1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Học thuyết “tam tòng”, “tứ đức” và ảnh hưởng của nó đối với phụ nữ việt nam hiện nay

67 1,6K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Học thuyết “Tam Tòng”, “Tứ Đức” Và Ảnh Hưởng Của Nó Đối Với Phụ Nữ Việt Nam Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học XYZ
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 523,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu đề tài: Vấn đề ảnh hưởng của học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức” trong Nho giáo đối với người phụ nữ Việt Nam hiện nay đã thu hút được sự quan tâm và chú ý của nhiều

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Phương Đông là chiếc nôi lớn của văn minh nhân loại, cùng với Ấn

Độ, Trung Quốc là một trong những trung tâm văn hóa rực rỡ, phong phú

và cổ xưa nhất của nền văn minh ấy, nhiều phát kiến, nhiều triết gia, học thuyết kinh điển đã từ trung tâm văn hóa này mà sinh ra

Trong số các học thuyết lớn đó phải kể đến trường phái triết học Nho giáo, lúc đầu nó chỉ là những tư tưởng hay tri thức bàn về văn chương, lục nghệ góp phần trị nước Đến thời Khổng Tử, ông đã hệ thống những tư tưởng và tri thức rời rạc trước đây thành một học thuyết hoàn chỉnh gọi là

Nho học hay “Khổng học”

Nho học là một bộ phận cấu thành triết học Trung Quốc cổ trung đại, đóng vai trò quan trọng trong việc trở thành hệ tư tưởng độc tôn của chế độ phong kiến, nó chuyên đi sâu giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị - đạo đức của xã hội với nội dung bao trùm là vấn đề con người Đây cũng

có thể xem là một nét đặc trưng cơ bản của triết học Trung Quốc, vì vậy, khi du nhập vào Việt Nam Nho giáo đã dần thích nghi và ngày càng phát triển mạnh mẽ Nó ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống văn hóa tinh thần người

Việt, trong đó phải kể đến học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức”

Trong hệ thống tư tưởng triết học Nho giáo, người phụ nữ không được coi trọng, họ không hề có quyền lợi đối với bản thân, cũng như xã hội Nhưng những tư tưởng tiến bộ của thời đại đã giải phóng người phụ nữ

và đem cho họ quyền tự do và bình đẳng đối với nam giới Vì vậy, trong Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định vai trò của người phụ nữ trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước: Con người là yếu tố quan trọng hàng đầu, trong đó người phụ nữ là lực lượng đông đảo, nắm vai trò to lớn trong gia đình và ngoài xã hội

Trang 2

Khi Việt Nam bước sang thời kỳ đổi mới với nhiều thay đổi lớn lao trên mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa đã dẫn đến những thay đổi về yêu cầu, những đòi hỏi, những tiêu chí đánh giá của xã hội về người phụ nữ Người phụ nữ trong thời hiện đại phải là người phụ nữ nổi trội hơn, tài giỏi hơn, tích cực tham gia các công tác xã hội, đảm đang việc gia đình… Bên cạnh những nét đẹp hiện đại, người phụ nữ vẫn cần phải giữ gìn những nét đẹp truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam Học

thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức” được xem là một trong số những nét đẹp đó,

loại trừ những ảnh hưởng tiêu cực, nó góp phần làm nên nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam Trong giai đoạn quốc tế hóa, toàn cầu hội nhập kinh tế, thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa, người phụ nữ Việt Nam cần khắc phục quan niệm “Tam tòng” và tiếp thu vận dụng “Tứ đức” (công – dung – ngôn – hạnh) như thế nào là

một vấn đề có ý nghĩa thiết thực

Vì vậy tôi chọn học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức” trong Nho giáo và

ảnh hường của nó đối với người phụ nữ Việt Nam hiện nay – thực trạng và giải pháp là đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài:

Vấn đề ảnh hưởng của học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức” trong Nho

giáo đối với người phụ nữ Việt Nam hiện nay đã thu hút được sự quan tâm

và chú ý của nhiều tác giả Nho học, triết học, các nhà bình luận… Và cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau

về vấn đề này Điển hình là “Nho giáo” của Trần Trọng Kim với hai tập: Quyển Thượng và Quyển Hạ; “Khổng học đăng” của Phan Bội Châu;

“Chuyên khảo về Nho giáo” của Đặng Thai Mai; “Nho giáo xưa và nay”

của Vũ Khiêu…

Trang 3

Ngoài ra, trong nhiều sách báo tạp chí như: báo phụ nữ, tạp chí gia đình, báo tiền phong… phạm trù công dung ngôn hạnh và đạo tam tòng cũng được bàn đến dưới nhiều góc độ và phạm vi khác nhau

Tựu chung lại, những công trình nghiên cứu về đề tài này đã nêu lên

những nội dung cơ bản của “Tứ đức” và học thuyết “Tam tòng” nhưng

xung quanh nó vẫn còn nhiều vấn đề phải bàn, tìm hiểu và nghiên cứu nhất

là sự ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của nó đối với người phụ nữ Việt Nam hiện nay

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đề tài chỉ giới hạn ở học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức” trong Nho

giáo chứ không phải toàn bộ Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với người phụ nữ Việt Nam hiện nay

4 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

nữ Việt Nam trong thời kì đổi mới

Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Đi sâu phân tích làm rõ các phạm trù: Tam tòng, công – dung – ngôn – hạnh ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam

Trang 4

- Phân tích sự ảnh hưởng của học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức” đối

với người phụ nữ Việt Nam xưa và nay

- Đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy những giá trị tốt đẹp và khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của học thuyết này trong quá trình xây dựng người phụ nữ Việt Nam hiện đại

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý luận

Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh và những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng về Nho giáo; những chính sách, chiến lược xây dựng con người mới của Nhà nước…

Về phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu xuyên suốt của đề tài là phương pháp biện chứng duy vật, với phương pháp này, đã giúp cho việc nhìn nhận, đánh giá khách quan đúng đắn để giải quyết các vấn đề mà nhiệm vụ của đề tài đặt

ra Ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp cụ thể như phân tích tổng hợp, khái quát hóa, logic – lịch sử, so sánh, điều tra…

6 Đóng góp của đề tài

Có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm tìm hiểu nghiên cứu ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo phương Đông đối với con người Việt Nam hiện nay

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận còn có phần nội dung gồm 2 chương 5 tiết

Chương 1: Học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức” trong Nho giáo

1.1 Vị trí học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức” trong Nho giáo

Trang 5

1.2 Nội dung học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức”

1.3 Học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức” ở Việt Nam

Chương 2: Thực trạng ảnh hưởng của học thuyết “Tam tòng”, “Tứ

đức” đối với người phụ nữ Việt Nam ngày nay và giải pháp

2.1 Thực trạng ảnh hưởng của “Tam tòng”, “Tứ đức” đối

với người phụ nữ Việt Nam ngày nay 2.2 Phương hướng xây dựng người phụ nữ Việt Nam hiện nay

2.3 Ảnh hưởng của “Tam tòng”, “Tứ đức” đối với người

phụ nữ Việt Nam ngày nay và một số giải pháp cơ bản

Trang 6

CHƯƠNG 1 HỌC THUYẾT “TAM TÒNG”, “TỨ ĐỨC” TRONG NHO

GIÁO 1.1 Vị trí học thuyết “Tam tòng” “Tứ đức” trong Nho giáo

1.1.1 Một vài nét về sự hình thành và phát triển của Nho giáo

Trung quốc là một nước thuộc miền Đông Á với diện tích rộng lớn khoảng 9,5 triệu km, dân số hiện nay khoảng hơn 1,3 tỉ người gồm 60 dân tộc, trong đó dân tộc Hán chiếm đại đa số, chiếm gần 90% dân số Trung Quốc Theo lịch sử cho đến ngày nay người Trung Hoa đã trải qua gần

6000 năm Tuy vậy, theo tài liệu khảo cổ thì giai đoạn Tam Hoàng, Ngũ Đế

là không đáng tin cậy Chứng cứ xác thực nhất, khoa học nhất về lịch sử Trung Hoa là bắt đầu từ thời nhà Hạ

Thời Xuân Thu, nền kinh tế Trung Quốc chuyển từ thời kì đồ đồng sang thời kì đồ sắt Về tôn giáo, tiếp thu truyền thống tế tổ, tiên viên của người Ân, người Chu còn thêm tư tưởng kính trời thờ thượng đế, hợp mệnh trời, người với trời hợp nhất Trên cơ sở quan niệm tôn giáo đó, nhà Chu

xây dựng một nền văn hóa “học tại quan phủ” tức văn hóa riêng của tầng

lớp quý tộc, học vấn không xuống đến nông thôn Tư tưởng chính trị thời Chu đã được tôn giáo hóa một cách toàn diện, mọi chính sách kể cả tư tưởng trị dân của nhà Chu đều mang tính chuyên chính tàn khốc và màu sắc tôn giáo Về chính trị xã hội, lúc này chế độ tông pháp của nhà Chu không còn được tôn trọng, địa vị chính trị, ngôi thiên tử của vua nhà Chu chỉ còn

là hình thức Khi nhà Chu lên giữ ngôi Thiên tử đã chia thiên hạ ra làm hơn

70 nước chư hầu Trong thời gian nhà Chu còn thịnh vượng những nước chư hầu này đều được quyền tự chủ và hàng năm phải cống nạp cho Thiên

tử nhà Chu Nhưng ở giai đoạn Đông Chu, trật tự bị đảo lộn Nhà Chu suy nhược và sau đó phải dời đô về phía đông Lạc Ấp Mệnh lệnh của thiên tử

Trang 7

không ai nghe theo Các nước chư hầu phân tán ra đến 160 nước lớn nhỏ Nước nhỏ bị ăn hiếp, nước lớn tổ chức xâm chiếm thôn tính nước nhằm mở mang bờ cõi Chiến tranh giữa các quốc gia xảy ra liên miên và ngày càng khốc liệt Nhân dân lầm than, cương thường bị đảo lộn, đạo đức suy đồi

Bọn thống trị sống xa hoa cực lạc, xa xỉ bao nhiêu thì nhân dân lao động bị đày đọa, cùng cực bấy nhiêu, và điều đó là động lực cho sự cáo chung của chế độ Chiếm Hữu Nô Lệ Trung Hoa

Về các lĩnh vực khác, trong thời kì này, Trung Quốc đã có nhiều cống hiến cho nhân loại như toán học, y học, thiên văn học, sử học Các bộ môn khoa học này được hình thành trên cơ sở hoạt động thực tiễn lâu dài của nhân dân lao động Những tri thức khoa học này đã góp phần thúc đẩy, phát triển đời sống nhân dân Trung Hoa

