TÓM TẮTThay đổi kiến thức về bệnh tiêu chảy cho các bà mẹ có con dưới 5 tuổi điều trị tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định năm 2016 Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả thực trạng kiến thức về bệnh tiê
Trang 1TÓM TẮT
Thay đổi kiến thức về bệnh tiêu chảy cho các bà mẹ có con dưới 5 tuổi
điều trị tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định năm 2016
Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả thực trạng kiến thức về bệnh tiêu chảy và đánh giá sự thay đổi kiến thức về bệnh tiêu chảy cho các bà mẹ có con dưới 5 tuổi điều trị tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định sau can thiệp giáo dục năm 2016.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Can thiệp giáo dục có so sánh trước sau cho 66 bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy điều trị tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định với các nội dung liên quan đến bệnh tiêu chảy trẻ em Đánh giá kết quả dựa trên phiếu khảo sát tại các thời điểm trước và sau can thiệp.
Kết quả nghiên cứu: Kiến thức chưa đúng của các bà mẹ trước can thiệp về định nghĩa, loại nước pha ORS, cách uống, chế độ ăn lần lượt là 43.9%; 40.9%; 39.4%; 71.2% Điểm trung bình kiến thức về bệnh tiêu chảy sau can thiệp là 44.63
p<0.001.
Kết luận: Thực trạng kiến thức về bệnh tiêu chảy của các bà mẹ chưa tốt và
có sự thay đổi rõ rệt về kiến thức bệnh tiêu chảy của các bà mẹ sau can thiệp giáo dục.
Trang 2LỜI CẢM ƠNHoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ từ nhiều đơn vị cánhân.Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình về sự giúp đỡ lớn lao đó:
Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu cùng tất cả các thầy côtrường Đại học Điều dưỡng Nam Định, đã hết lòng dạy dỗ truyền thụ kiến thức, đồngthời trao dồi cho tôi có một phẩm chất đức tính của người làm công tác khoa họctrong suốt khoá học này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: TS Vũ Văn Thành - Phó hiệu trưởngTrường Đại học Điều dưỡng Nam Định - Người thầy đã hướng dẫn khoa hoc tận tình,thường xuyên quan tâm động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thựchiện luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Hội đồng nghiệm thu đề cương Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã cónhiều góp ý và chỉnh sửa quý báu trong đề cương nghiên cứu
Ban Giám Đốc và tập thể cán bộ nhân viên Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định đãtạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình thu thập số liệu của nghiên cứu
Tập thể giảng viên Bộ môn điều dưỡng Nhi và Trung tâm Thực hành Tiền lâmsàng đã tạo điều kiện thuận lợi trong thời gian theo học cao học
Và cuối cùng xin cảm ơn gia đình và những người thân đã giúp đỡ cho tôivượt qua những khó khăn trở ngại trên con đường học vấn
Học viên
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Trang 3LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kếtquả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào
Học viên
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
LỜI CAM ĐOAN iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG NGHIÊN CỨU vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TRONG NGHIÊN CỨU ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Bệnh tiêu chảy 4
1.2 Các nghiên cứu trong và ngoài nước về chủ đề nghiên cứu của đề tài 16
1.3 Vai trò của truyền thông giáo dục sức khỏe 18
1.4 Cây vấn đề các yếu tố liên quan 20
1.5 Đôi nét về bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định 20
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 21
2.3 Thiết kế: 21
2.4 Cỡ mẫu 21
2.5 Phương pháp chọn mẫu 22
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 22
2.7 Các biến số nghiên cứu: 23
2.8 Tiêu chuẩn đánh giá 24
2.9 Phương pháp phân tích số liệu: 25
2.10 Chương trình can thiệp 25
2.11 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 26
2.12 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 26
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 27
3.2 Thực trạng kiến thức về bệnh tiêu chảy của các bà mẹ trước can thiệp 30
Trang 53.3 Thay đổi kiến thức về bệnh tiêu chảy của các bà mẹ sau can thiệp 33
3.4 Phân loại kiến thức của bà mẹ về bệnh tiêu chảy ………44
Chương 4: BÀN LUẬN 46
4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 46
4.2 Thực trạng và sự thay đổi kiến thức của bà mẹ về bệnh tiêu chảy trẻ em sau can thiệp 48
4.3 Thực trạng và sự thay đổi kiến thức của bà mẹ về chăm sóc trẻ tiêu chảy sau can thiệp 50
4.4 Thực trạng và sự thay đổi kiến thức của bà mẹ về phòng bệnh tiêu chảy sau can thiệp 54
4.5 Phân loại kiến thức của bà mẹ về bệnh tiêu chảy trẻ em trước và sau can thiệp 55
KẾT LUẬN 57
KHUYẾN NGHỊ 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
(Chương trình phòng chống tiêu chảy)
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG NGHIÊN CỨUBảng 3.1 Phân công nhóm tuổi và nơi cư trú của bà mẹ
Bảng 3.2 Phân bố số con trong gia đình
Bảng 3.3 Nguồn thông tin mong muốn nhận được
Bảng 3.4 Đặc điểm của trẻ bị tiêu chảy
Bảng 3.5 Kiến thức về định nghĩa bệnh tiêu chảy
Bảng 3.6 Kiến thức đúng về nguyên nhân gây bệnh
Bảng 3.7 Kiến thức đúng về dấu hiệu mất nước
Bảng 3.8 Kiến thức về thời điểm ăn sam và cai sữa
Bảng 3.9 Kiến thức về loại nước uống và tác dụng của ORS
Bảng 3.10 Kiến thức về loại nước pha, cách pha và cách uống ORSBảng 3.11 Kiến thức về chế độ nuôi dưỡng trẻ tiêu chảy
Bảng 3.12 Kiến thức đúng về cách phòng bệnh tiêu chảy
Bảng 3.13 Kiến thức về định nghĩa tiêu chảy sau can thiệp
Bảng 3.14 Kiến thức đúng về các yếu tố nguy cơ gây bệnh sau can thiệpBảng 3.15 Kiến thức đúng về dấu hiệu mất nước sau can thiệp
Bảng 3.16 Điểm trung bình kiến thức về bệnh tiêu chảy trước và saucan thiệp
Bảng 3.17 Kiến thức về loại nước uống sau can thiệp
Bảng 3.18 Kiến thức về tác dụng của ORS sau can thiệp
Bảng 3.19 Kiến thức về loại nước pha và cách pha sau can thiệp
Bảng 3.20 Kiến thức về cách cho uống và xử trí nôn sau can thiệpBảng 3.21 Kiến thức về dung dịch thay thế ORS sau can thiệp
Bảng 3.22 Kiến thức về chế độ ăn kiêng sau can thiệp
Bảng 3.23 Kiến thức đúng về dấu hiệu đưa trẻ đến cơ sở y tế sau canthiệp
Bảng 3.24 Điểm trung bình kiến thức về cách chăm sóc trước và saucan thiệp
Bảng 3.25 Kiến thức đúng về cách phòng bệnh tiêu chảy sau can thiệp
Trang 8Bảng 3.26 Điểm trung bình kiến thức phòng bệnh trước và sau canthiệp
Bảng 3.27 Xếp loại chung kiến thức bệnh tiêu chảy của bà mẹ trước vàsau can thiệp
Bảng 3.28 Điểm trung bình chung của bà mẹ về bệnh tiêu chảy trước vàsau can thiệp
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TRONG NGHIÊN CỨUBiểu đồ 3.1 Phân bố trình độ văn hóa của bà mẹ
Biểu đồ 3.2 Phân bố nghề nghiệp của bà mẹ
Biểu đồ 3.3 Kiến thức đúng về nguyên nhân gây bệnh sau can thiệpBiểu đồ 3.4 Kiến thức đúng về hậu quả bệnh tiêu chảy sau can thiệpBiểu đồ 3.5 Kiến thức về thời điểm cho trẻ ăn sam sau can thiệpBiểu đồ 3.6 Kiến thức về thời điểm cai sữa cho trẻ sau can thiệpBiểu đồ 3.7 Kiến thức về bảo quản dung dịch ORS sau can thiệpBiểu đồ 3.8 Kiến thức về chế độ ăn sau can thiệp
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀTiêu chảy là bệnh phần lớn do nhiễm trùng đường tiêu hóa khá phổ biến ở trẻ
em dưới 5 tuổi, đặc biệt là lứa tuổi 6 – 24 tháng tuổi và bệnh có tỷ lệ mắc và tử vongcao ở trẻ em nhất là ở các nước đang phát triển; trong đó, có Việt Nam [14]
Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO), năm 2003 có khoảng 1,87triệu trẻ dưới 5 tuổi tử vong do tiêu chảy; trong đó, 80% là trẻ từ 0 - 2 tuổi [5] Bệnhtiêu chảy vẫn là nguyên nhân thứ hai dẫn tới tử vong trẻ em (16%) sau bệnh viêmphổi (17%) ở nhóm cùng lứa tuổi [47] Tiêu chảy giết chết trẻ em nhiều hơn hộichứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS), bệnh sốt rét và sởi cộng lại [49] Năm
2013, ước tính có khoảng 2000 trẻ em dưới 5 tuổi tử vong mỗi ngày vì bệnh tiêu chảy
và trong đó khoảng 1800 trường hợp tử vong có liên quan đến nước sạch và vệ sinhmôi trường [25] Điều này đã giảm so với tỉ lệ tử vong 5 triệu mỗi năm so với haithập kỷ trước đây Ngoài ra, trung bình trẻ dưới 3 tuổi mắc từ 3 đến 4 lần tiêu chảy,thậm chí có những trẻ bị 8 - 9 lần mỗi năm [9]
Ở Việt Nam, tình hình tiêu chảy cũng tương tự như ở các nước đang pháttriển, tiêu chảy vẫn còn là một bệnh phổ biến Theo thống kê của Quĩ Nhi đồng Liênhợp quốc (2012), Viêm phổi và tiêu chảy vẫn là hai nguyên chính gây tử vong ở trẻ
em, chiếm 12 % và 10% tổng số tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi [25] Năm 2013, khoảng
1100 trẻ em dưới 5 tuổi tử vong do tiêu chảy [25]
Tiêu chảy gây ra nhiều hậu quả nặng nề; ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ emgồm thể chất yếu ớt, kém phát triển trí tuệ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhậpcủa các bệnh nhiễm trùng khác và là nguyên nhân hàng đầu gây suy dinh dưỡng ởtrẻ em Bên cạnh đó, theo thống kê cho thấy trong các khoa Nhi của bệnh viện,khoảng 30% số giường dành cho bệnh tiêu chảy Chi phí vào thuốc, trang thiết bị và
cả nhân lực cho vấn đề sức khoẻ này rất lớn; chưa tính đến thời gian, sức lực mà giađình phải mất Như vậy, tiêu chảy không những gây bệnh tật, tử vong mà còn làgánh nặng cho nền kinh tế quốc gia và còn đe doạ đến cuộc sống sinh hoạt hàngngày của nhiều gia đình [30]
Trang 11Có nhiều biện pháp nhằm giảm thiểu hậu quả của bệnh tiêu chảy gây ra trong
đó biện pháp cung cấp cho bà mẹ những kiến thức đúng về tiêu chảy rất được chútrọng Trong thời gian qua, nhiều chương trình tuyên truyền giáo dục sức khỏe nhằmcung cấp cho bà mẹ những kiến thức để chăm sóc và phòng bệnh tiêu chảy cho trẻnhưng vẫn còn không ít bà mẹ chưa có kiến thức đúng về bệnh tiêu chảy như cho trẻ
ăn kiêng trong quá trình bị bệnh, không biết cách sử dụng Oresol để bù nước điệngiải ….nên dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng trực tiếp đến
sức khỏe của trẻ Nghiên cứu của Yasmin Mumtaz và cộng sự (2014), kiến thức của
bà mẹ về dấu hiệu mất nước: 40% bà mẹ không biết và 26% trả lời có bị mắt trũng
là dấu hiệu duy nhất , trong khi 35% trả lời hai dấu hiệu là khát nước và niêm mạcmôi, miệng khô [49]
Tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định, trẻ nhập viện vì tiêu chảy chiếm tỷ lệ khácao 30% và theo nghiên cứu của Hoàng Thị Vân Lan (2010), 52% bà mẹ chưa biếtcách cho trẻ uống ORS đúng, 40% bà mẹ có kiến thức chưa đúng về dinh dưỡng chotrẻ [18] Vì vậy, để nâng cao kiến thức của bà mẹ trong chăm sóc và phòng bệnh tiêu
chảy cho trẻ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thay đổi kiến thức về bệnh tiêu
chảy cho các bà mẹ có con dưới 5 tuổi điều trị tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định năm 2016”
Trang 12MỤC TIÊU
1 Mô tả thực trạng kiến thức về bệnh tiêu chảy của các bà mẹ có con dưới
5 tuổi điều trị tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định
2 Đánh giá sự thay đổi kiến thức về bệnh tiêu chảy cho các bà mẹ có con dưới 5 tuổi điều trị tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định sau can thiệp giáo dục
Trang 13Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 Bệnh tiêu chảy
1.1.1 Định nghĩa
Theo tổ chức Y tế thế giới: Tiêu chảy là đi ngoài 3 hoặc trên 3 lần trong ngày(24 giờ) phân lỏng hoặc nhiều nước [1] Riêng đối với trẻ còn đang bú mẹ, phân cóthể nhão hơn bình thường số lần có thể 3 - 4 lần, nhưng không phải là bệnh tiêu chảy.Đối với những trẻ này khi xác định bệnh tiêu chảy, thực tế là dựa vào số lần tiêu chảytăng dần hoặc tăng mức độ phân lỏng kèm theo lời phàn nàn của bà mẹ cho là bấtthường [5]
Đợt tiêu chảy: Là giai đoạn bắt đầu từ khi tiêu chảy trên 3 lần trong 24 giờ,cho đến ngày cuối cùng trong đó còn tiêu chảy trên 3 lần, ngày cuối cùng phải kế tiếp
ít nhất là 2 ngày trẻ đi ngoài phân trở lại bình thường Nếu sau 2 ngày trẻ tiếp tục đitiêu chảy lại trên 3 lần trong 24giờ, thì phải đánh giá lại đợt mất nước và ghi nhận làđợt tiêu chảy mới [13]
1.1.2 Phân loại
Tiêu chảy cấp tính: Khởi đầu đột ngột, cấp tính kéo dài không quá 14 ngày(thường là dưới 7 ngày), phân lỏng hoặc toé nước, không thấy máu Với trẻ ở trongtình trạng này, sự cần thiết phải bù ngay một lượng nước đã mất và một lượng nước
dự phòng có thể mất tiếp theo do bệnh tiêu chảy cấp gây ra và được thực hiện sớm tạinhà [5]
Tiêu chảy kéo dài: Là tiêu chảy khởi đầu cấp tính, sau đó kéo dài tới 14 ngàyhoặc lâu hơn nữa Trong trường hợp này bà mẹ cần đưa con em của mình đến cơ sở y
tế khám để xác định rõ nguyên nhân [1]
Hội chứng lỵ: Đây là tiêu chảy thấy có máu trong phân có thể kèm theo chất nhàymũi, thường kèm theo triệu chứng sốt Tốt nhất đưa đến cơ sở y tế để tìm căn nguyêngây bệnh và chọn phác đồ điều trị đặc hiệu [27],[13]
1.1.3 Dịch tễ học
Đường lây truyền: Các tác nhân gây tiêu chảy lây truyền theo con đường phân
- miệng thông qua thức ăn hoặc nước uống bị ô nhiễm hay lây do tiếp xúc
Trang 14trực tiếp với phân người bị bệnh tiêu chảy, hoặc qua trung gian truyền bệnh như ruồi,dán [5] Sự lan truyền trực tiếp có thể ngăn chặn được hay không là tùy thuộc vào sựcải thiện vệ sinh cá nhân và gia đình [8].
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO), năm 2003 có khoảng 1,87triệu trẻ dưới 5 tuổi tử vong do tiêu chảy, trong đó 80% là trẻ từ 0 - 2 tuổi [5] Bệnhtiêu chảy vẫn là nguyên nhân thứ hai dẫn tới tử vong trẻ em (16%) sau bệnh viêmphổi (17%) ở nhóm cùng lứa tuổi [47] Tiêu chảy giết chết trẻ em nhiều hơn hộichứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS), bệnh sốt rét và sởi cộng lại [49] Năm
2013, ước tính có khoảng 2000 trẻ em dưới 5 tuổi tử vong mỗi ngày vì bệnh tiêu chảy
và trong đó khoảng 1800 trường hợp tử vong có liên quan đến nước sạch và vệ sinhmôi trường [25] Điều này đã giảm so với tỉ lệ tử vong 5 triệu mỗi năm so với haithập kỷ trước đây Từ năm 1817 đến nay đã có tất cả 7 trận đại dịch hoành hành trêntoàn thế giới như dịch tả, gây thương vong nhiều triệu người ở châu Á, châu Phi,châu Âu và Bắc Mỹ Các chuyên gia phòng chống tả của WHO tổng kết thấy rằng: Ởvùng dịch tả lưu hành, hơn 70% số mắc là trẻ em dưới 5 tuổi Biện pháp chăm sóc vàđiều trị hữu hiệu nhất là bù nước điện giải bằng đường uống [30]
Năm 1978, Tổ chức Y tế Thế giới đã thiết lập chương trình toàn cầu phòngchống tiêu chảy (Control Diarrhoea Disease: CDD) CDD là một khâu cấp thiết trong
hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu và trực tiếp phục vụ cho đối tượng là trẻ emdưới 5 tuổi nhằm mục tiêu trước mắt là giảm tỷ lệ tử vong và mục tiêu lâu dài là giảm
tỷ lệ mắc bệnh Hoạt động của chương trình bao gồm nhiều lĩnh vực: công tác đàotạo, tuyên truyền giáo dục, sản xuất ORS, nghiên cứu Sau hơn 30 năm thực hiệnCDD, tỷ lệ tử vong của trẻ em do tiêu chảy đã giảm đi rất nhiều, chi phí cho điều trị
đã giảm đáng kể, tỷ lệ mắc bệnh cũng có xu hướng giảm rõ rệt
Để nâng cao hiệu quả của chương trình, CDD còn phối hợp các chương trìnhChăm sóc sức khỏe ban đầu, chương trình phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính,chương trình tiêm chủng mở rộng và chương trình nuôi con bằng sữa mẹ, các chươngtrình này trong quá trình hoạt động đã hỗ trợ lẫn nhau để đem lại hiệu quả
Trang 15cao nhất với mục tiêu là chăm sóc sức khỏe ban đầu cho cộng đồng của mỗi quốc gia.
