Trong thực tế, mỗi doanh nghiệp có đặc thù sản xuất và lao động riêng, cho nên phương thức hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương là không giống nhau.Xuất phát từ vị trí vai
Trang 1Tổ chức công tác kế toán tiền lương và
các khoản trích theo lương.
Trang 2
MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 3
CHƯƠNG 1 5
GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ 5
CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG SÔNG ĐÀ YALY 5
1.1 Tổng quan về Công ty cổ phần xi măng Sông Đà Yaly 5
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển và qui mô của công ty 5
CHƯƠNG 2 16
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 16
2.1 Bản chất của tiền lương trong doanh nghiệp 16
S ơ đồ ế k toán các kho n trích theo l ả ươ 34 ng CHƯƠNG 3 35
KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG SÔNG ĐÀ YALY 35
3.1 Đặc điểm lao động và phân công lao động 35
Hệ số bậc lương 35
26 Ngày công 35
Ti n l ề ươ ng = Kh i l ố ượ ng công vi c (S n ph m) x ệ ả ẩ Đơ n giá 36
= 36
Trách nhi m ệ 36
X 36
L ươ ng ngh phép ỉ 37
B ng phân b ti n l ả ổ ề ươ ng v các kho n trích theo l à ả ươ 43 ng Tháng 12 n m 2009 ă 43
TK334 43
Lư ng chính ơ 43
CHƯƠNG 4 49
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG SÔNG ĐÀ YALY 49
4.1 Nhận xét đánh giá chung về công tác tổ chức kế toán tiền lương tại Công ty cổ phần xi măng sông đà yaly 49
KẾT LUẬN 53
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Trong xã hội bất kỳ ngành nghề lĩnh vực nào từ sản xuất thương mại hay dịch vụ muốn tồn tại và phát triển đều phải có yếu tố lao động hoặc là lao động chân tay hoặc là lao động trí
óc Lao động chính là điều kiện đầu tiên là yếu tố có tính chất quyết định nhằm biến đổi các vật thể tự nhiên thành những vật phẩm cần thiết để thoả mãn nhu cầu xã hội Xã hội càng phát triển đòi hỏi người lao động càng phải tiến bộ phát triển cao hơn, từ đó càng biểu hiện rõ tính quan trọng cần thiết của lao động
Và để cho người lao động có thể tồn tại, bù đắp được những hao phí mà họ đã bỏ ra nhằm tái sản xuất sức lao động thì cần phải có yếu tố tiền lương Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động nó được xác định theo 2 cơ sở chủ yếu là số lượng và chất lượng lao động
Bên cạnh chức năng đảm bảo cuộc sống cho người lao động, tiền lương còn được sử dụng khuyến khích tinh thần, thúc đẩy người lao động làm việc tốt hơn
Ngoài ra tiền lương cũng được coi là một bộ phận chí phí cấu thành nên giá trị các loại sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất ra, qua đó sẽ ảnh hưởng đến kinh doanh hay lợi nhuận của doanh nghiệp Nhưng doanh nghiệp lại không thể giảm tiết kiệm chi phí lương trả cho người lao động, mà phải biết cách sử dụng có hiệu quả sức lao động nhằm tiết kiệm chi phí, tăng năng suất qua đó tăng doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp, góp phần tích lũy cho đơn
vị và sẽ tác đọng trở lại làm cho thu nhập của người lao động tăng lên, đời sống được cải thiện hơn
Đảng, Nhà nước, chính phủ từ nhiều năm nay rất quan tâm đến vấn đề tiền lương của người lao động Bên cạnh đó, Bộ lao động và thương binh xã hội đã ra nhiều quyết định liên quan đến việc trả lương và các chế độ khác tính lương cho người lao động, Bộ Tài chính cũng ban hành nhiều văn bản quy định cách thức hạch toán lương và các khoản trích theo lương tại các doanh nghiệp Trong thực tế, mỗi doanh nghiệp có đặc thù sản xuất và lao động riêng, cho nên phương thức hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương là không giống nhau.Xuất phát từ vị trí vai trò đặc biệt của thông tin kế toán, đặc biệt là việc hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương, cho nên trong thời gian thực tập tại đơn vị cơ sở, em đã
tìm hiểu và lựa chọn đề tài: "Tổ chức công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương".
Ngoài phần mở đầu và kết luận, báo cáo tốt nghiệp được trình bày gồm bốn chương chính sau:
Chương 1 : Giới thiệu khái quát về Công ty cổ phần xi măng Sông Đà Yaly
Trang 4Chương 2 :Lý luận chung về hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp
Chương 3 : Hạch toán kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty
cổ phần xi măng Sông Đà Ya ly
Chương 4 : Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần xi măng Sông Đà Ya ly
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do hạn chế về kiến thức và thời gian nghiên cứu, bài viết không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô, các cán
bộ phòng kế toán và mọi người quan tâm đến đề tài để đề tài được hoàn thiện hơn
Trang 5CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG SÔNG ĐÀ YALY
1.1 Tổng quan về Công ty cổ phần xi măng Sông Đà Yaly 1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển và qui mô của
công ty.
