Tại Việt Nam,cùng với hội nhập kinh tế thế giới, hoạt động xuất nhập khẩu đã thực sự bùng nổ kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của công tác thanh toán quốc tẾ tại các ngân hàng thương mại..
Trang 1chính
LỜI NÓI ĐẦU Sau hai mươi năm đổi mới nền kinh tế nước ta đang khởi sắc và thu được nhiều thành tựu đáng kể TỪ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường việt nam đã và đang hội nhập vào nền kinh tế thế giới Với chính sách mềm dẻo đã thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài đầu tƯ vào Việt Nam Giống như thực tế đã chứng minh không có quốc gia nào phát triển
mà không có sự giao lưu với các nước khác Sự giao lưu buôn bán giỮa các
nước là một xu hướng tất yếu của nền kinh tế Sự phát triển cỦa thương mại quốc tế giúp các nước gắn kết và giúp đỡ lẫn nhau trong sự phát triển chung của thế giới Thương mại quốc tế ngày nay đã vượt qua không gian
và thời gian tạo nhỮng luồng dịch chuyển hàng hoá, tiền tệ để đáp Ung cung cầu
Thanh toán quốc tế là hoạt động chủ yếu của một quốc gia trong
sự phát triển của đất nước Nó giúp quốc gia khai thác những thế mạnh của đất nƯỚc so với các nước khác trên thế giới Với tư cách là một nhân
tố quan trọng, không thể thiếu được cho sự phát triển của thương mại quốc tế ,công tác thanh toán quốc tế không ngừng đổi mới và hoàn thiện
với những phương thức thanh toán an toàn và hiệu quả cao các bên tham
gia Thanh toán quốc tế là khâu quan trọng quyết định hiệu quả của quá trình trao đổi Nó là mắt xích không thể thiếu được trong cỗ máy thương mại quốc tế Với nhiều hình thức thanh toán đa dạng phù hợp với từng giai đoạn phát triển cụ thể Ngày nay phương thức thanh toán thư tín dụng đang được sử dụng phổ biến trên toàn thế giới Trong qua trình thanh toán ngân
hàng thương mại đóng vai trò là chung gian thanh toán Ngân hàng thương
mại đóng vai trò là chất xúc tác giúp cho quá trình thanh toán diễn ra nhanh hơn, hiệu quả hơn và là chất bôi trơn giúp cho qua trinh thanh toán quốc tế diễn ra một cách nhịp nhàng và thông suốt
Tại Việt Nam,cùng với hội nhập kinh tế thế giới, hoạt động xuất nhập khẩu đã thực sự bùng nổ kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của công tác thanh toán quốc tẾ tại các ngân hàng thương mại Phương thức thanh
Trang 2chính
toán bằng thư tín dụng cũng được sử dụng ngày càng nhiều trong thanh
toán hàng hoá xuất nhập khẩu
Qua thức tế tìm hiểu tại ngân hàng công thương Hoàn Kiếm, tuy là một chi nhánh còn trẻ song nó đã có nhũng thành tựu đáng kể đặc biệt trong hoạt động thanh toán quốc tế như tài trợ ngoại thương, thanh toán xuất nhập khẩu, bảo lãnh ngân hàng, trao đổi mua ban ngoại tỆ Trong xu thế hội nhập của nền kinh tẾ, các mối giao lưu thương mại ngày càng nhiều
đòi hỏi các ngân hàng thương mại Việt Nam phát triển các dịch vụ đặc biệt
là thanh toán xuất nhập khẩu Từ thực trạng không ít rỦi ro gặp phải trong thanh toán quốc tế đã gây ra không ít thiệt hại và uy tín của nhân hàng trong thanh toán quốc tế.Đặc biệt là những rủi ro trong thanh toán bằng thư tín dụng
Vì vậy, qua thời gian thực tập Ở ngân hàng công thương Hoàn Kiếm
em muốn hiểu rõ và nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế nói chung và thanh toán bằng thư tín dụng nói riêng nên em chon dé tai: “ Hạn chế rủi ro thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng
từ tại chỉ nhánh ngân hàng công thương Hoàn Kiếm” cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình
Chuyên đề của em gồm 3 chương:
Chương I: TỔng quan vỀ rủi ro thanh toán quốc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
Chương II: Thực trạng về rủi ro thanh toán quốc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng tỪ tại chi nhánh ngân hàng công thương Hoàn Kiếm
Chương IIT: Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán thư tín dụng tại ngân hàng công thương Hoàn Kiếm
Do hạn chế về lý luận, về kinh nghiệm và thời gian thực tập không nhiều nên chuyên đề của em không tránh khỏi những thiếu sót Em mong nhận được sự góp ý của thầy cô, các anh chị nhân viên trong ngân hàng và các bạn quan tâm đến vấn đề này Em xin chân thành cảm ơn cô giáo PGS-
Trang 3chính
TS Phan Thị Thu Hà, ban giám đỐc và các anh chị tại ngân hàng công thương Hoàn Kiếm đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này
Trang 4chính
CHUONG I: TONG QUAN VE RUI RO THANH TOAN
QUOC TE THEO PHUONG THUC THANH TOAN TiN
DUNG CHUNG TU
1.1 Thanh toán quốc tế
1.1.1 Bản chất của thanh toán quốc tế
Trong xu thế toàn cầu hoá, thương mại quốc tế ngày càng có vai trò quan trọng trong sự phát triển của một quốc gia Chúng ta biết rằng thương mại quốc tế đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử phát triển của loài người
Từ thế kỷ X, ở châu âu đã xuất hiện nhiều trung tâm buôn bán lớn nổi tiếng trên thế giới Còn ở châu á việc phát triển buôn bán giữa các quốc gia phát triển rất sớm Điển hình “con đường tơ lụa “ là một minh chứng cho
sự giao lưu buôn bán giữa hai châu lục Tuy nhiên, việc trao đổi buôn bán giỮa các quốc gia không tránh khỏi những rủi ro như nạn cướp bóc, thiên
tai nhưng rủi ro nhất cho các thương gia là trong việc thanh toán Vì vậy
nghiệp vụ thanh toán hộ của ngân hàng ra đời Những ngân hàng có quan
hệ chặt chễ với nhau sẽ đứng ra thanh toán cho khách hàng của mình dựa
trên các chứng từ do thương nhân xuất trình