Việt Nam là một nước đang phát triển, nhiều năm trở lại đây tình hình bệnhtiêu chảy đã có nhiều cải thiện; tuy nhiên, tiêu chảy vẫn là vấn đề sức khoẻ cộngđồng; do vậy, các nhà khoa học, cùng các nhà hoạch định chính sách cần quan tâmtìm hiểu và đầu tư thoả đáng trong công tác phòng chống bệnh tiêu chảy nhằm hạnchế tỷ lệ mắc bệnh, tử vong và những thiệt hại đi song hành với căn bệnh này
Theo thống kê của Quĩ Nhi đồng Liên hợp quốc (2012), Viêm phổi và tiêuchảy vẫn là hai nguyên chính gây tử vong ở trẻ em, chiếm 12 % và 10% tổng số tửvong ở trẻ dưới 5 tuổi [25] Năm 2013, khoảng 1100 trẻ em dưới 5 tuổi tử vong dotiêu chảy [25] Một nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi đồng II khẳng định, tỷ lệ trẻ nhậpviện vì bệnh tiêu chảy rất cao so với các bệnh khác và số lượng không thay đổi nhiềuqua các năm Mỗi năm có gần 7.000 bệnh nhi nhập viện này vì bệnh tiêu chảy Hơn90% trong số đó là trẻ các quận, huyện ngoại thành, chiếm 30% số giường bệnh nộitrú Lứa tuổi mắc bệnh nhiều nhất là trẻ dưới 3 tuổi [24]
Năm 1982, với sự hỗ trợ của Tổ chức Y tế Thế giới, nước ta đa triển khaichương trình phòng chống tiêu chảy với nhiều biện pháp thiết thực như quản lý cứuchữa người bệnh, khống chế dịch đường ruột và giáo dục tuyên truyền y tế Kết quả
là tỷ lệ tử vong và tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy đã giảm đáng kể
1.1.4 Nguyên nhân gây bệnh
Rotavirus là tác nhân quan trọng nhất gây tiêu chảy nặng và đe doạ tính mạng trẻ
em dưới 2 tuổi trên toàn thế giới Ở các nước phát triển có 35-52% trẻ em bị tiêu chảy
cấp do Rotavirus Ở các nước đang phát triển Rotavirus là nguyên nhân phổ biến gây
tiêu chảy cấp và tử vong cho trẻ em dưới 2 tuổi [7],[28] Khoảng 1/3 số trẻ dưới 2
tuổi bị ít nhất 1 đợt tiêu chảy do Rotavirus, nó có khả năng lây lan trực tiếp từ người
[33],[47]
Trang 16Các virus khác: Adenovirus, Norwalkvirus cũng gây tiêu chảy [22],[26].
Coli đường ruột gây 25% tiêu chảy cấp Có 5 nhóm gây bệnh là: Coli sinh
độc tố ruột (Enterotoxigenic Escherichia Coli), Coli bám dính (Enteroadherent
Escherichia Coli), Coli gây bệnh (Enterpathogenic Escherichia Coli), Coli xâm nhập
(Enteroinvasive Escherichia Coli) Coli gây chảy máu (Enterohemorhagia
Escherichia Coli) Trong đó, Coli sinh độc tố ruột (ETEC) chiếm 10 - 20% các
trường hợp Nó là tác nhân quan trọng gây tiêu chảy cấp phân toé nước cả trẻ em vàngười lớn tại các nước đang phát triển, ETEC lây lan chủ yếu qua nước và thực phẩm
bị ô nhiễm [7],[28]
Lỵ trực trùng Shigella: chiếm 5-15% các trường hợp [7] Nó là tác nhân quan trọng nhất gây bệnh lỵ, đã được tìm thấy trong khoảng 60% các đợt lỵ [13] Shigella
lây lan chủ yếu trực tiếp từ người
Campylobacter jejuni chiếm 10 - 15% các trường hợp [8],[13] Nó lây lan qua
tiếp xúc phân, nước uống bẩn, dùng thực phẩm bị ô nhiễm C.Jejuni có thể gây tiêu
chảy tóe nước chiếm 2/3 trường hợp hoặc hội chứng lỵ chiếm 1/3 các trường hợp[26]
Salmonella không gây thương hàn: chiếm 1-5% các trường hợp [5] Hầu hết
nhiễm Salmonella không gây thương hàn là do lây từ súc vật nhiễm trùng hoặc các thức ăn đông vật đã bị ô nhiễm Tiêu chảy do Salmonella thường là phân tóe nước,
nhưng đôi khi cũng có biểu hiện như hội chứng lỵ [5]
Phảy khuẩn tả Vibrio Cholerae 01: Bệnh tả chiếm 5 - 10% ở những vùng lưu hành dịch [5] Có hai type sinh vật và hai type huyết thanh V.Cholerae 01 gây tiêu
chảy không qua xâm nhập mà qua trung gian độc tố tả, làm xuất tiết ồ ạt nước và điệngiải ở ruột non Tiêu chảy có thể nặng dẫn tới tình trạng mất nước và truỵ mạch trongvòng vài giờ nếu không bồi phụ nước và điện giải kịp thời
Trang 17 Ký sinh trùng
Entamoeba hystolytica (Lỵ amip): Entamoeba hystolytica xâm nhập vào liên
bào đại tràng hay hồi tràng, gây nên các ổ áp xe nhỏ, rồi loét, làm tăng tiết chất nhàylẫn máu [22]
Giardia lamblia (Trùng roi): Là đơn bào bám dính lên liên bào ruột non, làm teo
các nhung mao ruột, dẫn đến giảm hấp thu, gây ra ỉa chảy [27]
Cryptosporidium: chiếm 5 - 15% các trường hợp [28] Nó thường gây tiêu chảy
ở trẻ nhỏ, ở những bệnh nhi suy giảm miễn dịch và cũng gây bệnh ở nhiều loại giasúc Chúng bám dính lên liên bào ruột non, làm teo nhung mao ruột, gây tiêu chảynặng và kéo dài Hiện chưa có thuốc điệu trị đặc hiệu [5]
Yếu tố nguy cơ: Là tất cả các yếu tố nội sinh và ngoại sinh có liên quan đếnviệc hình thành, diễn biến của bệnh trạng trong quần thể đều được nhìn nhận lànhững yếu tố nguy cơ [30]
- Tuổi: tiêu chảy thường xảy ra ở trẻ dưới 2 tuổi, đặc biệt là trẻ từ 6 – 11 thángtuổi Theo Tổ chức Y tế thế giới lứa tuổi này dễ mắc bệnh tiêu chảy vì thời kỳ này trẻphải ăn thức ăn bổ sung, trong khi đó các yếu tố bảo vệ chống tiêu chảy trong sữa mẹlại giảm [5]
- Tình trạng suy dinh dưỡng: Bệnh tiêu chảy và suy dinh dưỡng liên quan chặtchẽ với nhau nhất là đối với những trẻ suy dinh dưỡng nặng, những trẻ đó sự hồiphục niêm mạc ruột bị chậm trễ do thiếu vitamin, giảm sức đề kháng của cơ thể, mức
độ trầm trọng kéo dài thì nguy cơ tử vong do tiêu chảy sẽ gia tăng đối với những trẻ
bị suy dinh dưỡng Ngược lại tiêu chảy sẽ làm cho tình trạng suy dinh dưỡng trở nêntrầm trọng thêm [24]
- Tình trạng suy giảm miễn dịch: Trẻ bị bệnh sởi, HIV thường tăng tính cảm thụ đối với bệnh tiêu chảy [1]
- Trẻ đẻ non,trẻ đẻ thấp cân: dưới 2500 gam [13]
- Trẻ không được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 4-6 tháng đầu Trong Yvăn đã nêu rõ vai trò của sữa mẹ trong việc bảo vệ trẻ nhỏ đối với bệnh tiêu chảy
Trang 18Sữa mẹ chứa các globulin miễn dịch chủ yếu là IgA (95%) và một số globulin khácnhư IgM, IgG có tác dụng bảo vệ cơ thể chống lại bệnh tật và bệnh đường ruột dovirus Lysozym là một men tìm thấy ở trứng và sữa nó là một yếu tố chống nhiễmkhuẩn không đặc hiệu, có khả năng phá huỷ một số vi khuẩn Gram(+) và còn gópphần vào việc phát triển và duy trì hệ vi khuẩn chỉ ở ruột của những trẻ nuôi bằng sữa
- Tập quán cho trẻ ăn sam sớm (trước 4 tháng tuổi), ăn sam không đúng cách:
Ăn sam quá sớm hay quá muộn hoặc ăn sam không đúng cách, đều có thể dẫn đếntiêu chảy và suy dinh dưỡng [13]
- Sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm: Nước có thể bị nhiễm bẩn ngay tại nguồncủa nó hoặc trong suốt quá trình dự trữ tại nhà Sự ô nhiễm tại nhà do bảo quản hoặc
sử dụng không hợp vệ sinh [6]
- Chế độ vệ sinh cá nhân, ăn uống kém: Như không rửa tay trước khi ăn, saukhi đi ngoài, sau khi xử lý phân, trước khi chuẩn bị thức ăn và đặc biệt là sau khi vệsinh cho trẻ Thói quen rửa tay là một hành vi tốt bảo vệ sức khỏe chung, đặc biệt cóhiệu lực đối với việc phòng tiêu chảy [30]
- Không xử lý phân một cách hợp vệ sinh: Nhiều bậc cha mẹ cho rằng phântrẻ em là không nguy hiểm, nhưng thực ra chúng chứa rất nhiều virus, vi khuẩn gâybệnh và phân súc vật cũng chứa nhiều vi sinh vật có thể truyền bệnh cho
Trang 19con người Vì vậy phân trẻ cần được xử lý hợp vệ sinh ngay sau khi trẻ đi ngoài [17].
