Tính cấp thiết của đề tài Những năm vừa qua, công tác quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện Chư Pưh nói riêng, tỉnh Gia Lai nói chung đã được các cấp chính quyền quan tâm chỉ đạo và
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU TẠI KON TUM
NGUYỄN THANH QUANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHƢ PƢH,
TỈNH GIA LAI
Gia Lai, tháng 5 năm 2016
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU TẠI KON TUM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHƢ PƢH,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đặng Văn Mỹ Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung luận văn của mình
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG……….iii
DANH MỤC HÌNH VẼ………iv
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
5 BỐ CỤC ĐỀ TÀI 3
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 4
1.1 TỔNG QUAN VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 4
1.1.1 Một số khái niệm 4
1.1.2 Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất 4
1.1.3 Ý nghĩa của quy hoạch sử dụng đất 6
1.2 NỘI DUNG CỦA QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 7
1.2.1 Nguyên tắc lập quy hoạch sử dụng đất 7
1.2.2 Căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất 8
1.2.3 Nội dung lập quy hoạch sử dụng đất 8
1.3 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 8
1.3.1 Ảnh hưởng của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội 8
1.3.2 Ảnh hưởng của quy hoạch các ngành, lĩnh vực 9
1.3.3 Trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong quản lý và tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất 9
CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI CÔNG TÁC QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2015 TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI 12
2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN CHƯ PƯH 12
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 12
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 19
2.1.3 Đánh giá chung 22
2.2 TÌNH HÌNH THỰC HIỆN MỘT SỐ CHỈ TIÊU TRONG CÔNG TÁC QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT KỲ ĐẦU 2011-2015 TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHƯ PƯH 23
2.2.1 Sử dụng đất nông nghiệp 23
2.2.2 Sử dụng đất phi nông nghiệp 26
2.2.3 Khai thác đất chưa sử dụng 32
2.3 MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VỀ THỰC HIỆN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHƯ PƯH 33
2.3.1 Đánh giá căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất 33
2.3.2 Đánh giá nội dung của quy hoạch sử dụng đất 36
2.3.3 Đánh giá việc thực hiện công tác quy hoạch 39
Trang 5CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI 40 3.1 MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM CỦA QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 40
3.1.1 Phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của huyện, phát huy tốt sức mạnh hiện có của địa phương 40 3.1.2 Định hướng dài hạn các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội 40 3.1.3 Phân bổ quỹ đất hợp lý, cân đối, tiết kiệm và hiệu quả cho tất cả các ngành, lĩnh vực 41 3.1.4 Thực hiện điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, chuẩn bị xây dựng quy hoạch của huyện và có tầm nhìn chiến lược cho quy hoạch sử dụng đất kỳ tới 41
ĐẤT 42
3.2.1 Công tác dự báo cho việc lập quy hoạch sử dụng đất 42 3.2.2 Sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nguồn tài nguyên đất 42 3.2.3 Tăng cường công tác thanh kiểm tra, chỉ đạo để việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất thực sự có hiệu quả 43 3.2.4 Giải pháp về công tác giải phóng mặt bằng 43 3.2.5 Giải pháp về quản lý và tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất 43 3.2.6 Cần sớm tổ chức điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất và lập quy hoạch sử dụng đất cho kì tới của huyện 43 3.2.7 Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn 44 3.2.8 Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ địa chính trên địa bàn huyện 44 3.2.9 Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để mọi tầng lớp dân cư hiểu biết về công tác quy hoạch sử dụng đất 44 3.2.10 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác lập quy hoạch sử dụng đất 45
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 6DANH MỤC BẢNG
2.1 Tài liệu quan trắc tích luỹ nhiều năm của trạm khí tượng
2.2 Tổng hợp các loại đất trên địa bàn huyện Chư Pưh 18
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Những năm vừa qua, công tác quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện Chư Pưh nói riêng, tỉnh Gia Lai nói chung đã được các cấp chính quyền quan tâm chỉ đạo và đạt được một số hiệu quả nhất định, đó là: Tăng cường được hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất đai, phục vụ phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh Xác lập
cơ chế điều tiết việc phân bổ đất đai vào mục đích sử dụng, chủ động dành quỹ đất hợp lý cho phát triển các ngành, các lĩnh vực cụ thể Đảm bảo cơ sở pháp lý cho việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất Đảm bảo khoanh vùng và hạn chế đến mức thấp nhất việc chuyển đất nông nghiệp, đặc biệt là đất lúa nước sang các mục đích khác Tạo điều kiện cho các địa phương, các ngành phân bổ nguồn vốn đầu tư tốt hơn Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện lập và quản lý quy hoạch sử dụng đất vẫn còn nảy sinh một số bất cập như sau:
Một là, thiếu sự đồng bộ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch của các ngành, lĩnh vực Chúng ta biết rằng, về mặt lý luận quy hoạch là khoa học dự báo, vì thế quy hoạch sử dụng đất phải dựa vào định hướng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của các cấp và quy hoạch phát triển của các ngành, lĩnh vực, đồng thời phù hợp với đặc điểm riêng của các địa phương trong từng giai đoạn nhất định Tuy nhiên sự phối hợp này trong thực tế chưa đồng bộ Cụ thể như quy hoạch sử dụng đất thường được triển khai chậm hơn rất nhiều so với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch các ngành, lĩnh vực Điều này cũng đồng nghĩa với việc những chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội liên quan đến sử dụng đất trong kỳ chưa được cụ thể hóa bằng quy hoạch chuyên ngành, gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước về đất đai Hầu hết các quy hoạch chuyên ngành khác có liên quan đến sử dụng đất (quy hoạch xây dựng, giao thông, thủy lợi, nông nghiệp, công nghiệp,…) trên địa bàn tỉnh thực hiện theo kiểu manh mún, mạnh
ai nấy làm mà thiếu sự liên kết, kế thừa làm cho hiệu quả sử dụng đất thấp, nhiều công trình, dự án còn chồng chéo lên nhau nên gây khó khăn cho công tác phân bổ sử dụng đất
Hai là, quy trình lập quy hoạch sử dụng đất “ngược” Nguyên tắc lập quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất “Được lập từ tổng thể đến chi tiết; quy hoạch sử dụng đất của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của cấp trên; ” [1] Điều này xác lập một quy trình nhất quán khi lập QH, KHSDĐ là: Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của đơn vị hành chính cấp trên phải được lập trước quy hoạch sử dụng đất của đơn vị hành chính cấp dưới hoặc là được lập quy hoạch sử dụng đất song song (đồng thời) trên cơ sở chỉ tiêu phân bổ định hướng của quy hoạch sử dụng đất cấp trên Tại tỉnh Gia Lai, một số địa phương còn lập Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy trình “ngược”, tức là chưa có
