộ quản
lý DN” chỉ đạt các giá trị trung bình là 2,21 và 2,11/5,0 điểm - ở mức độ trung bình kém
Bên cạnh đó, CBCĐ kiêm nhiệm ở cơ sở phần lớn là những cán bộ chuyên môn có năng lực, giữ cương vị quản lý các bộ phận tại cơ sở nên rất bận công việc chuyên môn, ít có thời gian chăm
lo tới công việc CĐ Bộ luật Lao động, Điều 155 quy định thời gian thấp nhất để hoạt động CĐ trong tháng là 3 ngày Số ngày hoạt động tăng lên ở các cơ sở lớn, bao nhiêu là do sự thoả thuận của Ban chấp hành với NSDLĐ, nhưng DN ít quan tâm, làm tốt vấn đề này Theo CIRD (2016), tại nhiều DN ở Việt Nam, NSDLĐ chưa tạo điều kiện về thời gian cho CĐ, Ban chấp hành CĐ chưa làm rõ vấn đề này với NSDLĐ Một số CBCĐ chưa biết việc, chưa thạo việc CĐ nhưng lại không