Các chỉ số đánh giá chất lượng bệnh viện giúp có cái nhìn tổng thể về cấu trúc, quy trình cũng như kết quả hoạt động của bệnh viện, từ đó có thể sử dụng như một công cụ để định hướng việc cải tiến chất lượng trong việc chăm sóc sức khỏe cho người dân. Bộ Y tế Việt Nam đã ban hành Quyết định số 6858/QĐ-BYT về việc ban hành bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện Việt Nam.
Trang 1
VIN
C KH EC NG
NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG BỆNH VIỆN THEO BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH ĐIỆN BIÊN GIAI ĐOẠN 2016 – 2019
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Các chỉ số đánh giá chất lượng bệnh
viện giúp có cái nhìn tổng thể về cấu trúc, quy trình cũng
như kết quả hoạt động của bệnh viện, từ đó có thể sử dụng
như một công cụ để định hướng việc cải tiến chất lượng
trong việc chăm sóc sức khỏe cho người dân Bộ Y tế
Việt Nam đã ban hành Quyết định số 6858/QĐ-BYT về
việc ban hành bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu: Đây là một nghiên cứu cắt
ngang được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện
Biên Nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp là kết quả đánh
giá Chất lượng bệnh viện trong các năm từ 2016 đến
2019 Kết quả: Điểm đánh giá chất lượng bệnh viện tăng
trong giai đoạn từ 2016 – 2019, thế mạnh của bệnh viện là
về các tiêu chí hướng đến người bệnh cũng như phát triển
nguồn nhân lực bệnh viện, bên cạnh đó các hoạt động về
chuyên môn và cải tiến chất lượng được quan tâm phát
triển trong những năm gần đây Để đạt được điểm đánh
giá chất lượng bệnh viện cao hơn, một số điểm bệnh viện
cần lưu ý trong thời gian tới bao gồm: nâng cao điều kiện
cơ sở vật chất phục vụ người bệnh, đảm bảo số lượng và cơ
cấu nhân lực bệnh viện, cải thiện mảng nghiên cứu khoa
học cũng như nâng cao chất lượng xét nghiệm Khuyến
nghị: Việc đánh giá hoạt động của bệnh viện sử dụng Bộ
tiêu chí đánh giá ban hành bởi Bộ Y tế là cần thiết và cần
tiến hành định kỳ thường xuyên
Từ khóa: Chất lượng bệnh viện, tiêu chí đánh giá,
Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên
ABSTRACT
RESULTS Of HOSPITAL QUALITY
ASSESSMENT ACCORDING TO THE
EVALUATION CRITERIA AT DIEN BIEN
GENERAL HOSPITAL IN THE PERIOD 2016 - 2019
Background: Hospital quality assessment indicators
help to have an overall view of the hospital’s structure, processes, and performance, from which it can be used
as a tool to guide the improvement quality improvement
in health care for people The Ministry of Health of Vietnam has issued Decision No 6858 / QD-BYT on the promulgation of the set of quality criteria for Vietnamese hospitals Method: This is a cross-sectional study
conducted at General Hospital of Dien Bien Province The study uses secondary data as the results of hospital quality assessment from 2016 to 2019 Results: The
hospital quality assessment score increased in the period
2016 - 2019, the strength of the hospital is on criteria towards patients as well as developing hospital human resources, in addition, professional activities and quality improvement are interested in developing in recent years To achieve a higher hospital quality assessment score, a number of points to consider in the coming time include improving the facilities for patients, ensuring the quantity and structure of human resources hospital improve scientific research as well as improve laboratory quality Recommendation: The evaluation of hospital