Theo lý thuyết của kinh tế học vĩ mô, kinh tế thị trường là nền kinh
tế mở, có quan hệ giao dịch kinh tế với các quốc gia và với các tổ chức kinh tế, tài chính tiền tệ quốc tế Trong phạm vi một quốc gia có nền kinh
tế mở, các hoạt động giao dịch quốc tế được gọi là kinh tế đối ngoại, đây
là lĩnh vực đặc biệt quan trọng, bao gồm các hoạt động ngoại thương, hợp
tác quốc tế về đầu tư, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, hợp tác về khoa học
công nghệ, dịch vụ du lịch, thu ngoại té
Trong xu hướng phát triển kinh tế thế giới hiện nay, các nước đều không nghừng phát triển quan hệ kinh tế d6i ngoại, trong đó thương mại quốc tế đóng vai trò quan trọng Ngoại thương được đánh giá là một ngành
Trang 5
trong nƯỚớc
1.1.2 Khái niệm về thanh toán quốc tế
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện chi trả bằng tiền liên quan đến các dịch vụ mua bán hàng hoá hay cung ứng lao vụ giỮa các tổ chức
hay cá nhân nước này với các cá nhân tổ chức nước khác, hay giỮa một
quốc gia với một tổ chức quốc tế thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan
Dưới giác độ kinh tế, các quan hệ kinh tế được phân chia thành hai loại: quan hệ mậu dịch và quan hệ phi mậu dịch Do đó thanh toán quốc tế cũng bao gồm: thanh toán mậu dịch và thanh toán phi mậu dịch
Thanh toán phi mậu dịch:
Là quan hệ thanh toán phát sinh không liên quan đến hàng hoá
cũng nhƯ lao vụ, nó không mang tính chất thương mại Đó là những chỉ phí củỦa các cƠ quan ngoại giao, ngoại thương Ở các nƯỚc sở tại, các chi phí về vận chuyển và đi lại của các quan khách nhà nước, các tổ chức cá nhân
Thanh toán mậu dịch:
Khác hoàn toàn với thanh toán phi mậu dịch, thanh toán mau dich phát
sinh trên cơ sở trao đổi hàng hoá và dịch vụ thương mại theo giá cả quốc
tế Thông thường trong các nghiệp vụ thanh toán mậu dịch phải có các
chứng từ hàng hoá kèm theo Các bên mua bán bị ràng buộc với nhau bởi hợp đồng thương mại, hoặc một hình thức cam kết khác Mỗi hợp chỉ ra một mối quan hệ nhất định, nội dung hợp đồng phải quy định điều kiện thanh toán cụ thể
1.1.3 Vai trò của thanh toán quốc tế
1.1.3.1 Đối với nền kinh tế
Trang 6chính
Thanh toán quốc tế là đòi hỏi tất yếu khách quan trong su phat triển
kinh tế đối ngoại
Với sự tham gia mạnh mẽ hoạt động giao lưu quốc tế, nhu cầu hợp tác, phân công lao động quốc tế, trao đổi hàng hoá giỮa các nước gia tăng không ngừng TỪ đây phát sinh các mối liên hệ giỮa người mua và người bán, ngƯời cho vay và người trả nợ, người đầu tư và người nhận đầu tư và các bên liên quan trong quan hệ quốc tế có sự khác nhau về địa lý,
về loại tiền sử dụng, về tập quan kinh doanh vì vậy thanh toán quốc tế ra đời là đòi hỏi tất yếu để giải quyết một phần và làm hài hoà các mối quan
điều kiện cho các bên tham gia tránh được những rủi ro, cũng như có biện
pháp phòng ngừa rủi ro Việc thực hiện các điều khoản thanh toán có nghiêm túc hay không có ảnh hưởng tới uy tín và độ bền vỮng trong quan
hệ mua bán giỮa các bên trong thƯơng trường Do đó có thể nói hiệu quả
kinh tẾ trong lĩnh vực king doanh XNK một phần lớn nhờ vào chất lượng khâu thanh toán, từ đó thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển Thanh toán quốc tế là thước đo, là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh
Thanh toán quốc tế ảnh hưởng trức tiếp đến vòng quay vốn của các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh XNK, do vậy ảnh hưởng đến doanh thu cũng như lợi nhuận của các bên tham gia Thông qua hoạt
Trang 71.1.3.2 Đối với ngân hàng
Ngân hàng thương mại góp phần thúc đẩy sự phát triển của hoạt động thương mại quốc tế Ngân hàng tài trợ cho các doanh nghiệp xuất
nhập khẩu, cung ứng dịch vụ thanh toán và dịch vụ mua bán ngoại tệ, đảm
bảo cho hoạt động xuất- nhập khẩu được thông suốt, an toàn, hiệu quả
Ngày nay, các ngân hàng không chỉ làm nhiệm vụ thanh toán hộ cho
khách hàng của mình mà còn là nhà tư vấn, giám sát, bảo vệ Hoạt động ngoại thương cần dén su can thiệp trợ giúp về kỹ thuật và tài chính của ngân hàng Trong nền kinh tế, ngân hàng thương mại đóng vai trò là trung gian tài chính Nó cung cấp các phương tiện thanh toán cho nền kinh tế, đứng ra là trung gian thanh toán giữa các doanh nghiệp Thông qua đó, ngân hàng có thể giám sát được các hoạt động thu chỉ của doanh nghiệp, kiểm soát được các giao dịch, thanh toán cỦa các doanh nghiệp, các don vi san xuất kiểm soát được các vụ rửa tiền nhằm ngăn chặn các hoạt động phi pháp trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ
Trong thanh toán quốc tế, ngân hàng thương mại có vai trò hết sức
quan trọng, là người bạn đáng tin cậy của các nhà xuất nhập khẩu Nó đem
lại sự trợ giúp đa dạng cho khách hàng, giúp họ đảm bảo lợi nhuận đồng thời hạn chế rủi ro Vai trò của ngân hàng thương mại trong thanh toán
Trang 8chính
quốc tế là điều kiện đảm bảo an toàn cho các bên tham gia hoạt động suất
nhập khẩu, là chất xúc tác cho thương mại quốc tế phát triển
Và ngược trở lại hoạt động thanh toán quốc tế giúp cho ngân hàng thu hút thêm nhiều khách hàng có nhu cầu thanh toán quốc tế, phần lớn các khách hàng hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh XNK Trên cơ sở đó, Ngân hàng có thể mở rộng quy mô hoạt đọng, tăng thêm nguồn thu nhập, củng ccó khả năng cạnh tranh trên thị trường