QH, KHSDĐ cấp huyện nhưng lại tiến hành lập QH, KHSDĐ cấp xã
Ba là, thiếu sự kiểm soát chặt chẽ sau khi quy hoạch sử dụng đất có hiệu lực Tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cốt lõi của hoạt động quản lý Nhà
Trang 9nước về đất đai và thuộc trách nhiệm của các ngành và các cấp cố liên quan Khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì quy hoạch sử dụng đất được thực tiễn hóa bằng những
dự án điều chỉnh, chỉnh trang hoặc phát triển đất đai với chủ đầu tư cụ thể Tuy nhiên thực tế cho thấy rằng hầu hết công tác này ít được các địa phương quan tâm, chủ yếu là xây dựng dự án xong rồi “để đấy”, không hoặc chậm triển khai các biện pháp kiểm soát sau quy hoạch Bài học đắt giá về cây cà phê những năm 2002, 2003 phát triển tự phát, phá vỡ quy hoạch là minh chứng cho điều này và đến nay vẫn còn nguyên giá trị Tình trạng phát triển tự phát trên không chỉ phá vỡ quy hoạch phát triển của các cây trồng khác, gây tác động xấu đến môi trường sinh thái mà còn tăng nguy cơ cung vượt quá cầu, dẫn đến những rủi ro về giá cả và thị trường tiêu thụ cho người sản xuất Thực trạng này suy cho cùng là do yếu kém trong công tác quy hoạch làm cho chất lượng, tính ổn định của quy hoạch sử dụng đất bị hạn chế
Bốn là, nguồn tư liệu phục vụ cho công tác lập quy hoạch sử dụng đất còn thiếu và bất cập Nguồn tư liệu quản lý Đất đai phục vụ công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn tỉnh không đồng bộ và còn nhiều bất cập Chính điều này là nguyên nhân một phần làm cho chất lượng của công tác quy hoạch sử dụng đất giảm Các tư liệu về đất đai, thổ nhưỡng hầu như quá cũ, được điều tra, xây dựng cách đây gần 20 năm, thiếu
sự điều tra bổ sung nên chất lượng tài liệu chưa tốt làm cho công tác đánh giá tiềm năng đất đai gặp nhiều khó khăn, chất lượng thấp ảnh hưởng đến việc bố trí và chuyển đổi cơ cấu cây trồng khi thực hiện xây dựng phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Năm là, Đội ngũ thực hiện lập quy hoạch sử dụng đất còn thiếu và yếu Nhìn chung, nguồn nhân lực để thực hiện công tác này trên địa bàn tỉnh Gia Lai còn thiếu về số lượng
và yếu về năng lực, kinh nghiệm Trong số các đơn vị đã thực hiện công tác quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất những năm qua cho thấy thường chỉ tập trung vào một số đơn vị tư vấn nhất định Bên cạnh đó một số cán bộ làm công tác tư vấn tư duy còn mang nặng tính địa phương, thiếu sáng tạo, lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo ý chí chủ quan và thường đi theo một lối mòn khi đánh giá tình hình kinh tế-xã hội, sử dụng đất và xây dựng phương án quy hoạch, đó là dựa trên cơ sở các tài liệu, số liệu thu thập được để đánh giá tính thích nghi của đất đai rồi đưa ra rất nhiều các chỉ tiêu, con số thống kê mà không chỉ ra được xu hướng sử dụng đất chính tại địa phương trong giai đoạn tới
Quy hoạch đất đai là một vấn đề rất phức tạp trong việc xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội của đất nước cũng như từng vùng, từng địa phương và các đơn vị kinh tế cơ sở
Đó là một khâu rất quan trọng trong quá trình phát triển của nền kinh tế Việt Nam và của từng địa phương trong nước ta hiện nay Quy hoạch sử dụng đất là 1 trong 15 nội dung quản lý nhà nước về đất đai [1] Là cơ sở quan trọng để Nhà nước thực hiện tốt công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất,… nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý đất đai trên địa bàn
Huyện Chư Pưh cũng đã hoàn thiện việc lập Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020
và đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Gia Lai phê duyệt tại Quyết định số 14/QĐ-UBND ngày 20 tháng 01 năm 2014 Trong quá trình triển khai thực hiện, huyện Chư Pưh cũng
Trang 10đã thu được nhiều kết quả khả quan tuy nhiên cũng đã bộc lộ những hạn chế, yếu kém Tác giả chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai” nhằm mục đích áp dụng, vận dụng các kiến thức đã được các thầy cô truyền đạt vào việc xây dựng một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác quy hoạch
sử dụng đất trên cơ sở một số dữ liệu về quy hoạch sử dụng đất đã thực hiện trong kỳ đầu
2011 – 2015
2 Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hoá để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và cơ sở về quy hoạch sử dụng đất, làm rõ những nội dung, yêu cầu, phương pháp lập và những yếu tố ảnh hưởng quy hoạch sử dụng đất của huyện Chư Pưh hiện nay
Trên cơ sở một số nội dung về quy hoạch sử dụng đất kỳ đầu 2011-2015, phân tích thực trạng quy hoạch sử dụng đất của huyện trong những năm gần đây, chỉ ra được những mặt được và những mặt còn hạn chế trong quá trình thực hiện quy hoạch của huyện
Trên cơ sở đó đưa ra những đề xuất một số giải pháp giải quyết để hoàn thiện hơn công tác quy hoạch sử dụng đất của huyện Chư Pưh đến năm 2020 và quy hoạch sử dụng đất kỳ tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: công tác Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) huyện Chư Pưh
Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu tổng thể huyện Chư Pưh và đi sâu phân tích thực trạng quy hoạch sử dụng đất của huyện Chư Pưh
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu đề tài đã đặt ra, đề tài sử dụng cac phương pháp chính như: điều tra thu thập số liệu, phân tích tổng hợp, thống kê và một số phương pháp khác
5 Bố cục đề tài
Nội dung đề tài nghiên cứu gồm có 3 chương chính là:
Chương I: Một số vấn đề lý luận về quy hoạch sử dụng đất
Chương II: Tình hình triển khai công tác quy hoạch sử dụng đất đến năm 2015 trên địa bàn huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai
Chương III: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai
Trang 11CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
1.1 TỔNG QUAN VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
1.1.1 Một số khái niệm
Đất đai là điều kiện đầu tiên đối với hoạt động sản xuất vật chất của con người, nó vừa là đối tượng lao động, vừa là phương tiện lao động Vì vậy đất đai là tư liệu sản xuất,
nó có tính chất khác biệt so với các tư liệu sản xuất khác Đất đai xuất hiện và tồn tại
trư-ớc khi loài người xuất hiện, nó tồn tại ngoài ý thức của con người, là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động, khi con người tác động vào thì đất đai mới trở thành tư liệu sản xuất Đất đai là tài nguyên hạn chế, diện tích đất bị giới hạn bởi ranh giới đất liền trên mặt đất Đất đai không đồng nhất về số lượng, hàm lượng chất dinh dưỡng, các tính chất
lý hoá Nó được qui định bởi qui luật địa lý Đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế Đất đai là tư liệu sản xuất vĩnh cửu, không phụ thuộc vào tác động phá hoại của thời gian Nếu biết sử dụng hợp lý trong sản xuất, đất sẽ không bị hư hỏng, ngược lại có thể tăng tính sản xuất