Trong 5 năm vừa qua, đất nước ta trong tiến trình đổi mới và hội nhập, cạnh tranh hết sức khốc liệt, có tác động mạnh mẽ đối với các Doanh nghiệp Việt nam nói chung và các Doanh nghiệp trong ngành xây dựng nói riêng lại phải chịu tác động bởi sự thăng trầm của kinh tế khu vực và kinh tế thế giới do chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai, nạn khủng bố
Tổng công ty Sông đà đã vươn lên đứng vững trước những khó khăn, thách thức đồng thời tạo ra được nhiều thời cơ, vận hội để vươn lên phát triển Tập thể cán bộ, Đảng viên, Công nhân viên TCT Sông đà đã đoàn kết một lòng, quyết tâm vượt qua mọi thử thách, hoàn thành xuất sắc những mục tiêu nhiệm vụ do Nghị quyết Đại hội đảng bộ TCT lần thứ VIII đề ra
Là một thành viên của Tổng công ty Sông đà - Công ty cổ phần xi măng Sông đà - Yaly cũng mang trên mình những trọng trách lớn lao, đã và đang từng bước thực hiện thắng lợi mục tiêu kế hoạch của TCT và Công ty Được hình thành từ năm 1989, tiền thân là Công ty vận tải Sông đà đóng tại Nhơn phú - Qui nhơn Công ty được Tổng công ty giao nhiệm vận chuyển, cung ứng vật tư, vật liệu, thiết bị khác thuộc Tổng công ty làm nhiệm vụ thi công, xây dựng thuỷ điện Vĩnh Sơn Sau khi thuỷ điện Vĩnh sơn đi vào cuối giai đoạn, Công ty kinh doanh vận tải Sông đà đổi tên thành chi nhánh Công ty Sông đà 12 tiếp tục phục vụ thuỷ điện YALY Do yêu cầu cần thiết của Tổng công ty về việc phân cấp quản lý, tổ chức quản lý CBCN và tiền lương, về công tác sắp xếp tổ chức cán bộ công nhân viên Tổng công
ty quyết định đổi tên chi nhánh Công ty Sông đà 12 thành Công ty sản xuất và kinh doanh vật tư vận tải Sông đà 16, sau đó đổi tên thành Công ty xi măng Sông đà, đóng tại xã Nghĩa Hưng - huyện Chưpah - tỉnh Gia lai để tiếp tục phục vụ thuỷ điện YALY, thuỷ điện Sê san
3, Sê san 4 và thuỷ điện Pleikông
Cho đến tháng 7 năm 2003 theo quyết định số 936/QĐ-BXD ngày 03/7/2003 của Bộ trưởng Bộ xây dựng: Công ty Xi măng Sông đà trực thuộc Tổng Công ty Sông đà thành
Trang 6Công ty Cổ phần xi măng Sông đà - Yaly, là doanh nghiệp độc lập theo hình thức chuyển từ
bộ phận doanh nghiệp nhà nước, được tổ chức và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước:
+ Sản xuất và kinh doanh sản phẩm xi măng Sông đà
+ Sản xuất và kinh doanh vỏ bao xi măng, vật liệu xây dựng
+ Khai thác đá bằng phương pháp khoan nổ mìn
+ Vận chuyển xi măng và vật liệu xây dựng bằng phương tiện cơ giới đường bộ theo các hợp đồng kinh tế chi tiết với khách hàng
+ Kinh doanh vật liệu phi quặng, sắt thép xây dựng, xăng, dầu nhớt
+ Kinh doanh vật tư, thiết bị, phụ tùng sửa chữa máy xây dựng, ô tô vận tải, sửa chữa trung đại tu ô tô
+ Vận tải thuỷ, khai thác bằng phương tiện tàu hút, gầu quặng
+ Vận chuyển vật liệu nổ phục vụ công trường
+ Kinh doanh ngành nghề khác theo phạm vi đăng ký, phù hợp với qui định của pháp luật
1.1.2.2 Về Nhiệm vụ và đặc điểm hoạt động SXKD :
Đăng ký kinh doanh và kinh doanh theo đúng ngành nghề đã đăng ký, chịu trách nhiệm trước các cổ đông về kết quả sản xuất kinh doanh, chịu trách nhiệm trước các khách hàng và pháp luật về sản phẩm và dịch vụ do Công ty thực hiện Xây dựng các chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp với các chức năng, nhiệm vụ của Công ty
và nhu cầu thị trường Ký kết và tổ chức thực hiện các hợp đồng kinh tế với khách hàngCung ứng sản phẩm Xi măng Sông đà yaly và các vật tư khác cho các công trường như: Công trường thuỷ điện Sê san 3, Công trường thuỷ điện sê san 3A, thuỷ điện Sê san 4, thuỷ điện Xêkaman1 và thủy điện Xêkaman3 tại nước bạn Lào
Thực hiện các nghĩa vụ đối với người lao động theo quy định của Bộ Luật lao động, đảm bảo cho người lao động tham gia quản lý Công ty bằng thoả ước lao động tập thể
và các quy chế khác
Trang 7Không ngừng đổi mới công nghệ sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công
nghệ mới vào sản xuất Tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất được giao, bố trí dây
chuyền sản xuất hợp lý nhằm tạo lợi nhuận cao thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh
phát triền
Thực hiện các qui định của Nhà nước về bảo vệ tài nguyên, môi trường, di tích lịch sử,
văn hoá, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và công tác phòng cháy
chữa cháy
1.2 Tổ chức bộ máy quản lý và mạng lưới kinh doanh:
1.2.1 cơ cấu bộ máy quản lý:
Sơ đồ bộ máy quản lý Công ty cổ phần xi măng Sông Đà Yaly
HĐQT
Tổng GĐ điều hành
Phó TGĐ
QLCG
Phó TGĐ SX
Phòng
TCHC
Phòng KTKH
BAN KS
Phòng PTSX
Phòng TCKT
Phòng KCS
Phòng KDVT
Phòng QLKT
PX TP
Xưởng CK
Đội khai thác
Trang 8 Ban kiểm soát (BKS):
Có nhiệm vụ thay mặt cổ đông để kiểm soát mọi hoạt động SXKD, quản trị và điều hành của Công ty Ban kiểm soát chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông về những thiệt hại gây ra cho Công ty trong khi thực hiện nhiệm vụ
Tổng Giám đốc Công ty (TGĐ):
Trực tiếp tổ chức điều hành, phân công nhiệm vụ cho các phòng ban, báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty với HĐQT Công ty đồng thời chịu trách nhiệm trước HĐQT, Đại hội đồng cổ đông và trước pháp luật về những sai phạm gây tổn thất cho Công ty
Phó tổng Giám đốc sản xuất Công ty (PTGĐSX):
Chịu sự phân công của TGĐ Công ty, phụ trách công tác cơ giới, vận tải và cung ứng vật tư cho các đơn vị yêu cầu Thay mặt TGĐ khi TGĐ đi vắng
Phó Tổng Giám đốc cơ giới Công ty: (PTGĐCG)
Chịu sự phân công của TGĐ Công ty, phụ trách công tác cơ giới, vận tải và cung ứng vật tư cho các đơn vị yêu cầu Thay mặt TGĐ khi TGĐ đi vắng
Phòng tổ chức hành chính Công ty (PTCHC):
Có chức năng tham mưu cho TGĐ trong việc thực hiện các phương án sắp xếp
và cải tiến tổ chức sản xuất, công tác quản lý, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, tuyển dụng và sử dụng lao động Tiếp nhận thông tin và truyền tin, truyền lệnh giúp TGĐ trong việc quan hệ công tác với cấp trên, cấp dưới, với chính quyền địa phương và cơ quan đơn vị ngoài