- Tính chất mùa: Thời tiết, khí hậu có liên quan rất lớn đối với bệnh tật, đặcbiệt là bệnh đường tiêu hoá Việt Nam là một nước nhiệt đới gió mùa, khí hậu nóng
ẩm, đây là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn đường ruột phát triển Bên cạnh đó khíhậu nóng ẩm cũng là điều kiện phát triển cho các vecto truyền bệnh Điều này cũng làyếu tố làm cho bệnh tiêu chảy tản phát và phát triển [27]
Theo WHO có sự khác biệt theo mùa và theo địa dư Vùng ôn đới tiêu chảy do
vi khuẩn thường xảy ra cao nhất vào mùa nóng, ngược lại tiêu chảy do virus như
Rotavirus thường xảy ra vào mùa đông Vùng nhiệt đới tiêu chảy do Rotavirus
thường xảy ra quanh năm, nhưng tăng cao vào các tháng khô và lạnh Ngược lại tiêuchảy do vi khuẩn lại tăng vào mùa mưa và mùa nóng [1]
- Các nhiễm khuẩn ngoài ruột cũng có thể gây ỉa chảy như viêm phổi, viêm taigiữa, viêm tai xương chũm, nhiễm trùng đường tiết niệu [13]
- Dùng kháng sinh không đúng: Trẻ dùng kháng sinh không đúng, nhất là cácloại kháng sinh dùng bằng đường uống sẽ tiêu diệt hết các vi khuẩn có lợi cho cơ thể,gây nên tiêu chảy do loạn khuẩn [5]
1.1.5 Triệu chứng mất nước
-Quan sát toàn trạng và hành vi của đứa trẻ để đánh giá 3 mức độ mất nước: Trẻ tỉnh táo bình thường, khi chưa có biểu hiện mất nước trên lâm sàng Trẻ kích thích, vật vã, quấy khóc là có biểu hiện mất nước
Trẻ li bì, lờ đờ, mệt lả, hôn mê là mất nước nặng
- Xác định dấu hiệu khát nước: Cho trẻ uống nước bằng cốc, chén, thìa và quan sát để đánh giá mức độ mất nước:
Uống bình thường: Trẻ có uống nhưng không thích lắm hoặc từ chối uống, khichưa có biểu hiện mất nước trên lâm sàng
Uống một cách háo hức: khi uống trẻ thường nắm giữ lấy thìa, ghì cốc vàomiệng hoặc khóc ngay khi ngừng cho uống và nhìn theo cốc nước đang bị lấy đi Đây
là một trong các dấu hiệu quan trọng nói lên tình trạng mất nước
Trang 20Không uống được hoặc uống kém: khi đưa thìa nước vào miệng, trẻ khônguống hoặc uống yếu ớt, hồi lâu mới uống được một ít nước Lúc này quan sát thườngthấy trẻ li bì hoặc hôn mê Đây là một trong những biểu hiện của mất nước nặng.
- Quan sát mắt của trẻ và nhận định
Trong tiêu chảy, mắt của trẻ có thể: Bình thường; Trũng hoặc Rất trũng Quan sát xem mắt trẻ khô hay ướt Khi trẻ khóc to, có thấy nước mắt chảy ra
không? Nếu mắt khô, khóc không có nước mắt là trẻ có mất nước
- Quan sát và thăm khám môi, miệng, lưỡi: Nhìn xem môi có khô không.Dùng ngón tay sạch, khô sờ vào miệng, vào lưỡi của trẻ, rồi rút ra Nếu thấy khô,không có nước bọt là có biểu hiện mất nước
- Xác định độ chun giãn của da: Tại bụng hoặc đùi, ta véo da thành nếp rồi bỏ
ra, nếu thấy:
Nếp da véo mất nhanh: Chưa có biểu hiện mất nước trên lâm sàng
Nếp da véo mất chậm: Có mất nước
Nếp da véo mất rất chậm (trên 2 giây): Mất nước nặng
1.1.6 Hậu quả của tiêu chảy
Mất nước, mất natri: Do giảm hấp thu và tăng bài tiết nước cùng với natri tạiruột, rồi tống ra ngoài trong tình trạng phân lỏng, đã dẫn đến mất nước và mất natri.Ngay sau lần ỉa phân lỏng đầu tiên đã thực sự làm cho cơ thể mất nước và natrinhưng triệu chứng mất nước trên lâm sàng chỉ bắt đầu xuất hiện khi mất đi 5% trọnglượng cơ thể Nếu trẻ tiêu chảy mất tới 10% trọng lượng cơ thể thì sẽ xảy ra sốc dogiảm khối lượng tuần hoàn và mất trên 10% trọng lượng cơ thể thì khó có thể tránhkhỏi tử vong [13]
Mất kali và bicarbonat: Mất kali và bicarbonat là do chúng bị đào thải theophân, từ đó dẫn đến giảm kali máu và toan hoá máu Khi kali máu giảm sẽ dẫn đếngiảm trương lưc cơ: nhẹ là liệt ruột cơ năng gây chướng bụng, nặng hơn sẽ gây nhược
cơ toàn thân, loạn nhịp tim và có thể tử vong Thông thường, khi mất bicarbonat, thận
sẽ điều chỉnh và bù trừ được Nhưng khi mất nước nặng, giảm khối
Trang 21lượng tuần hoàn thì lưu lượng máu đến thận giảm, do đó chức năng thận cũng bị suygiảm theo, không thể điều chỉnh được [26].