Sử dụng đất là quá trình con người tác động lên đất đai để đem lại lợi ích cho cá nhân, xã hội đồng thời có những biện pháp để bảo vệ đất không bị biến đổi tính chất theo chiều hướng xấu
Quy hoạch là nghiên cứu một cách có hệ thống, trật tự việc áp dụng những phương pháp, biện pháp để thực hiện một vấn đề nào đó, bằng những hoạt động như: phân bổ, bố trí, sắp xếp, tổ chức sử dụng đất đai trên một phần lãnh thổ nhất định nhằm sử dụng đất đai một cách hợp lý, hiệu quả
Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường
và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định [1] Hay nói cách khác Quy hoạch sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp Nhà nước về kinh tế, kỹ thuật, pháp chế để tổ chức sử dụng và quản lý đất đai đầy
đủ, hợp lý, khoa học và có hiểu quả cao nhất thông qua việc phân bổ, bố trí quỹ đất và tổ chức sử dụng đất đai như một tư liệu sản xuất đặc biệt nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ môi trường sinh thái và đất đai bền vững
Như vậy, về thực chất của công tác quy hoạch sử dụng đất là quá trình hình thành những quyết định nhằm mục đích tạo điều kiện cho việc đưa đất đai vào sử dụng có hiệu quả, bền vững, mang lại lợi ích cao nhất cho xã hội và thực hiện điều chỉnh các quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất đai như một tư liệu sản xuất đặc biệt
1.1.2 Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất
Nói đến quy hoạch sử dụng đất trước hết đó là một công cụ quản lý khoa học của Nhà nước ta, nó gắn với các chính sách về đất đai Bên cạnh đó thì quy hoạch còn có những đặc điểm khác như tính lịch sử-xã hội, tính khống chế vĩ mô, tính chỉ đạo, tính
Trang 12tổng hợp trung và dài hạn, là bộ phận hợp thành và quan trọng của hệ thống kế hoạch phát triển kinh tế và xã hội Các đặc điểm của quy hoạch được cụ thể hoá như sau:
Tính khoa học của quy hoạch sử dụng đất Là một công cụ quản lý khoa học của
Nhà nước gắn liền với các chính sách về đất đai Quy hoạch sử dụng đất là nhằm mục đích phân bổ đất đai cho phù hợp, tiết kiệm và đạt hiệu quả cao, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế của toàn xã hội, góp phần giải quyết tốt các mối quan hệ trong quản lý và sử dụng đất đai để sử dụng, bảo vệ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất của
xã hội Đảng và Nhà nước luôn có các chính sách luật pháp và các quy định bắt buộc áp đặt đối với công tác quy hoạch sử dụng đất Các phương án quy hoạch sử dụng đất phải quán triệt theo chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đất đai nhằm đảm bảo sự phát triển kinh tế xã hội, ổn định kinh tế, chính trị, xã hội, và cần phải tuân thủ việc bảo vệ môi trường sinh thái bền vững
Tính lịch sử-xã hội của quy hoạch sử dụng đất Lịch sử phát triển của xã hội chính
là lịch sử phát triển của quy hoạch sử dụng đất Qua các thời kỳ khác nhau thì nền kinh tế phát triển khác nhau, chế độ chính trị khác nhau nên việc lập và thực hiện quy hoạch theo từng thời kỳ, mỗi giai đoạn cũng có những nét khác nhau Mỗi hình thái kinh tế-xã hội đều có phương thức sản xuất của xã hội thể hiện theo hai mặt: lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất Trong quy hoạch đất đai, luôn có các mối quan hệ giữa người với đất, và mối quan hệ giữa người với người trong việc xác nhận bằng văn bản về quyền sở hữu và sử dụng đất đai, mối quan hệ giữa người chủ sở hữu và người sử dụng đất Quy hoạch sử dụng đất vừa thể hiện là yếu tố tác động tới sự phát triển lực lượng sản xuất của xã hội, vừa thể hiện là yếu tố thúc đẩy phát triển mối quan hệ sản xuất, vì vậy mà quy hoạch sử dụng đất luôn là một bộ phận không thể thiếu của phương thức sản xuất xã hội
Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất Thể hiện ở việc là để tiến hành quy
hoạch đất đai cần phải vận dụng kiến thức tổng hợp của nhiều môn khoa học thuộc các lĩnh vực khoa học tự nhiên, kinh tế học, kỹ thuật học, xã hội học… Đối tượng nghiên cứu của công tác quy hoạch là nghiên cứu tổng thể tất cả các lĩnh vực như khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dân số và đất đai, sản xuất công nông lâm ngư nghiệp, môi trường và sinh thái nhằm mục đích khai thác, sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả, đồng thời cải tạo và bảo vệ toàn bộ tài nguyên đất đai cho nhu cầu phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Tính chiến lược và dài hạn của quy hoạch sử dụng đất Quy hoạch sử dụng đất
phải đáp ứng được quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước và của các ngành trong dài hạn theo chiến lược phát triển kinh tế của xã hội Thời gian của công tác quy hoạch sử dụng đất là 10 năm cho một kỳ quy hoạch Và quy hoạch sử dụng đất đai sẽ là cơ sở khoa học cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất trong 5 năm, hàng năm hoặc là từng kỳ trong năm…Quy hoạch sử dụng đất phải được căn cứ vào các dự báo xu thế biến dộng dài hạn của những yếu tố kinh tế xã hội quan trọng, từ đó xác định quy hoạch trung và dài hạn về sử dụng đất đai, đề ra phương hướng, chính sách và các biện pháp có tính
Trang 13chiến lược, tạo căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất hàng năm và ngắn hạn
Tính chỉ đạo vĩ mô của quy hoạch sử dụng đất Quy hoạch sử dụng đất dự kiến
được các xu thế thay đổi phương hướng mục tiêu, cơ cấu và phân bố sử dụng đất Quy hoạch sử dụng đất đai là quy hoạch mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, tính phương hướng và khái lược về sử dụng đất của các ngành Quy hoạch sử dụng đất đai luôn được Nhà nước và Đảng quan tâm chỉ đạo sát sao, công tác quy hoạch được thực hiện một cách đồng bộ tổng thể toàn diện trên mọi lĩnh vực và được thực hiện trên cả nước
Tính khả biến của quy hoạch sử dụng đất Xã hội ngày càng phát triển đi lên thì
các dự kiến của quy hoạch sẽ không còn phù hợp nữa Những chỉ tiêu của quy hoạch trước không còn đáp ứng được nhu cầu cho việc sử dụng đất trong thời kỳ mới này nữa
Và công tác quy hoạch sử dụng đất sẽ được điều chỉnh lại, bổ xung, hoàn thiện phương pháp xác định giá đất và điều chỉnh biện pháp thực hiện cho phù hợp với điều kiện, bối cảnh mới đẻ có thể sử dụng quỹ đất đai đạt hiệu quả cao hơn
1.1.3 Ý nghĩa của quy hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất đai là công cụ và biện pháp hữu hiệu của Nhà nước trong việc tổ chức sử dụng đất và quản lý tập trung thống nhất toàn quốc Thông qua quy hoạch, việc bố trí phân bổ sắp xếp sử dụng các loại đất đã được phê duyệt một cách hợp
lý, tiết kiệm và hiệu quả Và qua đó, Nhà nước quản lý và kiểm soát được mọi diễn biến tình hình sử dụng đất Từ đó, nắm bắt được những biến động của đất đai để có những biện pháp quản lý, bố trí và điều chỉnh việc sử dụng đất cho hợp lý hơn và hiệu quả tốt hơn Mặt khác, thông qua quy hoạch, bắt buộc các đối tượng sử dụng đất chỉ được sử dụng đất trong phạm vi ranh giới của mình Điều này tạo điều kiện cho Nhà nước có cơ
sở để quản lý đất đai thống nhất và hiệu quả hơn, có cơ sở để giải quyết các mâu thuẫn, vướng mắc một cách dễ dàng và tốt hơn