performance using a set of evaluation criteria issued by the Ministry of Health is necessary and should be done periodically
Keywords: Hospital quality, Evaluation indicators,
Provincial hospital, Dien Bien
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, các bệnh viện trên thế giới ngày càng có xu hướng sử dụng các chỉ số theo dõi và đánh giá nhiều hơn nhằm đảm bảo chất lượng chăm sóc bệnh nhân (1, 2) Các chỉ số đánh giá chất lượng bệnh viện giúp có cái nhìn tổng thể về cấu trúc, quy trình cũng như kết quả hoạt động của
1 Bệnh viện Đa khoa Điện Biên
SĐT: 0912563909, Email: manpvdb@gmail.com
2 Trường Đại học Y tế Công cộng
Trang 2JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2020
bệnh viện, từ đó có thể sử dụng như một công cụ để định
hướng việc cải tiến chất lượng trong việc chăm sóc sức
khỏe cho người dân (3) Bộ Y tế Việt Nam đã ban hành
Quyết định số 6858/QĐ-BYT về việc ban hành bộ tiêu chí
chất lượng bệnh viện Việt Nam với mục tiêu chung nhằm
khuyến khích, định hướng và thúc đẩy các bệnh viện tiến
hành các hoạt động cải tiến và nâng cao chất lượng nhằm
cung ứng dịch vụ y tế an toàn, chất lượng, hiệu quả và
đem lại sự hài lòng cho người bệnh, người dân và nhân
viên y tế, đồng thời phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội
đất nước (4) Cho đến nay các bệnh viện tại Việt Nam đều
đã thực hiện việc đánh giá chất lượng bệnh viện theo Bộ
tiêu chí nói trên đều đặn hàng năm
Điện Biên là tỉnh miền núi biên giới nằm phía Tây
Bắc Việt Nam bao gồm 10 đơn vị hành chính với dân số
trung bình là 576.658 người gồm 19 dân tộc sinh sống
Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên là một trong 4 bệnh
viện tuyến tỉnh của tỉnh Điện Biên, là bệnh viện đa khoa
hạng I với quy mô 600 giường bệnh kế hoạch, 780 giường
thực kê; Bệnh viện có 31 khoa, phòng và Trung tâm trực
thuộc Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên cũng không nằm
ngoài xu thế chung, nghiên cứu này được tiến hành nhằm
mục tiêu mô tả kết quả đánh giá chất lượng bệnh viện theo
Bộ tiêu chí đánh giá trong giai đoạn 2016 – 2019, từ đó
nhằm xác định một số điểm hạn chế cần khắc phục trong
hoạt động của bệnh viện và rút kinh nghiệm cho bệnh viện
dựa trên kết quả đánh giá nói trên
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đây là một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện tại
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên Nghiên cứu sử dụng
số liệu thứ cấp là kết quả đánh giá Chất lượng bệnh viện
trong các năm từ 2016 đến 2019 Công cụ thu thập số
liệu sử dụng trong nghiên cứu là Bộ tiêu chí Đánh giá
bệnh viện (ban hành theo QĐ số 4858/QĐ-BYT ngày
03/12/2013)(4) Các tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh
viện sử dụng trong nghiên cứu tuân theo quy định về Bộ tiêu chí Đánh giá bao gồm 83 tiêu chí chia thành 5 nhóm:
- Nhóm tiêu chí A: Hướng đến người bệnh (4 mục,
19 tiêu chí)
- Nhóm tiêu chí B: Phát triển nguồn nhân lực (4 mục, 14 tiêu chí)
- Nhóm tiêu chí C: Hoạt động chuyên môn (10 mục,
38 tiêu chí)
- Nhóm tiêu chí D: Cải tiến chất lượng (3 mục, 8 tiêu chí)
- Nhóm tiêu chí E: Tiêu chí đặc thù chuyên khoa (1 mục, 4 tiêu chí)
Trong mỗi nhóm tiêu chí được chia thành các mục, mỗi mục có tiêu chí tương ứng như trình bày ở trên (mỗi mục có thể coi là một tiêu chuẩn chất lượng bệnh viện) Mỗi tiêu chí đề cập một vấn đề xác định, được xây dựng dựa trên thang đánh giá 5 mức bao gồm từ Mức 1 – Chất lượng kém đến Mức 5 – Chất lượng rất tốt