Trên phương diện quản lý nhà nước, thông qua hoạt động thanh toán quốc tế, chính phủ thực hiện tốt việc quản ký nguồn ngoại tỆ ra vào của một quốc gia dựa trên cán cân thanh toán quốc tế và làm cơ sở cho việc xây dựng và thưch hiện chính sách tài khoá tièn tệ
1.1.4 Các điều kiện trong thanh toán quốc tế
1.1.4.1 Điều kiện tiền tệ
Trong thanh toán quốc tế, cả hai bên đối tác cùng quan tâm đến những vấn đề có lợi nhất cho mình Đây là thoả thuận liên quan đến sử dụng đồng tiền nào để tính thanh toán, để thực hiện chỉ trả trong thanh toán Sự lựa chọn đúng đắn về điều kiện tiền tệ trong thanh toán quốc tế là một trong những yếu tố quyết định đến hiệu quả trong hoạt động kinh doanh đối ngoại
Tiêu chí lựa chọn đồng tiền dùng thanh toán đó là : thứ nhất đồng tiền phải có vị trí xỨng đáng trên thị trường tiền tệ quốc tế ; thứ hai phải
phù hợp tương quan so sánh lực lượng trong quan hệ thương mại; thứ ba
phù hợp với tập quán sử dụng đồng tiền đó trong khu vực; phù hợp với tập
quán thanh toán trong các ngần hàng
1.1.4.2 Điều kiện đảm bảo hối đoái
Trong nền kinh tế thị trường, giá trị của các đồng tiền, dù là đồng tiền mạnh đều có thể xảy ra sự biến động tăng, hoặc giảm, điều đó sẽ gây tổn thất cho người mua hoặc người bán hàng hoá Để tránh rủi ro có thể xảy ra khi tỷ giá biến động, các bên tham gia thanh toán thường đàm phán
Trang 9chính
điều kiện đảm bảo hối đoái cho giá trị hợp đồng khi thanh toán đúng như
giá trị hàng hoá đã nhận, hoặc đã trao
Các hình thức đảm bảo cho giá trị tiền tệ của hợp đồng như đảm bảo bằng vàng: đảm bảo bằng ngoại hối; đảm bảo bằng “rổ” ngoại tệ; đảm bảo bằng tiền tệ quốc tế; đảm bảo theo sự biến động của chỉ số giá
cả quốc tế đối với hàng hoá đó
1.1.4.3 Điều kiện về thời gian thanh toán
Điều kiện về thời gian thanh toán mang tính chất bắt buộc đối với các giao dịch thanh toán quốc tế, điều kiện quy định cụ thể thời gian bên
phải trả tiền thực hiện thanh toán cho bên nhận tiền Việc xác định thời
gian thanh toán là mối quan tâm lớn của các bên tham gia trong giao dịch quốc tế, vì thời gian thanh toán gắn với các biến động của thị trường tài chính kể từ ngày kí hợp đồng đến ngày thực hiện thanh toán Thời hạn thanh toán chứa đựng các rủi ro tỪ sự biến động thị trường mà bên tham gia
phải gánh chịu Bởi vậy cần có sự đàm phán lựa chọn
Có 3 loại thời gian thanh toán:
+ Trả tiền trước: nghĩa là toàn bộ hay một phần tiền của hợp đồng thanh toán được trả ngay trước khi thực hiện nghĩa vụ đối ứng Thực chất đây là hình thức cung cấp tín dụng của bên nhập khẩu cho bên bán, hoặc bên bán yêu cầu phía mua phải có một phần tiền ứng trước
+Trả tiền ngay: có nghĩa người phải trả thực hiện thanh toán cho
người nhận ngay khi nhận được điện báo chuyển hàng, trả ngay khi nhận được bộ chứng từ hoặc ngay khi nhận được lô hàng đầu tiên
+Trả tiền sau: là thoả thuận mà theo đó bên mua đã nhận được hàng, thậm chí sử dụng một thời gian nhất định Đây là hình thức tín dụng
thương mại bên bán cấp cho bên mua
1.2.Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
1.2.1 khái niệm của tín dựng chứng từ
Trang 10Trong phạm vi của bản điều lệ UCP 500 thuật ngữ “tín dịng chứng
từ”, “thư tín dụng dự phòng”, có nghĩa là bất cứ một sự thoả thuận nào, dù
cho có được, hoặc mô tả như thế nào mà theo đó một ngân hàng (ngân hàng phát hành) hoạt đọng theo yêu cầu và theo chỉ thị cỦa một khách hàng (người yêu cầu phát hành thư tín dụng)hoặc nhân danh chính mình:
Thanh toán tiền theo lệnh của một người thứ 3 ( người hưởng lợi ) oặc phải chấp nha và trả tiền cho các hối phiếu do người hưởng lợi kí phát
Uỷ quyền cho một ngân hàng khác tiến hành thanh toán hoặc chấp nhận trả tiền các hối phiếu đó
Uỷ quyền cho một ngân hàng khác đến chiét khấu khi các chứng từ quy định được xuất trình phù hợp với các điều khoản, điều lệ của thư tín dụng
Như vậy phương thức tín dụng chứng từ là một cam kết thanh toán
có điều lệ của ngân hàng (ngân hàng mở L/C-issuing bank) cho người bán
hàng ( người hưởng lợi —beneficiary)
Theo yêu cầu của người mua (applicant) để trả ngay hoặc đợi tới
một thời điểm xác định trong phạm vi thời hạn đã xác định và căn cứ vào các chứng từ đã quy định phù hợp với các điều lật của L/C
1.2.2 Các bên tham gia thanh toán
Người xin mở thư tín dụng (the applicant for the credit): là người mua, người nhập khẩu hàng hoá, người mở thư tín dụng
Ngân hàng mở thư tín dụng (isuing bank) là ngân hàng đại diện cho người nhập khẩu còn gọi là ngân hàng phát hành
Trang 11chính
Người hưởng lợi( beneficiary) là người bán,người xuất khẩu hay bất
cứ người nào khác mà người hưởng lợi chỉ định
Ngân hàng thông báo(advfing bank) là ngần hàng được ngân hàng phát
hành yêu cầu thông báo cho nhà xuất khẩu vvề việc mở thư ín dụng Ngoài ra còn có thể cho một số ngân hàng khác tham gia vào phương
thức thanh toán này như :
Ngân hàng xác nhận (confirming bank) là ngân hàng nhận trách nhiệm thanh toán cuối cùng nếu ngân hàng phát hành không thể thanh toán chứng
từ phù hợp với điều khoản của L/C Ngân hàng xác nhận có thể vừa là ngân hàng thông báo L/C hay là một ngân hàng khác do bên xuất khẩu yêu cầu
Ngân hàng được chỉ định (nominated bank) là ngân hàng được ngân
hàng phát hành chỉ định để thực hiện việc thương lượng, chiết khấu hay thanh toán L/C Lúc đó ngân hàng đóng vai trò là ngân hàng chiết khấu (negotiating bank) hoặc ngân hàng thanh toán (paying bank)