Phòng tài chính kế toán Công ty (PTCKT):
Có chức năng tham mưu cho TGĐ trong công tác tổ chức bộ máy tài chính kế toán từ Công ty đến các đơn vị trực thuộc đồng thời tổ chức chỉ đạo, kiểm tra,
Trang 9báo cáo, thống kê, quyết toán, tổng kết tình hình tài chính, lập báo cáo luân chuyển vốn, nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Phòng kinh doanh vật tư Công ty (PKDVT):
Có chức năng tham mưu cho TGĐ trong việc tổ chức tiêu thụ sản phẩm xi măng, thu hồi vốn bán hàng, cung ứng và quyết toán các loại vật tư, nguyên vật liệu phục vụ quá trình sản xuất xi măng, tham gia trong việc lập biện pháp kinh doanh vật tư, vận tải cho các đơn vị thi công của Tổng Công ty Sông Đà tại khu vực miền Trung và miền Nam
Phòng kinh tế kế hoạch Công ty (KTKH):
Có chức năng tham mưu cho TGĐ Công ty trong các khâu xây dựng triển khai, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện công tác kế toán, công tác kinh tế và công tác đầu tư trong toàn Công ty
Phòng kiểm tra chất lượng Công ty (PKCS):
Tham mưu cho TGĐ trong lĩnh vực kiểm soát chất lượng nguyên vật liệu trước khi nhập kho, nguyên vật liệu trước khi đưa vào sản xuất, các bán thành phẩm, thành phẩm của quá trình sản xuất Lập các đơn phối liệu, nghiền xi măng, đơn đóng bao trình TGĐ phê duyệt trước khi đưa vào sản xuất Đồng thời giám sát quá trình thực hiện các đơn trên
Phòng phát triển sản xuất Công ty (PPTSX):
Tham mưu giúp TGĐ trong việc tìm kiếm cơ hội và tổ chức mở rộng sản xuất Công ty, quản lý theo hệ thống QLCL với tiêu chuẩn ISO 9001-2000 về sản xuất tiêu thụ xi măng và các vật tư khác
Phòng quản lý kỹ thuật Công ty (PQLKT):
Tham mưu cho TGĐ về lĩnh vực cơ giới, quản lý kỹ thuật trong sản xuất công nghiệp của Công ty Theo dõi giám sát quá trình thực hiện công nghệ sản xuất, giới thiệu, đề xuất nghiên cứu khả năng áp dụng công nghệ tiên tiến về lĩnh vực liên quan đến SXKD của Công ty
Các phân xưởng xí nghiệp trực thuộc Công ty:
Quản lý toàn bộ máy móc dây truyền trang thiết bị, con người để sản xuất xi măng đáp ứng yêu cầu sản xuất
Trang 101.3 Một số kết quả hoạt động SXKD của Công ty qua năm 2007 và năm 2008
Bảng số 1:
Một số kết quả hoạt động SXKD của công ty:
So sánh
Số tiền Tỷ lệ (%)
1 Tổng doanh thu đ 198.776.106 249.176.427 50.400.321 25%Trong đó: Doanh thu XK
2 Tổng doanh thu thuần đ 198.478.861 249.175.014 50.696.153 26%
3 Tổng doanh thu hoạt động
1.4 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán
1.4.1 Hình thức tổ chức công tác kế toán trong Công ty
- Mô hình hình hạch toán kế toán: đơn vị hạch toán theo mô hình vừa tập trung vừa phân
tán
- Bộ máy kế toán gồm:
Trang 11+ Phòng kế toán Cơ quan Công ty : 6 người
+ Ban kế toán Xí nghiệp 1: 1 người
+ Ban kế toán Xí nghiệp 2: 1 người
+ Ban kế toán Xí nghiệp 3: 1 người
SƠ ĐỒ BỘ MÁY KẾ TOÁN CÔNG TY
SCĐ
: Quan hệ trực tiếp
: Quan hệ đối chiếu
- Phân công nhiệm vụ bộ phận kế toán:
1 Kế toán trưởng
Phụ trách chung : Chịu trách nhiệm toàn bộ về công tác Tài chính kế toán của công ty + Tổ chức lập kế hoạch tài chính, kế hoạch giá thành, kế hoạch chi phí quản lý doanh nghiệp, kế hoạch thu vốn, bán hàng, kế hoạch tín dụng tháng, quý, năm So sánh giữa kế hoạch & thực hiện
+ Tổ chức xây dựng các quy định về quản lý tài chính của Công ty cho phù hợp với quy định của công ty, Nhà nước Phổ biến, hướng dẫn thực hiện tới các phòng ban , XN
KẾ TOÁN TRƯỞNG
PHÓ KẾ toÁN trƯỞNG KIÊM
KT THANH TOÁN, TLƯƠNG
VÀ SX C.NGHIỆP
KT SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP
Trang 12+ Kết hợp cùng các phòng ban nghiệp vụ trong đơn vị tham gia công tác quản lý của đơn vị + Tổ chức công tác kiểm tra, quyết toán nội bộ Công ty : Kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán báo cáo tài chính, doanh thu, chi phí, lợi nhuận.
+ Xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ làm công tác kế toán tại Công ty
2.Phó kế toán trưởng kiêm Kế toán tổng hợp
+ Tổng hợp báo cáo kế toán, quản trị tháng, quý, năm
+ Lập các báo cáo nhanh theo yêu cầu của đơn vị, Công ty, Tổng công ty
+ Quyết toán chi phí khoán, các khoản phải thu, phải trả các xí nghiệp
+ Tổng hợp đối chiếu công nợ phải trả khách hàng toàn Công ty
+ Tham gia phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh
+ Tổng hợp, theo dõi việc kê khai và quyết toán thuế toàn công ty
3 Kế toán ngân hàng, công nợ phải thu
+ Theo dõi việc thực hiện hợp đồng tín dụng ngắn hạn, trung và dài hạn với Ngân hàng
+ Kế toán tiền vay, tiền gửi Ngân hàng
+ Kế toán theo dõi công tác mua cổ phần, tính lãi cổ tức
+ Kế toán theo dõi tiền vay, trả lãi tiền vay Ngân hàng của các Cổ đông
+ Tổng hợp, đối chiếu công nợ, thu hồi vốn các đơn vị nội bộ Tổng công ty Đối chiếu công nợ với TCT, các Ban quản lý, ban điều hành
4 Kế toán sản xuất công nghiệp, kế toán thanh toán
+ Kiểm tra, theo dõi việc hạch toán xuất, nhập vật tư, thành phẩm tại Cơ quan công ty Kiểm tra hạch toán kết chuyển chi phí sản xuất, lập báo cáo quyết toán tháng, quý, năm tại của cơ quan công ty
+ Quyết toán chi phí khoán Mỏ đá, Vỏ bao
+ Quyết toán tiền bồi dưỡng hiện vật
+ Quyết toán Nguyên vật liệu chính tháng, quý, năm phân tích chi phí sản xuất xi măng.Đối chiếu, thanh toán tiền mua vật tư phát sinh tại Nhà máy, theo dõi quyết toán công nợ tạm vay, tạm ứng toàn công ty
+ Kế toán tiền lương, BHXH, BHYT, KFCĐ, tiền phép, tầu xe phép
5 Kế toán vật tư - Doanh thu - TSCĐ- CCDC
+ Hạch toán doanh thu bán xi măng Sông đà Yaly tại Cơ quan công ty
Trang 13+ Đối chiếu công nợ phải thu tiền xi măng bán ngoài
+ Lập báo nợ tiền xi măng bán cho các xí nghiệp trực thuộc và nội bộ TCT
+ Theo dõi, hạch toán nhập xuất vật tư, tiền mặt tại cơ quan công ty
+ Theo dõi tình hình tăng giảm TSCĐ, khấu hao TSCĐ của toàn công ty
+ Theo dõi công cụ dụng cụ xuất dùng tại cơ quan Công ty
+ Kiểm tra, quyết toán chi phí sửa chữa lớn TSCĐ
6 Phụ trách kế toán Xí nghiệp 1:
+ Trực tiếp tập hợp chứng từ, hạch toán kế toán, đối chiếu công nợ, kết chuyển, xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh và phân tích hoạt động kinh tế của Xí nghiệp 1 tại các công trường: Sê san 3, Xêkaman3
+ Thực hiện các công việc nghiệp vụ khác theo sự phân công của Trưởng phòng
7 Phục trách kế toán xí nghiệp 2
+ Trực tiếp tập hợp chứng từ, hạch toán kế toán, đối chiếu công nợ, kết chuyển, xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh và phân tích hoạt động kinh tế của Xí nghiệp kinh doanh vật
tư tại công trường thủy điện Pleikroong
+ Thực hiện các công việc nghiệp vụ khác theo sự phân công của Trưởng phòng
8 Phục trách kế toán tại Xí nghiệp 3
+ Trực tiếp tập hợp chứng từ, hạch toán kế toán, đối chiếu công nợ, kết chuyển, xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh và phân tích hoạt động kinh tế của Xí nghiệp kinh doanh vật tư tại Sê san 3A, Sê san 4 và công trường An khêkank
+ Thực hiện các công việc nghiệp vụ khác theo sự phân công của Trưởng phòng
- Hình thức kế toán:
Đơn vị áp dụng hình thức kế toán: Nhật ký chung
Các sổ kế toán được mở với hình thức kế toán:
+ Sổ nhật ký chung
+ Sổ cái tài khoản
+ Sổ chi tiết tài khoản
Trang 14- Các loại sổ kế toán được mở theo các phần hành kế toán như sau:
- Sổ kế toán: Tiền, các khoản phải thu, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn:
+ Sổ chi tiết tài khoản + Sổ cái tài khoản+ Sổ quĩ tiền mặt
- Sổ kế toán hàng tồn kho:
+ Sổ chi tiết từng loại vật tư, hàng hoá+ Thẻ kho
+ Sổ cái tài khoản
- Sổ kế toán tài sản cố định và đầu tư dài hạn
+ Thẻ tài sản cố định+ Sổ chi tiết
+ Sổ cái tài khoản
- Sổ kế toán nợ trả trả:
+ Sổ chi tiết + Sổ cái tài khoản
- Sổ kế toán nguồn vốn chủ sở hữu:
+ Sổ chi tiết + Sổ cái tài khoản
SƠ ĐỒ QUI TRÌNH GHI SỔ TẠI CÔNG TY
Trang 15Ghi chú:
Theo dõi hàng tháng Theo dõi hàng ngày Đối chiếu
1.4.3 Các chính sách kế toán:
- Đơn vị hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp: kê khai thường xuyên
- Phương pháp tính giá hàng tồn kho theo phương pháp bình quân gia quyền
- Phương pháp khấu hao TSCĐ: đường thẳng
- Phương pháp tính thuế GTGT của Công ty: khấu trừ thuế
Nhật ký chung Chứng từ kế toán
Sổ nhật ký
đặc biệt
Trang 16Trong quan hệ kinh tế, tiền lương phản ánh mối quan hệ kinh tế xảy ra giữa người sử dụng lao động và người lao động.
Trong quan hệ buôn bán, tiền lương là giá cả sức lao động Vai trò của tiền lương đối với nhà quản lý kinh doanh, tiền lương là một trong những đòn bảy, công cụ kinh tế quan trọng trong công tác quản lý kinh doanh
Đối với doanh nghiệp, tiền lương là một bộ phận cấu thành nên giá trị sản phẩm do người lao động tạo ra Tuỳ theo cơ chế quản lý mà tiền lương có thể được xác định là một
bộ phận chi phí sản xuất kinh doanh cấu thành nên giá sản phẩm hay được xác định là một
bộ phận của thu- kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp
Mục đích của các nhà sản xuất là lợi nhuận, còn mục đích của người cung ứng sức lao động là tiền lương Do vậy tiền lương không chỉ mang bản chất là chi phí mà tiền lương là một bộ phận thu nhập chủ yếu, cơ bản thường xuyên của người lao động trong doanh nghiệp
Đối với người lao động, tiền lương nhận được thoả đáng sẽ là động lực kích thích năng lực sáng tạo để làm tăng năng suất lao động Nếu năng suất lao động tăng sẽ làm cho lợi nhuận doanh nghiệp tăng, do đó nguồn phúc lợi của doanh nghiệp mà người lao động được nhận lại cũng sẽ tăng Nó là phần bổ xung thêm cho tiền lương làm tăng thu nhập và lợi ích của người cung ứng lao động Mặt khác, khi lợi ích của người lao động được đảm bảo bằng các mức lương thoả đáng sẽ tạo ra sự gắn kết cộng đồng những người lao động với mục tiêu và lợi ích của doanh nghiệp, xoá bỏ ngăn cách giữa chủ doanh nghiệp với
Trang 17người lao động, làm cho người lao động có trách nhiệm hơn, tự giác hơn đối với các hoạt động của doanh nghiệp.
Một vấn đề khác mà không một doanh nghiệp nào không thể không quan tâm đó là mức lương tối thiểu Mức lương tối thiểu dùng để đo lường sức lao động thông thường trong điều kiện làm việc bình thường, yêu cầu một kỹ năng đơn giản, với một khung giá các
tư liệu sinh hoạt hợp lý Đây chính là cái "ngưỡng" cuối cùng cho sự trả lương của tất cả các ngành, các doanh nghiệp Doanh nghiệp muốn có sức lao động để hoạt động sản xuất kinh doanh thì phải trả mức lương thấp nhất, không thấp hơn mức lương tối thiểu mà Nhà nước quy định Đồng thời doanh nghiệp phải tính giữa chi phí và doanh thu trong đó tiền lương là một chi phí rất quan trọng ảnh hưởng tới việc tạo ra lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp
2.1.2 Chức năng của tiền lương.
Từ khái niệm, bản chất của tiền lương nêu trên ta thấy tiền lương có 3 chức năng chính như sau:
- Chức năng tái sản xuất lao động.
Quá trình tái sản xuất sức lao động được thực hiện bởi việc trả công cho người lao động thông qua lương Bản chất của sức lao động là sản phẩm của lịch sử luôn được hoàn thiện và nâng cao nhờ thường xuyên khôi phục và phát triển, còn bản chất của tái sản xuất sức lao động là có một lượng tiền lương sinh hoạt nhất định để họ có thể duy trì và phát triển sức lao động mới, tích luỹ kinh nghiệm, nâng cao trình độ hoàn thành kỹ năng lao động
- Chức năng là công cụ quản lý của doanh nghiệp.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, người sử dụng lao động bao giờ cũng đứng trước một vấn đề đó là làm thế nào để đạt được lợi nhuận cao nhất Để thực hiện được mục tiêu đó, các nhà doanh nghiệp phải kết hợp nhịp nhàng và quản lý một cách nghệ thuật các yếu tố trong kinh doanh ( tư liệu lao động, đối tượng lao động và lao động ) Thông qua việc trả lương cho người lao động, người sử dụng lao động có thể tiến hành kiểm tra người lao động làm việc theo kế hoạch, tổ chức của mình để đảm bảo tiền lương
bỏ ra phải đem lại kết quả hiệu quả cao
Nhờ đó người sử dụng lao động quản lý một cách chặt chẽ về số lượng và chất lượng lao động của mình để trả công xứng đáng cho sức lao động của họ
- Chức năng kích thích sức lao động.