Số liệu được tổng hợp và quản lý bằng phần mềm Microsoft Excel, các phân tích mô tả sử dụng bao gồm giá trị tần số, tỷ lệ và trung bình được tính toán bằng phần mềm SPSS 20 Các giá trị trung bình trong phân tích này bao gồm ba loại:
- Trung bình của các mục: bằng tổng điểm đánh giá (5 mức) các tiêu chí chia cho tổng số tiêu chí tương ứng
- Trung bình của các nhóm tiêu chí: bằng tổng điểm đánh giá (5 mức) các tiêu chí chia cho số tiêu chí tương ứng cho các nhóm
- Trung bình chung tất cả các tiêu chí (điểm trung bình chất lượng bệnh viện): bằng tổng điểm đánh giá (5 mức) của tất cả các tiêu chí chia cho 5
III KẾT QUẢ
1 Kết quả đánh giá chung bệnh viện
Tổng cộng có 83 tiêu chí đánh giá với các kết quả chi tiết được trình bày trong bảng sau:
Bảng 1 Kết quả đánh giá các tiêu chí theo các mức qua thời gian
(%)
Mức 2 (%)
Mức 3 (%)
Mức 4 (%)
Mức 5 (%)
Tổng số tiêu
Trang 3
VIN
C KH EC NG
NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Bảng 2 Kết quả đánh giá các lĩnh vực của bệnh viện theo thời gian
Nhóm A: Hướng đến người bệnh
Cao nhất
Thấp nhất
3,1 3,5 2,8
2,8 3,5 2,4
3,8 4,2 3,2
3,9 4,5 3,4
Nhóm B: Phát triển nguồn nhân lực BV
Cao nhất
Thấp nhất
3,4 3,0 3,7
3,0 4,0 2,0
3,9 4,5 3,0
4,0 4,5 2,7
Nhóm C: Hoạt động chuyên môn
Cao nhất
Thấp nhất
2,8 3,5 2,5
3,3 4,5 2,7
3,5 5,0 3,0
3,7 4,5 3,0
Nhóm D: Hoạt động cải tiến chất lượng
Cao nhất
Thấp nhất
2,5 3,3 2,0
2,4 3,0 2,3
3,6 4,7 2,7
3,6 4,7 2,7
Biểu đồ 1 Kết quả các tiêu chí đánh giá trong mục A – Hướng đến người bệnh
Kết quả cho thấy số lượng các tiêu chí đạt mức 1
giảm dần theo từng năm (năm 2016: 4,9% và năm 2019:
1,2%) Bên cạnh đó, các tiêu chí ở mức 2 và mức 3 cũng
có sự giảm mạnh trong năm 2018 và 2019 so với giai đoạn
2016 – 2017 Đáng chú ý là số lượng tiêu chí ở mức 4 và
mức 5 có sự tăng đáng kể, đối với các tiêu chí ở mức 5,
số lượng tăng tương ứng là từ khoảng 4 – 6% (giai đoạn
2016 – 2017) lên đến khoảng 18 – 22% (giai đoạn 2018 – 2019) Điểm trung bình chung đánh giá các tiêu chí đạt 3,8 điểm vào năm 2019
Khi xem xét theo 5 nhóm tiêu chí cụ thể, kết quả cho
thấy thế mạnh của bệnh viện (thể hiện ở điểm trung bình
đánh giá các tiêu chí cao nhất) trong giai đoạn 2016 –
2019 chủ yếu tập trung vào nhóm tiêu chí Phát triển nguồn
nhân lực BV (nhóm B) và nhóm các nội dung Hướng đến
người bệnh (nhóm A) Đối với nhóm tiêu chí về hoạt động
chuyên môn (nhóm C) ghi nhận sự tăng liên tục trong 4 năm liền, từ 2,8 điểm (năm 2016) lên đến 3,7 điểm (năm 2019); nhóm tiêu chí các hoạt động liên quan đến cải tiến chất lượng cũng ghi nhận xu hướng tương tự
2 Kết quả đánh giá bệnh viện theo tiêu chí cụ thể trong từng nhóm
Trang 4JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2020
Nhóm tiêu chí A – Hướng đến người bệnh bao gồm
4 tiêu chí được trình bày trong Biểu đồ 1 Kết quả cho
thấy nhìn chung các tiêu chí liên quan đến nhóm này đều
tăng từ năm 2016 so với năm 2019, trong đó tăng ít nhất
là các tiêu chí liên quan đến điều kiện cơ sở vật chất phục
vụ người bệnh (từ 3,2 điểm lên 3,4 điểm)
Đối với các tiêu chí trong nhóm B – Phát triển nguồn
nhân lực bệnh viện, kết quả cho thấy đều có sự tăng mạnh
về điểm đánh giá ở các tiêu chí về Lãnh đạo bệnh viện,
Chất lượng nguồn nhân lực và Chế độ đãi ngộ - điều kiện,
môi trường làm việc (tăng ít nhất 1 điểm), tuy nhiên đối với tiêu chí về Số lượng và cơ cấu nhân lực bệnh viện lại
bị giảm về điểm đánh giá
