Chức năng của thị trường chứng khoán Việt Nam - TTCK là một kênh huy động vốn cho nền kinh tế; - TTCK cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng; - TTCK tạo tính thanh khoản cho các chứng
Trang 1CHƯƠNG I HUY ĐỘNG VỐN QUA TTCK – NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Quy trình, thủ tục phát hành chứng khoán ra công chúng.
Thông thường việc phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng được thực hiện theo các bước sau:
Tổ chức đại hội cổ đông để xin ý kiến chấp thuận của đại hội cổ đông về việc phát hànhchứng khoán ra công chúng, đồng thời thống nhất mục đích huy động vốn; số lượng vốncần huy động; chủng loại và số lượng chứng khoán dự định phát hành; cơ cấu vốn pháthành dự tính phân phối cho các đối tượng: Hội đồng quản trị, cổ động hiện tại, ngườilao động trong doanh nghiệp, người bên ngoài doanh nghiệp, người nước ngoài…
- Hội đồng quản trị ra quyết định thành lập ban chuẩn bị cho việc xin phép phát hànhchứng khoán ra công chúng Chức năng chủ yếu của ban chuẩn bị là chuẩn bị các hồ sơxin phép phát hành để nộp lên cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trườngchứng khoán; lựa chọn tổ chức bảo lãnh phát hành (nếu cần), công ty kiểm toán và tổchức tư vấn và cùng với các tổ chức này xây dựng phương án phát hành và dự thảo bảncáo bạch để cung cấp cho các nhà đầu tư
- Ban chuẩn bị lựa chọn người đứng đầu tổ hợp bảo lãnh phát hành Trong phần lớn cáctrường hợp phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng, để đảm bảo sự thành côngcủa đợt phát hành thì tổ chức phát hành phải chọn ra được một tổ chức bảo lãnh pháthành Tổ chức bảo lãnh phát hành với uy tín và mạng lưới rộng lớn của mình sẽ giúpcho việc phân phối chứng khoán của tổ chức phát hành diễn ra một cách suôn sẻ Chính
vì vậy, khi tiến hành phát hành chứng khoán ra công chúng thì việc lựa chọn tổ chứcbảo lãnh phát hành có ý nghĩa rất quan trọng, và mang tính quyết định đến sự thành bạicủa đợt phát hành
- Người đứng đầu tổ hợp bảo lãnh phát hành lựa chọn các thành viên khác của tổ hợp.Trong trường hợp khối lượng chứng khoán phát hành là quá lớn, vượt quá khả năng củamột tổ chức bảo lãnh phát hành thì tổ chức bảo lãnh phát hành chính (tổ chức bảo lãnh
đã được lựa chọn) sẽ đứng ra lựa chọn các thành viên khác để cùng với mình tiến hànhbảo lãnh cho toàn bộ đợt phát hành
Trang 2- Ban chuẩn bị cùng với tổ hợp bảo lãnh phát hành, công ty kiểm toán và tổ chức tư vấntiến hành định giá chứng khoán phát hành Định giá chứng khoán là khâu khó khăn nhất
và phức tạp nhất khi tiến hành phát hành chứng khoán ra công chúng Nếu định giáchứng khoán quá cao thì sẽ khó khăn trong việc bán chứng khoán, còn nếu định giáchứng khoán quá thấp thì sẽ làm thiệt hại cho tổ chức phát hành Vì thế, việc định giáchứng khoán một cách hợp lý sao cho người mua và người bán đều chấp nhận được làhết sức quan trọng và cần phải được phối hợp của tổ chức bảo lãnh, công ty kiểm toán
và tổ chức tư vấn của công ty
- Chính thức thành lập tổ hợp bảo lãnh phát hành và ký hợp đồng bảo lãnh phát hànhvới tổ chức phát hành
- Công ty kiểm toán xác nhận các báo cáo tài chính trong hồ sơ xin phép phát hành
- Tổ chức phát hành nộp hồ sơ lên Uỷ ban chứng khoán Thông thường tổ chức pháthành sẽ được trả lời về việc cấp hay từ chối cấp giấy phép trong một thời hạn nhất định
kể từ ngày nộp hồ sơ xin phép phát hành đầy đủ và hợp lệ Trong thời gian chờ Uỷ banchứng khoán Nhà nước xem xét hồ sơ, tổ chức phát hành có thể sử dụng nội dung trongbản cáo bạch sơ bộ để thăm dò thị trường
- Sau khi được cấp phép phát hành, tổ chức phát hành phải ra thông báo phát hành trêncác phương tiện thông tin đại chúng, đồng thời công bố ra công chúng bản cáo bạchchính thức và việc thực hiện việc phân phối chứng khoán trong một thời gian nhất định
kể từ khi được cấp giấy phép Thời hạn phân phối được qui định khác nhau đối với mỗinước ở Việt nam, theo qui định tại Nghị định 48/Chính phủ về chứng khoán và thịtrường chứng khoán thì thời hạn này là 90 ngày, trong trường hợp xét thấy hợp lý vàcần thiết, Uỷ ban chứng khoán nhà nước có thể gia hạn thêm
- Tiến hành đăng ký, lưu giữ, chuyển giao và thanh toán chứng khoán sau khi kết thúc đợt phân phối chứng khoán
- Sau khi hoàn thành việc phân phối chứng khoán, tổ chức phát hành cùng với tổ chứcbảo lãnh phát hành phải báo cáo kết quả đợt phát hành cho Uỷ ban chứng khoán và tiếnhành đăng ký vốn với cơ quan có thẩm quyền
- Trường hợp tổ chức phát hành có đủ điều kiện niêm yết thì có thể làm đơn xin niêmyết gửi lên Uỷ ban chứng khoán và Sở giao dịch chứng khoán nơi công ty niêm yết
Trang 31.2 Điều kiện huy động vốn qua TTCK.
Mỗi nước có những qui định riêng cho việc phát hành chứng khoán lần đầu ra côngchúng Tuy nhiên, để phát hành chứng khoán ra công chúng thông thường tổ chức pháthành phải đảm bảo năm điều kiện cơ bản sau:
- Về qui mô vốn: tổ chức phát hành phải đáp ứng được yêu cầu về vốn điều lệ tối thiểu
ban đầu, và sau khi phát hành phải đạt được một tỷ lệ phần trăm nhất định về vốn cổphần do công chúng nắm giữ và số lượng công chúng tham gia
- Về tính liên tục của hoạt động sản xuất kinh doanh: công ty được thành lập và hoạt
động trong vòng một thời gian nhất định (thường khoảng từ 3 đến 5 năm)
- Về đội ngũ quản lý công ty: công ty phải có đội ngũ quản lý tốt, có đủ năng lực và
trình độ quản lý các hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty
- Về hiệu quả sản xuất kinh doanh: công ty phải làm ăn có lãi với mức lợi nhuận
không thấp hơn mức qui định và trong một số năm liên tục nhất định (thường từ 2-3năm)
- Về tính khả thi của dự án: công ty phải có dự án khả thi trong việc sử dụng nguồn
vốn huy động được
Tuy nhiên, các nước đang phát triển thường cho phép một số trường hợp ngoại lệ, tức là
có những doanh nghiệp sẽ được miễn giảm một số điều kiện nêu trên, ví dụ: doanhnghiệp hoạt động trong lĩnh vực công ích, hạ tầng cơ sở có thể được miễn giảm điềukiện về hiệu quả sản xuất kinh doanh
ở Việt Nam, theo qui định của Nghị định 48/1998/-NĐ-CP về chứng khoán và thịtrường chứng khoán và Thông tư 01/1998/TT-UBCK hướng dẫn Nghị định 48/1998/-NĐ-CP, tổ chức phát hành phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng phải đáp ứng đượccác điều kiện sau:
- Mức vốn điều lệ tối thiểu là 10 tỷ đồng Việt Nam;
- Hoạt động kinh doanh có lãi trong 2 năm liên tục gần nhất;
- Thành viên Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc) có kinh nghiệm quản lýkinh doanh
Trang 4- Có phương án khả thi về việc sử dụng vốn thu được từ đợt phát hành cổ phiếu.
- Tối thiểu 20% vốn cổ phần của tổ chức phát hành phải được bán cho trên 100 ngườiđầu tư ngoài tổ chức phát hành; trường hợp vốn cổ phần của tổ chức phát hành từ 100 tỷđồng trở lên thì tỷ lệ tối thiểu này là 15% vốn cổ phần của tổ chức phát hành
- Cổ đông sáng lập phải nắm giữ ít nhất 20% vốn cổ phần của tổ chức phát hành và phảinắm giữ mức này tối thiểu 3 năm kể từ ngày kết thúc đợt phát hành
- Trường hợp cổ phiếu phát hành có tổng giá trị theo mệnh giá vượt 10 tỷ đồng thì phải
có tổ chức bảo lãnh phát hành
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN QUA TTCK VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2000-2008
Trang 52.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển TTCK
Thị trường chứng khoán là một thị trường mà ở nơi đó người ta giao dịch muabán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận Tuynhiên, đó có thể là TTCK tập trung hoặc phi tập trung Tính tập trung ở đây là muốn nóiđến việc các giao dịch được tổ chức tập trung theo một địa điểm vật chất
Hình thái điển hình của TTCK tập trung là Sở giao dịch chứng khoán ( Stockexchange) Tại Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK), các giao dịch được tập trung tạimột địa điểm; các lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình ghéplệnh để hình thành nên giá giao dịch
TTCK phi tập trung còn gọi là thị trường OTC (over the counter) Trên thị trườngOTC, các giao dịch được tiến hành qua mạng lưới của hàng loạt các công ty chứngkhoán phân tán trên khắp quốc gia và được nối với nhau bằng mạng điện tử Giá trên thịtrường này được hình thành chủ yếu theo phương thức thoả thuận
Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh dấu bằng việc đưa vàovận hành Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh vào ngày 20/07/2000
Để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 phấn đấu đưa Việt Nam trở thành một nướccông nghiệp phát triển đòi hỏi trong nước phải có một nguồn vốn lớn để đáp ứng nhucầu ngày càng cao của nền kinh tế Vì vậy, Việt Nam cần phải có chính sách huy độngtối đa mọi nguồn lực tài chính trong và ngoài nước để chuyển các nguồn vốn nhàn rỗitrong nền kinh tế thành nguồn vốn đầu tư và thị trường chứng khoán tất yếu sẽ ra đời vì
nó giữ vai trò quan trọng đối với việc huy động vốn trung và dài hạn cho hoạt động kinh
tế
Nhận thức rõ việc xây dựng thị trường chứng khoán là một nhiệm vụ chiến lược
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với tiến trình xây dựng và phát triển đất nước, trướcyêu cầu đổi mới và phát triển kinh tế, phù hợp với các điều kiện kinh tế – chính trị và xãhội trong nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, trên cơ sở tham khảo có chọn lọc cáckinh nghiệm và mô hình thị trường chứng khoán trên thế giới, thị trường chứng khoánViệt Nam đã ra đời
Trang 6Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh dấu bằng việc đưa vàovận hành Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh ngày 20/07/2000 và thựchiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000
Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán chứngkhoán Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua đượcchứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở những thị trường thứ cấp khi có sựmua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp
1 Chức năng của thị trường chứng khoán Việt Nam
- TTCK là một kênh huy động vốn cho nền kinh tế;
- TTCK cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng;
- TTCK tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán;
- TTCK đánh giá hoạt động của các chủ thể phát hành chứng khoán;
- TTCK tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô
2 Vai trò của thị trường chứng khoán Việt Nam
- TTCK là công cụ khuyến khích dân chúng tiết kiệm và thu hút mọi nguồn vốnnhàn rỗi vào đầu tư
- TTCK là phương tiện huy động vốn
- TTCK là công cụ làm giảm áp lực lạm phát
- TTCK thúc đẩy các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả hơn
- TTCK tạo thói quen về đầu tư
- TTCK thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài
Trang 73 Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán
* Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN)
UBCKNN thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứngkhoán
* Sở Giao dịch chứng khoán
Sở giao dịch chứng khoán là cơ quan thực hiện vận hành thị trường và ban hànhnhững quyết định điều chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán trên Sở phù hợp vớicác quy định của luật pháp và UBCKNN
* Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (TTGDCK)
TTGDCK có chức năng tổ chức, quản lý, điều hành và giám sát hệ thống giaodịch và các hoạt động mua, bán chứng khoán trên thị trường
* Công ty chứng khoán (CTCK)
CTCK là tổ chức tài chính trung gian thực hiện một hoặc một số nghiệp vụ kinhdoanh chứng khoán bao gồm: môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, lưu ký chứngkhoán Công ty chứng khoán Kim Long là công ty chứng khoán thứ 19 được cấp phép
và hiện đang hoạt động trên Thị trường chứng khoán Việt Nam
* Các tổ chức phát hành chứng khoán
Các tổ chức được phép phát hành chứng khoán ở Việt Nam gồm: Chính phủ, chínhquyền địa phương, các công ty cổ phần, các quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lýquỹ
* Nhà đầu tư chứng khoán
Nhà đầu tư là những cá nhân hay tổ chức tham gia mua và bán chứng khoán trênthị trường chứng khoán Các tổ chức đầu tư có thể là các công ty đầu tư, công ty bảohiểm, công ty tài chính, ngân hàng thương mại và các công ty chứng khoán
* Các tổ chức có liên quan khác
Trang 8- Các ngân hàng thương mại;
- Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán;
- Các tổ chức tài trợ chứng khoán:
4 Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán hoạt động theo các nguyên tắc cơ bản sau:
Nguyên tắc cạnh tranh: giá cả trên thị trường phản ánh quan hệ cung cầu về
chứng khoán và các đối tượng tham gia trên thị trường được cạnh tranh bình đẳng vớinhau
Nguyên tắc công bằng: mọi người tham gia thị trường đều phải tuân thủ những
quy định chung, được bình đẳng trong việc chia xẻ thông tin
Nguyên tắc công khai: công khai về hoạt động của tổ chức phát hành, giao dịch
của các loại chứng khoán trên thị trường
Nguyên tắc trung gian: mọi hoạt động mua bán chứng khoán đều phải thực hiện
thông qua tổ chức trung gian là các công ty chứng khoán được phép hoạt động trên thịtrường
Nguyên tắc tập trung: mọi giao dịch đều tập trung tại Trung tâm giao dịch chứng
khoán để đảm bảo việc hình thành giá cả trung thực, hợp lý
5 Cấu trúc và phân loại cơ bản của thị trường chứng khoán
* Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn
Thị trường chứng khoán được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
Thị trường sơ cấp: là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành Trên
thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việcnhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành
Trang 9Thị trường thứ cấp: là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị
trường sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành
* Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường
Thị trường chứng khoán được phân thành thị trường tập trung (Sở giao dịchchứng khoán) và phi tập trung (thị trường OTC)
* Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường
Thị trường chứng khoán cũng có thể được phân thành các thị trường: thị trường
cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh
Thị trường cổ phiếu: thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch và mua bán các
loại cổ phiếu, bao gồm cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi
Thị trường trái phiếu: thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch và mua bán
các trái phiếu đã được phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu công ty, tráiphiếu đô thị và trái phiếu chính phủ
Thị trường các chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại
các chứng từ tài chính khác như: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyềnchọn
2.2 Thực trạng huy động vốn qua TTCK Việt Nam
Sau gần 8 năm kể từ ngày Trung tâm giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh(Hose 20/7/2000), và gần 4 năm của Trung tâm giao dịch chứng khoán TP Hà Nội(Hastc) chính thức khai trương và đi vào hoạt động thị trường chứng khoán Việt Nam
đã được hình thành và phát triển với sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước
Tính đến nay đã có 385 công ty niêm yết là 300.000 tỷ đồng Thị trường chứngkhoán đã huy động được một khối lượng vốn nhất định cho ngân sách nhà nước thôngqua việc đấu thầu và bảo lãnh phát hành nhiều nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ, tráiphiếu của Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển để niêm yết trên TTGDCK Một hệ thống các tổchức tài chính trung gian tham gia trên thị trường với hàng trăm công ty chứng khoán,
30 các tổ chức hoạt động lưu ký cùng với ngân hàng lưu ký, ngân hàng chỉ định thanh
Trang 10toán đã thực hiện tốt các nghiệp vụ về kinh doanh chứng khoán, về lưu ký, đăng ký vàthanh toán bù trừ Trong những năm qua, các công ty chứng khoán đều đã triển khaiđược các nghiệp vụ cơ bản là môi giới và tự doanh, tích cực tham gia tư vấn niêm yếtvới kết quả kinh doanh có chiều hướng phát triển tốt Các công ty phần lớn đã mở thêmchi nhánh và đại lý nhận lệnh để mở rộng phạm vi hoạt động Trong năm 2003, Thủtướng Chính phủ đã chấp thuận cho thành lập Công ty Liên doanh quản lý Quỹ đầu tưchứng khoán đầu tiên tại Việt Nam nhằm giúp cho hoạt động đầu tư vào thị trườngchứng khoán đa dạng và mang tính chuyên nghiệp hơn Đồng thời thị trường chứngkhoán đã thu hút được sự tham gia của công chúng đầu tư trong và ngoài nước với sốlượng 36.226 tài khoản của nhà đầu tư được mở tại các công ty chứng khoán, góp phầnquan trọng cho sự tồn tại và phát triển của thị trường chứng khoán
Tuy nhiên so với tiềm năng phát triển của nền kinh tế, xu hướng hội nhập quốc tếthì quy mô của thị trường chứng khoán Việt Nam còn quá nhỏ bé, tổng giá trị chứngkhoán niêm yết (cổ phiếu và trái phiếu tính theo mệnh giá) mới chỉ chiếm khoảng trên45% GDP năm 2007, cũng phần nào đáp ứng được nhu cầu huy động vốn trung và dàihạn cho nền kinh tế và chưa tổ chức được thị trường thứ cấp hiệu quả đối với trái phiếu,đặc biệt là trái phiếu Chính phủ Thị trường chứng khoán đã trải qua nhiều biến độngthăng trầm "sốt nóng và nguội lạnh" gây tâm lý dè dặt và thiếu niềm tin cho nhà đầu tưtham gia thị trường Công tác tạo hàng hoá cho thị trường gặp nhiều khó khăn, số lượngcác công ty niêm yết trên thị trường cũng đã gần 400 công ty nhưng chất lượng chưacao Thị trường trái phiếu trong thời gian qua hoạt động chưa có hiệu quả cao, chưa thuhút được sự quan tâm của các nhà đầu tư v.v
Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng trên? Trước hết, phải nói rằng thị trườngchứng khoán là một thị trường mới nên công chúng đầu tư chưa thực sự hiểu biết vềhoạt động chứng khoán, cũng như chưa thấy được lợi ích của việc tham gia thị trường.Trong khi đó sự thiếu vắng các nhà đầu tư có tổ chức (bảo hiểm, quỹ đầu tư, các tổ chứcđầu tư chứng khoán chuyên nghiệp) trên thị trường đã ảnh hưởng đến tính ổn định củathị trường bởi tác động tâm lý của các nhà đầu tư nhỏ, thiếu tính chuyên nghiệp Cácdoanh nghiệp Việt Nam còn mang nặng tư tưởng của cơ chế bao cấp, còn trông chờ vàonguồn vay ưu đãi, chưa muốn huy động vốn trên thị trường chứng khoán Nhiều doanhnghiệp lại e ngại kiểm toán và công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, và sựthiếu vắng các doanh nghiệp lớn ra niêm yết trên thị trường chứng khoán đã không hấpdẫn các nhà đầu tư, do vậy, hàng hoá trên thị trường còn thiếu về số lượng và hạn chế
Trang 11về chất lượng Thêm vào đó, tiến trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước chưagắn kết được với việc phát chứng khoán ra công chúng và niêm yết trên thị trườngchứng khoán; các chính sách khuyến khích, ưu đãi, đặc biệt là ưu đãi về thuế đối với các
tổ chức tham gia thị trường chưa được chú ý đúng mức có ảnh hưởng không nhỏ đến sựvận hành và phát triển của thị trường chứng khoán Mặt khác, việc quản lý và điều hànhthị trường còn bất cập, hạn chế do sự thiếu chủ động và thiếu kinh nghiệm thực tiễn của
cơ quan quản lý và giám sát thị trường Điều rất quan trọng là hệ thống pháp luật vềchứng khoán và thị trường chứng khoán thiếu đồng bộ và hiệu lực pháp lý không cao,chưa có Luật chứng khoán để tạo môi trường pháp lý đầy đủ, ổn định để điều chỉnhmọi hoạt động trên thị trường chứng khoán phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay vàđịnh hướng, chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đến năm 2010trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế v.v
Hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của thị trường chứng khoánhiện nay ở Việt Nam
Các văn bản pháp luật hiện hành chủ yếu điều chỉnh hoạt động của thị trườngchứng khoán bao gồm: Nghị định số 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 (thay thế Nghịđịnh 48/1998/NĐ-CP của Chính phủ ngày 11/7/1998 về chứng khoán và thị trườngchứng khoán); Nghị định số 22/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10/7/2000 về xử lý viphạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán: Nghị định số64/2002/NĐ/CP về cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước: Luật doanh nghiệp banhành ngày 12/6/1999 cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành bước đầu đã tạo đượckhung pháp lý góp phần xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán trong thời gianqua Tuy nhiên, do sự phát triển của nền kinh tế nói chung và thị trường chứng khoánViệt Nam nói riêng, đến nay, hệ thống pháp luật về chứng khoán và thị trường chứngkhoán đã bộc lộ những điểm hạn chế nhất định làm cản trở sự phát triển của thị trường,chưa bao quát và phù hợp với điều kiện thực tế cũng như định hướng chiến lược pháttriển thị trường chứng khoán đến năm 2010
Hơn nữa, do chưa có Luật chứng khoán nên hệ thống các văn bản pháp luật vềchứng khoán và thị trường chứng khoán ở tầm Nghị định chưa mang tính pháp lý cao,chưa đồng bộ, do vậy không thể giải quyết được một cách triệt để những mâu thuẫn vớicác văn bản pháp luật khác có liên quan Phạm vi điều chỉnh của các văn bản pháp luật
về chứng khoán và thị trường chứng khoán còn hẹp, chưa bao quát và điều chỉnh thống
Trang 12nhất việc phát hành chứng khoán ra công chúng, các hoạt động kinh tế chứng khoán củacác đối tượng tham gia thị trường, chưa tạo cơ sở pháp lý cao cho hoạt động của các tổchức dịch vụ chứng khoán v.v
Vì vậy, việc xây dựng Luật Chứng khoán sẽ tạo ra một môi trường pháp lý ổnđịnh, vững chắc và thuận lợi cho cơ quan quản lý cũng như mọi tổ chức, cá nhân thamgia hoạt động trên thị trường, tạo tâm lý yên tâm cho các tổ chức, cá nhân khi tham giakinh doanh, đầu tư vào thị trường chứng khoán và từ đó thu hút được các tổ chức, cánhân trong và ngoài nước tham gia Đồng thời Luật Chứng khoán sẽ tạo cơ sở pháp lýcho thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển an toàn, lãnh mạnh và có hiệu quả,nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước đối với hoạt động chứng khoán, bảo vệ quyền, lợiích của các chủ thể tham gia thị trường, góp phần xây dựng và phát triển thị trườngchứng khoán Việt Nam trở thành một kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng vàthiết yếu đáp ứng cho công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước
Chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển thị trường chứng khoán và hoànthiện hệ thống pháp luật về chứng khoán
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 9 của Đảng đề ra đường lối, chiếnlược phát triển thị trường chứng khoán là "thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từngbước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng xã hôi chủ nghĩa, đặc biệt quan tâmđến các loại thị trường quan trọng nhưng hiện chưa có hoặc còn sơ khai như: thị trườnglao động, thị trường chứng khoán v.v
Cụ thể hơn, Nghị quyết đã chỉ rõ: Giai đoạn 2001 - 2005, Đảng ta chủ trương
"phát triển thị trường vốn và tiền tệ với các hình thức đa dạng thích hợp, bao gồm hệthống ngân hàng, thể chế tài chính phi ngân hàng, công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư vàbảo lãnh đầu tư nhằm thu hút các nguồn vốn trong xã hội, mở rộng nguồn vốn trung
và dài hạn Triển khai an toàn và từng bước mở rộng phạm vi hoạt động của thị trườngchứng khoán" Giai đoạn 2001-2010, nhiệm vụ trọng tâm là "tạo lập đồng bộ các yếu tốthị trường; đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước: Phát triển thịtrường vốn và tiền tệ, nhất là thị trường vốn trung và dài hạn Tổ chức và vận hành antoàn, hiệu quả thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm, từng bước mở rộng quy mô
và phạm vi hoạt động, kể cả việc thu hút vốn nước ngoài"
Trang 13Các quan điểm, chủ trương của Đảng, Quốc hội, Chính phủ về phát triển thịtrường vốn thị trường chứng khoán đã được cụ thể hoá trong Nghị quyết, Chỉ thị vàQuyết định, như Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hànhngày 17/9/2001về chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001 -
2010 có nêu: "Trong 5 năm tới, chú trọng một số thể chế về thị trường vốn và tiền tệ, thịtrường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường khoa học và công nghệ, thịtrường lao động, thị trường dịch vụ" v.v Đồng thời, việc xây dựng Luật Chứng khoán
đã được đưa vào trong chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ
XI (2002-2007) được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 12/2002/QH11 ngày16/12/2002 Gần đây Quyết định số 163/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đến năm 2010 cũng đãcũng đã đề ra mục tiêu "Ban hành động bộ hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạtđộng thị trường chứng khoán theo hướng bao quát, toàn diện phù hợp với thị trường.Xây dựng Luật Chứng khoán trình Quốc hội thông qua vào năm 2005" Mới đây Nghịquyết Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã ghi rõ "Hoànthiện và mở rộng nhanh hoạt động của thị trường chứng khoán để sớm trở thành mộtkênh huy động vốn có hiệu quả cho đầu tư phát triển Khuyến khích, tạo điều kiện chocác doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp lớn của Nhà nước, hoạt động có hiệu quảchuyền thành công ty cổ phần, phát hành cổ phiếu, trái phiếu, tham gia thị trường chứngkhoán" Như vậy việc xây dựng Luật Chứng khoán để tạo môi trường pháp lý thuận lợicho thị trường chứng khoán phát triển là hết sức cần thiết phù hợp với quan điểm đổimới của Đảng và Nhà nước
Yêu cầu phát triển thị trường chứng khoán phù hợp với thông lệ và quá trình hộinhập quốc tế
Các nước trong quá trình xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán đều chútrọng việc xây dựng khuôn khổ pháp lý có hiệu lực cao để điều chỉnh các hoạt động củathị trường chứng khoán Kinh nghiệm của các nước có thị trường chứng khoán pháttriển và hoạt động có hiệu quả cho thấy hệ thống pháp luật về chứng khoán và thịtrường chứng khoán tương đối hoàn chỉnh và đóng một vai trò hết sức quan trọng trongquá trình phát triển thị trường chứng khoán Các nước này cũng đã xây dựng hệ thốngpháp luật về thị trường chứng khoán dựa trên những điều kiện về kinh tế - xã hội, tậpquán, cơ chế quản lý và trình độ phát triển thị trường chứng khoán của mình cũng nhưkinh nghiệm, thông lệ chung và xu hướng phát triển thị trường chứng khoán của các