1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao hiệu quả sử dụng đất bằng phương pháp xen canh đa dạng cây trồng trên diện tích cao su tái canh của công ty tnhh mtv cao su chư sê

61 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, điều kiện tự nhiên là yếu tố cơ bản để xác định công dụng của đất đai, có ảnh hưởng trực tiếp, cụ thể và sâu sắc, nhất là đối với sản xuất nông nghiệp; Điều kiện kinh tế sẽ kiề

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU TẠI KON TUM

ĐOÀN THỊ MINH HẠNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT BẰNG PHƯƠNG PHÁP XEN CANH ĐA DẠNG CÂY TRỒNG TRÊN DIỆN TÍCH CAO SU TÁI CANH CỦA CÔNG TY TNHH MTV CAO SU CHƯ SÊ

Gia Lai, ngày 27 tháng 05 năm 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

PHÂN HIỆU TẠI KON TUM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT BẰNG PHƯƠNG PHÁP XEN CANH ĐA DẠNG CÂY TRỒNG TRÊN DIỆN TÍCH CAO SU TÁI CANH CỦA CÔNG TY TNHH MTV CAO SU CHƯ SÊ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả

Các số liệu, kết quả nêu trong khoá luận là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Đoàn Thị Minh Hạnh

Trang 4

i

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT……… iii

DANH MỤC BẢNG……… iv

DANH MỤC BIỂU ĐỒ ……… v

MỞ ĐẦU 1

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 1

3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3

1.1 MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG , QUY HOẠCH ĐẤT 3

1.1.1 Khái niệm đất đai và chức năng của đất đai 3

1.1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất 3

1.1.3 Các xu thế phát triển sử dụng đất 7

1.1.4 Chiếm dụng đất đai 9

1.1.5 Sử dụng đất và các mục đích kinh tế, xã hội, môi trường 10

1.1.6 Cơ sở khoa học của quy hoạch sử dụng đất 11

1.1.7 Cơ sở pháp lý của lập và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất 16

1.2 KHÁI NIỆM TRỒNG XEN……….17

1.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TÊ XÃ HỘI CỦA MÔ HÌNH TRỒNG XEN 17

1.3.1 Hiệu quả kinh tế ……… 17

1.3.2 Hiệu quả đối với xã hội 17

1.4 MỘT SỐ MÔ HÌNH TRỒNG XEN Ở NƯƠC TA VÀ TRÊN THẾ GIỚI 17

CHƯƠNG 2 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TNHH MTV CAO SU CHƯ SÊ VÀ MÔ HÌNH TRỒNG XEN 19

2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY ……….19

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cao su Chư sê……… 19

2.1.2 Hoạt động chính của Công ty TNHH MTV cao su Chư sê 19

2.1.3 Đặc điểm tổ chức quản lý của công ty TNHH MTV Cao su Chư sê 20

2.1.4 Căn cứ pháp lý về việc trồng xen canh tại công ty TNHH MTV Cao su Chư Sê 21

2.1.5 Tình hình tài chính lao động Công ty TNHH MTV Cao su Chư sê trong 3 năm 2013-2015 22

2.1.6 Đặc điểm tình hình phát triển cây cao su đến năm 2015 và triển vọng đến năm 2020 23

2.2 KHÁI QUẤT VỀ MÔ HÌNH TRỒNG XEN CÂY CAO SU TẠI CÔNG TY TNHH MTV 24

2.2.1 Đặc điểm tình hình phát triển cây cao su đến năm 2015 và triển vọng đến năm 2020 24

2.2.2 Những nghiên cứu về cây trồng xen trong cao su 26

2.2.3 Cơ sở lựa chọn đối tượng trồng xen 26

Trang 5

ii

CHƯ SÊ 28

3.1 QUY TRÌNH KINH TẾ KỸ THUẬT CÂY CAO SU , CÂY HỒ TIÊU VÀ CÂY CÀ PHÊ 28

3.1.1.Vườn cây cao su - quy trình kỹ thuật cây cao su 28

3.1.2 Quy trình trồng và chăm sóc cây cà phê 30

3.1.3 Quy trình trồng và kỹ thuật chăm sóc cây hồ tiêu 36

3.2 QUY TRÌNH KINH TẾ KỸ THUẬT TRỒNG XEN CỦA CÂY CAO SU VỚI CÂY CÀ PHÊ VẦ CÂY HỒ TIÊU 38

3.2.1.Quy mô đầu tư 38

3.2.2 Tiến độ đầu tư………38

3.2.3 Thiết kế vườn cây 39

3.3.HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH TRỒNG XEN CAO SU VỚI CÀ PHÊ VẦ HỒ TIÊU 39

3.3.1 Tổng vốn đầu tư ban đầu của dự án 39

3.3.2 Hiệu quả kinh tế của mô hình trồng xen cây cao su – cà phê tại công ty TNHH MTV Cao su Chư Sê 40

3.3.3 Hiệu quả giải quyết việc làm và gia tăng thu nhập tại công ty TNHH MTV Cao su Chư Sê 46

3.3.4 Tác dụng của mô hình trồng xen nhằm phòng ngừa rủi ro về giá 46

3.3.5 Những khó khăn tiềm ẩn trong quá trình xen canh 47

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP

Trang 6

iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 7

iv

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.10 Lợi nhuận, thu nhập của người lao động trên 1 Ha cao su thuần 44 Bảng 3.11 Lợi nhuận, thu nhập của người lao động trên 1 Ha cà phê chè thuần 44 Bảng 3.12 Lợi nhuận, thu nhập của người lao động trên 1 Ha cà phê vối thuần 44 Bảng 3.13 Lợi nhuận, thu nhập của người lao động trên 1 Ha cây hồ tiêu thuần 44 Bảng 3.14 Hiệu quả của mô hình trồng xen cao su với hồ tiêu 45 Bảng 3.15 Hiệu quả của mô hình trồng xen cao su với cà phê chè 45 Bảng 3.16 Hiệu quả của mô hình trồng xen cao su với cà phê vối 46 Bảng 3.17 Thu nhập tăng thêm của người lao động qua các mô hình trồng xen 46

Trang 8

v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Tổ chức quản lý của công ty TNHH MTV Cao su Chư sê 20

Sơ đồ 3.1 Đồ thị giá cả của cây cao su, hồ tiêu, cà phê qua các năm 47

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sử dụng nguồn tài nguyên đất đai một cách hợp lý và hiệu quả là một trong những vấn đề được cả thế giới đặc biệt quan tâm Bởi vì đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là

tư liệu sản xuất đặc biệt không gì có thể thay thế được, là môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh quốc phòng Đất đai bao gồm các yếu tố tự nhiên và chịu sự tác động của các yếu tố kinh tế, tâm lý xã hội và ý thức sử dụng đất của mỗi con người Đất đai có giới hạn về không gian nhưng vô hạn về thời gian sử dụng

Đất là kho tàng cung cấp cho con người mọi thứ cần thiết, vì vậy trong quá trình sử dụng đất muốn đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất thiết phải có kế hoạch cụ thể về thời gian

và lập quy hoạch về không gian”

Công ty TNHH MTV Cao su Chư sê được thành lập ngày 14.7.1984 với diện tích trồng cao su hiện tại : 8.200 ha Trong đó diện tích cây cao su khai thác đến năm 2016 là

4315 ha

Hiện tại với tình hình cao su giảm giá liên tục, người lao động công ty liên tục bỏ việc thì vấn đề đặt ra làm sao nâng cao hiệu sử dụng đất để tăng thu nhập cho người lao động và giá trị xã hội

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

Nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai bằng phương pháp xen canh đa dạng cây trồng trên diện tích cao su tái canh của Công ty TNHH MTV Cao su Chƣ sê

2 Mục tiêu nghiên cứu, yêu cầu của đề tài

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Phân tích giá trị sử dụng đất hiện nay của Công ty TNHH MTV cao su Chư sê

- Đánh giá phương án nâng cao giá trị sử dụng đất của Công ty TNHH MTV Cao su Chư sê

- Đề xuất các giải pháp thực hiện quy hoạch- sử dụng đất đai có hiệu quả

2.2 Yêu cầu

- Số liệu điều tra, thu thập được khách quan, trung thực, chính xác

- Những đề xuất, kiến nghị đưa ra phải có tính khả thi và phù hợp với điều kiện thực

Trang 10

2

- Phương pháp toán học

- Phương pháp khảo nghiệm từ thực tế

Trang 11

3

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG , QUY HOẠCH ĐẤT

1.1.1 Khái niệm đất đai và chức năng của đất đai

Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ, sông suối, đầm lầy ), các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường xá, nhà cửa )