Do vậy, cách đề phòng tử vong tốt nhất đối với trẻ bị tiêu chảy là không để trẻmất nước nặng bằng cách bồi phụ nước và điện giải cho trẻ ngay từ khi bắt đầu tiêuchảy mà cách bồi phụ nước và điện giải an toàn nhất là bằng đường uống (uống dungdịch Oresol) [24]
1.1.7 Một số khuyến cáo mới trong điều trị tiêu chảy
1.1.7.1 Tầm quan trọng của bổ sung kẽm trong điều trị tiêu chảy
Kẽm là một vi chất rất quan trọng cho sức khoẻ và sự phát triển của trẻ em Kẽm cũng có vai trò rất quan trọng cho hệ thống miễn dịch của trẻ Trẻ tiêu chảy bị mất một lượng lớn kẽm trong quá trình bị bệnh Bù lại lượng kẽm bị mất đi do tiêu chảy rất quan trọng để giúp trẻ sớm hồi phục bệnh (giảm thời gian, mức độ nặng của tiêu chảy); đồng thời giúp cho trẻ tăng cường sức khỏe và giảm nguy cơ mắc đợt tiêu chảy mới trong những tháng tiếp theo sau tiêu chảy [29]
1.1.7.2 Sử dụng Oresol có nồng độ thẩm thấu thấp trong điều trị tiêu chảy
Sự ra đời và hiệu quả của ORS nồng độ thẩm thấu thấp: Hiệu quả điều trị đốivới trẻ em sẽ tốt hơn nếu giảm nồng độ của natri, glucose và độ thẩm thấu toàn phầnxuống thấp hơn so với ORS chuẩn trước đây ORS chuẩn trước đây có độ thẩm thấucao so với huyết tương nên có thể gây tăng natri máu, đồng thời gia tăng khối lượngphân thải ra, đặc biệt ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ [5]
Ưu điểm của ORS nồng độ thẩm thấu thấp làm giảm khối lượng tiêu chảy vànôn An toàn, hiệu quả trong điều trị và phòng mất nước bất kể nguyên nhân gì
1.1.8 Xử trí và chăm sóc trẻ em dưới 5 tuổi tiêu chảy tại nhà.
Nuôi con khoẻ mạnh, thông minh là niềm vui, hạnh phúc, là mong muốn củamỗi người mẹ, mỗi gia đình và là trách nhiệm thiêng liêng đối với giống nòi, đấtnước Muốn con khoẻ mạnh, mỗi người mẹ cần phải biết chăm sóc sức khoẻ của con,đặc biệt là lúc con bị tiêu chảy.Việc xử trí chăm sóc tại nhà có hiệu quả chỉ có thểthực hiện bởi người mẹ (hoặc người chăm sóc trẻ) Trong trường hợp trẻ bị các bệnh
mà dễ mất nước, điện giải, người mẹ phải biết pha chế và cho uống đúng cho
Trang 22ăn thức ăn giàu dinh dưỡng và biết khi nào cần mang đến cơ sở y tế Vì đây là giaiđoạn cần thiết trong điều trị bệnh tiêu chảy cấp và các bệnh gây mất nước, trong quátrình xử lý bà mẹ phải biết được 3 nguyên tắc cơ bản.
Nguyên tắc 1: Đề phòng mất nước bằng cách uống ORS Dùng 1 gói ORS pha
trong một lít nước đun sôi để nguội Cho trẻ uống trong 24 giờ; nếu sau 24 giờ uốngkhông hết thì phải đổ đi và pha gói khác Cho trẻ uống dung dịch Oresol ngay sau lần
ỉa phân lỏng đầu tiên với liều lượng như sau:
Nếu không có ORS thì cho trẻ uống các dung dịch thay thế ORS như nước cháo muối hoặc nước muối đường hoặc nước dừa non với liều lượng như trên
- Nước cháo muối: 1 nắm gạo + 6 bát (200ml/bát) nước + 1 nhúm muối, đunsôi cho đến khi hạt gạo nở tung ra, chắt lấy 1000ml Uống trong thời gian 6 giờ,không hết đổ đi, nấu nồi khác
- Nước muối đường: Hoà tan: 1 thìa cafe gạt bằng muối (3,5g) + 8 thìa cafegạt bằng đường (20g glucose và 20 fructose) + 1000ml nước sôi để nguội Uốngtrong vòng 24 giờ
-Nước dừa non:1000ml + 1 thìa cafe gạt bằng muối Uống trong 6 giờ Hướngdẫn bà mẹ cách cho trẻ uống có hiệu quả: Hướng dẫn người mẹ cho
trẻ uống liên tục, uống ít một bằng thìa, cứ 1 - 2 phút uống 1 thìa Trẻ lớn cho uống từng ngụm bằng cốc
Nếu trẻ nôn thì dừng 5 - 10 phút, sau đó lại cho uống tiếp với tốc độ chậmhơn
Nguyên tắc 2: Cho trẻ ăn đầy đủ các chất, nhất là chất đạm để thúc đẩy quá
trình đổi mới tế bào ruột và phòng bệnh suy dinh dưỡng bằng cách:
Tiếp tục cho trẻ bú mẹ đối với trẻ đang bú
Trang 23Tiếp tục cho trẻ ăn những thức ăn thay thế sữa mẹ phù hợp với tháng tuổi đối với trẻ đang được nuôi dưỡng bằng chế độ ăn nhân tạo.
Tiếp tục cho trẻ ăn sam đối với trẻ đang trong thời kỳ ăn sam
Tiếp tục cho trẻ ăn bình thường đối với trẻ lớn
Thức ăn của trẻ tiêu chảy phải nấu nhừ, dễ tiêu hoá, giàu chất dinh dưỡng, nhất là chất đạm, giàu Vitamin và muối khoáng
Khuyến khích cho trẻ ăn nhiều bữa trong ngày
Sau khi khỏi bệnh, cho trẻ ăn thêm mỗi ngày 1 bữa trong thời gian 2 - 4 tuần
Nguyên tắc 3: Hướng dẫn bà mẹ biết khi nào phải đưa trẻ đến cơ sở y tế.
Phải đưa trẻ đến cơ sở y tế ngay, khi thấy có một trong các dấu hiệu sau:
- Trẻ quấy khóc, kích thích vật vã
- Trẻ khát nhiều
- Trẻ nôn nhiều
- Trẻ ỉa phân có nhày máu
- Trẻ không đái được
Phải đưa trẻ đến cơ sở y tế khám lại nếu sau 5 ngày không tiến triển tốt
1.1.9 Phòng bệnh tiêu chảy
Điều trị tiêu chảy đúng làm giảm nguy cơ tử vong nhưng không làm giảm tỷ lệmắc bệnh tiêu chảy Cơ sở y tế là nơi tốt nhất để điều trị và hướng dẫn các thành viêncủa gia đình trẻ, giúp họ thực hiện các biện pháp phòng bệnh tiêu chảy
Nâng cao sức đề kháng cho trẻ:
- Nuôi con bằng sữa mẹ: Trong 6 tháng đầu đời, trẻ cần được bú mẹ hoàntoàn, có nghĩa là một đứa trẻ khoẻ mạnh cần được bú sữa mẹ và không phải ăn hoặcuống thêm thứ gì khác như nước, các loại nước chè, nước hoa quả, nước cháo, sữađộng vật hoặc thức ăn nhân tạo, Trẻ được bú mẹ hoàn toàn sẽ ít mắc bệnh tiêu chảy
và tỉ lệ tử vong thấp hơn so với trẻ không được bú mẹ hoặc không được bú mẹ hoàntoàn Bú mẹ cũng làm giảm nguy cơ dị ứng sớm, đồng thời cũng tăng sức đề khángchống lại các bệnh nhiễm trùng, làm giảm các đợt nhiễm trùng khác Nên cho
Trang 24trẻ bú mẹ đến khi trẻ được 2 tuổi Cho trẻ bú mẹ càng sớm càng tốt ngay sau sinh mà không cho ăn bất cứ loại thức ăn nào khác [1].
- Ăn sam đúng theo ô vuông thức ăn (tô màu bát bột): Thức ăn bổ sung nêncho ăn khi trẻ 6 tháng tuổi Tuy nhiên, có thể cho trẻ ăn thức ăn bổ sung vào bất cứthời gian nào sau 4 tháng tuổi nếu trẻ phát triển kém Thực hành ăn sam tốt bao gồmlựa chọn thức ăn giầu chất dinh dưỡng và chế biến hợp vệ sinh Lựa chọn thức ăn bổsung dựa vào chế độ ăn và thực phẩm an toàn sẵn có tại địa phương Cùng với sữa mẹhoặc sữa khác, phải cho trẻ ăn thức ăn nghiền nhỏ và bổ sung thêm trứng, thịt, cá vàhoa quả Những thức ăn khác phải nấu nhừ, có rau và cho thêm dầu ăn [46]
- Thực hiện tiêm phòng đầy đủ 7 bệnh thường gặp, tiêm đúng lịch: Phải tiêmphòng đầy đủ các loại vắc xin theo lịch tiêm chủng mở rộng Tiêm phòng sởi có thểgiảm tỷ lệ mắc và mức độ trầm trọng của tiêu chảy Tất cả trẻ em cần tiêm phòng sởi
ở độ tuổi khuyến nghị Rotavirus: đã triển khai ở các nước phát triển cho thấy hiệu quả phòng ngừa tiêu chảy do Rotavirus rất tốt Hiện nay, có nhiều dạng chế phẩm vắc xin phòng Rotavirus, liều lượng và cách sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất và
Chương trình tiêm chủng quốc gia Vắc xin tả uống và vắc xin thương hàn được chỉđịnh sử dụng cho những vùng có nguy cơ dịch theo chỉ đạo của Cục Y tế Dự phòng
và Chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia [48]
- Giữ ấm cho trẻ
- Sử dụng nguồn nước sạch (nước máy, nước giếng khoan, nước mưa )
- Ăn chín, uống sôi
- Thức ăn của trẻ phải tươi, đảm bảo vệ sinh, bảo quản chu đáo
- Rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, sau khi đổ bô, quét nhà, dọn dẹp
- Tất cả mọi người trong gia đình đều sử dụng hố xí hợp vệ sinh, xử lý phântốt Môi trường mất vệ sinh làm lan rộng các tác nhân gây tiêu chảy Những tác nhânnày được bài tiết từ phân làm lây nhiễm cho người và động vật Xử lý phân đúng hạnchế sự lây nhiễm Phân làm nhiễm bẩn nguồn nước nơi trẻ chơi, nơi bà mẹ
Trang 25giặt quần áo và nơi lấy nước dùng cho gia đình Các gia đình cần quan tâm đến chấtlượng và vệ sinh của hố xí Nếu hố xí không đạt tiêu chuẩn thì phải đại tiện vào hố vàchôn phân ngay sau khi đại tiện Phân của trẻ em thường chứa tác nhân gây tiêu chảy,phải thu dọn, đổ vào hố xí hoặc chôn ngay sau khi đi ngoài [5].