Nhóm tiêu chí C về Hoạt động chuyên môn của bệnh
viện bao gồm 10 tiêu chí cụ thể Trong vòng 4 năm từ
2016 đến 2019, 7/10 tiêu chí này có sự tăng về điểm đánh
giá, trong đó tiêu chí về Năng lực thực hiện chăm sóc dinh
dưỡng và tiết chế có mức tăng cao nhất (1,2 điểm) và tiêu
chí về Ứng dụng CNTT có mức tăng thấp nhất (0,5 điểm)
từ 3,5 xuống 3 điểm)
IV BÀN LUẬN
Kết quả đánh giá chất lượng bệnh viện trong giai đoạn 2016 – 2019 tăng dần theo từng năm, từ 2,9 điểm năm 2016 lên đến 3,8 điểm năm 2019 Kết quả này tương
Biểu đồ 2 Kết quả các tiêu chí đánh giá trong mục B - Phát triển nguồn nhân lực bệnh viện
Biểu đồ 3 Kết quả các tiêu chí đánh giá trong mục C – Hoạt động chuyên môn
Trang 5
VIN
C KH EC NG
NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
với các bệnh viện cùng cấp tại địa phương khác(6) Kết
quả đánh giá chất lượng bệnh viện thay đổi từ nhóm Khá
(năm 2016 – 2017) lên đến nhóm Tốt (năm 2018 – 2019)
cho thấy sự cố gắng của Ban lãnh đạo bệnh viện nhằm
thay đổi toàn diện và tổng thể bệnh viện, nhằm mục đích
cuối cùng là nâng cao chất lượng khám chữa bệnh
Khi nhìn chi tiết vào 5 nhóm tiêu chí đánh giá của bộ
tiêu chí, thế mạnh của bệnh viện được thể hiện ở nhóm B
– Phát triển nguồn nhân lực BV và nhóm A – Hướng đến
người bệnh thể hiện ở điểm đánh giá đều cao trong từng
năm Đối với một bệnh viện tỉnh ở khu vực khó khăn như
Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên, việc chú trọng vào phát
triển nguồn nhân lực của bệnh viện là thực sự cần thiết khi
đây là nơi tập trung nhiều bệnh nhân đến khám chữa bệnh
của khu vực miền núi phía Bắc và các tỉnh lân cận Việc
phát triển theo mục tiêu kép: nhân lực bệnh viện cũng như
người bệnh cho thấy quyết tâm của bệnh viện mong muốn
phát triển song song 2 khía cạnh quan trọng nhất cho sự
tồn tại của bệnh viện
Khi nhìn sâu hơn vào các tiêu chí đánh giá thuộc
nhóm tiêu chí A, kết quả cho thấy trong 3/4 khía cạnh
đánh giá đều có điểm đánh giá tăng Tuy nhiên khía cạnh
về điều kiện cơ sở vật chất phục vụ người bệnh mặc dù
có điểm đánh giá tăng nhưng sự thay đổi hầu như không
nhiều, điều này cũng phản ánh một phần thực tế gánh nặng
về số lượng bệnh nhân đến khám chữa bệnh tại Bệnh viện
đa khoa tỉnh Điện Biên, do đó việc cải thiện được khía
cạnh này chính là yếu tố sẽ giúp tăng điểm đánh giá trong
nhóm tiêu chí A này
Đối với nhóm tiêu chí B về phát triển nguồn nhân
lực bệnh viện, kết quả ghi nhận sự tăng rõ rệt hai khía
cạnh về lãnh đạo bệnh viện cũng như chế độ đãi ngộ và
điều kiện, môi trường làm việc của nhân viên Có thể thấy
đây chính là hai yếu tố quan trọng trong việc duy trì sự
hài lòng với công việc của cán bộ y tế, giúp họ yên tâm
công tác cũng như cống hiến trong công việc Tuy nhiên
một kết quả đáng chú ý là sự suy giảm điểm đánh giá về
khía cạnh số lượng và cơ cấu nhân lực bệnh viện, điều này
có thể lý giải một phần do đặc điểm của bệnh viện chỉ là
một bệnh viện tuyến tỉnh và ở vùng khó khăn, hầu hết các
cán bộ y tế đều mong muốn làm việc ở các bệnh viện lớn
tuyến trung ương khác
Bên cạnh hai nhóm tiêu chí A và B nói trên, nhóm
tiêu chí về hoạt động chuyên môn (nhóm C) cũng như
hoạt động cải tiến chất lượng (nhóm D) mặc dù không đạt
điểm đánh giá cao trong giai đoạn 2016 – 2017 nhưng đã
có sự cải thiện rất nhanh Điều này cho thấy ngoài việc lấy người bệnh làm trung tâm, việc tăng cường chất lượng không chỉ trong lĩnh vực chuyên môn mà ở tất cả các hoạt động khác chính là điều kiện đủ để đảm bảo tính toàn diện cho hoạt động của bệnh viện Khi nhìn chi tiết vào các khía cạnh đánh giá của nhóm tiêu chí C, mục về Quản lý