Trang 18Khi được trả công xứng đáng người lao động sẽ say mê, hứng thú, tích cực làm việc, phát huy tinh thần làm việc sáng tạo tự học hỏi nâng cao trình độ Họ gắn chặt trách nhiệm của mình với lợi ích của doanh nghiệp, nơi họ làm việc và cống hiến Một mức lương thoả đáng sẽ là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển tăng năng suất lao động.
Do đó, tiền lương là công cụ khuyến khích vật chất, tạo ra sự kích thích có hiệu quả trong công việc của người lao động
2.1.3 Nguyên tắc tính trả lương.
Theo Bộ luật lao động, tiền lương của người lao động do người sử dụng lao động và người lao động thoả thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc Mức lương hợp đồng phải lớn hơn mức lương tối thiểu
do Nhà nước quy định Mặt khác, để điều tiết thu nhập, giảm hố ngăn cách giữa người giàu
và người nghèo Nhà nước đã đề ra thuế thu nhập dành cho những người có tổng thu nhập từ 5.000.000đ trở lên Thuế thu nhập được đánh theo phương pháp luỹ tiến
Theo NĐ/197/CP ngày 31/12/1994 quy định: Làm công việc gì, chức vụ gì hưởng lương theo công việc đó, chức vụ đó thông qua hợp đồng lao động và thoả ước lao động tập thể
Đối với công nhân và nhân viên trực tiếp sản xuất kinh doanh, cơ sở để xếp lương là tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật Đối với người phục vụ quản lý doanh nghiệp là tiêu chuẩn xếp hàng doanh nghiệp theo độ phức tạp về hiệu quả sản xuất kinh doanh
Việc trả lương phải theo kết quả sản xuất kinh doanh và doanh nghiệp phải đảm bảo thực hiện các quy định của Nhà nước, không được thấp hơn mức lương tối thiểu quy định hiện hành
2.2 Các hình thức tiền lương.
2.2.1 Các hình thức trả lương.
Tiền lương trả cho người lao động phải quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động, trả lương theo số lượng và chất lượng lao động có ý nghĩa rất to lớn trong việc động viên khuyến khích người lao động phát huy tinh thần dân chủ ở cơ sở, thúc đẩy họ hăng say lao động sáng tạo, nâng cao năng suất lao động nhằm tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của mỗi thành viên trong xã hội
Hiện nay, việc tính lương cho người lao động được tiến hành theo hai hình thức chủ yếu là: trả lương theo thời gian và trả lương theo sản phẩm
2.2.2 Hình thức trả lương theo thời gian
Trang 19Hình thức trả lương theo thời gian thường được áp dụng cho lao động công tác văn phòng như Hành chính trị, Tổ chức lao động, Thống kê, Tài vụ- Kế toán Tiền lương tính theo thời gian là tiền lương tính trả cho người lao động theo thời gian làm việc thực tế, cấp bậc công việc và thang lương của người lao động Tiền lương tính theo thời gian có thể thực hiện tính theo tháng, ngày hoặc giờ làm việc của người lao động tuỳ thuộc vào nhu cầu
và yêu cầu quản lý thời gian lao động của doanh nghiệp
Cách tính lương theo thời gian có thể chia ra:
- Tiền lương tháng: Là tiền lương trả cố định hàng tháng trên cơ sở hợp đồng lao động
Cách tính như sau:
Mức lương tháng = Mức lương cơ bản x ( Hệ số lương + Tổng hệ số các)
(tối thiểu) khoản phụ cấp
- Tiền lương tuần: Là tiền lương trả cho một tuần làm việc được xác định trên cơ sở
tiền lương tháng Cách tính như sau:
Mức lương tuần = Mức lương tháng x 12
52
- Tiền lương ngày: Là tiền lương trả cho một ngày làm việc được xác định trên cơ
sở tiền lương tháng Cách tính như sau:
Mức lương ngày = Mức lương tháng
22 ( hoặc 26)
Hình thức trả lương theo thời gian có thể thực hiện tính theo thời gian đơn giản Bên cạnh
đó còn có nhiều hạn chế vì tiền lương tính trả cho người lao động chưa đảm bảo đầy đủ nguyên tắc phân phối theo lao động vì chưa tính đến một cách đầy đủ chất lượng lao động, do đó chưa phát huy đầy đủ chức năng đòn bảy kinh tế của tiền lương trong việc kích thích sự phát triển của sản xuất, chưa phát huy hết khả năng sẵn có của người lao động Do hạn chế như vậy, khi
áp dụng hình thức tiền lương theo thời gian cần thực hiện một số biện pháp phối hợp như: giáo dục chính trị tư tưởng, động viên khuyến khích vật chất tinh thần dưới hình thức tiền thưởng, thường xuyên kiểm tra việc chấp hành kỷ luật lao động và sử dụng thời gian lao động Việc phối hợp nhiều biện pháp sẽ tạo cho người lao động tự giác lao động có kỷ luật, có kỹ thuật và
có năng suất lao động cao
2.2.3 Hình thức trả lương tính theo sản phẩm.
Tiền lương tính theo sản phẩm là tiền lương tính trả cho người lao động theo kết quả lao động- khối lượng sản phẩm, công việc và lao vụ đã hoàn thành, bảo đảm đúng tiêu chuẩn kỹ
Trang 20thuật, chất lượng đã quy định và đơn giá tiền lương tính cho một đơn vị sản phẩm, công việc lao vụ đó Hình thức này đảm bảo thực hiện đầy đủ nguyên tắc phân phối theo lao động, gắn chặt số lượng với chất lượng lao động, khuyến khích người lao động hăng say lao động sáng tạo, tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội.