- Quản lý tốt phân, nước thải, rác [6],[27]
1.2 Các nghiên cứu trong và ngoài nước về chủ đề nghiên cứu của đề tài Trong nhiều
năm qua, đã có nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan
tâm đến vấn đề tiêu chảy ở trẻ dưới 5 tuổi nhằm làm giảm tỷ lệ mắc và tử vong ở trẻ
Một nghiên cứu can thiệp của Gloria Villareal và cộng sự (2011), cho thấy có
sự cải thiện kiến thức về tiêu chảy của các bà mẹ sau can thiệp giáo dục sức khỏe:trước can thiệp, kiến thức đầy đủ là 47% và chưa đầy đủ là 53% Sau can thiệp, kiếnthức đầy đủ tăng 94.1% và chưa đầy đủ là 5.9% [36]
Năm 2012, nghiên cứu của Manijeh Khalili và cộng sự đã chỉ ra 64.3% bà mẹ
có kiến thức về tiêu chảy và chế độ ăn trong đó chỉ có 3.7% là kiến thức tốt 56.3%
bà mẹ có kiến thức thực hành về bệnh tiêu chảy và chế độ ăn, trong đó có 2.3% làkiến thức tốt [39] và nghiên cứu của Kevisetuo Anthony Dzeyie (2012), 80% bà mẹcho rằng thực phẩm ô nhiễm và nguồn nước là nguyên nhân gây tiêu chảy; 83% và77% bà mẹ chọn sử dụng nước sạch và rửa tay bằng xà phòng là biện pháp phòngbệnh tiêu chảy cho trẻ Trong quá trình chăm sóc trẻ tiêu chảy thì 68% bà mẹ tiếp tụccho trẻ bú; 42% có kiến thức về ORS; 25% cho rằng ORS là thuốc điều trị chính và75% bà mẹ sử dụng ORS cho trẻ khi bị tiêu chảy [38]
Một nghiên cứu mô tả cắt ngang của Sillah F (2013), thu được kết quả: giá trịtrung bình của kiến thức, thái độ và thực hành về bệnh tiêu chảy của các bà mẹ lầnlượt là 14.4, 6.3 và 33.9 Trong đó tỷ lệ sử dụng ORS cho trẻ tiêu chảy rất thấp chỉ có
4 % [44]
Yasmin Mumtaz và cộng sự (2014), nghiên cứu cho thấy, kiến thức của bà mẹ
về những nguyên nhân của tiêu chảy là nước bị ô nhiễm 17%, ăn bẩn 14% và mọcrăng 10% Về dấu hiệu mất nước, 40% bà mẹ không biết và 26% trả lời có bị
Trang 26mắt trũng là dấu hiệu duy nhất , trong khi 35% trả lời hai dấu hiệu là khát nước vàniêm mạc môi, miệng khô 80% bà mẹ biết làm thế nào để chuẩn bị ORS và về côngtác phòng chống tiêu chảy: 15,5% bà mẹ biết giữ vệ sinh khi chế biến thực phẩm và14,5% sử dụng nước đun sôi để nguội.Về thực hành tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sứckhỏe: 52,5% bà mẹ đưa con đến bác sĩ sau 2 ngày, 30% bà mẹ đã tự cho trẻ dùngthuốc [49].
Nghiên cứu của Chaudhary P và cộng sự đã chỉ ra rằng kiến thức về nguyênnhân của bà mẹ là chưa tốt: 4.8% là suy dinh dưỡng, 6.4% là bú bình 80% bà mẹ cókiến thức không đúng hoặc không biết về chệ độ ăn cho trẻ tiêu chảy [34] SergiusOnwukwe (2016), 46.7% bà mẹ không sự dụng ORS cho trẻ tiêu chảy, 63% bà mẹchưa có kiến thức đúng về cách cho trẻ uống ORS và 27.3% bà mẹ ngừng ăn hoặckhông biết nuôi dưỡng trẻ như thế nào khi trẻ tiêu chảy [42]
Lê Hồng Phúc và Lý Văn Xuân (2004), nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 335
bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Vĩnh An thu được kết quả: kiến thức, thái độ và thựchành về tiêu chảy của các bà mẹ có dưới 5 tuổi là thấp cụ thể : 26.9% bà mẹ có kiếnthức tốt, 17.9% bà mẹ có thái độ đúng và 17.3% bà mẹ thực hành đúng về xử trí trẻtiêu chảy [23]
Theo nghiên cứu của Nguyễn Quang Vinh (2005): Kiến thức của bà mẹ vềnhận biết bệnh tiêu chảy đúng là 80%, nguyên nhân gây tiêu chảy: trả lời đúng và
đủ là 29%, trả lời sai là 0.3%, tỷ lệ bà mẹ xử lý phân trẻ đúng là 36%, xử lý khôngđúng là 64%, tỷ lệ bà mẹ có kiến thức vệ sinh phòng bệnh tốt là 58.6%, không tốt là41.4% Thái độ của bà mẹ: có 67.7% cho rằng bệnh tiêu chảy là nguy hiểm, 95.7%cho rằng ăn uống hợp vệ sinh phòng bệnh tiêu chảy là thật sự cần thiết Về xử trí trẻkhi bị tiêu chảy: tỷ lệ bà mẹ tự điều trị tại nhà là 43.9%, tỷ lệ bà mẹ nhận biết dấuhiệu mất nước là: Đúng 1 dấu hiệu 46%, đúng 2 dấu hiệu trở lên đến 6 là 41.9%,đúng và đủ các dấu hiệu là 8.6% không biết dấu hiệu nào là 3.5%, Tỷ lệ bà mẹ biếtdùng ORS khi bị tiêu chảy là 55,7% và tỷ lệ bà mẹ cho con ăn: Cho ăn bình thường41.8%, nhiều lên là 20.7%, cho ăn kiêng hoặc ít đi là 23.7%, và không cho ăn là13.8% [30]
Trang 27Phan Thi Cẩm Hằng và Nguyễn Văn Bàng (2007): 58.8% các bà mẹ biết mộtphần tác dụng của ORS, 72.9% không biết thành phần gói ORS, 21.2% biết sai lượngdịch ORS cho trẻ uống khi đang tiêu chảy, 57.6% các bà mẹ biết đúng loại dịch thaythế ORS, 69.4% các bà mẹ dự trữ sẵn ORS ở nhà, 88.2% cho rằng ORS tốt cho concủa họ, 58.6% pha ORS đúng quy trình, có 89,4% các bà mẹ cho uống ORS đúng [3].