Quy hoạch sử dụng đất đai là căn cứ quan trong cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất đai Cần phải cụ thể hoá để đưa vào thực tiễn các quy hoạch, các mục tiêu, các quan điểm và các chỉ tiêu thông qua việc xây dựng và thực hiện kế hoạch sử dụng đất Như vậy, việc xây dụng kế hoạch sử dụng đất phải thông qua quy hoạch sử dụng đất, phải căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất để xây dựng và thực hiện kế hoạch một cách tốt nhất Và quy hoạch càng có cơ sở khoa học, càng chính xác bao nhiêu thì kế hoạch sử dụng đất càng có điều kiện thực hiện tốt bấy nhiêu
Việc bố trí quy hoạch sử dụng đất đai hợp lý làm cân đối sự phát triển của các vùng, các ngành trong huyện và các huyện lân cận với nhau Quy hoạch đất đai tạo điều kiện để
sử dụng đất hợp lý Dựa trên quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội mà quy hoạch cần phải phân hạng từng loại đất, bố trí sắp xếp các loại đất để cho các đối tượng sử dụng hợp lý, tiết kiệm và đạt hiệu quả cao nhất Định hướng cho từng loại đất để có thể sử dụng với các mục đích cho năng xuất cao nhất Tạo mọi điều kiện để các ngành trong vùng có thể giao lưu với các vùng lân cận một cách thuận tiện nhất
Trang 14Quy hoạch sử dụng đất tạo điều kiện xác lập cơ chế điều tiết một cách chủ động việc phân bổ quỹ đất đai cho các mục đích sử dụng như phát triển nông nghiệp, công nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội
Quy hoạch đất đai là cơ sở cho những người sử dụng đất yên tâm về mặt pháp lý
Nó là nền tảng của việc phân bố đất đai cho người sử dụng Và việc sử dụng đất đai đúng mục đích của quy hoạch mang lại nhiều lợi ích, có hiệu quả năng xuất cao thì sẽ được bảo
vệ trước pháp luật khi có tranh chấp đất đai xảy ra
Quy hoạch sử dụng đất đai tạo điều kiện cho việc tính thuế, xác định giá cả cho từng loại đất dựa vào công tác đánh giá, phân hạng các loại đất, mục đích sử dụng và quy
mô đất đai của đối tượng sử dụng Việc quy hoạch càng có cơ sở khoa học, càng chặt chẽ thì việc tính thuế và xác định giá đất đai càng hợp lý và chính xác
Quy hoạch sử dụng đất đai còn làm cơ sở cho việc đầu tư phát triển kinh tế xã hội góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và thực hiện công cuộc chuyển mình tiến lên công nghệp hoá- hiện đại hoá đất nước Bên cạnh đó, quy hoạch sử dụng đất đai còn là cơ sở cho chuyển giao quyền sử dụng đất, cho thuê đất tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường bất động sản trong khu vực và cả nước phát triển, đồng thời cân đối được nhu cầu sử dụng đất, chống đầu cơ đất, tạo sự cân bằng về cung cầu, góp phần ổn định và làm lành mạnh hoá thị trường bất động sản bất động sản
Như vậy, quy hoạch sử dụng đất là công cụ hữu hiệu giúp cho Nhà nước cũng như từng địa phương nắm chắc tình hình sử dụng quỹ đất và xây dựng các chính sách sử dụng đất đai đồng bộ, tiết kiệm, đạt hiểu quả cao và hạn chế được sự chồng chéo trong việc quản lý đất đai
1.2 NỘI DUNG CỦA QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
1.2.1 Nguyên tắc lập quy hoạch sử dụng đất
Nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất gồm các nội dung sau[1]:
Một là, phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh
Hai là, được lập từ tổng thể đến chi tiết; quy hoạch sử dụng đất của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của cấp trên; kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Quy hoạch
sử dụng đất cấp quốc gia phải bảo đảm tính đặc thù, liên kết của các vùng kinh tế - xã hội; quy hoạch sử dụng đất cấp huyện phải thể hiện nội dung sử dụng đất của cấp xã
Ba là, sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả
Bốn là, khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; thích ứng với biến đổi khí hậu
Năm là, bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh
Sáu là, dân chủ và công khai
Bảy là, bảo đảm ưu tiên quỹ đất cho mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường
Trang 15Tám là, quy hoạch, kế hoạch của ngành, lĩnh vực, địa phương có sử dụng đất phải bảo đảm phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt
1.2.2 Căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất
Căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất cấp huyện gồm các nội dung sau[1]:
Một là, Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh;
Hai là, Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cấp tỉnh, cấp huyện;
Ba là, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
Bốn là, hiện trạng sử dụng đất, tiềm năng đất đai và kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất cấp huyện kỳ trước;
Năm là, nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực, của cấp huyện, của cấp xã; Sáu là, định mức sử dụng đất;
Bảy là, tiến bộ khoa học và công nghệ có liên quan đến việc sử dụng đất
1.2.3 Nội dung lập quy hoạch sử dụng đất
Lập quy hoạch sử dụng đất cấp huyện gồm các nội dung sau[1]:
Sáu là, giải pháp thực hiện quy hoạch sử dụng đất
1.3 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
1.3.1 Ảnh hưởng của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
Quy hoạch tổng thể là quy hoạch phát triển kinh tế xã hội chung nhất, cơ bản nhất đối với mỗi địa phương, mỗi ngành Quy hoạch tổng thể chỉ ra những quan điểm, định hướng có tính chiến lược, các phương án tăng trưởng chung nhất theo địa bàn, theo ngành, theo lĩnh vực, các phương án chuyển dịch cơ cấu, phát triển xã hội… Quy hoạch
Trang 16tổng thể bao hàm nhiều cách thức phân bố nguồn lực sản xuất trên cả hai phương diện là không gian và thời gian Do đó, quy hoạch tổng thể là công cụ cần thiết để các cơ quan chính quyền cấp uỷ sử dụng để chỉ đạo, điều hành trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội, văn hoá giáo dục, quốc phòng an ninh trên địa bàn Quy hoạch tổng thể là cơ sở quan trọng để xây dựng các quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch 5 năm, hàng năm
Quy hoạch tổng thể là căn cứ khoa học cho việc xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và nó là một bước tiền kế hoạch Quy hoạch tổng thể xem việc sử dụng đất đai ở mức độ là định hướng với một số nhiệm vụ cụ thể và chủ yếu Quy hoạch sử dụng đất là một bộ phận của quy hoạch tổng hợp chuyên ngành mà đối tượng của nó là tài nguyên đất Dựa vào yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và các điều kiện tự nhiên, kinh tế,
xã hội quy hoạch sử dụng đất điều chỉnh cơ cấu và phương hướng sử dụng đất, đồng thời xây dựng các phương án quy hoạch phân bổ đất đai thống nhất và phù hợp với điều kiện hiện tại Vì vậy, trong quá trình xây dựng phát triển kinh tế-xã hội thì quy hoạch tổng thể luôn phải đi trước một bước, rồi dựa trên cơ sở của quy hoạch tổng thể xây dựng các quy hoạch khác như quy hoạch ngành, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, quy hoạch chi tiết…
1.3.2 Ảnh hưởng của quy hoạch các ngành, lĩnh vực
Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch các ngành, các lĩnh vực có quan
hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau Quy hoạch các ngành và các lĩnh vực vừa là cơ
sở, vừa là một bộ phận hợp thành quy hoạch sử dụng đất Và quy hoạch sử dụng đất chỉ đạo, khống chế các quy hoạch của các ngành và các lĩnh vực