Ngân hàng hoàn trả (reimbursing bank) là một ngân hàng được ngân
hàng mở L/C hoặc ngân hàng xác nhận chỉ định thay mình trả tiền
Ngân hàng chiết khấu(negotiating bank) là ngân hàng mở 1/C cho phép đứng ra mua hối phiếu hay thương lượng chứng từ do người bná kí
phát cho ngân hàng Tuỳ theo quy định của L/C mà ngân hàng Tuỳ theo quy
định của L/C mà ngân hàng chiết khấu thường là ngân hang thông báo hoặc
là ngân hàng thứ ba nào đó do ngân hàng mở L/c quy định
Người được chuyển nhưnơng là nhười nhân các quyền và nghĩa vụ
do người hƯởng lợi chuyển
Trong thực tế nghiệp vụ tín dụng chứng từ không nhất thiết phải có các bên như đã nêu Ở trên
1.2.3 Quy trình nghiệp vụ thanh toán theo phương thức tín dụng chứng
từ
Trình tự tiến hành
Trang 12chính
Người nhập khẩu làm đơn xin mở thư tín dụng tại ngân hàng phục
vụ mình và yêu cầu mở thư tín dụng cho nhà xuất khẩu hưởng Don xin
mở thư tín dụng phải có đầy đủ các yếu tố sau:
+ Người nhập khẩu yêu cầu mở loại L/C nào : Mở bằng telex hay bằng thư hoặc thư có thông báo vắn tắt bằng điện và loại hình L/C nào + Tên và địa chỉ đầy đủ của người được hưởng lợi
+ Số tiền của L/C, bằng tiền nước nào, ký hiệu quốc tế của đồng nước đó, số tiền bằng chữ và bằng số có khớp không
+ Phương thức trả tiền : Trước, ngay, sau hay chiết khấu
+ Các nội dung liên quan đến hàng hoá
+ Yêu cầu về chủng loại chứng từ, số lượng từng chủng loại, tên người ký phát chứng từ mà người xuất khẩu
+ Các yêu cầu như nơi gửi hàng, điều kiện giao hàng, ngày giao hang cuối cùng, thời hạn hiệu lực của việc suất trình chứng từ thanh toán, ngày địa điểm hết hạn hiệu lực của I/C, có yêu cầu ngân hàng xác nhân
L/C hay không
Hai bên mua bán có sự thống nhất về các điều khoản của thư tín dụng, bao gồm thanh toán phí ngân hàng và phương thức gửi thư tín dụng cho người hƯởng Có sự thống nhất vè các yêu cầu của người hưởng về ngân hàng mở thư tín dụng, ngân hàng thông báo, ngân hàng xác nhận ,ngân hàng thương lượng, ngân hàng thanh toán
Ngân hàng sẽ lập một thư tín dụng và thông qua ngân hàng của mình
Ở nước người nhập khẩu thông báo về việc mở thư tín dụng và thư tín dụng đến người xuất khẩu Ngân hang xem xét toàn bỘ nội dung của đơn xin mở L/C, đồng thời có thể tư vấn cho khách hàng để lựa chọn L/C phù hợp, tránh được những sai sót, sơ hở, yêu cầu ký quỹ khi mở L/C, tính toán thu phí mở L/C theo quy định hiện hành Tiếp đó ngân hàng chuyển bản chính L/C cho ngân hàng đại lý 6 nước người xuất khẩu hoặc ngân hàng
được chỉ định trong L/C
Trang 13chính
Khi nhận được thông báo này, ngân hàng thông báo sẽ thông báo cho
người xuất khẩu toàn bộ nội dung thông báo về việc mở thư tín dụng và khi nhận được bản gốc thư tín dụng thì chuyển ngyay cho người xuất khẩu sau khi đã kiểm tra tính chân thực của thư tín dụng Thông thường ngân hàng thông báo L/C là chi nhánh hoặc đại lý cho ngân hàng mở L/C Ở nƯỚc người xuất khẩu Tuy nhiên cá biệt là ngân hàng thông báo L/C là một ngân hàng khác được chỉ định trong L/C Ngân hàng thông báo thu phí
thông báo
Người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dung thì tiến hành giao hàng, nếu có điều khoản nào đó trong thư tín dụng chưa thoả mãn thì tiến hàng đè nghị ngân hàng mở thư tín dụng và nhà xuất khẩu sửa đổi, bổ sung thư tín dụng cho phù hợp hợp đồng Việc ký phát hối phiếu và hoàn tất chứng từ thanh toán phải lưu ý các vấn dé sau: Một là thời hạn xuất trình chứng từ; Hai là thời hạn của L/C; Ba là chủng loại và số lượng của mỗi
loại chứng từ
Sau khi giao hàng người suất khẩu tiến hành lập bộ chứng từ thanh
toán theo yêu cầu của thư tín dụng, xuất trình thông qua ngân hàng thông báo hoặc một ngân hàng nào đó được chỉ định trong thư tín dụng để yêu
cầu thương lượng, chiết khấu hay gửi chứng từ cho ngân hàng mở thư tín
dụng
Ngân hàng này sẽ kiểm tra chứng tỪ, làm thủ tục đòi tiền theo chỉ thị của thư tín dụng và chứng từ cho ngân hàng mở thư tín dụng
Ngân hàng mở thư tín dụng và kiểm tra bộ chứng từ và trong vòng 7
ngày kể từ ngày nhận chứng từ phải thông báo cho ngân hàng thông báo về
việc chấp hành thanh toán hay không Nừu chứng từ phù hợp với thư tín dụng thì tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu.Nếu chứng từ không phù
hợp ngân hàng từ chối thanh toán và trả toàn bộ chứng từ cho người nhập
khẩu
Trang 14chính
Ngân hàng thông báo tiến hàng thanh toán cho người xuất khẩu hoặc
trả lại cho bộ chứng từ cho người xuất khẩu
Ngân hàng mở thư tín dụng đòi tiền người nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ hàng hoá cho người nhập khẩu chỉ sau khi người nhập khẩu thanh toán hoặc chấp nhân thanh toán
Người nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ,nếu nhận thấy phù hợp với thư tín dụng thì trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền cho ngân hàng mở thư tín dụng theo thoả thuận đã kí, nếu không phù hợp có quyền từ chối trả tiền
1.2.3 Các loại thư tín dựng thương mại
Việc phân loại tín dụng thư dựa trên tiêu chẩn nhất định, nhằm giúp mọi người nắm bắt tổng thể trước khi đi vào nghiên cứu các mô hình giao dịch chứng từ Theo quy định uỷ ban kỹ thuật và nghiệp vụ ngân hàng thuộc ICC (phòng thương mại quốc tế) tín dụng thư được phân biệt theo ba dạng :
Thứ nhất là phân theo loại hình bao gồm :
+ Tín dụng thư huỶ ngang (Irrevocable L/C)
+ Tín dụng thư không huỷ ngang(Revocable L/C)
Hai là phân theo phương thức sử dụng bao gồm:
+ Tín dụng thư không huỷ ngang có giá trị trực tiếp(Irrevocable
Streight document Credit)
+ Tín dụng thư huỷ ngang có giá trị chiết khấu( Irrevocable
Negotiation document Credit)
+ Tín dụng thư không huỷ ngang và không xác nhận ( Irrevocable Document Credit Unconfirmed Document Credit)
+ Tín dụng thư không huỷ ngang có xdc nhan( Irrevocable Confirmed Document credit)
+ Tin dung thu tuan hoan( Revolving Document Credit)
+ Tín dụng thư với điều khoản d6( Red clause Document Credit)
+ Tín dụng thư dự phòng ( Standby Credit)
Trang 15chính
+ Tín dụng thư chuyển nhựương ( Transferable Documen Credit)
+ Tín dụng thư giáp lung( Back -to- Back Document Credit)
Ba 1a phan theo phuong thtfc thanh todn bao g6m:
+ Tin dung tra ngay( Sight Credit)
+ Tín dụng trả chậm ( Deferred / Usance Credit)
Thực ra, trong giao dịch thỉnh thoảng ta vẫn gặp loại tín dụng này
mặc dù cách gọi có vẻ mới lạ Đây là loại tín dụng chứng từ được yêu cầu
xuất trình trực tiếp để thanh toán tại nhân hàng phát hành Do vậy thời hạn hiệu lực kết thúc tại ngân hàng phát hành Sau đay là một số loại tín dụng
thư thường gặp :
1.2.3.1 Thư tín dụng không thể huỷ bỏ ( Irrevocable letter of credit)
Là loại tín dụng thư sau khi mở thì ngân hàng mở L/C không được sửa đổi bổ sung hoặc huỷ bỏ trong thời gian hiêu lực của nó, trừ khi có sụư thoả thuận của tất cả các bên tham gia giao dịch Một L/C không ghi IRREVOCABLE thì vẫn được coi là không huỷ bỏ được Thư tín dụng không thể huỷ bỏ được áp dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế
1.2.3.2 Thư tín dụng không thể huỷ bỏ có xác nhận(Confirmed irrevocable
letter of credit)
Là loại tín dụng thư không thể huỷ bỏ, được một ngân hàng khác đảm bảo trả tiền theo yêu cầu của ngân hàng mở L/C Nếu người hưởng lợi không tin tưởng vào khả năng tài chính cỦa ngân hàng mở L/C thì có quyền yêu cầu ngân hàng khác đứng ra xác nhận, đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng mở L/C
1.2.3.3 Thư tín dụng không thể huỷ ngang miễn truy đòi ( Irrevocable
without recouce of credit)
Là loại thư tín dụng mà sau khi nhà suátt khẩu đã được trả tiền thì ngân hàng mở L/C không có quyền đòi lại trong bất cứ trường hợp nào Khi dùng loại L/C này người suất khẩu phải khi lên hối phiếu miễn truy đòi
Trang 16chính
người kí phát và trong L/C cũng phải ghi như vậy L/C miễn truy đòi được
sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế
1.2.3.4 Thư tín dụng giáp lưng ( back to back letter)
Loại L/C thường được nhà xuất khẩu áp dụng để thanh toán tiền hàng cho nhà cung cấp hàng cho mình để xuất khẩu Trong trường hợp này, người xuất khẩu dùng I/C cho nhà nhập khẩu mở để thế chấp mở một L/C_ cho người hưởng lợi khác với nội dung gần giống với nội dung L/C ban đầu, L/C moẻ lần sau gọi là L/C giáp lưng Về cơ bản L/C gốc và L/C giáp lưng giông nhau nhưng có một số điểm khác nhau Người thụ hưởng L/C gốc lại là người xin mở L/C giáp lưng Số chứng từ của L/C giáp lung phải nhiều hơn L/C gốc Kim ngạch L/C giáp lưng phsỈ nhỏ hơn L/C gốc ,khoản chênh lệch này do người trung gian hưởng để trả tiền chi phí mở L/C giáp lưng và phần hoa hồng của họ
1.2.3.5 Thư tín dụng ứng trước điều khoản đỏ ( Advance letter of credit, Red clause letter of credit)
Loại thư tín dụng này gọi là điều khoản đỏ, vì điều khoản ban hành đều được viết bằng mực đỏ để lưu ý tính chất đặc biệtcủỦa loại thư tín dụng này Theo đó, người mở tín dụng thư cam kết tài trợ cho nhà xuất khẩu ngay khi tín dụng thư được mở Hai bên đối tác phải có quan hệ song phương truyền thống và uy tín Phía nhập khẩu phải là công ty lớn và đủ vốn Phía xuất khẩu có nguồn hàng hoá suất khẩu nhưng thiếu vốn
Với “điều khoả đỏ” ngân hàng phát hành cam kết Ứng trước một số tiền nhất định của giá trị tín dụng thư khi nhận được các chứng từ, thông thường là : Hối phiếu của số tiền ứng trước; hoá đơn; cam kết trả nợ hoặc cam kết giao hàng và các chứng từ thoả thuận Rất nhiều trường hợp người mở chỉ ứng trước tiền hàng cho người hưởng dưới sự bảo lãnh của
ngân hàng người hưởng Như vậy, người hưởng sé thương lượng với ngân
hàng mình để phát hành bảo lãnh trước khi nhận tiền theo điều khoản đỏ Một số người ngộ nhận là với tín dụng thƯ có điều khoản đỏ, người
Trang 17chính
hưởng sẽ được ngân hàng thông báo cấp tín dụng ngay sau khi nhận được
tín dụng thư Điều cần hiểu là tiền Ứng trước được lấy từ tài khoản người
mở, nghĩa là tín dụng thư thương mại, mà không phải khoản tín dụng của
ngân hàng thông báo hay ngân hàng phát hành Ngân hàng thông bó chỉ thực
hiện các thủ tục theo điều khoản của thư tín dụng mà không cam kết hoặc chịu trách nhiệm về số tiền đó Việc ứng trước được ngân hàng phát hành
uỷ quyền cho ngân hàng thông báo thực hiện Sau đó ngân hàng phát hành
sẽ trích tài khoản của người mở chuyển cho ngân hàng thông báo
1.2.3.6 Thư tín dụng toàn hodn ( Revolving letter of credit)
Thư tín dụng tuần hoàn 1a loai L/C không thể huỷ bỏ, sau khi sử dụng xong đã hết hiệu lực thì nó tự động có giá trị như cũ cứ như thế cho đến khi tổng giá trị hợp đồng được thực hiện
Thư tín dụng toàn hoàn cần ghi ngày hết hạn hiệu lực cuối cùng, số lần toàn hoàn và giá trị tối thiểu của mỗi lần đó
1.2.3.7 Thư tín dụng dự phòng ( Stand by letter oƒ credit)
Là loại L/C quy định việc hoàn lại số tiền của thư tín dụng trong trường hợp nhà xuất khẩu không thực hiện đúng các quy định nhƯ trong thư tín dụng đó