Năm 2009 – 2010, nghiên cứu của Trương Thanh Phương (2009) và Trần ĐỗHùng (2010) đã chỉ ra rằng kiến thức của bà mẹ về bệnh tiêu chảy chưa cao: tỷ lệ bà
mẹ có kiến thức đúng là 26.9%, có 87.5% các bà mẹ có kiến thức đúng về bù nướcđiện giải, 55.1% các bà mẹ có kiến thức đúng về gói ORS và 63.6% bà mẹ có kiếnthức đúng về dinh dưỡng trong tiêu chảy [16]
Tuy có nhiều nghiên cứu về kiến thức của bà mẹ có con dưới 5 tuổi về tiêuchảy nhưng hầu hết các đề tài chỉ tập trung vào khảo sát thực trạng và tìm hiểu cácyếu tố liên quan để từ đó đưa ra khuyến nghị là tăng cường hơn nữa công tác giáo dụcsức khỏe cho bà mẹ và cộng đồng Trong khi, rất ít đề tài nghiên cứu đánh giá hiệuquả của công tác giáo dục sức khỏe trong việc thay đổi kiến thức cho bà mẹ và cộngđồng để từ đó củng cố, bổ sung cho chương trình giáo dục sức khỏe đạt hiệu quả tốthơn
1.3 Vai trò của truyền thông giáo dục sức khỏe
Ngày nay, việc nâng cao nhận thức, giúp người dân có được cách hiểu đúngđắn về sức khoẻ Từ đó cung cấp những kiến thức khoa học về chăm sóc, bảo vệ sứckhoẻ, cách phòng chữa bệnh để đạt được các chỉ số sức khoẻ ở mức cần có luôn luôn
là vấn đề nóng bỏng, nhất là khi môi trường đất, nước, không khí đang bị ô nhiễm,các đại dịch lớn, những căn bệnh nguy hiểm, các bệnh dịch mới nổi… của nhân loạivẫn chưa được giải quyết triệt để Đây chính là thách thức của đơn vị truyền thônggiáo dục sức khỏe và những cán bộ truyền thông nhiều năm qua
Giáo dục sức khỏe cũng giống như giáo dục chung đó là quá trình tác động cómục đích, có kế hoạch đến suy nghĩ và tình cảm của con người nhằm nâng cao kiếnthức, thay đổi thái độ và thực hành các hành vi lành mạnh để bảo vệ và nâng
Trang 28cao sức khỏe cho cá nhân, gia đình và cộng đồng Giáo dục sức khỏe nói chung tácđộng vào 3 lĩnh vực: kiến thức của con người về sức khỏe, thái độ của con người đốivới sức khỏe, thực hành hay cách ứng xử của con người trong việc bảo vệ và nângcao sức khỏe [15].
Giáo dục sức khỏe không chỉ là cung cấp các thông tin chính xác , đầy đủ vềsức khỏe bệnh tật mà còn nhấn mạnh đến các yếu tố khác ảnh hưởng đến hành vi sứckhỏe con người như: nguồn lực hiện có, môi trường sống, ảnh hưởng môi trường laođộng việc làm, yếu tố hỗ trợ xã hội, kỹ năng tự chăm sóc sức khỏe Vì thế giáo dụcsức khỏe sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để giúp cho mọi người hiểu đượchoàn cảnh riêng của họ và chọn các hành động bảo vệ, tăng cường sức khỏe phù hợp[15]
Theo thống kê có tới 12% nhân dân thiếu hiểu biết về các vấn đề sức khỏe nhưthiếu hiểu biết hoặc hiểu biết không đúng về cấu tạo cơ thể, diễn biến và nguyên nhângây bệnh, không biết tự chăm sóc cũng như phòng bệnh, không điều trị triệt để dẫnđến nhiều hậu quả và biến chứng nặng nề, làm tăng gánh nặng chi phí y tế…Vì vậy,công tác truyền thông giáo dục sức khỏe có vai trò rất quan trọng trong đời sống nhândân như:
- Là một bộ phận công tác y tế quan trọng nhằm làm thay đổi hành vi sứckhỏe
- Nâng cao ý thức y tế, giúp cải thiện tình trạng sức khỏe của cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội
- Nâng cao ý thức y tế giúp mọi người sống lành mạnh hơn
- Nâng cao ý thức y tế cũng như giảm làm tỷ lệ mắc bệnh , tỷ lệ tàn phế và tỷ vong nhất là ở các nước đang phát triển
- Nhờ tập trung vào sự phòng bệnh, nâng cao ý thức y tế giúp cắt giảm chi phí chăm sóc điều trị cho cá nhân cũng như gia đình và ngân sách quốc gia
- Tăng cường hiệu quả các dịch vụ Y tế
Trang 291.4 Cây vấn đề các yếu tố liên quan
Trình độ học vấn
Nghề nghiệp
Nơi cư trú
Nhận thức về bệnh tiêu chảy:
-Tác nhân gây bệnh-Yếu tố nguy cơ-Triệu chứng mất nước
- Hậu quả
- Xử trí và chăm sóc
- Cách phòng bệnh
Can thiệp Giáo dục
Thay đổi nhận thức
về bệnh tiêu chảy:
- Tác nhân gây bệnh -Yếu tố nguy cơ
-Triệu chứng mất nước
- Hậu quả
- Xử trí và chăm sóc
- Cách phòng bệnh
1.5 Đôi nét về bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định
Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định được thành lập từ năm 2009, là bệnh việnchuyên khoa tuyến tỉnh, hạng 3 với quy mô 150 giường bệnh và có 6 khoa lâm sàng:khoa khám bệnh, khoa xét nghiệm, khoa dược, khoa cấp cứu sơ sinh, khoa hô hấp vàkhoa nội tổng hợp Bệnh viện có 150 cán bộ y tế với trình độ chuyên môn cao và cótình thần trách nhiệm cao trong công việc, hết lòng phục vụ nhân dân Lưu lượngbệnh nhi đến khám tại khoa khám bệnh của bệnh viện: trung bình 200 trẻ/ngày, bệnhnhi điều trị nội trú là 1000 bệnh nhi / tháng trong đó 55% là bệnh nhi bị bệnh đường
hô hấp, 30% bệnh nhi đường tiêu hóa (bệnh tiêu chảy là chủ yếu) và 15% bệnh nhimắc bệnh khác
Bệnh nhi bị tiêu chảy tập trung chủ yếu ở khoa cấp cứu sơ sinh và khoa nộitổng hợp Khoa cấp cứu sơ sinh nằm ở tầng 2 với 9 phòng và 40 giường bệnh, trong
đó có 1 phòng dành cho bệnh nhi bị tiêu chảy Khoa nội tổng hợp nằm ở tầng 5 với 8phòng và 40 giường bệnh, trong đó có 2 buồng bệnh cho bệnh nhi tiêu chảy và 8giường/ phòng Tại bệnh viện, bệnh nhi bị tiêu chảy chiếm tỷ lệ khá cao sau các bệnh
Trang 31Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1.
Đối tượng nghiên cứu
- Các bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị tiêu chảy điều trị tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
+ Bà mẹ đồng ý tham gia nghiên cứu
+Bà mẹ có khả năng nhận thức và giao tiếp để trả lời các câu hỏi
- Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Các bà mẹ không đồng ý tham gia vào nghiên cứu
+ Các bà mẹ không thể tiếp nhận và trả lời được các câu hỏi.2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
So sánh, bàn luận và kết luận
2.4 Cỡ mẫu
Công thức tính cỡ mẫu được áp dụng như sau:
Trang 32Trong đó:
- n là số bà mẹ tham gia nghiên cứu
- Z( /2) là giá trị Z thu được từ bảng Z tương ứng với giá trị Vớilực mẫu là 90% ( = 0,2), mức ý nghĩa 95% ( = 0,05), tương đương vớiZ(1- ) = 1,65 và Z(1- ) = 1,29
- p0 là tỷ lệ bà mẹ có kiến thức tốt trước can thiệp Theo nghiên cứu của
Trương Thanh Phương năm 2009 [24]: tỷ lệ bà mẹ có kiến thức tốt đạt 26,9% Do đó lấy p0= 0,27
- p1 là là tỷ lệ bà mẹ có kiến thức tốt sau can thiệp Ước tính P1= 0,45 Thay vào công thức trên tính được n = 58 Để tránh trường hợp sai sót, mất
số liệu chúng tôi lấy thêm 10% và thực tế chúng tôi đã lấy 66 bà mẹ
2.5 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện: chọn tất cả các bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc tiêu chảyđiều trị tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 7 năm
2016 đáp ứng tiêu chuẩn chọn
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
Công cụ thu thập số liệu:
Phiếu khảo sát được xây dựng dựa trên nghiên cứu của Trương Thanh Phươngnăm 2009 theo tài liệu hướng dẫn xử trí tiêu chảy ở trẻ em của Bộ Y tế ban hành.Phiếu khảo sát gồm 2 phần: Phần 1: Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu từ câuA1 đến câu A12 Phần 2 gồm 3 nội dung: kiến thức của bà mẹ về bệnh tiêu chảy từcâu B1 đến câu B8, kiến thức của bà mẹ về chăm sóc trẻ bị tiêu chảy từ câu B9 đếncâu B20 và kiến thức của các bà mẹ về cách phòng bệnh tiêu chảy câu B21