Giữa hai loại quy hoạch trên có sự khác nhau về tư tưởng chỉ đạo, đối tượng, phạm
vi và nội dung Quy hoạch các ngành biểu hiện sự sắp xếp chiến lược và chiến thuật phát triển của từng ngành và trong nó, phần quy hoạch sử dụng đất chỉ là một bộ phận Tuy nhiên, quy hoạch sử dụng đất lại phải quán triệt định hướng, mục tiêu, đảm bảo diện tích đất đai cho việc thực hiện các nhiệm vụ của từng ngành, từng lĩnh vực đã đề ra trong các quy hoạch ngành
Như vậy, có thể nói quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội là quy hoạch quan trọng nhất, mang tính chiến lược chung, phải được lập trước tiên, định hướng và là cơ sở cho các quy hoạch khác Tiếp đến, dựa vào quy hoạch tổng thể người ta tiến hành lập các quy hoạch ngành, tức là cụ thể hóa quy hoạch tổng thể cho từng ngành, từng lĩnh vực Từ hai loại quy hoạch trên, người ta mới tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất Quy hoạch sử dụng đất chính là điều kiện để đảm bảo việc thực hiện các quy hoạch ngành và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội
1.3.3 Trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong quản lý và tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất
Trách nhiệm công bố công khai quy hoạch sử dụng đất: Công bố công khai quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất như sau[1]:
Trang 17Một là, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt phải được công bố công khai
Hai là, trách nhiệm công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định như sau: Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia tại trụ sở cơ quan và trên cổng thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh tại trụ sở cơ quan và trên cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện tại trụ sở cơ quan, trên cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp huyện và công bố công khai nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện có liên quan đến xã, phường, thị trấn tại trụ
sở Ủy ban nhân dân cấp xã
Ba là, thời điểm và thời hạn công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định sau đây: Việc công bố công khai được thực hiện trong thời hạn 30 ngày kể
từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt; Việc công khai được thực hiện trong suốt kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Trách nhiệm thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: [1]
Một là, Chính phủ tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia Thủ tướng Chính phủ phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất cho các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an trên cơ sở các chỉ tiêu sử dụng đất cấp quốc gia đã được Quốc hội quyết định; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có trách nhiệm thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương; Ủy ban nhân dân cấp
xã có trách nhiệm thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn cấp xã; Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có trách nhiệm thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, an ninh
Hai là, trường hợp quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật Trường hợp đã có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất trong khu vực phải chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất theo kế hoạch được tiếp tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất nhưng không được xây dựng mới nhà ở, công trình, trồng cây lâu năm; nếu người sử dụng đất có nhu cầu cải tạo, sửa chữa nhà ở, công trình hiện
có thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định của pháp luật
Ba là, diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được công bố phải thu hồi để thực hiện dự án hoặc phải chuyển mục đích sử dụng đất mà sau
03 năm chưa có quyết định thu hồi đất hoặc chưa được phép chuyển mục đích sử dụng đất thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch sử dụng đất phải điều chỉnh, hủy bỏ và phải công bố việc điều chỉnh, hủy bỏ việc thu hồi hoặc chuyển mục đích đối với phần diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất Trường hợp cơ quan nhà nước có
Trang 18thẩm quyền phê duyệt kế hoạch sử dụng đất không điều chỉnh, hủy bỏ hoặc có điều chỉnh, hủy bỏ nhưng không công bố việc điều chỉnh, hủy bỏ thì người sử dụng đất không
bị hạn chế về quyền theo quy định tại khoản 2 Điều này
Bốn là, khi kết thúc kỳ quy hoạch sử dụng đất mà các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất chưa thực hiện hết thì vẫn được tiếp tục thực hiện đến khi quy hoạch sử dụng đất kỳ tiếp theo được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt
Trang 19CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI CÔNG TÁC QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2015 TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI
2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN CHƯ PƯH
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Vị trí địa lý:
Huyện Chư Pưh nằm phía Nam tỉnh Gia Lai, cách trung tâm Thành phố PleiKu khoảng 60 km; huyện được thành lập năm 2009 theo Nghị quyết số 43/2009/NQ-CP của Chính phủ trên cơ sở chia tách từ huyện Chư Sê, có diện tích tự nhiên là 71.695,02 ha, chiếm 8,74% diện tích tự nhiên của tỉnh Gia Lai; Toàn huyện có 8 xã và 1 thị trấn; có 83 thôn, làng với 13.859 hộ, 68.929 khẩu, dân tộc thiểu số chiếm 51% tổng dân số của huyện
Tọa độ địa lý từ 130 13’ 10" đến 130 51’ 34" vĩ độ Bắc; 1070 51’ 20" đến 1080 17’ 12" kinh độ Đông
Phía Bắc giáp huyện Chư Sê;
Phía Nam giáp tỉnh Đắk Lắk;
Phía Đông giáp huyện Phú Thiện;
Phía Tây giáp huyện Chư Prông
Lợi thế về địa lý, là huyện nằm dọc theo tuyến đường Quốc lộ 14 - trục quốc lộ huyết mạch nối các tỉnh Tây nguyên và được kết nối với các tuyến giao thông quan trọng khác nối với hệ thống giao thông đi các tỉnh khu vực Duyên hải Nam Trung bộ, do vậy Chư Pưh có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa, phát triển kinh tế - xã hội
Địa hình, địa mạo
Huyện Chư Pưh nằm về phía Nam cao nguyên Pleiku và khu vực phía Đông Bắc vùng bán bình nguyên Ea Suop Bề mặt cao nguyên có hình vòm không cân xứng, đường phân thủy tương đối bằng và trùng với Quốc lộ 14, chia huyện Chư Pưh thành 2 sườn dốc Đông Tây rõ rệt: Sườn Tây hẹp, độ cao giảm nhanh, thấp dần từ Đông Bắc (chân núi xã
Ia Phang 724 m) xuống Tây Nam (Suối Ia Loup 150 m) và thấp dần từ Tây Nam (núi Chư Don ranh giới giữa xã Ia Hla và xã Ia Blứ 744 m) xuống Đông Bắc (suối Ia Loup
150 m) Địa hình chia cắt mạnh, quá trình xâm thực bóc mòn diễn ra mạnh mẽ, ở những khu vực thảm thực vật thưa đất đai bị xói mòn thoái hóa nhanh; Sườn Đông có diện phân
bố rộng và độ cao chênh nhau nhỏ từ 700 - 800m xuống 500 - 600m, địa hình chia cắt nhẹ nên quá trình xâm thực bóc mòn ít giảm hơn sườn phía Tây
Địa hình chung có 2 kiểu chính là:
Kiểu địa hình cao nguyên: Diện tích 9.223 ha, chiếm 12,9% tổng diện tích tự nhiên
Bề mặt cao nguyên bằng phẳng, sườn bị chia cắt khá mạnh tạo thành các dải đồi lượn sóng Đất đai chủ yếu là nâu đỏ, nâu vàng, nâu tím phát triển trên đá Bazan, tầng dày >