Các chức năng của đất đai đối với hoạt động sản xuất và sinh tồn của xã hội loài người được thể hiện theo các mặt sau: Sản xuất; Môi trường sự sống; Cân bằng sinh thái; Điều tiết khí hậu; Tàng trữ và cung cấp nguồn nước; Dự trữ (nguyên liệu và khoáng sản trong lòng đất); Kiểm soát ô nhiễm và chất thải; Không gian sự sống; Bảo tồn - bảo tàng

sự sống; Phân dị lãnh thổ

Đất đai là điều kiện chung nhất (khoảng không gian lãnh thổ cần thiết) đối với mọi quá trình sản xuất trong các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người Điều này có nghĩa - Thiếu khoảnh đất (có vị trí, hình thể, quy mô diện tích và yêu cầu về chất lượng nhất định) thì không một ngành nào, xí nghiệp nào có thể bắt đầu công việc và hoạt động được Nói khác đi - không có đất sẽ không có sản xuất cũng như không có sự tồn tại của chính con người

Đất đai đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là cơ

sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất Các Mác đã nhấn mạnh “ Đất là mẹ, lao động là cha, sản sinh ra mọi của cải vật chất”

Tuy nhiên vai trò của đất trong các ngành sản xuất cũng rất khác nhau Trong các ngành phi nông nghiệp, đất đai giữ vai trò là cơ sở không gian để thực hiện các quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất (các ngành khai thác khoáng sản) Chất lượng sản phẩm được tạo ra từ các ngành phi nông nghiệp không phụ thuộc vào đặc điểm, độ phì nhiêu của đất, chất lượng thảm thực vật và các tính chất tự nhiên có sẵn trong đất Trong nông nghiệp, đất đai đóng một vai trò khác hẳn, đất tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất và làm ra sản phẩm phục vụ đời sống của con người và xã hội Năng suất

và chất lượng của sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đất Đất nông nghiệp là

yếu tố đầu vào quan trọng tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp

1.1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất

Sử dụng đất là hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối quan hệ người - đất trong

tổ hợp với các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường Căn cứ vào nhu cầu của thị trường sẽ phát hiện và quyết định phương hướng chung, mục tiêu sử dụng hợp lý tài nguyên, phát huy tối đa tiềm năng đất đai nhằm đạt hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường

và sự phát triển bền vững Vì vậy, phạm vi, cơ cấu và phương thức sử dụng đất vừa bị chi phối bởi các điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên vừa bị chi phối bởi các điều kiện,

Trang 12

4

quy luật kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật

* Nhân tố điều kiện tự nhiên

Quá trình sử dụng đất đai cần phải chú ý đến các đặc tính và tính chất đất đai để xác định yếu tố hạn chế hay tích cực cho việc sử dụng đất hợp lý như chế độ nhiệt, bức xạ, độ

ẩm, yếu tố địa hình, thổ nhưỡng, xói mòn Các đặc tính, tính chất này được chia làm 2 loại:

- Điều kiện khí hậu:

Khí hậu là một thành phần rất quan trọng của hệ sinh thái đồng ruộng Nó cung cấp năng lượng chủ yếu cho quá trình tạo thành chất hữu cơ, mang lại năng suất cho cây trồng

Có đến 90 - 95% chất hữu cơ của cây là do quá trình quang hợp với sự cung cấp năng lượng của ánh sáng mặt trời Cây trồng tận dụng cao nhất điều kiện khí hậu sẽ cho tổng sản phẩm và giá trị kinh tế cao nhất

- Điều kiện đất đai:

Các yếu tố địa hình, địa mạo, độ cao, độ dốc, hướng dốc, mức độ xói mòn thường dẫn tới sự khác nhau về đất đai và khí hậu, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và hoạt động của các ngành

Địa hình là yếu tố phức tạp ảnh hưởng đến nhiều yếu tố khác Trước hết, địa hình ảnh hưởng đến khí hậu, nếu có sự khác nhau về độ cao sẽ dẫn đến chế độ nhiệt và chế độ

ẩm khác nhau Theo nghiên cứu của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam [13] khẳng định: "Việc đánh giá sự phân bố của các yếu tố khí hậu và quy luật hoạt động của chúng kết hợp với nghiên cứu phân vùng khí hậu nông nghiệp, xác định các hệ thống cây trồng phù hợp với điều kiện sinh thái ở mỗi vùng, tạo điều kiện thuận lợi để sử dụng tốt nhất nguồn lợi thiên nhiên, đạt năng suất cao, ổn định, hạn chế sự thiệt hại do ngoại cảnh gây ra là một việc làm có tầm quan trọng"

Ở vùng đồi núi, yếu tố quan trọng nhất của địa hình là độ dốc Đối với đất nông nghiệp, độ dốc kết hợp với yếu tố lượng mưa, tính chất đất sẽ quyết định khả năng canh tác và hệ thống cây trồng phù hợp để khắc phục những yếu tố hạn chế Đối với ngành phi nông nghiệp, yếu tố địa hình quyết định những thuận lợi hay khó khăn của việc thi công công trình hay khả năng lưu thông hàng hoá, gián tiếp ảnh hưởng đến khả năng và quy

mô sản xuất (ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp )

Thành phần cơ giới của đất quyết định các tính chất đất như chế độ nước, nhiệt độ, không khí, dinh dưỡng và độ lún Đất có thành phần cơ giới nhẹ: thoáng khí, dễ thoát nước, giữ nước kém, ít chất dinh dưỡng và độ lún thấp; đất thành phần cơ giới nặng: giữ nước và chất dinh dưỡng tốt nhưng thoát nước chậm, hay bị úng, ít không khí, độ lún cao Mỗi cây trồng chỉ sinh trưởng tốt ở một điều kiện đất đai nhất định, một công trình có yêu cầu kỹ thuật về độ lún khác nhau

Mỗi vùng đất khác nhau có các điều kiện tự nhiên khác nhau, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sử dụng đất: khả năng sản xuất, xây dựng công trình, phát triển các ngành

Do đó, để có phương án sử dụng đất hợp lý cần phải tuân thủ theo quy luật tự nhiên, tận dụng tối đa những thuận lợi, khắc phục những hạn chế để sử dụng đất mang lại hiệu quả

Trang 13

5

sử dụng đất cao nhất

* Nhân tố kinh tế - xã hội

Các nhân tố kinh tế - xã hội bao gồm các thể chế, chính sách, thực trạng phát triển các ngành, điều kiện cơ sở hạ tầng: giao thông, thủy lợi, xây dựng , trình độ phát triển khoa học kỹ thuật, trình độ dân trí, dân số, lao động, việc làm và đời sống văn hóa, xã hội

Các điều kiện tự nhiên là cơ sở để xây dựng phương án sử dụng đất nhưng các nhân

tố kinh tế - xã hội sẽ quyết định phương án đã lựa chọn có thực hiện được hay không Phương án sử dụng đất được quyết định bởi khả năng của con người và các điều kiện kinh tế - xã hội, kỹ thuật hiện có

Các điều kiện tự nhiên của mỗi vùng thường ít có sự khác biệt nhưng hiệu quả sử dụng đất thì có sự khác biệt lớn, nguyên nhân của vấn đề này là do điều kiện kinh tế - xã hội: vốn, nhân lực, cơ sở hạ tầng quyết định Trong thực tế càng minh chứng rõ vấn đề này, với điều kiện tự nhiên đồng nhất nhưng nếu vùng nào có kinh tế phát triển, vốn đầu

tư lớn, nhận thức và trình độ của người lao động vùng nào cao hơn thì sử dụng đất sẽ có hiệu quả hơn

Trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau dẫn đến trình độ sử dụng đất khác nhau

Từ những lý luận trên cho thấy, các điều kiện kinh tế - xã hội có tác động không nhỏ tới việc sử dụng đất đai, thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình sử dụng đất hiệu quả của con người Vì vậy, khi lựa chọn phương cách sử dụng đất, ngoài việc dựa vào quy luật tự

nhiên thì các nhân tố kinh tế xã hội cũng không kém phần quan trọng

* Nhân tố không gian

Trong thực tế, bất kỳ ngành sản xuất nào (nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, khai thác khoáng sản ) đều cần đến đất đai là điều kiện không gian cho các hoạt động Tính chất không gian bao gồm: vị trí địa lý, địa hình, hình dạng, diện tích Đất đai không thể di dời từ nơi này đến nơi khác nên sự thừa thãi đất đai ở nơi này không thể sử dụng để đáp ứng sự thiếu đất ở địa phương khác Đất đai phải khai thác tại chỗ, không thể chia cắt mang đi, nên không thể có hai khoanh đất giống nhau hoàn toàn Do đó, không gian là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của việc sử dụng đất

Các quá trình sản xuất công nghiệp được thực hiện bởi tác động của con người lên đối tượng lao động thông qua tư liệu sản xuất nằm ở vị trí cố định, một không gian hạn chế Trong sản xuất nông nghiệp thì khác, người sản xuất tác động trực tiếp vào đất đai thông qua các tư liệu sản xuất để mang lại năng suất, sản lượng cao nhất có thể Vị trí và diện tích đất đai là bất biến nhưng điều kiện xã hội thay đổi từng ngày, các ngành kinh tế không ngừng phát triển, dân số ngày càng tăng, điều này đã gây áp lực lớn đối với đất đai

và cũng là thử thách đối với toàn xã hội

Đặc điểm không thể chuyển dịch của đất đai dẫn đến những lợi thế hoặc khó khăn cho vùng, lãnh thổ Nếu những khoanh đất có vị trí tại khu trung tâm, có nền kinh tế phát triển, thuận lợi giao thông, giao lưu buôn bán thì hiệu quả sử dụng đất của khoanh đất

Trang 14

6

đó sẽ lớn hơn rất nhiều so với khoanh đất tại vùng nông thôn, có nền kinh tế kém phát triển, không thuận tiện giao thông hay những khoanh đất tại vùng đồng bằng, địa hình bằng phẳng sẽ cho hiệu quả của sản xuất nông nghiệp cao hơn vùng đồi núi, địa hình phức tạp

Bên cạnh đó, hình dạng của mảnh đất có ảnh hưởng rõ rệt đến hiệu quả sử dụng đất trong cả nông nghiệp và phi nông nghiệp: làm đất, chăm sóc, vận chuyển, thiết kế công trình

Như vậy, các nhân tố không gian có ảnh hưởng tới quá trình sử dụng đất, nó sẽ gián tiếp quyết định hiệu quả của việc sử dụng đất

Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, các yếu tố điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh

tế xã hội tạo ra nhiều tổ hợp ảnh hưởng đến việc sử dụng đất đai

Tuy nhiên mỗi yếu tố giữ vị trí và có tác động khác nhau Trong đó, điều kiện tự nhiên là yếu tố cơ bản để xác định công dụng của đất đai, có ảnh hưởng trực tiếp, cụ thể

và sâu sắc, nhất là đối với sản xuất nông nghiệp; Điều kiện kinh tế sẽ kiềm chế tác dụng của con người trong việc sử dụng đất; Điều kiện xã hội tạo ra những khả năng khác nhau cho các yếu tố kinh tế và tự nhiên tác động tới việc sử dụng đất Vì vậy, cần phải dựa vào quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế - xã hội để nghiên cứu, xử lý mối quan hệ giữa các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội trong lĩnh vực sử dụng đất đai Căn cứ vào yêu cầu của thị trường và của xã hội, xác định mục đích sử dụng đất, kết hợp chặt chẽ yêu cầu sử dụng với ưu thế tài nguyên của đất đai để đạt tới cơ cấu tổng thể hợp lý nhất, với diện tích đất đai có hạn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội ngày càng cao và sử dụng đất đai được bền vững

Trong thực tế, mọi ngành sản xuất vật chất và phi vật chất (như các ngành nông nghiệp, công nghiệp, khai khoáng, xây dựng, mọi hoạt động kinh tế và hoạt động xã hội) đều cần đến đất đai như điều kiện không gian để hoạt động Không gian, bao gồm cả vị trí và mặt bằng Đặc tính cung cấp không gian của đất đai là yếu tố vĩnh hằng của tự nhiên ban phát cho xã hội loài người

Không gian mà đất đai cung cấp có đặc tính vĩnh cửu, cố định vị trí khi sử dụng và

số lượng không thể vượt phạm vi quy mô hiện có Do vị trí và không gian của đất đai không bị mất đi và cũng không tăng thêm trong quá trình sử dụng, nên phần nào đã giới hạn sức tải nhân khẩu và số lượng người lao động, có nghĩa tác dụng hạn chế của không gian đất đai sẽ thường xuyên xẩy ra khi dân số và kinh tế xã hội luôn phát triển

Sự bất biến của tổng diện tích đất đai không chỉ hạn chế khả năng mở rộng không gian sử dụng đất, mà còn chi phối giới hạn thay đổi của cơ cấu đất đai Điều này quyết định việc điều chỉnh cơ cấu đất đai theo loại, số lượng được sử dụng căn cứ sức sản xuất của đất và yêu cầu sản xuất của xã hội nhằm đảm bảo nâng cao lực tải của đất đai

Khả năng không chuyển dịch của đất đai dẫn đến việc phân bố về số lượng và chất lượng đất đai mang tính khu vực rất chặt chẽ Cùng với mật độ dân số của các khu vực khác nhau, tỷ lệ cơ cấu và lượng đầu tư sẽ có sự khác biệt rất rõ rệt Tài nguyên đất đai có hạn, lại giới hạn về không gian, đây là nhân tố hạn chế lớn nhất đối với việc sử dụng đất

Trang 15

Sử dụng đất là hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối quan hệ người - đất trong

tổ hợp các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường Căn cứ vào nhu cầu của thị trường sẽ phát hiện, quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng hợp lý nhất tài nguyên đất, phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới hiệu ích sinh thái, kinh tế và

xã hội cao nhất Vì vậy, sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại Trong mỗi phương thức sản xuất xã hội nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu của sản xuất và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai Với ý nghĩa là nhân tố của sức sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất được thể hiện theo 4 mặt sau:

- Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử dụng đất;

- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất được sử dụng, hình thành cơ cấu kinh tế sử dụng đất;

- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp, hình thành quy mô kinh tế sử dụng đất;

- Giữ mật độ sử dụng đất thích hợp, hình thành việc sử dụng đất một cách kinh tế,

tập trung, thâm canh

1.1.3 Các xu thế phát triển sử dụng đất

Hiện nay, xu thế sử dụng đất được phát triển theo các hướng sau:

Lịch sử phát triển của xã hội loài người chính là lịch sử biến đổi của quá trình sử dụng đất Khi con người còn sống bằng phương thức săn bắn và hái lượm, chủ yếu dựa vào sự ban phát của tự nhiên, vấn đề sử dụng đất hầu như không tồn tại Thời kỳ du mục, con người sống trong lều cỏ, những vùng đất có nước và đồng cỏ bắt đầu được sử dụng Khi xuất hiện ngành trồng trọt với những công cụ sản xuất thô sơ, diện tích đất đai được

sử dụng tăng lên nhanh chóng, năng lực sử dụng và ý nghĩa kinh tế của đất đai cũng gia tăng

Tuy nhiên trình độ sử dụng đất còn rất thấp, phạm vi sử dụng cũng rất hạn chế, mang tính kinh doanh thô, đất khai phá nhiều nhưng thu nhập rất thấp Với sự tăng trưởng của dân số và phát triển của kinh tế, kỹ thuật, văn hoá và khoa học, quy mô, phạm

vi và chiều sâu của việc sử dụng đất ngày một nâng cao Yêu cầu sinh hoạt vật chất và tinh thần của người dân ngày càng cao, các ngành nghề cũng phát triển theo xu hướng phức tạp và đa dạng dần, phạm vi sử dụng đất càng mở rộng (từ cục bộ một vùng đã phát triển trên phạm vi cả thế giới, thậm chí cả ở những vùng đất trước đây không thể sử dụng được)

Cùng với việc phát triển sử dụng đất theo không gian, trình độ tập trung cũng sâu hơn nhiều Đất canh tác cũng như đất sử dụng theo các mục đích khác đều được phát

Trang 16

8

triển theo hướng kinh doanh tập trung, với diện tích đất ít nhưng hiệu quả sử dụng cao Tuy nhiên, thời kỳ quá độ từ kinh doanh quảng canh sang kinh doanh thâm canh cao trong sử dụng đất là một nhiệm vụ chiến lược lâu dài Để nâng cao sức sản xuất và sức tải của một đơn vị diện tích, đòi hỏi phải liên tục nâng mức đầu tư về vốn và lao động, thường xuyên cải tiến kỹ thuật và công tác quản lý Ở những khu vực khác nhau của một vùng hoặc một quốc gia, có sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế kỹ thuật cũng như các điều kiện đặc thù, do đó phải áp dụng linh hoạt, sáng tạo nhiều phương thức

sử dụng đất tuỳ từng thời điểm khác nhau

Khoa học kỹ thuật và kinh tế của xã hội phát triển, sử dụng đất từ hình thức quảng canh chuyển sang thâm canh, kéo theo xu thế từng bước phức tạp hoá và chuyên môn hoá

cơ cấu sử dụng đất

Khi kinh tế phát triển, nhu cầu của con người về vật chất, văn hoá, tinh thần và môi trường ngày một cao sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp đòi hỏi yêu cầu cao hơn đối với đất đai, ở thời kỳ mức sống còn thấp, việc sử dụng đất chủ yếu tập trung vào sản xuất nông nghiệp nhằm giải quyết vấn đề thường nhật của cuộc sống là đủ cơm ăn, áo mặc và chỗ ở Khi đời sống đã nâng cao, chuyển sang giai đoạn hưởng thụ, vấn đề sử dụng đất ngoài việc sản xuất vật chất phải thoả mãn được nhu cầu vui chơi, giải trí, văn hoá, thể thao và môi trường trong sạch đã làm cho cơ cấu sử dụng đất trở nên phức tạp hơn

Tiến bộ khoa học kỹ thuật đã cho phép mở rộng khả năng kiểm soát tự nhiên của con người, áp dụng các biện pháp bồi bổ và cải tạo sẽ nâng cao sức sản xuất của đất đai, thoả mãn các loại nhu cầu của xã hội Trước đây, việc sử dụng đất rất hạn chế do kinh tế

và khoa học kỹ thuật còn ở trình độ thấp, chủ yếu sử dụng bề mặt của đất đai, nông nghiệp độc canh, đất lâm nghiệp, đồng cỏ, mặt nước ít được sử dụng, khai thác khoáng sản còn hạn chế, xây dựng chủ yếu chọn đất bằng Khi khoa học kỹ thuật hiện đại phát triển, ngay cả đất xấu cũng được khai thác triệt để, hình thức sử dụng đa dạng, ruộng nước phát triển đã làm cho vấn đề sử dụng đất ngày một phức tạp hơn theo hướng sử dụng toàn diện, triệt để các chất dinh dưỡng, sức tải, vật chất cấu thành và sản phẩm của đất đai để phục vụ lợi ích con người

Hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân và phát triển kinh tế hàng hoá, dẫn đến sự phân công trong sử dụng đất theo hướng chuyên môn hóa Do đất đai có đặc tính khu vực rất mạnh, sự sai khác về ưu thế tài nguyên hết sức rõ rệt, phương hướng và biện pháp sử dụng đất của các vùng cũng rất khác nhau Để sử dụng hợp lý đất đai, đạt được sản lượng

và hiệu quả kinh tế cao nhất cần có sự phân công và chuyên môn hoá theo khu vực Cùng với việc đầu tư, trang bị và ứng dụng các công cụ kỹ thuật, công cụ quản lý hiện đại sẽ nẩy sinh yêu cầu phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp có quy mô lớn và tập trung, đồng thời cũng hình thành các khu vực chuyên môn hoá sử dụng đất khác nhau về hình thức và quy mô

Sử dụng đất phát triển theo hướng xã hội hoá và công hữu hoá

Đất đai là cơ sở vật chất và công cụ để con người sinh sống và xã hội tồn tại Vì vậy, việc chuyên môn hoá theo yêu cầu xã hội hóa sản xuất phải đáp ứng nhu cầu của xã

Trang 17

9

hội hướng tới lợi ích cộng đồng và tiến bộ xã hội Ngay cả ở xã hội mà mục tiêu sử dụng đất chủ yếu vì lợi ích của tư nhân, những vùng đất đai hướng dụng cộng đồng như nguồn nước, núi rừng, khoáng sản, sông ngòi, mặt hồ, biển cả hải cảng, danh lam thắng cảnh, động thực vật quý hiếm vẫn cần có những quy định về chính sách thực thi hoặc tiến hành công quản, kinh doanh của Nhà nước nhằm ngăn chặn, phòng ngừa việc tư hữu tạo nên những mâu thuẫn gay gắt của xã hội

Xã hội hóa sử dụng đất là sản phẩm tất yếu và là yêu cầu khách quan của sự phát triển xã hội hóa sản xuất Vì vậy, xã hội hóa sử dụng đất và công hữu hóa là xu thế tất yếu Muốn kinh tế phát triển và thúc đẩy xã hội hóa sản xuất cao hơn, cần phải thực hiện

xã hội hóa và công hữu hóa sử dụng đất

1.1.4 Chiếm dụng đất đai

Cùng với sự phát triển của xã hội loài người trải qua các thời kỳ khác nhau, kết hợp với sự tăng trưởng dân số và phát triển nhanh chóng của kinh tế, kỹ thuật, văn hoá và khoa học, diện tích đất đai được sử dụng tăng lên nhanh chóng, ý nghĩa kinh tế của đất đai cũng gia tăng, quy mô, phạm vi và chiều sâu của việc sử dụng đất ngày một nâng cao, giá trị của đất đai ngày càng được khẳng định Song song với sự phát triển sử dụng đất, quan hệ giữa người với người trong lĩnh vực sử dụng đất cũng ngày càng trở nên phức tạp Có rất nhiều mâu thuẫn thực tế và tiềm tàng về đất giữa những người có liên quan đến việc sử dụng đất, một bên là những người sử dụng đất thực tế khác nhau, một bên là những cộng đồng và những người khác có ảnh hưởng đến việc sử dụng đất

Có nhiều loại chiếm dụng ruộng đất:

- Quyền sở hữu pháp lý cho những loại đất không sử dụng thực tế (“ruộng đất vắng chủ” đất chỉ được giữ đơn thuần cho mục đích đầu tư ), như đã được xác nhận trong sổ và các văn bản của ngành địa chính

- Quyền sở hữu pháp lý cho những loại đất được sử dụng hoặc yêu cầu sử dụng theo một hình thức cụ thể hay đã được ấn định

- Quyền sở hữu pháp lý do một cá nhân hoặc tổ chức, nhưng việc sử dụng này đã được người khác đồng ý, họ được hưởng quyền hoa lợi

- Đất công cho việc sử dụng cụ thể hoặc không sử dụng, ví dụ: các khu công viên quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên

- Đất quốc gia có những hình thức ưu đãi cho các cá nhân hoặc công ty khai thác tài nguyên khoáng sản, sinh khối (khai thác gỗ, mỏ ) với yêu cầu (hoặc không yêu cầu) phải phục hồi lớp phủ của đất, các điều kiện bề mặt đất

- Đất có giá trị khảo cổ, di tích văn hoá cần được bảo vệ đầy đủ hoặc phải có những hạn chế nào đó về việc sử dụng nó

- Đất làng xã giao theo các quyền lợi truyền thống của những nhóm người bản địa hoặc những người chiếm giữ đất đầu tiên, ví dụ như những người thợ săn hoặc những người thu lượm sản phẩm trên đất không được giao

- Đất làng xã với những thoả thuận truyền thống giữa dân định cư và những nhóm người di cư về sử dụng đất theo mùa hoặc sử dụng một phần đất

Trang 18

10

- Đất với các quyền chuyển tiếp giữa các thế hệ sử dụng hoặc cho thuê quyền sử dụng và được phép chia nhỏ các quyền lợi về đất cho con trai, con gái, chẳng hạn như chỉ

chia cho con đầu hoặc cho tất cả con cái

1.1.5 Sử dụng đất và các mục đích kinh tế, xã hội, môi trường

Trong thời kỳ cuộc sống xã hội phát triển ở mức cao, việc sử dụng đất luôn hướng tới mục tiêu kinh tế, nhằm đạt được lợi nhuận tối đa trên một đơn vị diện tích đất nhất định (xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, chuồng trại chăn nuôi quy mô lớn ) Bên cạnh đó, một phần diện tích đất không nhỏ được sử dụng để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, ăn ở cũng như thỏa mãn đời sống tinh thần của con người (xây dựng nhà cửa, hệ thống giao thông, các công trình dịch vụ thể dục thể thao, văn hoá xã hội )

Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng đất, các mục đích sử dụng đất nêu trên luôn nẩy sinh mâu thuẫn làm cho mối quan hệ giữa người và đất ngày càng căng thẳng, những sai lầm liên tục của con người trong quá trình sử dụng đất (sai lầm có ý thức hoặc vô ý thức) dẫn đến huỷ hoại môi trường nói chung và môi trường đất nói riêng (các thảm hoạ sinh thái như lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, trượt lở đất liên tục xẩy ra với quy mô ngày càng lớn và mức độ ngày càng nghiêm trọng), làm cho một số chức năng của đất bị yếu đi Việc sử dụng đất như một thể thống nhất tạo ra điều kiện để giảm thiểu những xung đột, tạo ra hiệu quả sử dụng cao và liên kết được sự phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ

và nâng cao môi trường Sử dụng đất hợp lý, bền vững là hài hoà được các mục tiêu kinh

tế - xã hội và môi trường

Những xung đột giữa 3 lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường rất đa dạng:

- Đất sản xuất nông nghiệp đối lập với quá trình đô thị hoá

- Phát triển thủy lợi đối lập với việc phân chia các nguồn tài nguyên nước cho đô thị

và phát triển công nghiệp

- Phát triển kinh tế - xã hội vùng ven biển đối lập với việc bảo vệ hệ sinh thái ven biển

- Sản xuất thuốc phiện đối lập với sản xuất lương thực thực phẩm ở một số địa phương

- Quyền lợi của người bản địa và những người di cư

- Bảo vệ các giá trị sinh thái đối lập với nhu cầu về thực phẩm hoặc nông sản khác

- Các chủ sử dụng đất nhỏ mâu thuẫn với việc canh tác quy mô lớn

- Sử dụng đất và mục tiêu kinh tế

Sử dụng đất trước hết bao giờ cũng gắn với mục tiêu kinh tế, những mục tiêu kinh

tế trong sử dụng đất giữa chủ sử dụng thực tế và cộng đồng lớn hơn có lúc trùng nhau và

có lúc không trùng nhau

Các hộ nông dân trong việc sử dụng đất của mình luôn đặt ra mục tiêu làm ra sản phẩm để bán hoặc tự tiêu dùng, nếu thấy việc đó không có lợi họ có thể thay đổi cây trồng để sản xuất có hiệu quả hơn hoặc nếu việc canh tác không có lợi họ có thể bán phần đất của họ cho người nông dân khác, những người mà sản xuất nông nghiệp đem lại lợi nhuận cao hơn hoặc họ cũng có thể thay đổi mục đích sử dụng đất của mình kể cả việc

Trang 19

Như vậy các mối quan tâm kinh tế nhất thời của người sử dụng đất cụ thể mâu thuẫn với mối quan tâm lâu dài của cả cộng đồng

Sử dụng đất và các mục tiêu kinh tế được xem là hợp lý có nghĩa là quá trình xem xét cân nhắc để sử dụng đất hài hoà về mặt lợi ích của toàn thể cộng đồng và các chủ sử dụng đất cụ thể Trong vấn đề này bao giờ cũng đặt ưu tiên cho việc sử dụng đất lâu dài

và mối quan tâm chung của toàn thể cộng đồng

- Sử dụng đất và mục tiêu xã hội

Sử dụng đất trước tiên liên quan đến nhu cầu thiết yếu của những người sống trên mảnh đất đó Đây là mục tiêu xã hội của bất cứ một Nhà nước nào nhằm tạo ra hay duy trì các điều kiện có tác dụng giúp thoả mãn những nhu cầu thiết yếu này Việc tạo ra công

ăn việc làm trong quá trình phát triển bền vững là một phương pháp hữu hiệu nhằm cùng một lúc đạt được 3 mục tiêu (xã hội, kinh tế và môi trường) Những nhu cầu thiết yếu này bao gồm các cơ sở vật chất công cộng hoặc các phương tiện phục vụ cho sức khoẻ, giáo dục, định cư, thu nhập, ngoài ra còn tạo ra một ý thức về công bằng xã hội và kiểm soát chính tương lai của họ

Công bằng xã hội là rất cần thiết cho mọi người Trong sử dụng đất các Chính phủ thường có những dự án ưu đãi cho nhóm người nghèo trong xã hội

Việc làm giảm tình trạng căng thẳng giữa những nhóm dân số cũng là một mục tiêu

xã hội của Chính phủ (mâu thuẫn giữa dân bản địa, dân di cư )

Một mục tiêu xã hội nữa cần phải kể đến là mâu thuẫn giữa các thế hệ về việc sử dụng đất Đó là việc sử dụng đất của các thế hệ hiện tại không nghĩ đến lợi ích của các thế hệ con cháu Đất là điều kiện vật chất cần thiết để tồn tại và tái sản xuất các thế hệ tiếp nhau của loài người Vì vậy, trong sử dụng cần làm cho đất tốt hơn cho các thế hệ mai sau

- Sử dụng đất và mục tiêu môi trường

Đối với bất kỳ vùng đất nào trong sử dụng đất đai gắn với mục tiêu môi trường thì điều quan trọng là phải phân biệt được mục tiêu chung và mục tiêu riêng Chính phủ các nước đều đưa ra các tiêu chuẩn và mục tiêu về môi trường

Việc nhìn nhận “môi trường” không chỉ có nghĩa là một hệ thống các tiêu chuẩn về hoá học Đất nước, phong cảnh thiên nhiên là các tài sản có giá trị Vì thế, những vấn

đề về môi trường chỉ có thể giải quyết một cách có hiệu quả nếu nó được thực hiện kết

hợp với các mục tiêu kinh tế - xã hội

1.1.6 Cơ sở khoa học của quy hoạch sử dụng đất

Trang 20

12

a.Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất

Theo FAO [15]: “Quy hoạch sử dụng đất là quá trình đánh giá tiềm năng đất và nước một cách có hệ thống phục vụ việc sử dụng đất và kinh tế - xã hội nhằm lựa chọn ra phương án sử dụng đất tốt nhất Mục tiêu của quy hoạch sử dụng đất là lựa chọn và đưa

ra phương án đã lựa chọn vào thực tiễn để đáp ứng nhu cầu của con người một cách tốt nhất nhưng vẫn bảo vệ được nguồn tài nguyên cho tương lai Yêu cầu cấp thiết phải làm quy hoạch là do nhu cầu của con người và điều kiện thực tế sử dụng đất thay đổi nên phải nâng cao kỹ năng sử dụng đất”

Về mặt thuật ngữ, “quy hoạch” là việc xác định một trật tự nhất định bằng những hoạt động như phân bố, bố trí, sắp xếp, tổ chức ”, “đất đai” là một phần lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, vạt đất, mảnh đất, miếng đất ) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành(đặc tính thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, địa chất, thuỷ văn, chế độ nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hoá tính ) tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau Như vậy, để sử dụng đất cần phải làm quy hoạch nhằm xác định ý nghĩa mục đích của từng phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử dụng đất nhất định

Về mặt bản chất quy hoạch đất đai cần được xác định dựa trên quan điểm nhận thức: đất đai là đối tượng của các mối quan hệ sản xuất trong lĩnh vực sử dụng đất đai và việc tổ chức sử dụng đất như “tư liệu sản xuất đặc biệt” gắn chặt với phát triển kinh tế -

xã hội Như vậy, quy hoạch sử dụng đất đai sẽ là một hiện tượng kinh tế xã hội thể hiện đồng thời ba tính chất: kinh tế, kỹ thuật và pháp chế Tính kinh tế: được thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất đai Tính kỹ thuật: bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật như điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu ; Tính pháp chế: xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất theo quy hoạch nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai đúng pháp luật

“Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các biện pháp của Nhà nước về tổ chức, quản

lý nhằm sử dụng hiệu quả tối đa tài nguyên đất, bảo vệ môi trường để phát triển bền vững trên cơ sở phân bố quỹ đất vào các mục đích phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng của cả nước, các vùng và theo đơn vị hành chính các cấp ”[3]

“Quy hoạch sử dụng đất là bản “tổng phổ” của phát triển, trong đó phản ánh cụ thể các ý tưởng về tương lai của các ngành các cấp nhịp nhàng và cân đối, thông qua những trình tự hành chính và pháp lý nhất định để trở thành quy chế xã hội, mọi người đều có quyền và nghĩa vụ thực hiện Quá trình tổ chức thành lập, thực hiện điều chỉnh quy hoạch

là quá trình huy động lực lượng xã hội vào sự nghiệp công cộng theo phương thức dân chủ, nên đó cũng là quá trình xây dựng và củng cố chính quyền dân chủ nhân dân Do đó quy hoạch sử dụng đất vừa là phương thức để phát triển vừa là công cụ để xây dựng và củng cố Nhà nước” [1]

“Quy hoạch sử dụng đất cần phải thực hiện trước một bước ít ra là một thời kỳ kế hoạch, được các hội đồng có đại diện của nhân dân tham gia thẩm định chặt chẽ và được cấp thẩm quyền phê duyệt Dù lớn hay nhỏ thì bản quy hoạch sử dụng đất vẫn mang tính

Trang 21

Sử dụng đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả được hiểu là: mọi loại đất đều được đưa vào sử dụng theo các mục đích nhất định; các đặc điểm tính chất tự nhiên, vị trí, diện tích phải phù hợp với yêu cầu và mục đích sử dụng; áp dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật và các biện pháp tiên tiến; đáp ứng đồng bộ cả ba lợi ích kinh tế - xã hội - môi trường

Như vậy, về thực chất quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời hai chức năng: điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp

bảo vệ đất và môi trường

b Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất

Lịch sử phát triển của quy hoạch sử dụng đất đai gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội Mỗi hình thái kinh tế xã hội đều có một phương thức sản xuất, nó được thể hiện ở hai mặt là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Mối quan hệ sản xuất của con người với đất đai được hình thành trong quá trình sử dụng đất đai Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện đồng thời vừa là yếu

tố thúc đẩy lực lượng sản xuất vừa là yếu tố thúc đẩy mối quan hệ sản xuất Vì vậy nó là một bộ phận của phương thức sản xuất xã hội

Đối tượng của quy hoạch là khai thác, sử dụng, bảo vệ và cải tạo toàn bộ tài nguyên đất đai cho nhu cầu của nền kinh tế quốc dân (gồm 3 loại đất chính: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng) Quy hoạch sử dụng đất đai đề cập đến nhiều lĩnh vực như: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dân số và đất đai, sản xuất nông - lâm nghiệp, sản xuất công nghiệp

Căn cứ vào các dự báo về xu thế biến động dài hạn của những yếu tố kinh tế xã hội quan trọng, từ đó xác định quy hoạch trung và dài hạn về sử dụng đất đai, đề ra phương hướng chính sách và giải pháp có tính chiến lược tạo căn cứ cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất 5 năm và ngắn hạn

Quy hoạch đất đai dài hạn nhằm đáp ứng cho nhu cầu phát triển về lâu dài kinh tế,

xã hội, cơ cấu và phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong thời gian dài cùng với sự phát triển dài hạn của kinh tế, xã hội cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến Thời hạn để xác định phương hướng chính sách và biện pháp sử dụng đất để phát triển kinh tế và hoạt động xã hội của quy hoạch sử dụng đất đai thường từ 10 đến 20 năm hoặc

xa hơn

Quy hoạch sử dụng đất là quy hoạch mang tính chiến lược, các chỉ tiêu quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, tính phương hướng và khái lược sử dụng đất của các ngành

Trang 22

14

Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện rất mạnh đặc tính chính trị và chính sách xã hội Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách và quy định có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước đảm bảo thực hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kinh tế xã hội; tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân số, đất đai và môi trường sinh thái

Dưới tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước, theo nhiều phương diện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất đai chỉ là một trong những biện pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái sử dụng đất thích hợp hơn cho việc phát triển kinh tế trong một thời

kỳ nhất định Khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các dự kiến của quy hoạch sử dụng đất đai không còn phù hợp, việc chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là cần thiết Điều này thể hiện tính khả biến trong quy hoạch Quy hoạch sử dụng đất đai luôn ở trạng thái động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc ” quy hoạch - thực hiện - quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - tiếp tục thực hiện ” với chất lượng, mức độ hoàn thiện và tính phù hợp ngày càng cao

Trong quá trình sản xuất, việc sử dụng tài nguyên đầy đủ hợp lý và có hiệu quả là một vấn đề cần thiết, một trong những biện pháp tốt nhất đó là thực hiện công tác quy hoạch sử dụng đất

Quy hoạch sử dụng đất có chức năng tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất giống như các tư liệu sản xuất khác, để từ đó tìm ra các giải pháp sử dụng đất có hiệu quả trên cơ sở sử dụng hợp lý các nguồn lực, nhằm thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội, cùng với đó là nhiệm vụ bảo vệ môi trường và hệ sinh thái, không chỉ có vậy, quy hoạch

sử dụng đất còn tham gia điều chỉnh các mối quan hệ về đất đai, giúp cho công tác quản

lý tài nguyên đất đai của nhà nước được dễ dàng hơn

Sự phát triển của nền kinh tế quốc dân đòi hỏi phải tổ chức phân bổ hợp lý lực lượng sản xuất trong từng vùng và trên phạm vi cả nước đây chính là nhiệm vụ quan trọng nhất của quy hoạch sử dụng đất

Trong nhiều trường hợp, khi quy hoạch sử dụng đất phải tiến hành trên quy mô lớn,

có thể là một vùng lãnh thổ của một huyện, một tỉnh hoặc một vùng kinh tế lớn gồm nhiều tỉnh hợp lại thì nhiệm vụ của quy hoạch sử dụng đất là phải giải quyết vấn đề phân chia lại lãnh thổ, tổ chức sản xuất và lao động, bố trí lại mạng lưới điểm dân cư

Quy hoạch sử dụng đất có thể giải quyết các vấn đề về di chuyển dân cư, khai hoang xây dựng nền kinh tế mới, hoạch định ranh giới cho các nông lâm trường, xác định ranh giới hành chính cũng như ranh giới sử dụng đất mới của các tỉnh, huyện, xã mới thành lập

Ngoài ra quy hoạch sử dụng đất còn phải đáp ứng nhu cầu đất cho các ban ngành, các chủ sử dụng đất thông qua việc thành lập các đơn vị sử dụng đất mới hoặc chỉnh lý,

hoàn thiện các đơn vị sử dụng đất đang tồn tại

c Phân loại quy hoạch sử dụng đất

Quy hoạch sử dụng đất đóng vai trò quan trọng trong quá trình sử dụng đất Luật

Trang 23

15

đất đai quy định tiến hành quy hoạch sử dụng đất đai ở 4 cấp: cả nước, tỉnh, huyện, xã Lập quy hoạch tiến hành theo trình tự từ trên xuống dưới và sau đó bổ sung hoàn chỉnh từ dưới lên đây là quá trình có mối quan hệ trực tiếp và chặt chẽ giữa tổng thể và cụ thể,

giữa vĩ mô và vi mô, giữa trung ương và địa phương trong hệ thống chỉnh thể.[10]

-Quy hoạch sử dụng đất cấp xã

Cấp xã là cấp hành chính cơ sở bao gồm: xã, phường, thị trấn Tài liệu quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã cho thời hạn 5 - 10 năm có tính pháp quy và sẽ là văn bản duy nhất mang tính tiền kế hoạch Vì vậy, trong quy hoạch cấp xã vấn đề sử dụng đất đai được giải quyết rất cụ thể, gắn chặt với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của xã

Quy hoạch sử dụng đất cấp xã giải quyết được những tồn tại về ranh giới hành chính, ranh giới sử dụng đất, làm cơ sở vững chắc để lập quy hoạch phân bổ đất đai cho các ngành, quy hoạch phân bổ đất đai theo lãnh thổ Mặt khác quy hoạch sử dụng đất cấp xã còn là cơ

sở để chỉnh lý quy hoạch sử dụng đất cấp cao hơn

Nhiệm vụ của quy hoạch sử dụng đất cấp xã:

- Phản ánh cân đối trong việc phân bổ đất đai để tất cả các ngành sử dụng đất làm căn cứ xây dựng và phát triển ngành vừa phù hợp với nhiệm vụ chung, vừa không chồng chéo ảnh hưởng đến quy hoạch của nhau, nhằm sử dụng đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả cao nhất nguồn tài nguyên đất đai, bảo vệ, mở rộng diện tích, nâng cao chất lượng đất sản xuất nông lâm nghiệp

- Giúp chính phủ và UBND các cấp thực hiện được việc thống nhất quản lý đối với đất đai

- Quy hoạch sử dụng đất cấp xã cần đáp ứng nhu cầu về phân bố sử dụng đất đai hiện tại và trong tương lai của các ngành trên địa bàn lãnh thổ một cách tiết kiệm, hợp lý

và có hiệu quả, nó được coi là cơ sở để lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm, là căn cứ để xây dựng các biện pháp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường, đảm bảo việc thống

nhất quản lý nhà nước đối với đất đai

-Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện

Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện dưới sự chỉ đạo của UBND huyện căn cứ vào đặc

tính của nguồn tài nguyên đất và mục tiêu dài hạn phát triển kinh tế xã hội để giải quyết các vấn đề như:

- Xác định phương hướng mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cơ bản sử dụng đất của huyện

- Xác định quy mô, cơ cấu và phân bổ sử dụng đất của các ngành

- Xác định cơ cấu, phạm vi và phân bố đất cho các công trình hạ tầng chủ yếu: xí nghiệp công nghiệp, du lịch và nhu cầu đất đai cho các nhiệm vụ đặc biệt như bảo vệ - bảo tồn, khu vực an ninh quốc phòng Đề xuất chỉ tiêu khống chế sử dụng các loại đất theo từng khu vực các xã trong huyện

- Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện ở nước ta là một cấp cơ bản trong hệ thống quy hoạch sử dụng đất, là cơ sở để cụ thể hoá quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và cả nước Có tác dụng chỉ đạo và khống chế quy hoạch sử dụng đất của nội bộ các ngành, xí nghiệp, kế

Trang 24

16

thừa quy hoạch cấp trên và gợi ý cho quy hoạch cấp dưới do đó, phải được tổ chức dưới

sự lãnh đạo chủ chốt của cấp huyện, có sự tham gia của nhiều ngành, nhiều nhà khoa học, thực hiện một cách thiết thực, làm cho quy hoạch có tính khoa học, tính tiên tiến, tính

thực tiễn và tính khả thi cao

- Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh

Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng và cần thiết trong hệ thống quy hoạch sử dụng đất, nhằm đưa công tác quản lý đất đai có nề nếp, mang lại tính hiệu quả trên nhiều mặt cho đất nước và xã hội

Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh do UBND tỉnh trực tiếp chỉ đạo công tác xây dựng

và được Chính phủ trực tiếp phê duyệt Trong hệ thống 4 cấp lập quy hoạch sử dụng đất, thì cấp tỉnh có vị trí trung tâm và là khung sườn giữa vĩ mô và vi mô, giữa tổng thể và cụ thể, giữa trung ương và địa phương

Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh tác động trực tiếp đến việc sử dụng đất của các bộ, ngành, các vùng trọng điểm, các huyện và một số dự án quy hoạch phân bổ sử dụng đất cấp xã mang tính đặc thù, vừa cụ thể hoá thêm, vừa bổ sung hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất cả nước để tăng thêm sự ổn định của hệ thống quy hoạch sử dụng đất

Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh còn là một công cụ quan trọng để Nhà nước quản lý thống nhất toàn bộ đất đai của tỉnh thông qua tổ chức pháp quyền cấp tỉnh mặt khác, quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh sẽ tạo ra những cơ sở có tầm quan trọng đặc biệt trong việc tiếp nhận những cơ hội của các đối tác đầu tư từ bên ngoài vào phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn toàn tỉnh

Quy hoạch tổng thể sử dụng đất cấp tỉnh coi quy hoạch sử dụng đất của toàn quốc, của vùng làm căn cứ Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh là sự cụ thể hoá quy hoạch toàn quốc trong phạm vi của tỉnh mình Các vấn đề cần giải quyết gồm: xác định phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu sử dụng đất cho toàn tỉnh; điều hoà nhu cầu sử dụng đất của các ngành, xử lý mối quan hệ giữa khai thác sử dụng, cải tạo và bảo vệ; đề xuất cơ cấu, bố cục, phương thức sử dụng đất của tỉnh và các chỉ tiêu sử dụng đất và các biện

pháp để thực hiện quy hoạch

1.1.7 Cơ sở pháp lý của lập và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất

Đất nước ta đang trong thời kỳ chuyển mình hoà nhập mạnh mẽ với nền kinh tế thế giới Đặc biệt sau khi chúng ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO thì nền kinh tế của chúng ta có sự chuyển biến mạnh với sự đa dạng về các ngành nghề Nhu cầu sử dụng đất của các ngành cũng tăng lên, vì vậy đã gây áp lực đến tài nguyên đất đai Do đó, việc phân bổ sử dụng đất một cách hợp lý cho từng lĩnh vực của các ngành là vấn đề quan tâm của Đảng và Nhà nước ta Điều này được thể hiện thông qua các văn bản pháp luật như Hiến pháp, Luật, Nghị định, Thông tư và các văn bản dưới luật tạo cơ sở pháp lý cho quy hoạch sử dụng đất

Để phù hợp với thực tiễn khách quan về tình hình quản lý sử dụng đất hiện tại và tương lai, trong điều kiện nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước, ngày 29.11.2013 Luật Đất đai 2013 chính thức có

Trang 25

17

hiệu lực, trong đó đã quy định rõ việc lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất , Từ Điều

35 đến Điều 61 quy định rõ về công tác quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất

1.2 KHÁI NIỆM TRỒNG XEN

Trên cùng một diện tích cây trồng, trồng xen thêm một vài loại cây khác nhằm tận dụng ánh sáng và chất dinh dưỡng, tăng thêm thu hoạch

1.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TÊ XÃ HỘI CỦA MÔ HÌNH TRỒNG XEN 1.3.1 Hiệu quả kinh tế

Xen canh là sử dụng hợp lý đất đai, ánh sáng và giảm sâu bệnh

Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của mô hình trồng xen

Đứng trước tình trạng giá cao su ngày càng sụt giảm thì việc trồng xen sẽ mang lại một lợi ích rất lớn cho doanh nghiệp và xã hội

-Việc trồng xen sẽ tạo ra công ăn việc làm cho người lao động sẽ tạo thêm thu nhập cho người lao động bằng cách tham gia nhận đất trồng xen

1.3.2 Hiệu quả đối với xã hội

- Tạo công ăn việc làm, giảm thiểu nạn thất nghiệp

- Gia tăng sản phẩm cho xã hội

- Gia tăng giá trị sử dụng đất

- Bảo đảm an ninh quốc phòng, tăng trưởng lợi ích kinh tế cho xã hội

-Ngăn ngừa rủi ro về giá:

1.4 MỘT SỐ MÔ HÌNH TRỒNG XEN Ở NƯƠC TA VÀ TRÊN THẾ GIỚI

- Ở Trung Quốc và Sri-Lanka: cây cao su được trồng xen với trà với mật độ 140- 150 cây/ha làm cây che bóng cho vườn trà thu hoạch cả trà và cao su đều rất tốt (tuy nhiên mô hình này chỉ áp dụng cho cách bố trí hàng kép, mỗi hàng kép cách

nhau

- Tại Thái Lan: các loại cây trồng xen khuyến cáo cho cao su tiểu điền trong thời

gian 3 năm đầu trồng cao su là bắp, lúa nương, đậu, dứa, rau xanh, cỏ chăn nuôi Các loại cây trồng xen nên trồng cách hàng cao su 1m Mía được khuyến cáo không nên chọn làm cây trồng xen, nhất là vào mùa khô do có thể gây hỏa hoạn Chuối và đu đủ có thể trồng xen với khoảng cách giữa hàng trồng xen và hàng cao su là 2,5 m, giữa chuối và đu đủ khoảng cách là 3m, cây họ đậu phủ đất nên được trồng giữa các khoảng cách này

- Ở Việt Nam: cây trồng xen thường sử dụng là các loài cây họ đậu, khoai lang, cây thảm

phủ, … thậm chí cà phê – xen 1 hàng cà phê vào giữa 2 hàng cao su (tuy nhiên cà phê chỉ cho huê lợi trong thời gian 3-4 năm, còn sau đó khi cây cao su đã khép tán trên hàng thì

cà phê không còn cho hiệu quả kinh tế nữa - Ngoài ra người ta còn trồng xen cây ăn trái, mía, dứa, …cùng với cao su Việc trồng xen này nói chung là tạo ra thu nhập phụ thêm cho các tiểu điền hoặc đơn vị nông trường cao su thuộc quản lý nhà nước trong khi cao su còn chưa thu hoạch được Ngoài ra, việc trồng xen này còn tạo ra một vài hiệu quả khác nhau đối với từng loại cây, ví dụ như:

- Cây họ đậu: cải tạo đất do có các nốt sần ở rễ chứa vi khuẩn cố định đạm

(Rhizobium), tạo được nguồn phân cho cây cao su

Trang 26

18

- Các loài cây tạo thảm phủ: che phủ măt đất hạn chế tác động của sức nóng từ ánh sáng măt trời thường làm bay hơi các chất dinh dưỡng trong lớp đất mặt, giảm được rửa trôi, giữ ẩm và chống xói mòn đất khá hiệu quả

- Các loại cây như dứa, ca cao thì vẫn có thể thu hoạch khi cao su đã khép tán mặc

dù hiệu quả kinh tế của những cây này mang lại là không cao - v.v…

Tại Công ty TNHH MTV Cao su chư sê thì hiện tại có các loại cây được trồng xen như sau :

Cây họ đậu; cây cà phê, cây hồ tiêu, cây chanh dây, cây lúa, cây khoai môn

Trang 27

19

CHƯƠNG 2 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TNHH MTV CAO SU CHƯ SÊ VÀ MÔ HÌNH

TRỒNG XEN 2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cao su Chư sê

Công ty cao su Chư sê là một đơn vị hạch toán độc lập có đầy đủ tư cách pháp nhân, trực thuộc tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam và được thành lập vào năm 1984 Đến nay công ty đã trở thành một đơn vị sản xuất kinh doanh chuyên chế biến mủ cao su sơ chế nhằm cung cấp nguyên vật liệu cho ngành kinh tế công nghiệp trong nước và xuất khẩu Công ty cao su chư sê được thành lập theo quyết định số 71/TCCB-QĐ ngày 17/8/1984 của Tổng công ty cao su việt nam Công ty được công nhận là một đơn vị quốc doanh theo qui định số 155/NN-TCCB-QĐ ngày 4/3/1993 của Bộ công nghiệp và Nông nghiệp thực phẩm (nay là Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn) theo qui định số 338/HĐBT Công ty đăng ký doanh nghiệp tại trọng tài kinh tế tỉnh Gia lai số 106393 ngày 20/3/1993

Công ty cao su Chư Sê được công nhận là thành viên của tổng công ty cao su việt nam năm 1995 theo quyết định số 252/TTg ngày 24/4/1995 của thủ tướng chính phủ về việv thành lập tổng công ty cao su việt Nam Từ đó đến nay công ty hoạt động theo “Điều

lệ Tổ chức và Hoạt động của công ty” theo Nghị định số 12/CP ngày 17/3/1995

Đến ngày 31/12/2016 công ty đã quản lý và sử dụng với tổng diện tích là 8.200 ha, trong đó:

+ Diện tích cao su khai thác: 5993,94 ha

Tổng tài sản lên đến : 1.455 tỷ đồng

- Các đơn vị trực thuộc của công ty:

+ Nông trường cao su IAGLAI

+ Nông trường cao su IATIÊM

+ Nông trường cao su IAH’LÔP

+ Nông trường IAKO

+ Nông trường Cao su Ialau

+ Xí nghiệp cơ khí chế biến

+ Xí nghiệp kinh doanh tổng hợp

+ Trung tâm y tế cao su Chư Sê

+ Trường mầm non bán công cao su Chư Sê

2.1.2 Hoạt động chính của Công ty TNHH MTV cao su Chư sê

- Trồng trọt, chăm sóc, khai thác và chế biến mủ cao su

- Sản xuất, kinh doanh phân bón phức hợp hữu cơ vi sinh, kinh doanh mua mủ cao

su, dịch vụ gia công chế biến mủ cao su

- Xuất khẩu trực tiếp và tiêu thụ nội địa cao su thiên nhiên sơ chế

- Đầu tư, xây dựng các công trình dân sự, giao thông, cộng đồng trong ngành

- Đầu tư ngoài ngành:

Trang 28

20

+ Đầu tư các công trình thủy điện

+ Đầu tư, thi công các công trình dân dụng

- Doanh thu trung bình hàng năm trong 5 năm đạt 250 tỷ/năm

- Lợi nhuận trung bình trong 5 năm đạt 70 tỷ/năm

- Thu nhập bình quân người/năm trong 5 năm: 45 triệu đồng/người/năm

- Công ty có 9 phòng ban, 5nông trường, 2 xí nghiệp, 3 trường mầm non, 1 trung tâm y tế

- Cán bộ công nhân viên: 2500 người

- Công ty đã góp phần làm thay đổi diện mạo vùng nông thôn huyện Chư Sê, góp phần biến 1 vùng đất khô cằn về thổ nhưỡng, cô lập về địa lý, quanh năm nghèo đói trở thành 1 nơi có cơ sở hạ tầng, điều kiện giao thông nông thôn khá thuận tiện, kinh tế phát triển khá phồn thịnh, bền vững

2.1.3 Đặc điểm tổ chức quản lý của công ty TNHH MTV Cao su Chƣ sê

Sơ đồ 2.1 Tổ chức quản lý của công ty TNHH MTV Cao su Chƣ sê

Công ty cao su Chư Sê là một đơn vị hạch toán kinh doanh độc lập, bộ máy quản lý được áp dụng theo hình trực tuyến chức năng

*Bộ phận quản lý công ty:

Hội ðồng thnh vin :

Bao gồm chủ tịch , Tổng gim ðốc, Phĩ tổng gim ðốc

Ban Tổng giám đốc gồm: Một Giám đốc là người đứng đầu bộ máy quản lý chịu

trách nhiệm toàn bộ, theo dõi mọi hoạt động của công ty và ủy quyền cho mọi phòng ban

Trang 29

21

làm theo kế hoạch 2 Phó T.giám đốc chịu sự chỉ đạo trực tiếp của giám đốc và có nhiệm

vụ chỉ thị trực tiếp việc sản xuất

Khối đoàn thể: có nhiệm vụ hỗ trợ và giám sát việc thực hiện các kế hoạch về sản xuất và phúc lợi đề ra, gồm: Đảng cộng sản Việt Nam, Công đoàn và Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh

Các phòng ban chức năng được tổ chức theo yêu cầu quản lý sản xuất kinh doanh của đơn vị và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của giám đốc

+ Phòng tổ chức Lao động tiền lương: phụ trách vấn đề tổ chức nhân sự, sắp xếp

cán bộ công nhân viên trong cơ quan Chịu trách nhiệm tham mưu các vấn đề tiền lương, chế độ chính sách v.v

+Phòng quản trị hành chính: phụ trách hành chính, văn thư, lưu trữ,

+Phòng tài chính- kế toán: Thống kê và thiết lập các chỉ tiêu tài chính trong sản

xuất, hạch toán giá thành và hiệu quả sử dụng vốn, theo dõi công nợ, trực tiếp quản lý tài sản toàn công ty và phân bổ nguồn vốn sản xuất

+Phòng kế hoạch Đầu tư: Tổ chức các dự án quy hoạch tổng thể Công ty Xây

dựng các kế hoạch sản xuất ngắn hạn, trung hạn Tổ chức bán hàng

+Phòng Thanh tra Bảo vệ: Phụ trách công việc bảo vệ chung toàn công ty

+Phòng Quản lý chất lượng : có nhiệm vụ kiểm tra chất lượng nguyên liệu, vật

*Bộ phận quản lý sản xuất kinh doanh cơ sở gồm:

+ 5 nông trường: mỗi nông trường gồm một giám đốc, từ 1 đến 2 Phó giám đốc,

các nhân viên và tổ sản xuất

+ Xí nghiệp cơ khí chế biến: phụ trách 01 nhà máy chế biến, xưởng cơ khí sũa

chữa và đội xe Đứng đầu là một giám đốc, một Phó giám đốc và các xưởng trưởng, công

nhân

+Xí nghiệp kinh doanh tổng hợp: Phụ trách xưởng sản xuất phân vi sinh

+Bệnh viện: gồm 01 giám đốc, từ 01 đến 02 Phó giám đốc và các nhân viên

+ Trường mần non bán công : Gồm ba phân hiệu, đứng đầu 01 hiệu trưởng và 01 hiệu phó

Tất cả 5 nông trường và 2 xí nghiệp đều là 2 đơn vị hạch toán vào sổ phụ thuộc công ty Riêng Bệnh viện được nhận kinh phí sự nghiệp của cấp trên, và của ban giám đốc công ty về mặt nhà nước

2.1.4 Căn cứ pháp lý về việc trồng xen canh tại công ty TNHH MTV Cao su Chư

- Luật số 32/2013/QH13 ngày 19 tháng 6 năm 2013 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thu nhập Doanh nghiệp 2008

Trang 30

22

- Hợp đồng hợp tác liên kết của Công ty cổ phần Tây nguyên xanh với Công ty

TNHH MTV Cao su Chư Sê số 46Angayf 11 tháng 8 năm 2015

-Điều 28.1 luật đầu tư năm 2014

- Điều 173,175 Luật đất đai năm 2013

- Quy chế xen canh của Công ty TNHH MTV Cao su Chư sê ban hành

- Căn cứ Quyết định số 113/QĐ-HĐQTCSVN, ngày 04 tháng 05 năm 2010 của Hội

đồng quản trị Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam về việc phê duyệt phương án

chuyển đổi Công ty cao su Chư Sê thành Công ty TNHH MTV Cao su Chư Sê

- Căn cứ Quyết định số 382/QĐ-HĐQTCSVN, ngày 30 tháng 11 năm 2012 của Hội

đồng quản trị Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam về việc phê duyệt sửa đổi Điều lệ

hoạt động của Công ty TNHH MTV Cao su Chư Sê

- Căn cứ Công văn số 422/ HĐTVCSVN – KHĐT, ngày 18 tháng 11 năm 2012 về

việc thỏa thuận dự án đầu tư tái canh và chăm sóc cao su – Công ty TNHH MTV Cao su

Chư Sê của Hội đồng Thành viên Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam

- Căn cứ Quyết định 166/QĐ-HĐTVCSCS, ngày 03 tháng 12 năm 2012 về việc phê

duyệt Dự án đầu tư tái canh, chăm sóc vườn cây cao su của HĐQTCSVN Căn cứ Nghị

quyết số 734/NQ-HĐTVCSCS, ngày 19 tháng 11 năm 2014 của HĐQTCSVN, kỳ họp

lần thứ 5 năm 2014 về chủ trương trồng cây cà phê xen canh cao su trong vườn cao su tái

Ngày đăng: 04/09/2021, 08:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Thị Bình (1999), Giáo trình quy hoạch phát triển nông thôn, NXB nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quy hoạch phát triển nông thôn
Tác giả: Vũ Thị Bình
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 1999
5. Cao Như Ý Những suy nghĩ về quy hoạch, sử dụng đất ở các khu công nghiệp 6.Viện nghiên cứu cao su Việt Nam. Kỹthuật trồng-chăm sóc và khai thác cây cao su Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những suy nghĩ về quy hoạch, sử dụng đất ở các khu công nghiệp
2.Nguyễn Khoa Chi. Kỹthuật– trồng chăm sóc chế biến cao su Khác
3. Nguyễn Thị Huệ. Cây cao su – Kiến thức tổng quát và kỹthuật nông nghiệp Khác
4.. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (1998), Nông nghiệp sinh thái, NXB Nông nghiệp Khác
10. www.agro.gov.vn 11.thitruongcaosu.net Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w