Người mở L/C dự phòng là nhà xuất khẩu, ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu là ngân hàng phát hành L/C dự phòng L/C dự phòng được sử dụng như một phƯơng thức bảo đảm hợp đồng
1.2.3.8 Thư tín dụng chuyển nhượng( Transferable letter of credit)
Là loại L/C không được huỷ bỏ và quy định quyền được chuyển nhượng toàn bộ hay một phần số tiền của L/C cho một hay nhiều người theo lệnh của người hưởng lợi đầu tiên
Trang 181.2.3.9 Thư tín dụng đối ứng(Reciprocal letter oƒ credit)
Trong phương thức mua bán hàng đổi hàng, hai bên phải ký với nhau một hợp đồng mua bán có tổng giá trị hàng hoá trao đổi với nhan bàng nhau Mục đích của trao đổi hàng hoá là giá trị sử dụngcủỦa hàng chứ không phải tiền tệ mặc dù phần chênh lệch có thể được thanh toán bằng tiền
Do không thể loại trừ khả năng rủi ro khi một trong hai bên không thực hiện hợp đồng Vì vậy hai bên thống nhất sử dụngthư tín dụng đối Ứng cho nhau hưởng L/c đối ứng là loại L/C chỉ có hiệu lực khi L/C đối ứng với nó được mỞ
1.2.4 Ưu nhược điểm của thanh toán thư tín dụng
Ngày nay, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng ngày càng nhiều do những thuận lợi mà
nó mạng lại cho cả người mua và cho cả người bán Tuy nhiên bên cạnh thuận lợi nó cũng không tránh khỏi nhữỮng sai sót gây ra hậu quả nghiêm trọng Sau đây là mọt số ưu nhược điểm của thanh toán tín dụng chứng từ: 1.2.4.1 Đối với người bán
Đảm bảo việc thanh toán vì có nhân hàng mở đứng ra cam kết thanh toán không phụ thuộc vào những ảnh hưởng khác Được ngân hàng khống chế bộ chứng từ không sợ mất quyền sở hữu về hàng hoá hay tốn chi phí vận chuyển hàng nếu làm đúng yêu cầu của thư tín dụng Nhà xuất khẩu
có thẻ nhận được sự hỗ trợ của ngân hàng cả về tài chính lẫn thông tin Tuy nhiên, nhà xuất khẩu phải lựa chọn loại thư tín dụng nào bảo đảm quyền lợi cho mình nhiều nhất, đồng thời kiểm tra kỹ các điều khoản ghi trong thư bởi vì nó sẽ ảnh hưởng tới lợi ích cỦa mình sau này Tuỳ
Trang 19chính
thuộc vào khả năng của mình có đáp ứng được yêu cầu của hợp đồng hay không để đảm bảo lập bộ chứnh từ phù hợp
1.2.4.2 Đối với người mua
Khi lập L/C thì người mua được ngân hàng kiểm tra giúp bộ chứng
từ, đảm bảo được hàng hoá mà mình ký hợp đồng đúng số lượng và chất
lượng, thời hạn giao hàng tuy nhiên người mua phải thận trọng khi làm
đơn mở L/C, phải đưa ra những điều kiện để cho người bán có thể thực hiện được vừa phải bảo đảm được quyền lợi của mình Ngoài ra không tránh được trường hợp mua bị người bán gian lận lập bộ chứng từ khống
để thanh toán
1.2.4.3 Đối với ngân hàng
Mở rộng nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng tăng thu nhập, nâng
cao trình đỘộ nghiệp vụ của các cán bỘ ngân hàng
Thông qua nghiệp vụ của ngân hàng sẽ góp phần giúp đỡ các khách
hàng xuất nhập khẩu của mình đồng thời thúc đẩy quá trình thanh toán quốc tế được phát triển Tuy nhiên trong phương thức thanh toán L/C, ngân hàng chỉ có thể không chế về mặt hình thức chứng từ, mà không thể kiểm
soát được tính chất pháp lý hay tính chân thực của các loại chứng từ đó
Hơn nưa việc thanh toán diễn ra tương đối phức tạp bởi sự tham gia của nhiều bên, quá trình thanh toán tỷ mỈ và máy móc
Tóm lại phương thức thanh toán tín dụng chứng từ đảm bảo được
quyền lợi của người bán, mua trong quá trình hoạt động kinh doanh xuất
nhập khẩu và nâng cao vai trò cỦa ngân hàng trong hoạt động thanh toán quốc tế
1.3 RỦi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức thanh toán tín
dụng chứng từ
1.3.1 Rủi ro trong hoạt động thanh toán quôc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
Trang 20chính
Có rất nhiều quan niệm về rủi ro như : rủi ro là những bất trắc gây
ra mất mắt, thiệt hại ; rủi ro là những bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi Hiện nay các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau “Rủi ro là nhữỮng biến cố xảy ra ngoài ý muốn, sự hiểu biết, dự tính của chủ thể và đem lại những hậu quả xấu” rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong cuỘc sống chúng ta và chứng ta không thể lường trước hậu quả mà nó mang lại Đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng rủi ro thường đem lại nhữnh hậu quả khôn lường
Trong lý luận cũng như trong thực tiễn cũng đã chứng minh rủi ro
trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh trong ngân hàng là rất nhiều, nó sảy ra
dưới nhiều hình thức, mức độ khác nhau do nhưng nguyên nhân sau:
+ Thứ nhất do tiền là nguyên liệu chính tạo ra các sản phẩm của
ngân hàng, một yhỨ nguyên liêu độc tôn không thể thay thế Nguyên liệu
này chịu tác động của rất nhiều nhân tố như kinh tế, chính trị,xã hội, thiên tai khi mỘt trong các yếu tố này thay đổi thì hoạt động kinh doanh của các ngân hàng cũng thay đổi theo
+ Thứ hai ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính có chức năng
chuyển vốn từ nơi thỪa sang nơi thiếu vốn, thoả mãn nhu cầu vốn cho đầu
tư phát triển Chính vì vậy ngân hàng phải đảm bảo trả đủ lãi và gốc cho người gửi tiền khi đến hạn Nếu ngân hàng không ước tính trước được nhu cầu rút tiền cỦa người gửi tiền, thì một trong các biện pháp để hoàn trả gốc và lãi cho người gửi là thu hồi các món cho vay trước hạn và điều này khiến cho các khoản cho vay phải gặp rủi ro, nhiều khách hàng không trả
được nợ cho ngân hàng