100 cm, độ phì cao, rất thích hợp cho phát triển cây công nghiệp lâu năm có giá trị kinh
tế cao (cà phê, tiêu, cao su ) Khí hậu của vùng thuộc kiểu khí hậu nhiệt đới ẩm: Nhiệt
Trang 20độ trung bình 22 - 23oC, lượng mưa trung bình 2.000 – 2.400 mm Thảm thực vật ở đây chủ yếu là cây công nghiệp lâu năm (cao su, cà phê, tiêu) và cây hàng năm (lúa, hoa màu)
Địa hình bán bình nguyên: Diện tích 62.472 ha, chiếm 87,1% tổng diện tích tự
nhiên Địa hình chung kiểu đồng bằng bóc mòn với dạng đồi lượn sóng nhẹ và núi thấp, nhỏ ở xã Ia Le, Ia Phang về phía Đông và các núi nhỏ ở các xã Ia Hla, Ia Blứ về phía Tây Nam Đất đai chủ yếu là: Nhóm đất đỏ vàng, xám, xói mòn trơ sỏi đá trên granit; ngoài ra khu vực tiếp giáp với cao nguyên có nhóm đất đen trên bazan, ven suối có đất phù sa Khí hậu nhiệt đới ẩm: Nhiệt độ trung bình 24-25oC, lượng mưa trung bình >2.000mm Trong kiểu địa hình này có thể chia ra 3 dạng địa hình: Dạng địa hình núi thấp có diện tích 1.923 ha, chiếm 2,7% tổng diện tích tự nhiên Bao gồm khối núi thấp ở xã Ia Le, Ia Phang Đất đai chủ yếu là nhóm đất đỏ vàng, đất xói mòn trơ sỏi đá phát triển trên đá Mác ma axít và biến chất; nhìn chung tầng mỏng, độ dốc >200 Thảm thực vật chủ yếu là rừng rụng lá nghèo và rừng non phục hồi; trên đất xói mòn trơ sỏi đá là cây bụi Đây là vùng cần được bảo vệ và phát triển rừng; Dạng địa hình đồi lượn sóng có diện tích 29.197 ha, chiếm 40,7 % tổng diện tích tự nhiên Địa hình dạng đồi thấp lượn sóng, độ dốc < 20o, độ cao trung bình từ 200 - 300m, thấp dần từ Đông Nam xuống Tây Bắc Đất đai chủ yếu là nhóm đất đỏ vàng, xám bạc màu trên granit, phiến mica và cát kết; ngoài
ra khu vực tiếp giáp với cao nguyên có nhóm đất đen trên sản phẩm bồi tụ của bazan Đất thích hợp với cây đậu đỗ, cây công nghiệp hàng năm Hiện trạng thảm thực vật trong vùng chủ yếu là rừng khộp nghèo, rừng phục hồi và khai thác trồng cây cây hàng năm, cây lâu năm; Địa hình bình nguyên hạ lưu nằm ở phía Bắc huyện từ thị trấn Nhơn Hòa đến xã Ia Rong, Ia Dreng, giáp với vùng đồi lượn sóng Diện tích 31.352 ha, chiếm 43,73% tổng diện tích tự nhiên Độ cao trung bình 150 - 200 m, thấp dần từ Đông Nam xuống Tây Bắc Toàn vùng có dạng địa hình bóc mòn tích tụ, bề mặt dạng đồi thoải bằng phẳng, độ dốc < 80 Đất đai chủ yếu là đất xám bạc màu trên cát kết và granít, tầng dày >
70 cm, độ phì trung bình, thích hợp với trồng đậu đỗ và cây công nghiệp hàng năm Ven suối có đất phù sa suối, độ phì cao, thích hợp trồng lúa nước, cây thực phẩm
Khí hậu
Nằm ở phía Tây dãy Trường Sơn, Chư Pưh có khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên, một năm có hai mùa: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10; Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau; có lượng mưa trung bình hàng năm lớn (từ 1.800 - 2.500 mm)
Bảng 2.1 Tài liệu quan trắc tích luỹ nhiều năm của trạm khí tƣợng thuỷ văn Pleiku Trạm đo mƣa Ayun Hạ có kết quả nhƣ sau
Trang 21Chế độ nhiệt:
Nhiệt độ bình quân năm 21,60C, nhiệt độ tối cao tuyệt đối 35,50C (tháng 4), nhiệt
độ tối thấp tuyệt đối 8,70C (tháng 12)
Tổng nhiệt bình quân năm: > 8.000 0C
Tổng số giờ nắng bình quân năm: 2.567,6 giờ Trong đó: Mùa mưa có 130 - 180 giờ nắng/tháng Mùa khô có 260 - 270 giờ nắng/tháng; cao nhất vào các tháng 1, 2, 3 với bình quân 285 giờ nắng/tháng
Chế độ mưa:
Lượng mưa bình quân năm vào khoảng 1.800 mm nhưng lượng mưa có sự phân hóa cao theo mùa Lượng mưa vào các tháng mùa mưa chiếm đến 90% tổng lượng mưa cả năm Đặc biệt về mùa nắng, những hoạt động rất thất thường của các nhiễu động gây mưa, gây ra những biến động rất lớn về thời tiết, nhất là trong những tháng đầu và cuối mùa mưa Mùa mưa ẩm ở Chư Pưh hoàn toàn trùng với mùa gió mùa mùa Hạ Các dãy núi cao chắn gió làm tăng thêm lượng mưa ở sườn đón gió, gây nên những trung tâm mưa lớn
Trang 22Hướng gió có 2 hướng chính: Gió mùa Đông Bắc xuất hiện vào mùa khô với tần xuất xuất hiện 70%, thường xuất hiện vào các tháng 11, 12 và tháng 01 năm sau; Gió mùa Tây Nam xuất hiện vào mùa mưa với tần xuất xuất hiện 30 - 50%, thịnh hành từ tháng 5 đến tháng 10;
Tốc độ gió trung bình 3 - 4 m/s trong mùa khô ở những khu vực có địa hình cao nguyên, bề mặt thoáng Nếu có ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới hoặc bão thì tốc độ gió lên tới 15 - 20 m/s, có lúc cao nhất tới 30 m/s
Nhìn chung với nền nhiệt cao, lượng mưa lớn, ít chịu ảnh hưởng của bão; khí hậu của Chư Pưh khá thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân
Thuỷ văn
Hệ thống sông suối: huyện Chư Pưh có hệ thống sông suối khá dày chủ yếu nằm trong 2 lưu vực: Lưu vực phía Đông Quốc lộ 14 và Nam Quốc lộ 25 gồm các nhánh suối chính như Ia Pal và Ia Rong Hai suối này chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, chảy tiếp qua địa phận huyện Phú Thiện rồi đổ ra sông Ba; Lưu vực phía Tây Quốc lộ 14 gồm các sông suối chính như sông Ia Loup chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, sông này
có các nhánh như suối Ia Ko (24 km), suối Ia Lốp đều chảy theo hướng Bắc Nam, đổ ra sông Ea Hleo; Suối Ia Pong và Ia Lô đều chảy theo hướng Đông Tây, đổ ra sông Ea Hleo Sông Ea Hleo chảy theo hướng Đông - Tây dọc theo ranh giới phía Nam của huyện với chiều dài 42 km
Ngoài các sông suối kể trên còn rất nhiều nhánh sông suối, tạo thành mạng lưới sông suối dày đặc phân bố đều trên địa bàn toàn huyện, mật độ bình quân khoảng 0,5 km/km2 Đây là nguồn vận chuyển, dự trữ để cung cấp nguồn tài nguyên nước để duy trì các hoạt động sản xuất, canh tác và sinh hoạt của dân cư trong huyện
Chế độ dòng chảy: Phân bố dòng chảy bề mặt, đối với vùng núi và sơn nguyên bình quân 60 - 70 lít/s/km2 Còn đối với địa hình cao nguyên và vùng trũng bình quân 15 - 20 lít/s/km2 Dòng chảy bề mặt phụ thuộc rất nhiều vào địa hình và lượng mưa Đây là nhân
tố cần được nghiên cứu để có hướng xác định tập đoàn loài cây trồng cho phù hợp với điều kiện địa hình và phân bố của lượng mưa nhằm hạn chế xói mòn, rửa trôi đất trong quá trình canh tác
Các nguồn tài nguyên
Tài nguyên đất đai: Theo nguồn gốc phát sinh có thể chia đất đai của huyện thành
06 nhóm đất chính gồm:
Một là, nhóm đất phù sa: Có diện tích 4.786,51 ha, chiếm 6,68% tổng diện tích tự nhiên của huyện Đất phù sa suối phân bố trên địa bàn 6 xã (Ia Blứ 3.622,74 ha; Chư Don 585,99 ha; Ia Rong 279,3 ha, Ia Hla 223,45 ha; Ia Hrú 52,58 ha và Ia Phang 22,45 ha), trên địa hình bằng thấp ven suối Ia Luop, Ia Rong, Ia Khe Đặc điểm của đất phù sa có độ dốc 3
- 80, tầng dày > 100cm, thành phần cơ giới thịt nhẹ, đất có phản ứng chua ở tầng mặt và giảm dần theo độ sâu Đạm tổng số ở mức trung bình, lân tổng số nghèo Nhìn chung, sự phân bố lân giữa các tầng không cân đối, càng xuống sâu lân càng giảm đi rõ rệt Khả năng
Trang 23sử dụng: thích hợp trồng hoa màu như bắp, rau, đậu đỗ; những nơi nào có khả năng cung cấp nước tưới có thể trồng lúa nước 2 vụ
Hai là, nhóm đất xám và bạc màu: có diện tích 21.192,15 ha, chiếm 29,56% tổng
diện tích tự nhiên, gồm có 3 đơn vị đất: Đất xám trên đá Macma axit và đá cát (Xa): có diện tích 6.997,14 ha chiếm 9,79% tổng diện tích tự nhiên Phân bố tập trung ở địa bàn xã