Tiền lương sản phẩm phụ thuộc vào đơn giá tiền lương của một sản phẩm, công đoạn chế biến sản phẩm và số lượng sản phẩm hoặc khối lượng công việc mà người lao động hoàn thành
đủ tiêu chuẩn quy định Điều kiện để thực hiện tính lương theo sản phẩm là:
- Xây dựng đơn giá tiền lương
- Phải tổ chức hạch toán ban đầu sao cho xác định được chính xác kết quả của từng người hoặc từng nhóm lao động (càng chi tiết càng tốt)
- Doanh nghiệp phải bố trí đầy đủ việc làm cho người lao động
- Phải có hệ thống kiểm tra chất lượng chặt chẽ
Việc trả lương theo sản phẩm có thể tiến hành theo những hình thức sau:
+ Trả lương theo sản phẩm trực tiếp ( không hạn chế )
Theo hình thức này tiền lương phải trả cho người lao động được tính:
xTiền lương theo sản phẩm trực tiếp được tính cho từng người lao động hay cho một tập thể người lao động thuộc bộ phận trực tiếp sản xuất, đã đánh giá đúng kết quả lao động
+ Trả lương theo sản phẩm gián tiếp
Tiền lương sản phẩm gián tiếp được tính cho từng người lao động hay một tập thể người lao động thuộc bộ phận gián tiếp như công nhân phụ làm công việc phục vụ sản xuất như vận chuyển vật liệu, thành phẩm, bảo dưỡng máy móc hưởng lương phụ thuộc vào kết quả lao động của bộ phận trực tiếp sản xuất
Cách tính như sau
xTiền lương theo sản phẩm gián tiếp không khuyến khích lao động gián tiếp nâng cao chất lượng công việc mà chỉ khuyến khích lao động gián tiếp quan tâm đến việc phục vụ cho lao động trực tiếp sản xuất
Tiền lương được
Trang 21+ Trả lương theo sản phẩm có thưởng: Là tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp hay
gián tiếp kết hợp với chế độ khen thưởng của doanh nghiệp quy định như thưởng chất lượng sản phẩm - tăng tỷ lệ sản phẩm chất lượng cao, thưởng tăng năng suất lao động, tiết kiệm nguyên vật liệu
+ Trả lương theo sản phẩm luỹ tiến: Là tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp kết
hợp với xuất tiền thưởng luỹ tiến theo mức độ hoàn thành vượt mức sản xuất sản phẩm
Hình thức trả lương theo sản phẩm có thể áp dụng một cách thuận lợi và phát huy đầy
đủ những ưu điểm của hình thức này doanh nghiệp phải xây dựng, một hệ thống định mức lao động thật hợp lý, xây dựng được đơn giá tiền lương cho từng loại sản phẩm, từng loại công việc, lao vụ một cách khoa học hợp lý Bên cạnh đó doanh nghiệp phải xây dựng chế độ thưởng phạt rõ ràng, xây dựng suất thưởng luỹ kế thích hợp với từng loại sản phẩm, công việc lao vụ Việc nghiệm thu các sản phẩm, công việc lao vụ phải được tổ chức quản lý một cách chặt chẽ, đảm bảo đầy đủ, đúng số lượng, chất lượng theo quy định Các điều kiện cần thiết cho quá trình sản xuất cũng phải được đảm bảo như cung ứng vật tư, thiết bị, điện, các điều kiện về an toàn
30% Hoặc 40%
Số giờ làm đêm
Số giờ tiêu chuẩn quy định trong tháng
Trang 22- 40% đối với những công việc thường xuyên làm việc theo ca (chế độ ba ca) hoặc chuyên làm việc đêm
+ Phụ cấp trách nhiệm
Nhằm bù đắp cho những người vừa trực tiếp sản xuất hoặc làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ vừa kiểm nghiệm công tác quản lý không thuộc chức vụ lãnh đạo bổ nhiệm hoặc làm những công việc đòi hỏi trách nhiệm cao được xác định trong mức lương
Gồm có các mức lương: 0,1; 0,2; 0,3; 0,4 so với mức lương tối thiểu tuỳ thuộc vào công tác quản lý của mỗi lao động
Phụ cấp trách nhiệm được tính trả cùng kỳ lương hàng tháng Đối với doanh nghiệp khoản phụ cấp này được tính vào đơn giá tiền lương và hạch toán vào giá thành hoặc phí lưu thông
+ Chế độ trả lương thêm giờ.
Theo điều 7 Nghị định 114/ NĐ-CP ngày 31/12/2002 những người làm việc trong thời gian ngoài giờ làm việc quy định trong hợp đồng lao động được hưởng tiền làm thêm giờ
Cách tính như sau:
Tg = Tt x Hg x GtTrong đó:
- Tg: Tiền lương trả thêm giờ
- Tt: Tiền lương giờ thực tế
- Hg: Tỷ lệ phần % lương được trả thêm
- Gt: Số giờ làm thêm Mức lương trả lương thêm nhà nước quy định:
- Bằng 150% nếu làm thêm vào ngày thường
- Bằng 200% nếu làm thêm vào ngày nghỉ cuối tuần
- Bằng 300% nếu làm thêm vào ngày lễ
Nếu doanh nghiệp bố trí làm việc vào ban đêm, ngoài lương hưởng theo thời gian còn phải trả thêm ít nhất 30% theo lương thực tế cho người lao động
2.2.5 Tiền thưởng:
Trang 23Tiền thưởng thực chất là khoản tiền bổ sung tiền lương nhằm quán triệt phân phối theo lao động gắn với hiệu quả sản xuất kinh doanh Tiền lương nhiều hay ít là do kết quả thực hiện các chỉ tiêu thưởng.