hồ sơ bệnh án và Quản lý cung ứng và sử dụng thuốc là thế mạnh của bệnh viện trong khi Nghiên cứu khoa học
và Chất lượng xét nghiệm là hai khía cạnh bệnh viện cần phải cải thiện nhiều hơn nữa Điều này cũng có thể lý giải
vì với vai trò là một bệnh viện tuyến tỉnh, mảng nghiên cứu khoa học thường ít được quan tâm do gánh nặng công việc liên quan tới lâm sàng, hành chính, hoặc cũng do các cán bộ y tế thường ít khi được đào tạo để thực hiện mảng nghiên cứu, nên điểm đánh giá khía cạnh này chưa cao và
có xu hướng giảm
Nghiên cứu này có một số hạn chế như kết quả thu được chỉ từ một bệnh viện, chưa có khả năng khái quát Bên cạnh đó số liệu sử dụng trong phân tích là số liệu thứ cấp từ đoàn đánh giá, mặc dù việc đánh giá là khách quan, tuy nhiên việc đánh giá chỉ mang tính thời điểm trong năm cũng khó có thể lượng giá được hoàn toàn chất lượng của bệnh viện trong năm đó
V KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Đối với Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên, Bệnh viện đã có cố gắng nâng cao điểm đánh giá chất lượng bệnh viện tăng trong giai đoạn từ 2016 – 2019, thế mạnh của bệnh viện là về tiêu chí hướng đến người bệnh cũng như phát triển nguồn nhân lực bệnh viện, bên cạnh đó các hoạt động về chuyên môn và cải tiến chất lượng được quan tâm phát triển trong những năm gần đây Để đạt được điểm đánh giá chất lượng bệnh viện cao hơn, một
số điểm bệnh viện cần lưu ý trong thời gian tới bao gồm: nâng cao điều kiện cơ sở vật chất phục vụ người bệnh, đảm bảo số lượng và cơ cấu nhân lực bệnh viện, cải thiện mảng nghiên cứu khoa học cũng như nâng cao chất lượng xét nghiệm
Kết quả nghiên cứu cho thấy việc đánh giá hoạt động của bệnh viện sử dụng Bộ tiêu chí đánh giá ban hành bởi
Bộ Y tế là cần thiết cho các bệnh viện nhằm có cái nhìn
cụ thể cũng như toàn diện về tất cả các lĩnh vực của bệnh viện, từ đó xác định được những điểm còn chưa hoàn thiện, những điểm đã làm tốt cũng như những điểm cần cải thiện
Trang 6JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2020
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Y tế QĐ 6858/QĐ-BYT: Quyết định về việc ban hành bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện Việt Nam 03/12/2013
2 Lương Ngọc Khuê Báo cáo các hoạt động QLCL và triển khai Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện giai đoạn
2013 - 2018 Cục Quản lý Khám chữa bệnh - Bộ Y tế, 2018
3 Sở Y tế TP.HCM Kết quả đánh giá chất lượng bệnh viện thuộc Ngành Y tế TP.HCM năm 2019 2019 [28/08/2020] Available from: http://medinet.gov.vn/giam-doc-cac-benh-vien-can-biet/ket-qua-danh-gia-chat-luong-benh-vien-thuoc-nganh-y-te-tphcm-nam-2019-so-y-te-h-c13465-22365.aspx
4 Chiu WT, Yang CM, Lin HW, Chu TB Development and implementation of a nationwide health care quality indicator system in Taiwan International journal for quality in health care : journal of the International Society for Quality in Health Care 2007;19(1):21-8
5 Collopy BT Clinical indicators in accreditation: an effective stimulus to improve patient care International journal for quality in health care : journal of the International Society for Quality in Health Care 2000;12(3):211-6
6 Donabedian A Explorations in Quality Assessment and Monitoring: The definition of quality and approaches
to its assessment: Health Administration Press; 1980