Ia Phang 4.290,33ha; Ia Le 2.460,11ha và Ia Hla 246,1 ha; trên địa hình đồi thấp thuộc vùng trũng phía Đông huyện Đất phát triển chủ yếu trên đá Granite và đá cát phân bố ở các dạng địa hình bậc thềm cao đến đồi núi thấp có độ dốc thay đổi từ 0 -150 Đất chua,
tỷ lệ mùn trong đất thấp, lân nghèo ở cả dạng dễ tiêu và khó tiêu, Kali cũng ở mức rất nghèo Do đó gặp nhiều hạn chế trong sản xuất nông nghiệp, nếu sản xuất trên đất này cần đầu tư bón phân, nhất là phân chuồng để cải tạo nguồn dinh dưỡng trong đất Những khu vực có địa hình cao, thoát nước, tầng đất hữu hiệu dày có khả năng trồng cây dài ngày và cây hàng năm như điều, cây ăn quả, bông, đậu đỗ những nơi có tầng đất mỏng chỉ có khả năng trồng cây hàng năm nếu đất quá mỏng, địa hình dốc chỉ nên trồng hoặc khoanh nuôi rừng bảo vệ đất và môi trường; Đất xám bạc màu trên đá macma axit và đá cát (Ba): có diện tích 13.404,32 ha, chiếm 18,7% tổng DTTN Phân bố tập trung chủ yếu phía Nam và phía Tây của huyện (Ia Le 1.373,18 ha; Ia Blứ 9.566,89 ha; Ia Hla 2.244,61
ha và Ia Phang 219,64 ha) Đất có thành phần cơ giới nhẹ, đất chua, hàm lượng N-P-K trong đất nghèo, khả năng hấp thụ của đất thấp Nhờ địa hình bằng phẳng và độ dày tầng đất lớn và đất tơi xốp nên dễ thích hợp nhiều loại cây trồng cạn như mía, điều và các loại hoa màu khác như lạc, vừng, đậu đỗ, thuốc lá, Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng loại đất này một vấn đề cần chú ý là độ ẩm đất và cần có sự che phủ mặt đất thường xuyên bằng các loại cây trồng Về phân bón cần xem xét loại cây và nhu cầu dinh dưỡng để bón đúng liều lượng và cân đối; Đất xám bạc màu trên phù sa cổ (B): có 709,69 ha, chiếm 1,1% tổng DTTN, phân bố chủ yếu ở xã Ia Le Đất có thành phần cơ giới nhẹ; ở tầng mặt
có tỷ lệ cát khá cao trong đó chủ yếu là cát mịn, thường được xếp là đất cát mịn đến thịt pha cát, độ chua của đất được xếp chua và rất chua, hàm lượng N-P-K trong đất từ nghèo đến rất nghèo Nhờ phân bố trên địa hình bằng phẳng và độ dày tầng đất lớn và đất tơi xốp nên dễ thích hợp nhiều loại cây trồng cạn như điều và các loại hoa màu khác như lạc, vừng, đậu đỗ, dưa hấu,
Ba là, nhóm đất đỏ vàng: Diện tích: 26.869,79 ha, chiếm 27,48% tổng diện tích, gồm có: Đất nâu tím, nâu đỏ trên bazan (Ft, Fk): có diện tích 25.054,09 ha, chiếm 34,95% tổng diện tích tự nhiên Loại đất này phân bố hầu hết ở các xã thuộc huyện Chư Pưh (TT Nhơn Hòa 2.057,22 ha; Ia Hrú 2.442,14 ha; Ia Rong 1.228,99 ha; Ia Dreng 2.186,22 ha; Ia Hla 5.828,86 ha; Chư Don 2.240,75 ha; Ia Phang 3.238,29 ha; Ia Le 2.932,18 ha và Ia Blứ 2.899,44 ha) Đất đỏ trên bazan có địa hình đồi lượn sóng, đỉnh bằng 3-80, sườn dốc 15 -
200, tầng dày > 100cm, thành phần cơ giới thịt nặng đến sét, giàu mùn do thảm thực vật rừng tốt, độ phì cao nhưng nghèo kali, phản ứng chua Đất rất thích hợp với cây lâu năm có giá trị kinh tế cao như: Cà phê, tiêu, cao su, chè, ; Đất vàng đỏ trên đá macma axit (Fa): có diện tích 704,2 ha, chiếm 0,98% tổng diện tích TN Phân bố chủ yếu (81%) trên địa hình đồi
Trang 24núi dốc Đất tầng mỏng 50 - 70 cm, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình Do thảm thực vật tốt nên tầng mặt giàu mùn, độ phì khá nhưng nghèo lân, có phản ứng chua, thích hợp với trồng hoa màu lương thực và trồng chè, cây ăn quả; Đất vàng nhạt trên đá cát (Fq): Có diện tích 386,57 ha, chiếm 0,54% tổng DTTN Phân bố ở xã Ia Hla 262,56 ha và
Ia Le 124,01 ha Đất có thành phần cơ giới thịt nhẹ đến cát, đất chua, hàm lượng N-P-K từ nghèo đến trung bình So với các loại đất đỏ vàng khác, đất có độ phì nhiêu thấp, nhất là tỷ
lệ chất hữu cơ Đại bộ phận đất này được phân bố ở vùng gò đồi, điều kiện canh tác thuận lợi cho mục đích nông nghiệp Một hạn chế đối với đất vàng nhạt trên đá cát là có thành phần cơ giới nhẹ, nhiều đá lẫn, độ phì kém Trong điều kiện che phủ kém đất dễ bị rửa trôi xói mòn ; Đất nâu vàng trên đá bazan (Fu): Có diện tích 724,95 ha, chiếm 1,01% tổng diện tích tự nhiên Phân bố chủ yếu ở xã Ia Hla 560,4 ha và Ia Phang 128,45 ha và TT Nhơn Hòa 36,1 ha Đất phân bố trên dạng địa hình đồi thấp ít dốc, độ dốc phổ biến là 0 -
80 Trong đó, diện tích có độ dày tầng đất hữu hiệu >100 cm chiếm khoảng 65% còn lại
là tầng mỏng 50-70 cm Đất có thành phần cơ giới nặng, mùn, Đạm tổng số và Lân tổng
số khá đến giàu Kali tổng số nghèo chua hơn so với đất nâu đỏ Đất nâu vàng trên đá bazan chủ yếu phù hợp với các cây hằng năm như hoa màu, lương thực, đậu đỗ và một số cây lâu năm như cao su, cà phê, tiêu Đối với đất này, các loại phân đều có khả năng phát huy hiệu lực cao Tuy nhiên lân ở đây sẽ bị giảm hiệu lực nhất định do tỷ lệ sắt nhôm trong đất cao Trong sử dụng đất nâu vàng, cần quan tâm tới sự che phủ đất bằng các cây trồng, một mặt giữ ẩm nhưng quan trọng hơn là giảm bớt xói mòn rửa trôi
Bốn là, nhóm đất đen (Ru, Rk): Diện tích 5.060,74 ha, chiếm 7,06% tổng diện tích Phân bố rải rác ở các xã, trên địa hình bằng thấp (Ia Hrú 1.414,43 ha; Ia Rong 787,2 ha;
Ia Hla 1.005,19 ha; Ia Le 580,91 ha; Ia Blứ 1.273,00 ha) Đây là dấu tích còn lại của lớp phủ bazan cổ, do quá trình xâm thực, bóc mòn của sông Ba tạo nên Đất có màu đen, tầng rất mỏng 30 - 50 cm, nhiều nơi trơ sỏi đá Đất có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng Trong đất có biểu hiện gia tăng sét nhẹ theo chiều sâu Đất có độ phì khá hơn các loại đất khác, phản ứng đất ít chua ở địa hình dốc và trung tính ở địa hình bằng Hàm lượng mùn và đạm tổng số cao trên toàn phẫu diện, đặc biệt lân tổng số cao hơn hẳn các loại đất khác Nghèo kali tổng số nhưng hàm lượng cation kiềm trao đổi cao Đất đen phân bố ở địa hình cao, thoát nước tốt, tầng đất mỏng, nhiều đá lẫn và đá lộ đầu Các đơn
vị đất đen có thể sử dụng gieo trồng nhiều loại cây nông nghiệp dài ngày như cây ăn quả, các cây màu ngắn ngày như ngô, đậu đỗ, các loại rau Chú ý bón đủ lân và kali cho cây trồng cụ thể
Năm là, nhóm đất thung lũng: có một đơn vị đất duy nhất với diện tích 654,96 ha (TT Nhơn Hòa 198,79ha; Chư Don 67,51 ha; Ia Phang 318,69 ha và Ia Blứ 69,97 ha) Phân bố trong các thung lũng, hợp thủy đầu nguồn các suối thuộc vùng trũng thấp Đất dốc tụ màu đen hoặc nâu sẫm, giàu mùn, rất chua, thích hợp với lúa nước
Sáu là, nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá: Diện tích 12.304,14 ha, chiếm 17,16% tổng diện tích Phân bố chủ yếu trên các đồi có độ dốc lớn ở phía Tây (khu vực giáp huyện Chư Prông) phía Đông Nam của huyện (Ia Hla 2.404,33 ha; Chư Don 567,14 ha; Ia Phang
Trang 254.345,85 ha, Ia Le 3.441,69 ha; Ia Blứ 1.545,13 ha) Đất được hình thành do hoạt động xâm thực và bóc mòn làm trơ lớp sỏi sạn và đá gốc Đối với loại này quy hoạch khai thác
đá, sỏi và bảo vệ thảm phủ thực vật hiện có nếu chưa khai thác
Bảng 2.2 Tổng hợp các loại đất trên địa bàn huyện Chƣ Pƣh
(ha)
Cơ cấu (%)
1 Đất xám trên đá Macma axit và đá cát 6.997,14 9,76
2 Đất xám bạc màu/đá macma axit và đá cát 13.404,32 18,70
1 Đất nâu thẩm trên sản phẩm của đá bọt, bazan 4.682,70 6,53
2 Đất đen trên sản phẩm bồi tụ của bazan 378,04 0,53
(Nguồn: Điều tra bổ sung, chỉnh lý xây dựng bản đồ đất tỷ lệ 100.000 các tỉnh Tây Nguyên -
Phân viện QH&TKNN miền Trung.)