Cũng chính trong thời đại lịch sử có nhiều biến đổi mạnh mẽ này đã đặt ra những vấn đề triết học, chính trị xã hội, tâm lí, đạo đức, kinh tế, pháp luật, quân sự, kích thích, gợi mở lòng trắc ẩn khiến cho các bậc tài trí đương thời quan tâm lí giải cố tìm ra phương pháp giải quyết cứu đời cứu người, chính vì vậy mà làm nảy sinh một loạt các nhà tư tưởng nổi tiếng và các trường phái triết học Trường phái triết học Nho giáo cũng ra đời từ đó

và nó đã trở thành một trong sáu trường phái cơ bản của triết học Trung Quốc thời bấy giờ Nho giáo ra đời cách đây 26 thế kỷ, tức là vào khoảng thế kỷ thứ VI (trước công nguyên) đến thế kỷ thứ V (trước công nguyên) Trong thực tế, trường phái Nho giáo chỉ là một trong rất nhiều trường phái thời cổ Trung Quốc, nó là một tư tưởng triết học chứ không phải là tôn giáo

Người sáng lập ra đạo Nho là Khổng Tử Khổng Tử sinh năm 551 Trước Công nguyên mất năm 479 Trước Công nguyên, thọ 73 tuổi, tên thật

là Khâu Trọng Ni, sinh ở Khúc Phụ, nước Lỗ, trong một gia đình quý tộc nhỏ Khổng Tử sống ở thời đại nhà Chu suy nhược, chư hầu lấn át, trật tự

Trang 8

Lễ, Pháp bị đảo lộn thế cục biến loạn, dân tình khổ sở Đứng trên lập trường của bộ phận cấp tiến trong giai cấp quý tộc Chu, ông đem sách thánh hiền đời trước ra lập thành một học thuyết có hệ thống, lấy Nhân –

Lễ – Nghĩa – Trí – Tín mà dạy người, lấy cương thường mà hạn chế nhân dục để giữ trật tự trong xã hội cho bền vững

Tài liệu chủ yếu để nghiên cứu tư tưởng Khổng Tử là cuốn Luận

Ngữ, ghi lại lời của Khổng Tử và học trò, bên cạnh đó còn có “Tứ Thư”,

“Ngũ Kinh”, trong đó có bốn cuốn không phải là tác phẩm ông trước tác mà

do ông chỉnh lí lại, ông chỉ viết kinh “Xuân Thu”, học thuyết Khổng Tử

được lưu truyền rộng và gây ảnh hưởng tới nhiều dân tộc trong khu vực Á Đông, trong đó có Việt Nam Trong học thuyết Khổng Tử, người phụ nữ ít được bàn đến, nhưng không phải là không có, điều này thể hiện trong học

thuyết “ Tam tòng”, “Tứ đức”

1.1.2 Vấn đề người phụ nữ trong Nho giáo

Con người là vấn đề trung tâm của Nho giáo nhưng không được bàn đến trong tất cả các mặt của nó mà chú trọng vào khía cạnh luân lí, đạo đức, nhằm mục đích xoa dịu mâu thuẫn giai cấp và ổn định trật tự xã hội Con người trong Nho giáo được bàn đến dưới nhiều góc độ, trong đó người phụ nữ ít được bàn đến, vai trò của họ rất mờ nhạt Một số vấn đề trong Nho giáo đề cập đến người phụ nữ như học thuyết luân lí đạo đức phong kiến; quan niệm về đạo làm vợ, đạo làm con; các quan hệ với mọi người trong gia tộc, ngoài xã hội; quan niệm về phạm vi, lĩnh vực, công việc mà

họ được phép tham gia Nhìn chung, người phụ nữ trong Nho giáo được đánh giá là một lực lượng cơ bản để xây dựng xã hội nhưng họ luôn ở vị trí phụ thuộc vào nam giới, họ chỉ tồn tại với tư cách là một yếu tố cần, đủ cho trật tự gia đình và xã hội, họ là nạn nhân đau khổ nhất của trật tự ấy

Về số phận của họ, cũng như số phận con người nói chung, theo Khổng Tử, con người có mệnh, và không thể cưỡng lại mệnh Còn Mạnh

Trang 9

Tử cho rằng, trời an bài địa vị xã hội của con người Đổng Trọng Thư cho rằng, trời và người cảm thông với nhau, trời là chủ tể của người, người có công thì hưởng, người có tội thì phạt, bắt khổ phải khổ, cho sung sướng được sung sướng Quan điểm này được xây dựng trên lập trường của giai cấp thống trị, nó phục vụ cho mục đích của giai cấp thống trị, nó buộc con người nói chung đặc biệt là phụ nữ vào khuôn phép nhất định của xã hội,

nó xoa dịu mâu thuẫn giai cấp, khiến cho người phụ nữ luôn cam chịu, nhẫn nhục, bằng lòng với số phận của mình

Mạnh Tử cho rằng bản chất của con người là thiện, là hiểu được các mối quan hệ: vua – tôi, cha – con, vợ - chồng, trên – dưới… Và tự ghép được mình vào các quan hệ đó một cách phù hợp và theo đúng chuẩn mực