+ Thứ ba ngân hàng là một tổ chức kinh tế chịu sự quản lý vĩ mô của nhà nước theo hành lang hẹp Nhà nước can thiệp vĩ mô trong nền kinh tẾ thị trường Trong ngành ngân hàng chịu sự quản lý của chính phủ thông qua
các công cụ, chính sách cỦa nhà nước, những quy định ,nghị định, pháp lệnh
Trang 21
chính
của ngân hàng nhà nuGc thi ngân hàng gặp không ít khó khăn thậm chí còn
gánh chịu cả tổn thất trong hoạt động kinh doanh của mình
+ Thứ tư ngân hàng là một tổ chức tài chính có quan hệ mật thiết với mọi thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân Do vậy bất kỳ một sự biến động nào của ngân hàng đều ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế của đất nước và ngược lại
Tóm lại, do đặc thù của hoạt động kinh doanh ngân hàng nên rủi ro trong ngân hàng rà rất lớn, nó không những gây tổn hại cho ngân hàng mà
còn ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế quốc dân Vì vây nhận thức đúng đắn va day đủ về rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là một vấn đè thiết yếu đẻ từ đó đưa ra các biện pháp hạn chế rủi ro gây hậu quả cho sự phát triển kinh tế của đất nước
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, thông qua các nghiệp vụ của mình ngân hàng phải đôis mặt với rất nhiều rủi ro NhỮng rủi ro này có mối quan hệ mật thiết với nhau nếu không có biện pháp phòng chống dễ gây ra rủi ro hệ thống
Trong thanh toán quốc tế, do phạm vi rộng lớn và bao gồm nhiều đỐi tượng tham gia nên rủi ro có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức
Thông thường khi rủi ro xảy ra thì người chịu thiệt hại lớn nhất lại chính
là những người xuất nhập khẩu do tính chất đặc thù của loại hình này
Ngân hang thương mại với vai trò của mình là trung gian cung các dịch vụ thanh toán cho khách hàng, thu được một khoản phí mà không phải chịu
hậu quả mà rủi ro gây ra Nhưng trên thực tế lại không phải như vậy, hoạt động thanh toán quốc tế tuy chỉ đóng góp rất nhỏ trong phân thu nhập của ngân hàng Nhưng khi gặp phải những rủi ro thì hầu như hậu quả đó phía nhà xuất khẩu hay nhập khẩu đều đổi lỗi cho ngân hàng làm mất uy tín của ngân hàng Trong môi trường cạng tranh như hiện nay tất cả những điều đó đều làm ảnh hưởng tới hoạt động của ngân hàng trong tương lai
Trang 22chính
Trong thanh toán quốc tế, tín dụng chứn từ là phương thức có tính
ưu việt nhất Tuy nhiên trách nhiệm của ngân hàng là rất lớn và rỉu ro dễ xảy ra Tín dụng chứng từ được hiểu là một phương thức thanh toán quốc
tế, mặt khác có thể coi đây là một loại tín dụng ngắn hạn của các ngân
hàng thương mại Vì vậy rủi ro là yếu tố tiềm ẩn nhưng cũng có thể bộc
phát bất cứ lúc nào trong quá trình hoạt động cỦa ngân hàng Như vây
muốn quản lý được rủi ro thì người ta phải phân laọ¡ rỦi ro, tìm ra nguyên nhân và biểu hiện của rủi ro từ đó đưa ra biên pháp ngăn ngừa và hạn chế rỦi ro
1.3.2 Các loại rủi ro chủ yếu trong thanh toán tín dựng chứng từ 1.3.2.1 RỦi ro bất khả kháng ( hay còn gọi là rủi ro khách quan)
Rủi ro bất khả kháng nguyên nhân gây ra là các sự kiện về thiên tai, nổi loạn, bạo động, chiến tranh Trong nhỮng nguyên nhân trên chúng đều gây ra hậu quả là các điều kiện về địa điểm, thời gian giao hàng hoặc hàng đến nơi nhưng giảm chất lượng và nghiêm trọng hơn nó có thể làm cho nhà nhập khẩu bị phá sản Điều này dẫn tới khách hàng không có khả năng thanh toán cho ngân hàng Đây là một rủi ro mà cả ngân hàng và khách hàng khổ tránh khỏi
Bên cạnh đó,Các cuộc khủng hoảng kinh tế cũng là một trong nhữỮng nguyên nhân dẫn tới rủi ro bất khả kháng đối với ngân hàng, nó làm giảm cán cân thanh toán của quốc gia dẫn đến đồng nội tệ bị mất giá so với đồng ngoại tệ TỪ đó dẫn tới khả năng chỉ trả cỦa ngân hàng với khách hàng là giảm Hơn thế nưã trong thời kỳ này uy tín cỦa ngân hàng mở L/C
bị giảm sút, đòi hỏi phải thông qua một ngân hàng khác xác nhận và ky quy 100% gia tri L/C
1.3.2.2 Rủi ro tỷ giá hối đoái
TỶ giá là đơn vị đo lường giá trị đồng tiền nay so với đồng tiền khác Trong thanh toán quốc tế thường sử dụng ngoại tệ mạnh để đo lường giá trị của hàng hoá
Trang 23chính
RỦI ro tỷ giá xảy ra khi có sự biến động của tỷ giá hối đoái giữa
đồng tiền tính toán và đồng tiền thanh toán:
- Khi doanh nghiệp nhập khẩu nộp nội tệ ký quỹ mở L/C va yéu cau ngân hàng bán ngoại tệ để thanh toán Nếu ngân hàng không thực hiện việc trao đổi ngay đến khi đồng nội tệ giảm giá như vậy ngân hàng phải bù vào mức giảm đó
- Khi doanh nghiệp ký quỹ bằng ngoại tệ cho vay của chính ngân hàng Ngân hàng có thể mua lượng ngoại tệ từ khách hàng khác Đến hạn thanh toán mà tỷ giá giảm ngân hang thu được một khoản lợi, nếu tỷ giá tăng dẫn đến rủi ro cho ngân hàng
- Do mức trượt giá của đỒng nội tệ so với ngoại tệ mạnh nên khi
nhập hàng về, nếu mặt hàng có giá trị bán cạnh tranh không thể tăng được
và nếu tỷ lệ ký quỹ không bù đắp được tỷ lệ trượt giá thì rủi ro có thể xảy
ra với ngân hàng khi nhà nhập khẩu không nhận hàng và không thanh toán
bộ chứng từ
1.3.2.3 Rui ro tín dụng
Một cách khái quát, rủi ro tín dụng là không thu được nợ khi đến
hạn RỦI ro tín dụng không giới trong hoạt động cho vay mà còn một số
hoạt động mang tính chất tín dụng trong đó Các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động L/C và gây thiệt hại cho một hoặc nhiều bên:
+ Đối với ngân hàng phát hành
Rủi ro tín dụng đối với ngân hàng phát hành là việc không thu được