Người thu thập số liệu sử dụng phiếu khảo sát để phỏng vấn trực tiếp bà mẹ tạibuồng bệnh với cùng nội dung cho 2 lần đánh giá trước can thiệp ( khi vào viện) vàsau can thiệp (trước khi ra viện)
Trang 33Thử nghiệm trước bộ công cụ nghiên cứu
Thử nghiệm bộ công cụ nghiên cứu được thực hiện 2 tuần trước khi bắt đầu
thu thập số liệu Tiến hành điều tra thử 15 bà mẹ theo tiêu chuẩn lựa chọn (15 bà mẹ
này không tham gia vào đối tượng nghiên cứu được điều tra sau đó) để xác định tính
sát thực, khả năng áp dụng của bộ công cụ thu thập số liệu, phân tích kết quả thu
được và hiệu chỉnh bộ công cụ cho sát, đúng với đối tượng nghiên cứu
Tiến trình thu thập số liệu
- Bước 1: Lựa chọn được 66 bà mẹ đủ tiêu chuẩn vào nghiên cứu
- Bước 2: 66 bà mẹ được giới thiệu mục đích, ý nghĩa, phương pháp và quyền
lợi của người tham gia vào nghiên cứu, các bà mẹ ký vào bản đồng thuận (phụ luc 1)
và được phổ biến về hình thức tham gia nghiên cứu sau đó được hướng dẫn về cách
trả lời các thông tin phiếu khảo sát
- Bước 3: Khảo sát kiến thức của 66 bà mẹ về bệnh tiêu chảy ở trẻ em khi
nhập viện (trước giáo dục sức khỏe) bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp thông qua
phiếu khảo sát (phụ lục 2)
- Bước 4: Can thiệp giáo dục sức khỏe thông qua cung cấp nội dung kiến thức
về bệnh tiêu chảy ở trẻ em và phát tờ rơi (phụ lục 3)
- Bước 5: Đánh giá kiến thức của bà mẹ về bệnh tiêu chảy ở trẻ em sau giáo
dục sức khỏe bằng phiếu khảo sát (phụ luc 2)
2.7 Các biến số nghiên cứu:
Tên biến
năm 2016 dương lịch
mẹ (Biến định danh)
Trang 35Trình độ Cấp học cao nhất của
(Định lượng thứ bậc)
(Biến định danh)
Kiến thức về bệnh tiêu chảy trẻ em: bao gồm kiến thức đúng về định nghĩa, nguyên
nhân, các yếu tố nguy cơ, đường lây truyền, hậu quả và các dấu hiệu mất nước
Kiến thức về chăm sóc trẻ tiêu chảy: bao gồm kiến thức đúng về dung dịch ORS, tác
dụng của ORS, cách pha ORS, thời gian bảo quản ORS, cách uống ORS, các dung
dịch thay thế ORS, chế độ ăn, dấu hiệu cần đưa trẻ đến cơ sở y tế và thời điểm cho trẻ
ăn sam, cai sữa
Kiến thức về phòng bệnh tiêu chảy: bao gồm kiến thức đúng về các biện pháp phòng
bệnh như nuôi con bằng sữa mẹ, ăn sam đúng, tiêm chủng, rửa tay, sử dụng nước
sạch, sử dụng thực phẩm tươi và xử lý phân
2.8 Tiêu chuẩn đánh giá
- Bà mẹ tham gia trả lời phỏng vấn với mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, trả
lời không đúng 0 điểm Bà mẹ trả lời đúng 80% trở lên (≥ 46 điểm) là kiến thức đạt
loại tốt, 65% đến 79% đạt loại khá (37 – 45 điểm), 50% đến 64% ( 29 – 36 điểm)
kiến thức đạt loại trung bình, ít hơn 50% (≤ 28 điểm) kiến thức đạt loại kém
- Xác định đúng/sai dựa trên những nội dung về bệnh tiêu chảy ở trẻ em trong
các tài liệu chính thống, hiện hành trong nước và thế giới gồm Tài liệu hướng dẫn xử
trí tiêu chảy ở trẻ em của Bộ Y tế (2009), Tài liệu huấn luyện kỹ năng xử trí lồng
ghép trẻ bệnh (2008), Kỹ năng giám sát - Điều trị tiêu chảy, Chương trình phòng
chống bệnh tiêu chảy của Tổ chức Y tế Thế giới (2008)
- Đánh giá sự thay đổi sau can thiệp giáo dục so với trước can thiệp dựa trên
mức chênh điểm trung bình trả lời các câu hỏi và sự khác biệt về tỷ lệ trả lời đúng đối
với mỗi nội dung đánh giá
Trang 362.9 Phương pháp phân tích số liệu:
- Số liệu sau khi được làm sạch, nhập và phân tích trên phần mền SPSS 16.0
- Tính các giá trị phần trăm trước và sau can thiệp, sử dụng các test thống kê cho các kiểm định thích hợp
2.10 Chương trình can thiệp
Nội dung can thiệp: Nội dung giáo dục sức khỏe được xây dựng dựa trên Tài liệu hướng dẫn xử trí tiêu chảy ở trẻ em của Bộ Y tế ban hành ngày 28 tháng 10 năm
2009 Giáo dục sức khỏe cho bà mẹ có con dưới 5 tuổi kiến thức về bệnh tiêu chảygồm: nguyên nhân, triệu chứng, hậu quả, cách chăm sóc và biện pháp phòng bệnh
Cách thức can thiệp: 66 bà mẹ được can thiệp giáo dục sức khỏe trong
khoảng thời gian tại bệnh viện bằng phương pháp giáo dục sức khỏe trực tiếp bởi chủ
đề tài nghiên cứu gồm:
Bước 1: Khảo sát kiến thức của 66 bà mẹ về bệnh tiêu chảy ở trẻ em lần 1 khivào viện bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp thông qua phiếu khảo sát chuẩn bịtrước Địa điểm: tại buồng bệnh Thời gian 10 giờ ngày đầu vào viện (sau khi thựchiện thuốc) Thời gian phòng vấn: 15 phút
Bước 2: Đánh giá kiến thức của 66 bà mẹ về bệnh tiêu chảy và xây dựng nộidung can thiệp giáo dục phù hợp với từng bà mẹ
Bước 3: Can thiệp giáo dục: Phát cho bà mẹ tài liệu tư vấn, tờ rơi về bệnh tiêuchảy, truyền thông trực tiếp các nội dung can thiệp đã xây dựng và giải đáp nhữngthắc mắc của bà mẹ (80 tài liệu tư vấn và tờ rơi) Địa điểm: tại buồng bệnh Thời gian
10 giờ ngày thứ hai vào viện (sau khi thực hiện thuốc) Thời gian can thiệp: 30 phút
Bước 4: Đánh giá lại kiến thức của 66 bà mẹ về bệnh tiêu chảy ở trẻ em lần 2trước khi ra viện thông qua phiếu khảo sát chuẩn bị trước giống lần 1 Địa điểm: tạibuồng bệnh Thời gian 10 giờ (sau khi thực hiện thuốc) Thời gian phỏng vấn: 15phút
Trang 372.11 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu được Hội đồng bảo vệ đề cương Trường Đại học Điều dưỡng NamĐịnh đồng ý thông qua và được sự chấp thuận cho phép của bệnh viện Nhi tỉnh NamĐịnh
Đây là nghiên cứu can thiệp bằng giáo dục sức khỏe không ảnh hưởng tínhmạng người bệnh
Các bà mẹ trong nghiên cứu được giải thích rõ về mục đích, lợi ích của quátrình giáo dục sức khỏe và ký vào bản đồng thuận Các bà mẹ có quyền từ chối khôngtham gia phỏng vấn bất cứ lúc nào
Quá trình giáo dục sức khỏe cho các bà mẹ được chủ đề tài thực hiện tại buồngbệnh do đó các bà mẹ không tham gia trong nghiên cứu vẫn được nghe giáo dục sứckhỏe
Các thông tin thu thập được giữ bí mật và chỉ sử dụng vào mục đích nghiêncứu
2.12 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
- Hạn chế của nghiên cứu: Do thời gian nghiên cứu ngắn và lấy mẫu thuận tiện nên kết quả thu được ít có giá trị ngoại suy
- Kiểm soát sai số
Để các thông tin thu thập được có chất lượng tốt nhất, phiếu khảo sát đượcthiết kế logic, ngôn ngữ đại chúng dễ hiểu để đối tượng nghiên cứu trả lời được.Trước khi điều tra hàng loạt phiếu khảo sát được điều tra thử trên 15 đối tượng; sau
đó hiệu chỉnh cho phù hợp Số liệu thu thập được nhập 2 lần độc lập
- Biện pháp khắc phục:
+ Các khái niệm, thuật ngữ rõ ràng
+ Thiết kế phiếu khảo sát dễ hiểu để đối tượng dễ trả lời
+ Tiến hành phỏng vấn thử để hoàn thiện phiếu khảo sát
+ Trước khi phỏng vấn; điều tra viên phải giải thích rõ mục đích và ý nghĩa đểđối tượng hợp tác đảm bảo được tính trung thực
+ Tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kiểm tra số liệu trước khi phân tích
Trang 38Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu Bảng
3.1: Phân bố nhóm tuổi và nơi cư trú của bà mẹ
Về nơi cư trú, đa số các bà mẹ tham gia nghiên cứu ở nông thôn, chiếm tỷ lệ là66.7% và ở thành thị là 33.3%
Biểu đồ 3.1: Phân bố trình độ học vấn của bà mẹ