Theo Khổng Tử, con đối với cha phải lấy chữ “Hiếu” làm đầu Người có

“Hiếu” trước hết phải nuôi cha mẹ, nuôi thì phải kính, chứ không kính thì

không phải là hiếu, khi cha mẹ còn không bao giờ làm điều gì cho cha mẹ

lo buồn Bởi vậy, không nên đi đâu xa, mà có đi xa thì phải nói cho cha mẹ biết chỗ đi để cha mẹ khỏi lo và nhỡ có việc gì có thể tìm gọi được (phụ

mẫu tại, bất viễn du, du tất hữu phương), trong sự “Hiếu” có hai điều rất nên chú ý, là “vô vi” và “vô cãi” “Vô vi” là xử cảnh thường, thì thờ cha mẹ không trái Lễ, “Vô cãi” là xử cảnh biến, thì không phải đổi ngay cái đọa

của cha mẹ [8; 132]

Theo Khổng Tử, người phụ nữ phải theo Lễ để ngăn cấm đại dục, nghĩa là việc ăn uống, trai, gái, bao giờ cũng có Cái đại ố là ở sự chết chóc, nghèo khổ, bao giờ cũng có Cho nên, dục ố là cái mối lớn của tâm vậy, người ta giấu kín cái tâm, không thể dò xét được,… Khổng Tử, luôn lấy tình cảm làm trọng, nhưng theo Khổng Tử tình cảm của người thường không có giới hạn sẽ dẫn đến hư hỏng, ông chủ trương dùng “Lễ” để ngăn giữ những điều xấu từ khi chưa hình thành

Trang 10

Vấn đề người phụ nữ trong Nho giáo không được bàn luận nhiều và không hệ thống, có thể nói, trung tâm của vấn đề này chính là phạm trù

“Tam tòng”, “Tứ đức”, nó được coi là một chuẩn mực cơ bản để xây dựng

người phụ nữ xưa

1.2 Nội dung của học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức”

Học thuyết của Nho giáo chủ yếu bàn về các mối quan hệ luân thường đạo lý trong xã hội, qua mỗi thời đại khác nhau, Nho giáo nói

chung, phạm trù “Tam tòng”, “Tứ đức” nói riêng có những sự biến đổi về

nội dung và ảnh hưởng của nó đến tư tưởng, hành động của người phụ nữ

Vậy chúng ta phải hiểu “Tam tòng”, “Tứ đức” là gì?

1.2.1 “Tam tòng”, “Tứ đức” là gì?

“Tam tòng”: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử Có

nghĩa là ở nhà theo cha, xuất giá theo chồng, chồng chết thì theo con

“Tứ đức”: Công – Dung – Ngôn – Hạnh Theo từ điển Hán Việt:

Công có nghĩa là khéo léo Dung có nghĩa là dáng mạo, gồm có dung mạo: chỉ dáng điệu và sắc mặt; dung sắc: chỉ dung mạo và nhan sắc, ngôn có nghĩa là lời nói Hạnh là chỉ nết na đức hạnh, Hạnh còn là hạnh kiểm: nết

na giữ gìn; hành vi theo mực thước

Có một số quan điểm khác cho rằng:

Công: có nghĩa là công việc, biết cách làm việc một cách có trí tuệ,

có tỉ mỉ

Dung: là dung nhan, dung mạo, nghĩa là dáng dấp thể hiện ra bên ngoài qua gương mặt, qua dáng hình khi đi đứng, nói cười, ứng xử, hoặc khi xử lí tình huống trong cuộc sống

Ngôn: vừa mang nghĩa “thuyết” tức là ý nghĩa, trí tuệ, vừa mang nghĩa “thoại” tức lời ăn tiếng nói

Trang 11

Hạnh: tức đức hạnh, phẩm giá

1.2.2 “Tam tòng”, “Tứ đức” trong Nho giáo nguyên thủy

Như đã nói, Khổng Tử sống trong thời đại “ Bá đạo” đang nổi lên lấn

át “Vương đạo”, trật tự lễ nghĩa nhà Chu bị đảo lộn Trước tình hình đó, ông chủ trương lặp lại kỉ cương cũ của nhà Chu, ông xây dựng nội dung

học thuyết “Nhân – Lễ - Chí – Tín”, “Chính danh”, “Hiếu đễ” Để học

thuyết của mình trở thành hiện thực, Khổng Tử tập trung xây dựng mẫu

người quân tử với chủ trương “Đức trị”, còn về phụ nữ, do quan niệm bất

bình đẳng nam nữ nên hầu như ông không chú tâm vào việc xây dựng mẫu người phụ nữ cụ thể cho xã hội đương thời Theo Khổng Tử, nếu người đàn

ông tu dưỡng “Đức”, “Tài” trở thành những bậc quân tử thì tất yếu người

phụ nữ phải đi vào khuôn phép Ông cho rằng trong gia đình thì người phụ

nữ là nhân tố sắp đặt lo toan công việc, trên cơ sở đó, Khổng Tử đưa ra chuẩn mực của người phụ nữ, người phụ nữ trước hết phải hiểu và làm theo

“Tam tòng”

Tại gia tòng phụ

Xuất giá tòng phu

Phu tử tòng tử

Có nghĩa là, người phụ nữ khi còn ở nhà thì phải theo cha, lấy chồng

phải theo chồng; chồng chết phải theo con, phải ở vậy “Tòng” con suốt đời,

không đi bước nữa

Trong phạm trù “Tứ đức”: công – dung – ngôn – hạnh, công chỉ sự

khéo léo, đảm đang trong công việc gia dình, là nữ công gia chánh; tề gia nội trợ Dung là vẻ đẹp hình thức, thể hiện dáng vẻ tự nhiên kết hợp với trang phục, tạo nên sự đoan trang, thùy mị nói chung Ngôn chỉ lời ăn tiếng nói, chỉ sự lựa chọn tế nhị, kín đáo, nữ tính Hạnh chỉ hạnh kiểm, đức hạnh,

là lòng nhân ái, là sự tuân theo lễ nghĩa và hiếu đễ với cha mẹ, anh em…

Trang 12

Trong bốn đức trên, Khổng Tử nhấn mạnh đức “Hạnh”, theo ông, người phụ nữ đạt đến đức “Hạnh” điều căn bản là phải có tấm lòng “Hiếu” nhưng phải dựa trên cơ sở “ái” “kính” Người có hiếu trước hết phải nuôi

cha mẹ, nuôi nhưng phải kính, không kính là bất hiếu, nuôi cha mẹ cốt ở sự thành kính, dẫu phải uống nước lã, ăn gạo xấu mà làm cho cha mẹ vui, đó

là hiếu, trong cảnh biến không thay đổi cái đạo với cha mẹ Song, bên cạnh

đó, ông lại có quan niệm rất tiến bộ khi cho rằng không phải phục tùng cha

mẹ một cách thụ động không phân biệt phải trái, lấy lễ nghĩa mà thờ cha

mẹ, không phải cha mẹ làm điều gì trái đạo cũng theo

Tuân Tử lại cho rằng người làm con hiếu có ba hạng, người con hiếu

sở dĩ có ba điều không theo mệnh cha Theo mệnh thì cha mẹ nguy, không theo mệnh thì cha mẹ yên, người hiếu tử không theo mệnh là hợp với đạo trung Theo mệnh thì cha mẹ nhục, không theo mệnh thì cha mẹ vinh, người hiếu tử không theo mệnh là hợp với điều nghĩa Theo mệnh là cầm thú, không theo mệnh làm cho cha mẹ được vẻ vang, người hiếu tử không theo mệnh là kính cha mẹ Cho nên, điều đáng theo mà không theo là không phải đạo làm con, chưa nên theo mà đã theo, là không hợp đạo trung Biết rõ cái nghĩ đáng theo và không đáng theo mà lại hết sức cung kính, trung tín, đoan xác, rồi cứ cẩn thận mà làm, thế gọi là đạo hiếu Như

vậy, đạo “Tòng cha” là phải biết rõ điều phải trái, cái đáng làm và cái

không đáng làm, nếu không, dẫu đức hạnh có tốt đến thế nào mà người con không biết dùng hợp lý thì cũng thành ra dở Còn Mạnh Tử thì cho rằng thông qua ngôn ngữ giao tiếp, qua lời ăn tiếng nói hàng ngày có thể đánh giá được những hạng người khác nhau trong xã hội

1.2.3 “Tam tòng”, “Tứ đức” trong Hán Nho

Năm 221 TCN nhà Tần tiêu diệt Tề, kết thúc cục diện chiến quốc, Lưu Bang giành được chính quyền lập ra nhà Hán, trong bối cảnh đó xuất hiện nhà triết học duy tâm nổi tiếng Đổng Trọng Thư (180 – 105 trước

Trang 13

công nguyên) Tư tưởng chính trị và triết học của ông thể hiện mục đích phục vụ vương quyền của chế độ chuyên chế phong kiến, ông có đề cập

đến phạm trù “Tam tòng”, “Tứ đức” nhưng đã tước đi những yếu tố nhân

văn, nhân ái của Khổng Tử, thay vào đó là quan niệm nghiệt ngã, một quy tắc đạo đức phi nghĩa lý: Vua bảo bề tôi chết, bề tôi phải chết, nếu không mắc tội bất trung, cha bảo con chết, con phải chết, nếu không mắc tội bất hiếu Chồng nói, vợ tuyệt đối phải nghe theo, dù sai, dù đúng, người phụ nữ trong gia đình không có quyền tham gia hay phản kháng

Như vậy, đạo lý làm người đã trở thành quy định khắt khe, bề tôi phải trung với vua, con phải hiếu với mẹ, vợ phải giữ đạo tòng với chồng, theo logic người phụ nữ phải phục tùng tuyệt đối với cha và chồng

1.2.4 Mối quan hệ “Tam tòng”, “Tứ đức”

“Tam tòng” và “Tứ đức” là hai phạm trù cơ bản, là chuẩn mực đạo

đức để xây dựng mẫu người phụ nữ phong kiến của Nho giáo, giữa chúng

có mối quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời Điểm chung giữa hai phạm trù này đều là những quy tắc, lễ nghĩa, chuẩn mực bắt buộc đối với người phụ

nữ Cả hai đều được giai cấp thống trị phong kiến sử dụng như một công cụ đắc lực để giáo hóa người phụ nữ với mục đích ổn định xã hội, bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị và của người đàn ông

Tuy nhiên, giữa chúng có những nét khác biệt ở phạm vi, đối tượng

đề cập “Tam tòng” chỉ mối quan hệ giữa người phụ nữ với nam giới trong

gia đình và ngoài xã hội, đó là cha, chồng, con trai, đề cao sự phục tùng

một chiều, sự chung thủy của họ đối với người đàn ông, còn “Tứ đức” chú

trọng vào sự tự tu dưỡng của chính bản thân phụ nữ Tu dưỡng Công –

Dung – Ngôn – Hạnh để đạt được “Tam tòng”, “Tứ đức” là điều kiện để thực hiện tốt đạo tòng cha, tòng chồng, tòng con Ngược lại “Tam tòng”

chứng minh cho “Tứ đức”, cho phẩm hạnh người phụ nữ

Trang 14

Trong bản thân phạm trù “Tứ đức” cũng có mối quan hệ với nhau, đó

là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, hạnh là nội dung, công – dung – ngôn là hình thức, chúng bổ sung cho nhau Như vậy, Nho giáo đòi hỏi ở người phụ nữ vẻ đẹp toàn diện theo một khuôn mẫu nhất định Sâu xa hơn

là đòi hỏi sự toàn tâm, toàn ý, sự hi sinh hết mình đối với nam giới

Khi hiểu được mối quan hệ giữa các phạm trù, chúng ta tránh hiểu chúng một cách rời rạc hay tuyệt đối hóa một phạm trù nào và phải có một thái độ khách quan, biện chứng khi xem xét sự ảnh hưởng của nó đối với người phụ nữ Việt Nam

Như vậy, Nho giáo trải qua những bước thăng trầm trong lịch sử tư

tưởng Việt Nam, học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức” không nằm ngoài bước

thăng trầm đó, có lúc nó chi phối vận mệnh người phụ nữ Việt Nam, có lúc lại mờ nhạt, có mặt tích cực, có điều hạn chế Nó đi vào đời sống tư tưởng của nhân dân việt Nam, đã ăn sâu bén rễ từ rất lâu Vậy sự ảnh hưởng của

nó như thế nào đối với phụ nữ Việt Nam?

1.3 Học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức” ở Việt Nam

1.3.1 Vài nét về sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam

Vị trí của Nho giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam là một vấn đề có

ý nghĩa phương pháp luận quan trọng đối với việc nghiên cứu truyền thống

tư tưởng của dân tộc cũng như sự ảnh hưởng của nó đối với người dân Việt Nam

Đạo Nho được truyền bá vào Việt Nam không bằng con đường giao lưu văn hóa, cũng không bằng con đường tìm đến của người bản xứ mà bằng con đường xâm lược của phong kiến phương Bắc vào thế kỷ thứ II sau công nguyên (tức vào thời Tây Hán) Lúc đầu đạo Nho không được đón nhận bởi nó theo bước chân quân thù vào nước ta Về sau được truyền bá rộng rãi và phát triển mạnh mẽ

Trang 15

Dưới triều lý (1010 – 1225) cùng với việc tôn sùng đạo phật đã lập văn miếu thờ Khổng Tử (1070), tổ chức thi tam giáo để chọn hiền tài, lập Quốc Tử Giám – trường đại học đầu tiên ở Việt Nam Đến thời nhà Lê, đạo trị nước yên dân của Nho giáo có tính xuyên suốt, chi phối mọi hoạt động

chính trị xã hội và người đời đặc biệt quan tâm đến các khái niệm “Trung,

hiếu”, “lễ nghĩa”… Thời Lê Thánh Tông (1260 – 1497) đạo Nho đạt đến

điểm cực thịnh

Sang thế kỷ XVII – XVIII, xã hội Việt Nam có nhiều diễn biến phức tạp, có nhiều biến động về chính trị tư tưởng, đến thế kỷ XIX, nhà Nguyễn lật đổ chính quyền Tây Sơn giành quyền thống trị, lập triều Nguyễn Để duy trì bộ máy thống trị phong kiến, nhà Nguyễn đã sử dụng Nho giáo như một công cụ đắc lực Nhà Nguyễn chủ trương độc tôn Nho giáo nhưng lại gặp trở ngại và sự thâm nhập ngày càng mạnh mẽ của Thiên chúa giáo, Nho học thời kỳ này là phương tiện thể hiện lòng yêu nước, hướng nội của các nhà nho, nhưng sự kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước và Nho học không thành công, Nho học đã đi hết một chặng đường dài lịch sử nước ta Trên chặng đường ấy, Nho giáo đã gây ảnh hưởng rất sâu đậm đến tư tưởng dân tộc Việt Nam và đã được Việt Nam hóa

Ngày nay, chúng ta lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng sẽ giúp chúng ta có được cái nhìn và đánh giá khách quan hơn về những giá trị và hạn chế của Nho giáo trong việc nghiên

cứu ảnh hưởng của phạm trù “Tam tòng”, “Tứ đức” đối với người phụ nữ

Trang 16

trước Cách Mạng Tháng Tám, xã hội Việt Nam có những đặc điểm cơ bản khiến Nho giáo tồn tại

Trong tác phẩm “Sự thống trị của Anh ở Ấn Độ”, Mác đã chỉ ra điểm

đặc trưng của xã hội Ấn Độ và phương Đông là xã hội nông nghiệp với công xã nông thôn, chế độ đem lại cho mỗi làng xã một cuộc sống biệt lập Công xã này tổ chức theo lối gia đình tự cung, tự cấp, bị trói buộc bởi những quy tắc cổ truyền, từ đó làm hạn chế con người trong những khuôn khổ chật hẹp Xã hội truyền thống đó mang tính chất thụ động, quân bình ít thay đổi, nó kéo dài từ những thời kì hết sức xa xưa cho đến thế kỉ XIX

Điều đó cho thấy chính xã hội “bất động” hay “tĩnh” và sự lưu giữ những

quy tắc cổ truyền, những quan niệm, những hủ tục ở Việt Nam là mảnh đất cho Nho giáo tồn tại

Ở Việt Nam trước kia, ngay cả thời kì hưng thịnh nhất thì nền kinh tế phong kiến chưa bao giờ vượt qua khỏi khuôn khổ của một nền sản xuất nhỏ, kinh tế lạc hậu, trình độ phát triển của xã hội còn thấp, khoa học tự nhiên chưa phát triển, sự tiếp thu tôn giáo nói chung và Nho giáo nói riêng còn hạn hẹp

Một vấn đề nổi bật nhất trong lịch sử Việt Nam là một nước liên tục phải đối phó với quân xâm lược, bởi vậy việc giành độc lập, bảo vệ tổ quốc

là nhiệm vụ thường trực hàng đầu Chính điều đó làm cho tư tưởng yêu nước thương nòi ở người Việt Nam sớm hình thành và mang tính đặc thù

Con người Việt Nam ít quan tâm đến vấn đề “bản chất con người”, “mối

quan hệ giữa linh hồn và thể xác”… mà quan tâm nhiều đến số phận con

người, luân lí đạo đức, đạo làm người, cách đối nhân xử thế, về vị trí vai trò của cá nhân trong gia đình, xã hội

Mặt khác, sự tồn tại lâu dài và bền vững của chế độ phong kiến Việt Nam cũng là một nguyên nhân khiến cho Nho giáo tồn tại và ảnh hưởng sâu sắc đến người phụ nữ, vì Nho giáo được xây dụng trên lập trường của

Trang 17

giai cấp quý tộc, thị tộc với mục đích xây dựng những con người phục vụ cho giai cấp phong kiến Giai cấp phong kiến Việt Nam đã sử dụng Nho giáo như một công cụ đắc lực nhất bảo vệ quyền lợi của mình

Ngoài những nguyên nhân khách quan trên, một nguyên nhân khiến Nho giáo còn ảnh hưởng đến xã hội, phụ nữ Việt Nam ngày nay nằm ở chính bản thân Nho giáo, song song với những yếu tố hạn chế, tiêu cực thậm chí phản động, ngu dân thì Nho giáo vẫn có những nét thâm thúy, những giái trị tích cực của nó, vì vậy nó đi vào lòng người dân Việt Nam và

để lại dấu ấn trong tư tưởng, phong tục tập quán… rất sâu sắc

Lịch sử cho chúng ta thấy nhiều khi tồn tại xã hội đã mất đi nhưng ý thức xã hội do nó sinh ra vẫn tồn tại dai dẳng, điều này được thể hiện rõ nét trong những quan niệm truyền thống, tập quán, tâm lý… Lênin cho rằng sức mạnh của tập quán được tạo ra qua nhiều thế kỉ có một sức mạnh ghê gớm Việt nam đã đánh đổ chế độ phong kiến, đánh đuổi giặc ngoại xâm, xây dựng chủ nghĩa xã hội Từ năm 1986 thực hiện đổi mới cho đến nay, xã hội có nhiều biến động lớn lao, nhưng ảnh hưởng của Nho giáo nói chung

và “Tam tòng”, “Tứ đức” nói riêng vẫn là điều khiến chúng ta trăn trở

1.3.3 Nội dung học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức” ở Việt Nam

Bắt đầu một giai đoạn mới của lịch sử, người ta phải xây dựng lại cả

cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, trong công cuộc đó, vấn đề xây dựng con người là vấn đề quan trọng hàng đầu Với Việt Nam, sau một nghìn năm đô hộ của phong kiến phương Bắc, đã bắt tay vào xây dựng đất nước độc lập, tự chủ, để giữ vững vị trí thống trị của mình, vấn đề đầu tiên

mà giai cấp phong kiến Việt Nam đặt ra là xây dựng con người phục vụ chế

độ phong kiến Việt Nam độc lập Để thực hiện điều này, giai cấp phong kiến Việt Nam đã sử dụng Nho giáo làm hệ tư tưởng thống trị của xã hội, làm học thuyết để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị làm công cụ giáo

Trang 18

huấn dân sinh, lấy thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức” làm chuẩn mực cho phụ nữ

noi theo

Nho giáo vào Việt Nam đã mang một màu sắc riêng của dân tộc, theo giáo sư Trần Văn Đoàn, Nho Việt đã tinh giản Nho giáo Trung Quốc thành một loại hình ý thức đặc thù, Nho Việt chỉ lấy một phần có giá trị thực dụng để bảo vệ tổ quốc khỏi ách ngoại xâm, hoặc gắn kết với quyền lực của kẻ thống trị Theo giáo sư Phan Đại Doãn các sĩ phu Việt Nam

thường “giản yếu”, “lược luận”, phần lớn tiếp nhận những luân lí đạo đức

cơ bản của Nho giáo để áp dụng vào công cuộc xây dựng gia đình và cộng đồng Theo phó giáo sư Nguyễn Hùng Hậu, về đại thể, chủ yếu Nho Việt đi vào những vấn đề cấp bách thiết thực do đời sống xã hội đặt ra Khuynh hướng chủ đạo này có cái hay là lược bỏ những phần rối rắm, phức tạp nhưng vì thế nó cũng lược bỏ những chỗ thâm sâu vi tế; làm mất tính hệ thống, thiếu cơ sở lý luận, tính nhất quán, lôgic, thiếu sự chặt chẽ, điều này nói lên sự thực tế của người Việt Nam

Mặt khác nhân dân Việt Nam có truyền thống tôn trọng phụ nữ, trong buổi bình minh của lịch sử dân tộc nào cũng trải qua thời kì mẫu hệ

và chế độ mẫu quyền, trong đó, phụ nữ làm chủ gia đình, dòng họ, phụ nữ

có vai trò lớn lao trong đời sống kinh tế, trong sinh hoạt xã hội cũng như tinh thần Mỗi người dân Việt Nam đều ghi nhớ về huyền thoại tổ tiên mẹ