hoặc thu không đầy đủ từ nhà nhập khẩu số tiền có giá trị bằng giá trị số tiền mà ngân hàng đã bỏ ra thanh toán cho nhà xuất khẩu Các trường hợp xảy ra rủi ro tín dụng:
RUi ro trong tín dụng thế chấp hàng nhập khẩu Đây là rủi ro thường gặp khi nhà nhập khẩu dùng số hàng nhập khẩu để thế chấp nó rất khó để các ngân hàng đánh giá giá trị củ lô hàng này hoặc việc phá bỏ hợp đồng của nhà nhập khẩu Có thể tóm tắt rủi ro sảy ra như sau: nhà nhập
Trang 24các lý do: Ngân hàng không phải là nhà kinh doanh nhập khẩu; Hàng nhập
khẩu có khi phải chế biến mới bán được; sự giảm chất lượng do nhiêu yếu tố tác động
Rui ro trong tín dụng bảo lãnh trả chậm :Cần phải hiểu chữ tín
dụng theo nghĩa rộng hơn, nó không chỉ là khoản tiền mà ngân hàng cho khách hàng vay mà nó còn có cả tín dụng bằng chữ ký tức là vay bằng uy tín của mình Theo nguyên tắc khi khách hàng vay thì phải có một khoản ký quỹ nhất định song ngân hàng ngân hàng cũng có thể cho khách hang một
khoản tín dụng bằng lời hứa trả của khách hàng khi tiền ký quỹ không đủ Rủi ro xảy ra khi nhà nhập khẩu không thanh toán ctiỂn hàng khi đến han thanh toán cho ngần hàng
+ Đối với ngân hàng xác nhận
Hoạt động tín dụng còn thể hiện trong mối quan hệ giưa ngân hàng
xác nhận và ngân hàng moẻ thư tín dụng Trong trường hợp ngân hàng mở
thư tín dụng là ngân hàng nhỏ, ít có danh tiếng hoặc ítcó giao dịch với ngân hàng thông báo Nói cách khác, ngân hàng xác nhận đã cung cấp tín dụng cho ngân hàng mở 1/C
RỦi ro xảy ra đối với ngân hàng xác nhận là khi không nắm được năng lực tài chính của ngân hàng mở đã vội xác nhận theo yêu cầu của họ
để rồi ngân hàng xác nhận phải lấy trách nhiệm thanh toán thay cho ngân hàng mở khi ngân hàng mở thiếu thiện trí hay mất khả năng thanh toán, thậm chí phá sản
Trang 25chính
+ Đối với ngân hàng chiết khấu và ngân hàng hoàn trả thì rỦi ro tín
dụng xảy ra khi không thu được khoản tiền mà trước kia đã thanh toán
hoặc đã chiết khấu cho nhà nhập khẩu
+ Đối với ngân hàng thông báo đôi khi đóngvai trò của cả ngân hàng xác nhận, ngân hàng chiết khấu RỦi ro tín dụng cho ngân hàng thông báo khi cho vay tài trợ xuất nhập khẩu mà không thu hồi được vốn Ngoài ra trong nghiệp vụ chiết khấu bộ chứng từ cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro Trường hợp ngân hàng phát hành không chịu trả tiền cho ngân hàng thông báo mặc dù nhà nhập khẩu đã thanh toán tiền rồi Trường hợp này ít sảy ra tuy nhiên để đảm bảo an toàn ngân hàng chỉ thông báo với ngân hàng mở quen biết, có uy tín hoặc phải ký quỹ
1.3.2.4 Rủi ro đạo đức
Loại rủi ro này ít khi xảy ra Đây là rủi ro do nhà xuất khẩu có hành
vi lừa đảo Nhà xuất khẩu giả mạo chứng từ mà ngân hàng không phát hiện ra đã thanh toán cho họ Ngân hàng thông báo còn gặp phải rủi ro khi
chiết khấu bộ chứng từ giả BỘ chứng từ giả là bộ chứng từ được lập mà không có quan hệ mua bán thực sự Đây là sự đồng loã của cả người nhập khẩu và người xuất khẩu để lừa ngân hàng Nếu nhà xuất khẩu là một tổ chức ma hoặc bị phá sản thì nhà nhập khẩu phải chụi rủi ro trong trường hợp này Tuy nhiên do nhà nhập khẩu không đủ khả năng tài chính bồi thường cho ngân hàng mở và cuối cùng ngân hàng là người gánh chịu hậu quả
1.3.2.5 Rủi ro kỹ thuật
Đây là loại rủi ro thường gặp nhất trong thanh toán thư tín dụng Rui ro này gây thiệt hại tuy không lớn nhưng nó lại ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng trong việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng Khi rủi ro này xảy ra không nhỮng ngân hàng bị thiệt hại mà nó còn ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh cỦa khách hàng Các rủi ro kỹ thuật xảy ra thường do nguyên nhân chủ quan xuất phát từ phía ngân hàng không thực hiện theo
Trang 26về hoàn trả tiền giữa các ngân hàng theo tín dụng chứng từ(URR)
+ Rủi ro kỹ thuật đối với ngân hàng thông báo
Theo điều 7 của UCP 500 quy định trách nhiệm của ngân hàng thông báo “ ngân hàng thông báo, nếu quyết định thông báo tín dụng thư, phải kiểm tra cẩn thận tính xác thực bề ngoài của tín dụng thư mà họ thông báo Nếu ngân hàng đó quyết định không thông báo tín dụng thư thì phải báo không chậm chễ cho ngân hàng phát hàng” Nghiệp vụ thông báo tín dụng
hoàn toàn mang tính chất dịch vụ,do vayy ngân hàng thông báo, ngoài
những quy định tại điều khoản này, không chịu trắch nhiệm về khả năng giao hàng của người hưởng, khả năng thanh toán của người mở , hoặc bất
cứ phát sinh nào liên quan đến tín dụng thư đó Như vậy ngân hàng thông báo không phải chịu bất cứ một trách nhiệm gì nhưng khi mắc phải sai sót thì khi đó uy tín của ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng Khi mắc sai sót loại này
phía khách hàng sẽ đánh giá tới nghiệp vụ thanh toán cỦa ngân hàng này
+ Rủi ro kỹ thuật đối với ngân hàng mở L/C
Theo UCP 500, ngân hàng mở được miễn trách nhiệm thanh toán nếu bộ chứng từ đó có lỗi Tuy nhiên nếu ngân hàng mở không thưch hiện theo đúng những quy định tại điều 13,14 của UCP500 thì ngân hàng mở phải chịu trách nhiệm về bộ chứng từ đó Trong điều 13,14 quy định các trường hợp sau Thông báo từ chối chứng từ nhưng không nói rõ sự bất hợp lệ của chứng từ, hoặc những bất hợp lệ này bị ngân hàng chiết khẩu phủ nhận hoặc trở nên không có giá trị
Ngân hàng phát hàng có thời gian là 7 ngày để kiểm tra chứng từ và quyết định nhân hay từ chối chứng từ