Tài nguyên nước: Tài nguyên nước của huyện gồm nguồn nước mặt và nguồn nước
ngầm:
Nguồn nước mặt: Nguồn nước đang sử dụng trên địa bàn huyện Chư Pưh được lấy
từ nước trong hồ và sông suối với tổng trữ lượng nước dự trữ khá lớn hàng trăm triệu m3 Phần lớn diện tích của huyện có địa hình bằng, bề mặt thoáng, nên sông suối thường nông và hẹp Mặt khác, thực phủ chủ yếu là cây rụng lá nên khả năng điều tiết nước của rừng rất kém Do đó chế độ nước của các sông phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ mưa; các sông suối thường cạn hoặc còn lượng nước không đáng kể vào mùa khô Chất lượng nước mặt tại các sông, suối và hồ trên địa bàn đều khá tốt, hầu như chưa bị ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất công nghiệp và hoạt động của con người Nước có chất lượng đảm bảo tiêu chuẩn nước mặt loại A cho nông nghiệp, công nghiệp và nằm trong khoảng giữa loại A và loại B đối với nước sử dụng cho mục đích sinh hoạt Tuy nhiên những
Trang 26năm gần đây việc sử dụng thuốc trừ sâu không hợp lý cùng với nước thải đô thị, tập trung dân cư, cơ sở sản xuất cũng gây ô nhiễm cục bộ cần có biện pháp ngăn ngừa sự lan rộng trong tương lai; trước khi khai thác sử dụng nguồn nước ăn uống sinh hoạt cần phân tích, kiểm tra và xử lý kỹ chất lượng nước Ngoài ra hàng năm với lượng mưa hàng năm cũng
là nguồn nước ngọt quan trọng bổ sung cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân
Nguồn nước ngầm: Kết quả điều tra giếng đào trong toàn huyện cho thấy, bình quân
độ sâu của giếng là 20 m Trong đó hầu hết các xã, thị trấn mực nước mạch khai thác được từ 20 - 30 m Kết quả nghiên cứu cho thấy nước ngầm trên địa bàn huyện Chư Pưh
có đặc tính hơi kiềm (pH = 7 ở suối Ia Pett, pH = 6) Độ dày tầng nước từ 10 đến 85 m, trung bình 50 m Chất lượng nước khá tốt, thể hiện nồng độ các khoáng chất nằm trong giới hạn cho phép sử dụng
Theo đánh giá của Phân viện khí tượng thuỷ văn miền Nam, độ sâu nước mạch suy giảm khá nhanh trong những năm gần đây Nguyên nhân là tầng nước mạch bị khai thác mạnh phục vụ cho sinh hoạt và tưới cây công nghiệp như tiêu, cà phê Mặt khác do rừng
bị chặt phá dẫn đến việc bổ sung trữ lượng nước mạch, nước ngầm vào mùa mưa bị giảm mạnh
Để sử dụng có hiệu quả lâu dài nguồn nước mạch cũng như nước ngầm thì cần phải
có những đề tài nghiên cứu để đánh giá chính xác thực trạng về trữ lượng, phân bố nước ngầm, trên cơ sở đó quy hoạch và có kế hoạch khai thác sử dụng hợp lý Đồng thời điều chỉnh về cơ cấu cây trồng trong phạm vi toàn huyện để tránh rủi ro và những hậu quả thiệt hại nghiêm trọng
Tài nguyên rừng:
Năm 2015, huyện có 32.302,58 ha đất lâm nghiệp, chiếm 45,06% diện tích đất tự nhiên, trong đó: Đất có rừng sản xuất là 27.460,54 ha, chủ yếu là diện tích đất rừng tự nhiên và diện tích đất đất khoanh nuôi phục hồi; Diện tích đất có rừng phòng hộ có 4.842,04 ha, chủ yếu là diện tích đất rừng tự nhiên ở khu vực xung yếu
Tài nguyên khoáng sản:
Khoáng sản của huyện Chư Pưh không nhiều, hiện nay trên địa bàn huyện đang khai thác một số khoáng sản thông thường như: Đá Granit ở xã Ia Phang với khối lượng khai thác trên 5.000m3/năm Mỏ đá xây dựng ở Nhơn Hòa, Ia Le với khối lượng khai thác 10.000 m3/năm Quặng Fluorit ở xã Ia Le với khối lượng khai thác hàng năm đạt 5.000 tấn Ngoài ra có Quặng sắt ở thị trấn Nhơn Hòa đang trong thời gian thăm dò, khảo sát
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Thực trạng phát triển các ngành kinh tế: Tổng giá trị sản phẩm 9 tháng đầu năm
(theo giá so sánh năm 2010) đạt 1.808,08 tỷ đồng, đạt 73,43% KH, so với cùng kỳ tăng 11,08%, trong đó: nông lâm nghiệp thuỷ sản đạt 946,68 tỷ đồng, đạt 73,35% KH, so với cùng kỳ tăng 7,11%; công nghiệp - xây dựng đạt 475,69 tỷ đồng, đạt 76,1% KH, so với cùng kỳ tăng 15,17%; dịch vụ đạt 385,71 tỷ đồng, đạt 70,58% KH, so với cùng kỳ tăng 18,9% Được thể hiện trên các lĩnh vực chủ yếu sau:
Trang 27Ngành nông nghiệp:
Trồng trọt: tổng diện tích gieo trồng toàn huyện là 22.396,75 ha (vụ Đông xuân TH
1.417,8 ha, vụ Mùa 20.978,95 ha), đạt 97,84 % so với KH năm 2015 huyện, 98,44 % cùng kỳ năm 2014
Chăn nuôi: Tổng đàn gia súc toàn huyện là 44.530 con, đạt 99,73% KH huyện,
101,09%, so với cùng kỳ năm 2014; tổng đàn gia cầm toàn huyện là 58.320 con, đạt 99,61%
KH huyện, 103,59%, so với cùng kỳ năm 2014
UBND huyện đã cấp Giấy chứng nhận đạt tiêu chí kinh tế trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm cho 08 hộ tại các xã: Chư Don, Ia Blứ, Ia Hla và Ia Le
Công tác bảo vệ thực vật: kiểm tra, dự báo tình hình sâu bệnh gây hại để có biện pháp xử
lý kịp thời và hiệu quả Tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn nông dân phun thuốc trừ bệnh gỉ sắt ở cà phê, xử lý bệnh tuyến trùng, rệp sáp ở cây hồ tiêu để giảm thiểu thiệt hại do bệnh hại gây ra Tuyên truyền vận động nhân dân không được trồng tiêu trên đất dễ bị ngập úng, kém thoát nước, đất không phù hợp với phát triển cây hồ tiêu
Công tác chăn nuôi - thú y: triển khai công tác phun tiêu độc khử trùng; tổ chức tiêm
phòng các loại văccin phòng dịch; tăng cường công tác kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật; quản lý đàn gia súc, gia cầm; khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung, chăn nuôi trang trại trên địa bàn huyện
Công tác Khuyến nông: chủ động tăng cường 09 cán bộ, kỹ sư ngành Nông
nghiệp&PTNT xuống giúp các xã, thị trấn Xây dựng và triển khai thực hiện kịp thời các
mô hình thuộc chương trình sự nghiệp khuyến nông năm 2015
Công tác Thủy lợi, nước sinh hoạt: tiến hành thi công xong 02 công trình: công
trình lắp đặt hệ thống đường ống, đồng hồ đo khối lượng nước sinh hoạt đến từng hộ gia đình từ công trình giếng khoan làng Chư Pố 2, xã Ia Phang và tu sửa công trình giếng khoan làng Kuăi, xã Ia Blứ kinh phí 300 triệu đồng
Công tác phòng chống lụt bão: kiện toàn Ban chỉ đạo phòng chống hạn hán, lụt bão
và tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ trên địa bàn huyện; ban hành Phương án Phòng chống lụt bão, bão mạnh, siêu bão và TKCN, cứu hộ năm 2015; tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn
và chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết theo phương châm 4 tại chỗ để ứng phó kịp thời và có hiệu quả với các tình huống thiên tai, bão lũ xảy ra trên địa bàn huyện
Công tác hỗ trợ giống; quản lý giống, phân bón, vật tư nông nghiệp: Rà soát, lập
danh sách đối tượng thụ hưởng, đăng ký chủng loại giống cây trồng, vật nuôi và phối hợp với Công ty CP kinh doanh & PTMN Gia Lai cấp phát kịp thời cho các hộ dân; Thành lập Đoàn kiểm tra liên ngành các cơ sở kinh doanh giống, phân bón, thuốc BVTV và vật tư nông nghiệp trên địa bàn huyện Phối hợp với Đoàn kiểm tra của Sở Nông nghiệp & PTNT tiến hành kiểm tra các cơ sở kinh doanh phân bón, thuốc BVTV và vật tư nông
nghiệp trên địa bàn huyện
Lâm nghiệp: thường xuyên tổ chức tuần tra, truy quét, ngăn chặn các hành vi vi phạm trong lĩnh vực quản lý,
bảo vệ rừng; Quyết định thành lập Tổ công tác cơ động liên ngành kiểm tra, ngăn chặn tình hình vi phạm Luật Bảo
vệ và phát triển rừng trên địa bàn xã Ia Blứ và xã Ia Le
Công nghiệp - TTCN, Xây dựng cơ bản: