TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANHHBÀI TẬP NHÓM MÔN QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG MÔ HÌNH CHỨNG KHOÁN HÓA CÁC KHOẢN NỢ TỒN ĐỌNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANHH
BÀI TẬP NHÓM MÔN QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG
KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG MÔ HÌNH
CHỨNG KHOÁN HÓA CÁC KHOẢN
NỢ TỒN ĐỌNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn Nhóm học viên thực hiện
PGS.TS Trần Huy Hoàng Lớp: Cao học Tài chính – Ngân hàng
Trang 2DANH SÁCH NHÓM THỰC HIỆN
STT Họ & Tên Mã số học viên Tỷ lệ tham gia (%)
Trang 3CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong thời gian qua, các Ngân hàng Việt Nam đã có những giải pháp thiếtthực nhằm giải quyết nợ tồn đọng, giảm thiểu rủi ro đi đối với nâng cao tính antoàn – hiệu quả - bền vững trong hoạt động ngân hàng, góp phần hội nhập hoạtđộng ngân hàng và khu vực thế giới Theo báo cáo thường niên của Ngân hàngNhà nước (NHNN) Việt Nam, đến quý III năm 2012 tỷ lệ nợ xấu của các Ngânhàng thương mại (NHTM) Việt Nam lên đến 10% trong tổng dư nợ Kết quả này
đã tăng một cách đột biến so với cuối năm trước, do đó vẫn còn nhiều vấn đề cầnphải giải quyết trong bối cảnh hội nhập và phát triển Tình trạng nợ tồn đọng caolàm cho nền kinh tế bị đóng băng một lượng vật chất lớn không được khai thác.Theo kinh nghiệm quốc tế qua nhiều cuộc khủng hoảng cho thấy nợ quá hạn tồnđọng nếu không được giải quyết một cách cơ bản và nhanh chóng sẽ gây tácđộng tiêu cực cho hệ thống ngân hàng và khó tránh khỏi nguy cơ đổ vỡ
Xuất phát từ quan điểm của Đảng và Nhà nước, chương trình tái cơ cấu hệthống ngân hàng được thực hiện, các NHTM Việt Nam đã và đang nổ lực giảiquyết vấn đề nợ tồn đọng nhằm lành mạnh hóa hoạt động tài chính Hiện nay cácgiải pháp của các NHTM đang tiến hành trong việc xóa các khoản nợ tồn đọngvới chi phí rất lớn nhưng hiệu quả lại chưa cao Nếu không có các giải pháp thúcđẩy thì mục tiêu tái cơ cấu của ngân hàng khó có thể thực hiện tốt
Có rất nhiều giải pháp xử lý nợ xấu trong hệ thống NHTM được đưa ra từHiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI) chẳng hạn như các NHTMcần chủ động tăng mức trích lập dự phòng các khoản nợ xấu, việc làm này giúpcác NHTM nhanh chóng bù đắp tổn thất Ngoài ra VAFI còn đề xuất một công
cụ khác là chứng khoán hóa các khoản nợ khó đòi, chính là chuyển nợ xấu, hoặc
nợ quá hạn thành cổ phần và chuyển vị thế các ngân hàng đang là chủ nợ thành
cổ đông lớn Đây là cách thức xử lý khá phổ biến theo thông lệ thế giới, đối vớiViệt Nam từ trước tới nay đã có một số trường hợp thành công, kết quả là chẳngnhững đã cứu được doanh nghiệp khỏi nguy cơ giải thể phá sản mà còn bảo toànđược nguồn vốn của các NHTM Nhận thức được tầm quan trong của công cụ
Trang 4này, nên nhóm đã chọn đề tài “Khả năng ứng dụng mô hình chứng khoán hóa các khoản nợ tồn đọng của các Ngân hàng thương mại Việt Nam” làm vấn đề
nghiên cứu
1.2 Bố cục đề tài
Chương 1: Giới thiệu chung
Chương 2: Cơ sở lý luận chứng khoán hóa các khoản nợ tồn đọng của cácNgân hàng thương mại Việt Nam
Chương 3: Khả năng ứng dụng mô hình chứng khoán hóa các khoản nợtồn đọng của các Ngân hàng thương mại Việt Nam
Trang 5CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG KHOÁN HÓA CÁC KHOẢN
NỢ TỒN ĐỌNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT
Hiểu một cách cơ bản nhất, CKH là việc tái cơ cấu một tập hợp nhữngkhoản phải thu và đưa chúng về dạng thức có thể chuyển đổi được Những chứngkhoán phát sinh từ nghiệp vụ này có thể là cổ phiếu hoặc trái phiếu, nhưng nhìnchung chúng đều phải dựa trên một tập hợp các tài sản tài chính hoặc các khoảnphải thu Trên thực tế, mục tiêu của CKH chính là nhằm tách biệt rủi ro mất khảnăng thanh khoản của người chủ sở hữu tài sản, các khoản phải thu ban đầu vàrủi ro của chính các tài sản hay các khoản phải thu đó Uỷ ban Chứng khoán( UBCK) của Mỹ đã đưa ra một định nghĩa về CKH khá chặt chẽ như sau:
“ Chứng khoán hoá là việc tạo ra các chứng khoán dựa trên các luồng tiền
cố định hoặc mang tính chất tuần hoàn của một tập hợp tách biệt các khoản phải thu hoặc các tài sản tài chính Các chứng khoán này tuỳ theo cấu trúc thời hạn của chúng sẽ được chuyển đổi thành tiền trong một khoản thời gian xác định kèm theo những quyền hưởng lợi khác và quyền đối với những tài sản được sử dụng nhằm đảm bảo việc trả nợ hoặc phân phối định kỳ các khoản thu được cho người
sở hữu chứng khoán.” Đây được coi là một định nghĩa chính xác nhất về kỹ thuật
tài chính này
Ngoài ra chứng khoán hóa còn được định nghĩa:
"Chứng khoán hóa là việc phát hành ra các trái quyền dưới dạng các chứng khoán có thể bán trên thị trường trên cơ sở một tập hợp các tài sản đảm bảo cho nó"
Trang 6Mục tiêu của chứng khoán hóa là chuyển các tài sản có tính lỏng thấpthành tài sản có tính lỏng cao.
Tính lỏng thấp Tính lỏng cao
Hình 1: Minh hoạ mục tiêu của chứng khoán hoá
Hình 1: Mức độ tính lỏng của tài sản 2.1.2 Đặc tính các loại tài sản có thể được chứng khoán hóa
Như ta biết bất cứ doanh nghiệp nào từ doanh nghiệp sản xuất, dịch vụ chotới nhưng doanh nghiệp đặc biệt như ngân hàng đều nắm giữ rất nhiều các loại tàisản khác nhau Tuy nhiên, cũng cần phải khẳng định rằng không phải bất cứ cácloại tài sản nào cũng có thể được chứng khoán hoá Muốn được chứng khoán hoátài sản phải có những đặc điểm sau:
2.1.2.1 Tài sản phải được quy về dòng tiền
Một yếu tố cơ bản của loại tài sản đem chứng khoán hoá là phải phát sinhmột dòng tiền từ con nợ Giá trị của mỗi dòng tiền lại phụ thuộc vào phương thứcthanh toán như đã thoả thuận giữa các bên ban đầu, có thể theo phương thứcthanh toán gốc đều, niên kim .Trong thực tế ta thấy các khoản vay có tài sảnbảo đảm được thực hiện bằng cách người đi vay sẽ đứng ra đem tài sản của mìnhlàm vật thế chấp rồi sẽ vay tiền theo một tỷ lệ phần trăm nhất định trên tài sản thếchấp Sau đó theo kỳ hạn người đó sẽ thanh toán gốc và lãi Và nguyên tắc cơbản của chứng khoán hoá là phải luôn có một dòng tiền chảy qua giữa con nợ,chủ nợ, trung gian đặc biệt rồi tới nhà đầu tư Nếu trong điều kiện bình thường,hoạt động diễn ra suôn sẻ thì chứng khoán hoá sẽ hoạt động về cơ bản là nhưvậy Tuy nhiên trong trường hợp lãi suất trên thị trường thấp, con nợ sẽ tìm cáchvay tiền để thanh toán cho ngân hàng và ngân hàng chịu rủi ro trả trước(Prepayment risk) Người ta cũng có thể chứng khoán hoá khoản phải thu trên thẻtín dụng vì nó hàm chứa một dòng tiền Nhưng điều đáng lưu ý ở đây là dòngtiền của thanh toán thẻ tín dụng sẽ rất bất thường, khó dự đoán được tâm lý củangười tiêu dùng Việc nhận được các khoản phải thu của chủ nợ sẽ phụ thuộc vàonhu cầu cũng như mức thu nhập của người sử dụng thẻ
Tính
lỏng thấp Tăng cường
tí tính lỏng
Tính lỏng cao hơn
Chứng khoán giao dịch
Phát hành chứng khoán
Trang 72.1.2.2 Tính hợp pháp
Để đảm bảo cho các giao dịch chuyển nhượng, điều quan trọng và cần thiết
là các loại tài sản có liên quan tới giao dịch chứng khoán hoá phải hợp pháp.Tính hợp pháp ở đây có nghĩa tài sản phải được chứng nhận quyền sở hữu hợppháp của chủ sở hữu và không có bất cứ sự tranh chấp nào xảy ra khi nhượngbán Và đặc biệt là tài sản phải không nằm trong danh mục hàng cấm của nhànước
2.1.2.3 Tính nhượng bán
Những tài sản đem thế chấp phải là những tài sản có tính nhượng bán tươngđối cao trên thị trường Những tài sản đảm bảo thường là nhà cửa, ô tô, máy tính Đặc tính này nhằm đảm bảo cho các nhà đầu tư trong trường hợp người đi vay
bị phá sản thì vẫn có những thứ tài sản đảm bảo thanh toán
2.1.2.4 Tính phân tán rủi ro
Tài sản đồng thời cũng phải có tính phân tán rủi ro hoặc rủi ro được đảmbảo bởi một tỷ lệ hỗ trợ tín dụng cần thiết Ví dụ với một khoản vay tiêu dùng cógiá trị tương đối nhỏ, nếu phát hành chứng khoán trên khoản vay đó thì rủi ro quálớn, do vậy nếu ngân hàng tập hợp rất nhiều khoản vay lại để chứng khoán hoáthì hoạt động thanh toán của một khoản vay sẽ không làm ảnh hưởng hay bópméo toàn bộ kết quả thanh toán của toàn bộ danh mục Kết quả là toàn bộ danhmục tài sản có thể được coi là 1 tài sản có thể dự tính được khả năng thanh toáncủa nó Trong trường hợp một số tài sản trong danh mục hoạt động tốt, triển vọngthanh toán cao có ảnh hưởng tích cực tới danh mục tài sản cho vay thì sẽ đượcphân tích theo hướng làm hấp dẫn toàn bộ danh mục đem chứng khoán hoá
2.1.2.5 Tính độc lập với người khởi tạo
Đây là một đặc tính quan trọng có tác dụng làm tăng tính hấp dẫn của cácchứng khoán phát hành trên tài sản đó Sự tồn tại hay khả năng sinh lời của tàisản hoàn toàn độc lập với sự tồn tại của người khởi tạo, thậm chí ngay cả khingười khởi tạo bị phá sản Để đảm bảo điều này quá trình lập hợp đồng phải rõràng, người khởi tạo phải chuyển nhượng hoàn toàn các giấy tờ pháp lý cho trunggian đặc biệt (Special Purpose Vehicle- SPV) và không được dùng tài sản thếchấp nhiều lần vào các mục đích khác Một yếu tố hấp dẫn cho các chứng khoán
là trong lần đi vay ngân hàng đã có sự thẩm định tư cách tín dụng của người đi
Trang 8vay, đồng thời mặc dù đã chuyển nhượng các chứng từ liên quan cho SPV nhưng
tổ chức khởi tạo vẫn giám sát hoạt động thanh toán của người đi vay để hưởngphí dịch vụ
2.1.2.6 Tính đồng nhất của tài sản
Quá trình chứng khoán hoá được thực hiện khi người khởi tạo tập hợp cácloại tài sản khác nhau lại thành danh mục rồi bán cho SPV Tiếp đó SPV lại tậphợp các danh mục từ các tổ chức khởi tạo khác nhau để phân tích, làm tăng tínhhấp dẫn của tài sản rồi từ đó phát hành chứng khoán ra công chúng Tuy nhiênnguyên tắc tập hợp tài sản là phải có tính đồng nhất Ví dụ không thể gộp khoảnphải thu từ thẻ tín dụng với khoản phải thu từ vay mua nhà thế chấp vì chúng có
sự khác biệt lớn về dòng tiền Đặc tính này cũng rất quan trọng Nó yêu cầu bảnthân tổ chức khởi tạo cũng như SPV phải phân tích, tính toán để tạo ra được mộttập hợp tài sản hợp lý mà đủ lớn
2.1.3 Các thành viên có liên quan
Một triết lý đơn giản ở đây là: mỗi thành viên tham gia đều phải có nhữnglợi ích nhất định tương xứng sự đóng góp của họ Do vậy để có thể hiểu đượcquy trình làm việc của chứng khoán hoá thì cũngcần thiết phải biết được lợi íchcủa các đối tượng tham gia Tuy nhiên đề tài chỉ giới hạn trong việc phân tích cácthành viên tham gia cơ bản Ta sẽ xem xét mô hình chứng khoán hoá đơn giảntrên và phân tích các thành viên theo sơ đồ của hoạt động chứng khoán hoá
Hình 2: Mô hình chứng khoán hoá đơn giản
Trang 92.1.3.1 Tổ chức khởi tạo
Người khởi tạo là các doanh nghiệp tài chính hoặc phi tài chính có nhữngkhoản mục tài sản cần chứng khoán hoá Người khởi tạo vì những mục đích khácnhau mà tiến hành chứng khoán hoá khoản mục tài sản trên bảng cân đối tài sảncủa mình Ví dụ như khoản phải thu, khoản cho vay dài hạn, đầu tư dự án Mộtđặc điểm nhận thấy rõ ở đây là bản thân tổ chức khởi tạo không phải là ngườichịu trách nhiệm thanh toán khoản tiền khi đã chuyển quyền nhận các lợi ích từtài sản cho Trung gian đặc biệt Do đó, lợi thế đặc biệt khi phát hành các ABS(Assets Backed Security) là dù cho xếp hạng tín dụng của tổ chức khởi tạo thấpthì vẫn có thể phát hành những chứng khoán có chất lượng cao Ví dụ, tổ chứckhởi tạo chỉ xếp hạng Aab vẫn có thể phát hành những chứng khoán xếp hạngAAA Đồng thời do tài sản độc lập với tổ chức khởi tạo nên dù cho tổ chức khởitạo có vấn đề về tài chính hoặc lâm vào tình trạng phá sản thì vẫn không ảnhhưởng tới sự chuyển dịch của dòng tiền Đây được gọi là cơ chế phòng ngừa phásản (Bankcrupcy remoteness) trong quá trình chứng khoán hoá
Ngoài ra, việc xếp hạng chứng khoán cao không những giúp giảm chi phínguồn vốn mà còn cho phép các nhà đầu tư lớn như các công ty bảo hiểm, đốitượng thường bị cấm đầu tư vào các tài sản có tính lỏng hoặc xếp hạng thấp, cóthể mua các loại chứng khoán này
2.1.3.2 Trung gian đặc biệt (SPV)
Là một tổ chức độc lập hợp pháp (thường là các công ty tài chính, AMC,các quỹ tín thác ) với các biện pháp đặc biệt nhằm tăng tính hấp dẫn của các loạichứng khoán phát hành (tên tiếng Anh là Special Purpose Vehicle – sau đây tạmgọi là SPV) SPV mua lại quyền nhận các khoản phải thu từ tổ chức khởi tạo.Trên cơ sở những nhận định về con nợ của người khởi tạo, đồng thời với nhữngphân tích về tư cách tín dụng riêng đối với cả tổ chức khởi tạo lẫn khách hàngvay vốn SPV định ra một mức giá thích hợp cho khoản phải thu mà nó sẽ mualại ở đây SPV sẽ phải quan tâm tới lãi suất khoản vay, các khoản phí liên quan,phần bù rủi ro đối với khoản vay, tài sản thế chấp Sau đó trên cơ sở nhữngtính toán về thu nhập dự tính và đánh gía rủi ro nó sẽ phát hành chứng khoán cóthứ hạng khác nhau ra công chúng đầu tư Nói chung SPV cũng phải đáp ứngnhững yêu cầu pháp lý như vốn pháp định, điều lệ hoạt động
Trang 10Khi có một sự kiện rủi ro xảy ra dẫn tới sự phá sản của SPV thì những hợpđồng đang thực hiện vẫn sẽ tiếp tục cho đến khi kết thúc nhưng do một SPV kháchoặc tổ chức khởi tạo đảm nhận Đây cũng là một lá chắn bảo vệ các nhà đầu tư,tạo ra tính hấp dẫn của chứng khoán.
2.1.3.3 Nhà đầu tư
Trên thực tế thị trường cho các chứng khoán loại này (ABS) được pháthành hầu hết là các định chế tài chính hoặc phi tài chính, chỉ một số lượng khônglớn các nhà đầu tư cá nhân Các đối tượng này bao gồm các quỹ hưu trí, quỹtương trợ, công ty bảo hiểm, thậm chí các ngân hàng đâu tư ABS cung cấpcho giới đầu tư một công cụ tài chính có tính an toàn tương đối cao với lợi tứchợp lý mà khó có thể tìm được ở các loại chứng khoán do các tổ chức có thứhạng tín dụng thấp phát hành thêm vào đó số lượng lớn các nhà đầu tư đã tạo ramột vòng tuần hoàn ảo làm tăng tính lỏng cho thị trường ABS
Ngoài ra việc hạch toán ngoại bảng từ phía tổ chức khởi tạo cho phép nhà đầu tưtránh được rủi ro tín dụng liên quan tới người khởi tạo
2.1.3.4 Tổ chức cung cấp dịch vụ tăng cường tín dụng
Như đã nói chứng khoán hoá không thể thành công nếu không có sự bảolãnh của chính phủ Với sự tham gia của chính phủ thì khả năng thanh toán củachứng khoán là rất cao Trong trường hợp không có sự tham gia của chính phủthì các tổ chức tư nhân sẽ thay thế bằng các biện pháp tăng cường tín dụng Tăngcường tín dụng có hai hình thức là tăng cường tín dụng trong ( Internal CreditEnhancement) và tăng cường tín dụng ngoài Các tổ chức này sẽ thu phí thôngqua các cam kết hỗ trợ cho chương trình chứng khoán hoá
2.1.3.5 Cơ quan xếp hạng tín dụng
Là một tổ chức độc lập có thể thuộc về chính phủ hoặc giới tư nhân vớinhiệm vụ phân tích, đánh giá mức độ rủi ro xếp hạng các chứng khoán và cáccông ty Kết quả xếp hạng của họ là căn cứ để các nhà đầu tư ra quyết định Trênthị trường nợ thế chấp những chứng khoán phát hành có điểm tín dụng AAA sẽrất được ưa chuộng Nhưng có một mâu thuẫn là mặc dù là một cơ quan ra quyếtđịnh độc lập nhưng khi cho điểm một loại chứng khoán cơ quan này lại nhận phí
từ các SPV - đòi hỏi cơ quan này phải cân đối giữa quyền lợi của bản thân vớitrách nhiệm đối với giới đầu tư Cũng vì lý do này mặc dù thị trường chứng
Trang 11khoán phát triển rất cao trên toàn thế giới nhưng chỉ có duy nhất 4 cơ quan xếphạng (Duff &Philips, Fitch IBCA, Standard & Poor's, và Moody' s) Trong sốnày duy nhất S&P và Moody's có đủ tư cách và tín nhiệm để hoạt động toàn cầu
2.2 Chứng khoán hóa các khoản nợ tại các NHTM
2.2.1 Khái quát về chứng khoán hóa khoản nợ tại các NHTM
Chứng khoán hoá khoản nợ trong ngân hàng là hình thức mà trong đó ngânhàng đóng vai trò tổ chức khởi tạo cố gắng tập hợp các khoản mục tài sản củamình, sau đó đem chứng khoán hoá để bán ra thị trường-nó có tên gọi chung làCDO (Collateratized Debt Obligation) Thực chất của hình thức này là ABS(Asset Backed Security) nhưng tài sản để bảo đảm cho nó là một danh mục tráiphiếu hoặc khoản cho vay của ngân hàng Đồng thời trên cơ sở quy trình chứngkhoán hoá khoản nợ ngân hàng nói chung lại có 2 biến thái của CDO đó là :
+ CDO chênh lệch đặc trưng dưới hình thức CBO(Collateratized BondObligation) thường do ngân hàng khởi tạo mua khoản vay hoặc khoản nợ trên thịtrường sau đó đem chứng khoán hoá để hưởng những chênh lệch do bán lại nợ vàphí quản lý hoạt động thu tiền Đây là hình thức thuần tuý kinh doanh của ngânhàng
+ CDO trên bảng cân đối mà đặc trưng dưới hình thức CLO( Collateratized Loan Obligation) được thiết kế để loại một khoản vay ra khỏibảng cân đối nhằm đạt được trạng thái yêu cầu về vốn và nhằm tăng giá trị tàisản thông qua việc làm tăng tính lỏng của tài sản CLO là một công cụ cực kỳhữu hiệu đối với ngân hàng trong việc loại các khoản mục tài sản, đặc biệt là cáckhoản nợ tồn đọng, nợ xấu ra khỏi bảng cân đối tài sản nhằm đạt được trạng tháitài chính tốt hơn
Để làm hiểu rõ hơn cấu trúc CLO và động lực tiến hành ta cần có sự phânbiệt giữa CLO với các loại chứng khoán khác ở một số đặc điểm
*Số lượng của các khoản nợ được tập hợp vào danh mục cho vay khôngquá lớn như trong chứng khoán hoá các khoản cho vay ô tô hoặc thẻ tín dụng,thông thường 1 danh mục được tập hợp bao gồm 100-200 khoản vay
*Tính đồng nhất của khoản vay hoặc trái phiếu khá cao Tổ chức khởi tạophải cố gắng tập hợp các khoản vay sao cho có thể cung cấp cho danh mục chứngkhoán hoá những lợi ích và độ phân tán nhất định
Trang 12*Hầu hết cấu trúc của CDO là cấu trúc nhiều lớp, những lớp này có độ ưutiên khác nhau về dòng tiền, thời gian đáo hạn tuỳ thuộc vào nhu cầu của nhà đầu
tư Có một số lớp sẽ có mức rủi ro rất thấp do được bên thứ ba bảo lãnh và cónhững lớp sẽ chịu hầu hết các rủi ro cho các lớp xếp hạng trên nó
*Một đặc trưng khác là trong thời kỳ thanh toán có giai đoạn tái đầu tưđối với những khoản nợ được thanh toán sớm hoặc do bán tài sản
Nhìn chung, CDO cũng có những rủi ro và lợi ích nhất định mà khi thựchiện cả nhà đầu tư và tổ chức khởi tạo cần phải có những tính toán để đảm bảolợi ích cho riêng mình Về nội dung này ta sẽ làm rõ hơn ở phần quy trình chứngkhoán hoá
2.2.2 Nội dung chứng khoán hóa
2.2.2.1 Chuẩn bị giao dịch của tổ chức khởi tạo
a Chuẩn bị về mặt luật pháp
Cần phải nghiên cứu kỹ những văn bản của các bộ, ngành liên quan đếnnghiệp vụ chứng khoản hóa, những văn bản về quy chế mua bán nợ, việc thànhlập AMC, việc chuyển nợ từ ngân hàng sang AMC…
Theo quy định của một số nước, để khuyến khích một số thị trường tài sảnphát triển thì còn cần có những ưu đãi về thuế Đây cũng là điểm hết sức lưu ý vì
nó sẽ tạo ra những yếu tố pháp lý cần thiết cho chứng khoán hóa
b Chuẩn bị về mặt nội bộ:
Các ngân hàng phải chuẩn bị đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn, cókinh nghiệm, am hiểu về kinh tế thị trường, tiếp cận những kiến thức mới của thếgiới về xử lý nợ
Các ngân hàng cũng phải hiện đại hóa các trang thiết bị công nghệ củamình Trong lĩnh vực ngân hang nói chung và chứng khoán hóa nói riêng, nhữngtrang thiết bị này sẽ giúp nâng cao chất lượng hoạt động, đảm bảo tiến độ và tínhchính xác, cho phẹp đưa ra các kết quả khác nhau qua vận hành các mô hình trên
vi tính
Các ngân hàng cũng phải lường hết tính phức tạp của chứng khoán hóa cả
về mặt tính toán, tổ chức và có những chuẩn bị cần thiết để phòng ngừa nhữngrủi ro xấu nhất có thể gặp phải trong giao dịch
Trang 132.2.2.2 Chuẩn bị của SPV
a Quyết định cấu trúc của chứng khoản phát hành
Sau khi tổ chức khởi tạo là ngân hàng đưa ra đề nghị với SPV thì tổ chứcnày phải quyết định cấu trúc của chứng khoán phát hành
SPV phải tập hợp các khoản vay từ ngân hàng chuyển sang, phải phân loại,đánh giá chất lượng của các khoản vay hết sức chi tiết Nó cần phải xác địnhtrong đó có bao nhiêu phần trăm là các khoản nợ có lãi suất cố định, lãi suất điềuchỉnh Mỗi khoản này có những đặc điểm khác nhau về thời gian, phương thứcthanh toán và có những thỏa thuận riêng biệt Sau đó SPV tập hợp những tài sản
có tính đồng nhất vào thành các danh mục và phát hành các chứng khoản có thứhạng khác nhau ra thị trường
Hình 3: Phân lớp chứng khoán
Theo như mô hình đã đưa ra trên, sau khi tập hợp tài sản lại thành danh mụcthì phải chia chứng khoán thành các lớp theo cơ chế thẩm thấm dần hay cơ chếthác nước (waterfall) Theo cơ chế này danh mục tài sản sẽ được chia thành cáclớp nhỏ phù hợp với nhu cầu của nhà đầu tư và chất lượng của các loại tài sảnban đầu Tuy nhiên đây cũng là một yếu tố rất phức tạp trong việc đánh giá chínhxác mức độ rủi ro của chứng khoán
Chứng khoán có xếp hạng tín dụng cao nhất là A là chứng khoản có xếphạng rất cao, khả năng thanh toán nợ gốc và lãi suất đầy đủ và đúng hạn như đãcam kết Thông thường phần này được chia làm 2 đến 3 loại là: AAA, AA, A cóquyền ưu tiên trong thanh toán lãi suất và gốc so với các chứng khoán loại sau.Tuy nhiên lớp này thường có mức thu nhập dự tính không cao và có thời gianđáo hạn thấp nhất
AAA
AA A BBB BB B unrated
Danh mục cho
vay
Trang 14Chứng khoán thứ cấp hay lớp B và C (subordinate class) là loại chứngkhoán có xếp hạng tín dụng thấp hơn và sẽ phải chịu sự phân bổ rủi ro từ chứngkhoán ưu tiên chuyển xuống Trong mỗi kỳ thanh toán, thường loại này cũngphải thanh toán sau và trường hợp có sự kiện rủi ro tài chính xảy ra, cần thanh lýtài sản thì loại này cũng nhận sau lớp ưu tiên Ta thấy lớp thứ cấp sẽ gánh chịurủi ro rất lớn Do vậy để thu hút giới đầu tư, trên thực tế, người quản trị SPV cókinh nghiệm sẽ dành một số ưu tiên cho các lớp sau, ví dụ bằng cách thanh toánlãi suất cho lớp B còn lớp A sẽ được thanh toán vốn gốc trước.
Chứng khoán không phân loại (Unrated class-UC đôi khi gọi là Equity)thường chiếm một phần nhỏ của toàn bộ danh mục chứng khoán hoá Phần nàythường do tổ chức khởi tạo nắm giữ như một phần bắt buộc của chứng khoánhoá Phần này có thể tạo thêm thu nhập cho tổ chức khởi tạo trong trường hợptình hình chi trả tốt, ngược lại, có thể nó sẽ được dùng để chi trả cho các chứngkhoán đã phát hành
b Dự tính về dòng tiền cho các lớp chứng khoán
Việc phân bố dòng tiền cho các lớp chứng khoán của SPV là những quyếtđịnh hết sức linh họat tuỳ thuộc vào chính sách của nhà quản trị nhưng đồng thờicũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan khác Khi nhận được tiền theo phân
bố trên, SPV sẽ tính toán, trừ các chi phí của giao dịch và căn cứ vào cấu trúc,mức độ ưu tiên trong thanh toán, định ra lớp nào sẽ được thanh toán vốn gốc haylãi suất trước Trong trường hợp này ngoài việc phải đối mặt với rủi ro trả trước
và các rủi ro dẫn tới sự huỷ bỏ của một dòng tiền thì trên thực tế các khoản vay
sẽ được thanh toán theo nhiều hình thức khác nhau (đồng thời thanh toán theoniên kim hoặc theo trả gốc đều ) dẫn tới việc phân chia và tính toán các lớp, cácdòng tiền cũng hết sức phức tạp
c Thoả thuận về tăng cường tín dụng
▪ Lựa chọn hình thức tăng cường tín dụng
Với bất cứ nhà đầu tư nào dù ưa thích mạo hiểm cũng không muốn chấpnhận toàn bộ rủi ro từ chứng khoán hoá Do vậy thông qua SPV thường có cácbiện pháp tăng cường tín dụng nhằm đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư Thôngthường có 2 loại là tăng cường tín dụng trong và tăng cường tín dụng ngoài
Trang 15Tăng cường tín dụng ngoài: thường do một ngân hàng thứ 3 hoặc do công
ty bảo hiểm đứng ra bảo đảm Có những hình thức thông dụng sau:
+Thư tín dụng không thể huỷ ngang có thể do ngân hàng thứ 3 phát hànhcam kết sẽ thanh toán một phần của giá trị danh mục trong trường hợp có sự kiệnrủi ro xảy ra
+Bảo hiểm do tổ chức công ty bảo hiểm hoặc các công ty tài chính cungcấp nhằm hạn chế rủi ro trả sai hẹn của người đi vay Theo cách này tổ chức bảohiểm sẽ cam kết thanh toán cho các chứng khoán ở các lớp nhất định tuỳ theonăng lực của tổ chức đó Tuỳ theo chất lượng và số lượng của chứng khoán mà tổchức này sẽ nhận phí từ 8 cho đến > 50 điểm Hình thức này hiện nay tương đốithông dụng và có tốc độ phát triển nhanh
+Tài khoản tiền mặt thế chấp là một tài khoản do tổ chức khởi tạo hoặc domột bên thứ 3 đứng ra gửi một lượng tiền cần thiết bằng giá trị tăng cường tíndụng tiêu chuẩn Tài khoản này sẽ phục vụ cho quyền lợi của nhà đầu tư và sẽđược rút ra khi có sự kiện rủi ro nảy sinh
2.2.2.3 Thu và phân phối dòng tiền
Hình 4: Các hoạt động thu và phân phối luồng tiền
Hàng tháng có một luồng tiền do con nợ chuyển vào một tài khoản dongân hàng quản lý Ngân hàng lúc này sẽ đóng vai trò người cung cấp dịch vụ và
Cam kết
Trang 16nhận phí quản lý luồng tiền Sau đó ngân hàng sẽ chuyển tiền vào một tài khoảngọi là collection account do SPV là chủ sở hữu Đây sẽ là tài khoản đầu mối củatất cả các tài khoản khác và phân phối cho các đối tượng tham gia.
Quá trình thu tiền của SPV sẽ tập trung và thông qua tài khoản thu tiền.Các khoản phải này có thời hạn thanh toán, phương thức thanh toán khác nhaunhưng SPV chỉ thanh toán theo một số phương thức nhất định Do vậy nó sẽ phảithông qua các trung gian tài chính khác để hoán đổi tiền tệ nhằm đạt được ý địnhcần thiết
2.2.2.4 Tái đầu tư và thay thế tài sản
Vì danh mục tài sản của SPV là tập hợp của rất nhiều tài sản có thời hạnthanh toán khác nhau nên rủi ro thanh toán trước là tất yếu xảy ra với SPV Trongtrường hợp này việc tái đầu tư được thực hiện để lấp đầy khoảng trống do tài sản
đó để lại Thông thường có 3 hình thức tái đầu tư là:
+Tái đầu tư cam kết là hình thức SPV tái đầu tư vào các đối tượng thamgia hợp đồng như một sự đánh đổi cho những dịch vụ mà các đối tác cung cấp
+Mua những khoản nợ khác là hình thức tương đối phổ biến Theo đóSPV sẽ mua nhưng khoản nợ mới để tạo ra dòng tiền mới và liên tục cho nhữngnhà đầu tư nắm giữ chứng khoán phát hành của danh mục
+Đầu tư chứng khoán là hình thức SPV dùng tiền mua những chứngkhoán lấp vào danh mục tài sản và dùng dòng tiền từ chứng khoán đầu tư sẽ bổsung cho phân phối dòng tiền
2.2.3 Điều kiện để một NHTM tiến hành kỹ thuật chứng khoán hóa
+ Phải có các tài sản liên quan tương hợp về đặc tính và chất lượng:
Một yếu tố đảm bảo sự thành công của kỹ thuật chứng khoán hóa là cáctài sản liên quan phải có sự tương hợp về đặc tính và chất lượng Cho đến nayhầu hết các tài khoản được thực hiện chứng khoán hóa đều cho những luồngngân khoản định kỳ theo các hợp đồng hau các thỏa thuận xác định việc chi trảdần, thời biểu chi trả và lợi suất liên quan
+ Các định chế tài chính thực hiện việc chứng khoán hóa phải thiết lập những hệ thống phức tạp phù hợp và năng lực công nghệ thông tin:
Các định chế tài chính thực hiện việc chứng khoán hóa phải thiết lậpnhững hệ thống phức tạp phù hợp và năng lực công nghệ thông tin đủ đảm rằng
Trang 17danh mục tài sản liên quan được quản lý và giám sát tại mọi thời điểm Phân tíchdanh mục tài sản là một trong những biện pháp đánh giá mức độ tín nhiệm cầnthiết để có thể thực hiện kỹ thuật này Đồng thời, thông tin cũng là một yếu tốthiết yếu phục vụ cho việc phân tích cũng như việc giám sát diễn biến của danhmục tài sản và chứng khoán các khoản liên quan.
2.2.4 Các tài sản chứng khoán hóa trong NHTM
2.2.4.1 MBSs: chứng khoán hóa dựa trên tài sản thế chấp cho vay
MBS là chữ viết tắt của các từ Mortgage Backed Securities, là một
loại chứng khoán có đảm bảo bằng tài sản thế chấp Mortgage-Backed
Securities-MBS Là loại chứng khoán được phát hành dựa trên cơ sở một hoặcmột nhóm các khoản thế chấp
Để hiểu rõ về công cụ MBS trước hết chúng ta cần hiểu về công cụ Hợpđồng cho vay có thế chấp, hoặc thế chấp (mortgage), là cơ sở hình thành nêncông cụ MBS trong hoạt động chứng khoán
Hợp đồng cho vay có thế chấp được coi là một công cụ nợ, là một khoảncho vay được đảm bảo bằng một loại tài sản cụ thể, thông thường là bất độngsản Nếu người đi vay không thanh toán được các khoản vay theo hợp đồng thìngười cho vay được quyền nắm giữ tài sản thế chấp và bán đi để trang trải khoảncho vay Khi người vay thanh toán hết các khoản nợ đúng hạn, khoản thế chấpnày sẽ được dỡ bỏ
Trên cơ sở đó, chứng khoán có đảm bảo bằng thế chấp là một loại chứng
khoán phái sinh có tài sản, công cụ cơ sở là các khoản thế chấp nêu trên thôngqua quá trình chứng khoán hóa
Thông qua việc chứng khoán hóa như vậy, các hợp đồng cho vay đã trởthành công cụ được giao dịch rộng rãi và có tính thanh khoản, khác hẳn với tínhchất trước đó Điểm đáng chú ý ở đây là, các MBS từ đây có thể được giao dịch
và chuyển giao không cần sự tham gia của bên thứ ba ngoài hai bên mua và bán.Các quyền đối với khoản cho vay đã được chuyển từ người này sang người khácchỉ cần sự thỏa thuận của bên mua và bán mà không cần sự có mặt của người đivay
Tuy nhiên, đầu tư vào MBS cũng ẩn chứa rất nhiều rủi ro vì đằng sau nó
là rủi ro vỡ nợ của người đi vay Một chỉ tiêu quan trọng đo lường vấn đề này là