Tiền thưởng chia được phân loại như sau:
- Thưởng thường xuyên (có tính chất lương): thực chất là một phần quỹ lương được tách
ra để trả cho người lao động dưới hình thức tiền lương theo một tiêu chí nhất định
+ Tiền thưởng nâng cao chất lượng sản phẩm: áp dụng khi công nhân có sáng kiến nâng cao chất lượng sản phẩm Khoản tiền thưởng này tính trên cơ sở tỷ lệ chung không quá 40% phần chênh lệch giá giữa sản phẩm có phẩm cấp cao với sản phẩm có phẩm cấp thấp
+ Tiền thưởng về tiết kiệm vật tư: Là thưởng nhằm khuyến khích người lao động giảm chi phí sản xuất dẫn đến hạ giá thành sản phẩm Căn cứ để quy định chỉ tiêu thưởng là định mức tiêu hao NVLC,VLP năng lượng cho một đơn vị sản phẩm Để có quy chế thưởng cho hình thức này phù hợp doanh nghiệp phải xây dựng được hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật tiên tiến và xác định đúng đối tượng vật tư quý hiếm, có tỷ trọng lớn Mức tiền
thưởng tính trên cơ sở giá trị vật tư và lao động tiết kiệm được so với định mức và tỷ lệ quy định không quá 40%
- Thưởng sáng kiến cải tiến kỹ thuật: là hình thức khuyến khích cán bộ công nhân phát huy khả năng sáng tạo của mình trong quá trình sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm hoặc cải thiện điều kiện làm việc mang lại hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Mức thưởng tuỳ theo điều kiện của từng doanh nghiệp và hiệu quả lợi ích kinh tế xã hội mà có quy chế, quy đinh cụ thể Tuy nhiên phải đảm bảo được vai trò khuyến khích người lao động đóng góp trí tuệ cho sự phát triển của doanh nghiệp và xã hội
2.3 Nội dung quỹ lương
Quỹ lương trong doanh nghiệp là toàn bộ tiền lương mà doanh nghiệp trả cho toàn bộ lao động thuộc doanh nghiệp quản lý Nói cách khác đó là toàn bộ các khoản tiền lương thường xuyên mà doanh nghiệp phải trả cho người lao động trong một thời lỳ nhất định ( tháng, quý, năm) Cụ thể như sau:
•Tiền lương tính theo thời gian
•Tiền lương tính theo sản phẩm
•Tiền lương công nhật, lương khoán
Trang 24•Tiền lương trả cho người lao động chế tạo ra sản phẩm hỏng trong phạm vi chế
•Tiền trả nhuận bút, giảng bài
•Tiền thưởng có tính chất thường xuyên
•Các phụ cấp theo chế độ quy định và các phụ cấp khác được ghi trong quỹ lương
•Trợ cấp thôi việc
•Tiền ăn giữa ca của người lao động
Quỹ lương thực tế phải được thường xuyên đối chiếu với quỹ lương kế hoạch trong mỗi quan hệ với việc thực hiện kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp trong kỳ đó nhằm phát hiện kịp thời các khoản tiền lương không hợp lý, kịp thời đề ra biện pháp nhằm nâng cao năng suất lao động, đảm bảo nguyên tắc phân phối theo lao động, thực hiện nguyên tắc mức tăng năng suất lao động bình quân nhanh hơn mức tăng tiền lương bình quân góp phần hạ thấp chi phí trong sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng tích luỹ xã hội
Về hạch toán, quỹ lương của doanh nghiệp được chia thành :
2.3.1 Tiền lương chính: Là tiền lương trả cho công nhân viên trong thời gian công nhân
viên thực hiện nhiệm vụ chính của họ bao gồm tiền lương trả theo cấp bậc và các khoản phụ cấp kèm theo lương như phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực, phụ cấp thâm niên Trong
kế toán, tiền lương chính của công nhân sản xuất thường được hạch toán trực tiếp vào chi phí sản xuất cho từng loại sản phẩm vì tiền lương chính của công nhân sản xuất có quan hệ trực tiếp với khối lượng sản phẩm sản xuất ra, có quan hệ với năng suất lao động Trường hợp doanh nghiệp có thực hiện trích trước chi phí tiền lương nghỉ phép thì căn cứ vào tiền lương chính của CNSX tính vào số trích trước tiền lương nghỉ phép vào chi phí sản xuất kinh doanh
2.3.2 Tiền lương phụ: Là tiền lương trả cho công nhân viên trong thời gian công nhân
viên thực hiện nhiệm vụ khác ngoài nhiệm vụ chính của họ và thời gian công nhân viên nghỉ
Trang 25theo chế độ được hưởng lương nghỉ phép, nghỉ ngừng sản xuất, đi họp, đi học Tiền lương phụ của công nhân trực tiếp sản xuất không gắn bó công việc chế tạo sản phẩm cũng như không quan hệ đến năng suất lao động cho nên tiền lương phụ thuộc được phân bổ một cách gián tiếp vào chi phí sản xuất các loại sản phẩm Tiền lương phụ thuộc thường được phân bổ cho từng loại sản phẩm căn cứ theo tiền lương chính của công nhân sản xuất từng loại sản phẩm.
2.4 Các khoản trích theo lương.
2.4.1 Bảo hiểm xã hội.
Trong trường hợp người lao động tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao động như khi bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí mất sức hay tử tuất sẽ được hưởng khoản trợ cấp nhằm giảm bớt khó khăn trong cuộc sống, đó là khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội (BHXH) Chính vì vậy BHXH là một chính sách kinh tế xã hội quan trọng của Nhà nước Nó không những không xác định khía cạnh kinh tế mà còn phản ánh chế độ xã hội BHXH là sự đảm bảo ở mức độ nhất định về mặt kinh tế cho người lao động và gia đình họ
BHXH là một hệ thống gồm 3 tầng
Tầng 1: là tầng cơ sở để đáp ứng cho mọi người, cá nhân trong xã hội trong đó yêu cầu là người nghèo dù khả năng đóng góp BHXH của những người này rất thấp
Tầng 2: là tầng bắt buộc cho những người có công việc làm ăn ổn định
Tầng 3: là sự tự nguyện của những người muốn đóng góp bảo hiểm cao
Mục đích của BHXH là tạo lập một mạng lưới an toàn xã hội nhằm bảo vệ người lao động khi gặp rủi ro hoặc khi về già không có nguồn thu nhập
Quỹ BHXH được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ phần trăm tiền lương phải thanh toán cho công nhân để tính vào chi phí sản xuất và trừ vào lương công nhân Theo quy định hiện hành là bằng 22% so với tổng lương cơ bản, trong đó:
+ 16% do doanh nghiệp nộp và tính vào chi phí kinh doanh
+ 6% do người lao động và được trừ vào lương tháng
Nếu doanh nghiệp không thực hiện trực tiếp chi thì phải nộp hết 22% cho cơ quan quản lý
Quỹ BHXH do cơ quan BHXH quản lý Doanh nghiệp có trách nhiệm trích thu rồi nộp lên cấp trên Doanh nghiệp còn có trách nhiệm thanh toán BHXH với người lao động dựa trên chứng từ hợp lý Sau đó lập bảng thanh toán BHXH để quyết toán với cơ quan BHXH cấp trên
2.4.2 Bảo hiểm y tế
Trang 26Nhằm xã hội hoá việc khám chữa bệnh, người lao động còn được hưởng chế độ khám chữa bệnh không mất tiền bao gồm các khoản chi phí, thuốc men khi ốm đau Điều kiện để người lao động được khám chữa bệnh không mất tiền là họ phải có thẻ bảo hiểm y tế.
Mục đích của BHYT là tạo lập một mạng lưới bảo vệ sức khoẻ cho toàn dân bất kể địa vị
xã hội, mức thu nhập cao hay thấp
Về đối tượng, BHYT áp dụng cho những người tham gia đóng BHYT thông qua việc mua bảo hiểm, trong đó chủ yếu là người lao động BHYT áp dụng cho những người tham gia đóng BHYT thông qua việc mua bảo hiểm Quỹ BHYT được hình thành từ sự đóng góp của những người tham gia bảo hiểm và một phần hỗ trợ của Nhà nước
Tỷ lệ trích BHYT hiện hành là 4,5%, trong đó:
- Người lao động đóng góp 1,5% (tính trừ vào thu nhập người lao động)
- Người sử dụng lao động đóng góp 3% (tính vào chi phí kinh doanh)
2.4.3 Bảo hiểm thất nghiệp
Bảo hiểm thất nghiệp là “ hạt nhân” của chính sách thị trường lao động, nằm trong hệ thống chính sách kinh tế – xã hội, góp phần đảm bảo lợi ích của các bên trong quan hệ lao động Do vậy, bảo hiểm thất nghiệp có tính chất tương trợ, lấy số đông bù số ít Kinh phí do người lao động tự đóng góp, doanh nghiệp sử dụng đóng góp và nguồn ngân sách Nhà nước
Tỷ lệ trích BHTN hiện hành là 3%, trong đó:
- Người lao động đóng góp 1% (tính trừ vào thu nhập người lao động)
- Người sử dụng lao động đóng góp 1% (tính vào chi phí kinh doanh)
- Hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước 1%
2.4.4 Kinh phí công đoàn.
Kinh phí công đoàn là quỹ tài trợ hoạt động công đoàn các cấp Đây là nguồn đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu của công đoàn
Kinh phí công đoàn được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ quy định trên tiền lương phải trả và tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ Theo quy định hiện hành, tỷ lệ trích kinh phí công đoàn là 2% theo lương của người lao động, trong đó:
+ 1% dành cho hoạt động đoàn cơ sở
+ 1% cho hoạt động của công đoàn nói trên
Trang 27Khoản chi cho hoạt động đoàn cơ sở có thể được thể hiện trên sổ sách kế toán hoạt động sản xuất kinh doanh, thì sau khi trích vào chi phí, doanh nghiệp sẽ chuyển nộp toàn bộ khoản chi phí này Mọi khoản chi tiêu tại cơ sở sẽ do công đoàn quản lý và quyết toán với cấp trên.
2.5 Tổ chức hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương.
-Nhiệm vụ của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương.
Quản lý tiền lương là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý kinh doanh của doanh nghiệp, nó là nhân tố giúp doanh nghiệp hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất của mình Tổ chức công tác hạch toán lao động tiền lương giúp doanh nghiệp quản lý tốt quỹ lương, đảm bảo việc trả lương và các khoản trích theo lương đúng nguyên tắc chế độ, kích thích người lao động hoàn thành nhiệm vụ được giao đồng thời tạo cơ sở cho việc phân phối chi phí nhân công và giá thành sản xuất được chính xác Vì vậy nhiệm vụ hạch toán lao động tiền lương trong doanh nghiệp là:
+ Tổ chức ghi chép phản ánh, tổng hợp một cách trung thực, kịp thời, đầy đủ tính hiện có
và sự biến động về số lượng và chất lượng lao động, tình hình sử dụng thời gian lao động và kết quả lao động
+ Tính toán chính xác, kịp thời, đúng chính sách, chế độ các khoản tiền lương và thưởng, các khoản trợ cấp phải trả cho người lao động Phản ánh kịp thời đầy đủ, chính xác tình hình thanh toán các khoản trên cho người lao động
+ Thực hiện việc kiểm tra tình hình huy động và sử dụng lao động, tình hình thực hiện các chính sách, chế độ về lao động tiền lương, BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ Tình hình sử dụng quỹ tiền lương, quỹ BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ
+ Tính toán và phân bổ chính xác, đúng đối tượng các khoản tiền lương, các khoản trích theo lương vào chi phí sản xuất kinh doanh- hướng dẫn và kiểm tra các bộ phận trong đơn vị thực hiện đày đủ, đúng đắn chế độ ghi chép ban đầu về lao động tiền lương, BHXH, BHYT , BHTN Mở sổ kế toán và hạch toán lao động, tiền lương, tiền thưởng, BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ đúng chế độ, đúng phương pháp kế toán
+ Lập các báo cáo lao động, tiền lương, BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ thuộc phạm vi trách nhiệm của kế toán Tổ chức phân tích tình hình sử dụng lao động, quỹ lương, BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ, đề xuất các biện pháp nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng lao động, tăng năng suất lao động Đấu tranh chống ngừng hành vi vô trách nhiệm, vi phạm luật lao động,
vi phạm chính sách chế độ về lao động tiền lương, BHXH, BHYT, BHTN chi tiết KPCĐ, chế
độ phân phối theo lao động
2.6 Hạch toán chi tiết tiền lương.
Trang 282.6.1 Hạch toán số lượng lao động.
Việc theo dõi này được phản ánh trên sổ danh sách lao động của doanh nghiệp Sổ danh sách lao động được mở cho toàn doanh nghiệp và từng bộ phận sản xuất trong doanh nghiệp Trên sổ thể hiện rõ các thông tin như: số lượng lao động hiện có, tình hình tăng, giảm lao động,
di chuyển lao động, trình độ lao động, tuổi đời, tuổi nghề
Số lượng lao động của doanh nghiệp được phản ánh trên sổ sách dựa vào số lao động hiện có của doanh nghiệp bao gồm số lượng từng loại lao động theo nghề nghiệp công việc và trình độ tay nghề, cấp bậc kỹ thuật, bao gồm cả số lao động dài hạn và số lao động tạm thời, cả lực lượng lao động trực tiếp, gián tiếp, và lao động thuộc lĩnh vực khác ngoài sản xuất
Hạch toán số lượng lao động là việc theo dõi kịp thời chính xác tình hình biến động tăng giảm số lượng lao động theo từng loại lao động trên cơ sở đó làm căn cứ cho việc tính lương phải trả và các chế độ khác cho người lao động
Lao động trong doanh nghiệp gồm nhiều loại như dài hạn, tạm thời, trực tiếp hay gián tiếp lao động trong doanh nghiệp lại biến đổi hàng năm Vì vậy doanh nghiệp phải theo dõi số lao động của mình để cung cấp thông tin cho quản lý Căn cứ ghi sổ là chứng từ ban đầu về tuyển dụng, thuyên chuyển công tác, nâng bậc
Việc hạch toán số lượng lao động được phản ánh trên số danh sách lao động của doanh nghiệp và sổ danh sách lao động ở từng bộ phận Sổ này do phòng tổ chức lập theo mẫu quy định và được chia thành hai bản:
+ Một bản do phòng lao động doanh nghiệp quản lý ghi chép
+ Một bản do phòng kế toán ghi chép
Các chứng từ này được phòng tổ chức lập mỗi khi có các quyết định tương ứng Mọi biến động đều phải ghi chép kịp thời vào sổ danh sách lao động để trên cơ sở đó làm căn cứ cho việc tính lương phải trả và các chế độ khác cho người lao động được kịp thời, chính xác
Sổ lao động là căn cứ để vào danh sách người lao động trong bảng chấm công và chứng
từ hạch toán kết quả lao động cho người lao động ở các bộ phận
2.6.2 Hạch toán thời gian lao động:
Hạch toán thời gian lao động là việc ghi chép kịp thời chính xác thời gian lao động của từng người lao động trên cơ sở tính tiền lương phải trả cho người lao động được chính xác.Hạch toán thời gian lao động phản ánh số ngày công, số giờ làm việc thực tế, ngừng sản xuất nghỉ việc của từng người lao động, từng bộ phận sản xuất từng phòng ban trong doanh nghiệp