Âu Cơ với bọc trăm trứng là những người khai sáng ra lịch sử dân tộc

Trong thời kì chuyển từ mẫu hệ sang phụ hệ, suốt thời kì phong kiến

và mãi về sau này, xã hội Việt Nam đã thừa hưởng và bảo lưu truyền thống

tốt đẹp: “tôn trọng vai trò của người phụ nữ” Truyền thống này đã trở

thành đạo lý khiến cho giai cấp phong kiến Việt Nam không thể không công nhận luật pháp nhà Lê có một điều khoản liên quan đến phụ nữ mà các triều đại phong kiến Trung Hoa không có, đó là quy định con gái được thừa hưởng quyền chia tài sản sỡ hữu của gia đình bình đẳng như con trai;

Trang 19

khi lấy chồng phần tài sản này là của riêng không bị nhập vào tài sản nhà chồng… (được ghi nhận trong bộ luật Hồng Đức – 1483) Điều này cho phép người vợ có quyền tự do nhất định trong gia đình nhà chồng

Như vậy truyền thống tôn trọng phụ nữ của dân tộc Việt Nam không chỉ là đạo lý mà còn được nhà nước phong kiến hợp pháp hóa, điều này

khiến cho nội dung của học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức” không còn quá

khắt khe hay ép buộc mà khiến cho người phụ nữ tự nguyện hành động

theo “Tam tòng”, “Tứ đức”

Tuy nhiên, đồng hành với truyền thống tốt đẹp trên là những quan niệm lạc hậu, cổ hủ mà giai cấp phong kiến Việt Nam muốn duy trì để phục

vụ cho mục đích của mình, những quan niệm, phong tục này có ảnh hưởng

không nhỏ đến sự tồn tại của học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức” trong xã hội

Việt Nam

Tất cả những điều trên là điều kiện khiến cho học thuyết “Tam tòng”,

“Tứ đức” mang những nội dung mới, rất Việt Nam Nó ngày càng ăn sâu

bén rễ vào đời sống, vào tư tưởng cuả người dân Việt Nam

Trang 20

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA HỌC THUYẾT “TAM TÒNG”, “TỨ ĐỨC” ĐỐI VỚI NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM

NGÀY NAY VÀ GIẢI PHÁP 2.1 Thực trạng ảnh hưởng của “Tam tòng”, “Tứ đức” đối với người phụ nữ Việt Nam ngày nay

Khác với Nho giáo Trung Hoa đạo “Tam tòng”, “Tứ đức” ở Việt

Nam được đề cập dưới góc độ cha mẹ - con cái (cha mẹ đặt đâu con ngồi đó) Ở vị trí người con phải luôn nghe theo sự dạy bảo sai khiến của cha

mẹ Trong quan hệ vợ chồng, người chồng có quyền quyết định trong mọi lĩnh vực, giữa con cái với nhau thì con trai có quyền có lợi hơn con gái, điều này phục vụ đắc lực cho mục đích của giai cấp lãnh đạo xã hội phong kiến để đảm bảo tôn ti trật tự thuận theo một chiều từ trên xuống dưới, từ trong gia đình ra ngoài xã hội

“Tại gia tòng phụ” nghĩa là người con gái khi chưa lấy chồng thì

phải nghe theo cha mẹ, cha mẹ sai bảo gì thì phải nghe vậy không được cãi lại dù đúng hay sai Nếu cha mẹ sai mà cãi lại là bất hiếu, thấy cha mẹ sai cũng không được góp ý Trong hôn nhân người phụ nữ hoàn toàn không có quyền đi tìm tự do hạnh phúc của mình, không được tự do tìm hiểu, hôn nhân do cha mẹ sắp đặt Từ quan niệm đó mới dẫn đến những hiện tượng ngang trái trong xã hội như nạn tảo hôn, ép duyên con…

Như vậy quan niệm “Tại gia tòng phụ” là cơ sở đảm bảo cho quyền

lực tối cao của người cha hình thành thói gia trưởng của người đàn ông trong gia đình, còn người phụ nữ thì cam chịu, mà thực chất là đảm bảo

quyền lực tập trung trong tay vua chúa, thần dân là phải tòng vua: “vua bảo

thần chết thần không thể không chết”

Trang 21

Tóm lại người phụ nữ trong xã hội phong kiến, ngoài việc bị áp bức

về dân tộc, còn chịu áp bức về giai cấp, về giới, họ là nô lệ, là nạn nhân của những hủ tục lạc hậu, lễ giáo phong kiến

“Xuất giá tòng phu” nghĩa là người phụ nữ khi đi lấy chồng là phải

nghe chồng, theo chồng, phục tùng chồng một cách vô điều kiện chồng tốt hay xấu, đúng hay sai… Phụ thuộc người khác là nguyên nhân dẫn đến tư

tưởng cam chịu, buông xuôi “sống trong cái khổ lâu người ta quen khổ”

Họ không có quyền lợi cũng không dám tự quyết trong hôn nhân, hạnh phúc hay khổ đau, phó thác cuộc đời cho số phận, may mắn thì lấy được người chồng tốt không may thì lấy phải người chồng chẳng ra gì Như Hồ Xuân Hương đã từng nói:

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn…”

Tròn hay méo, lành hay vỡ là do tay người nặn, do số phận an bài, hay:

“Thân em như hạt mưa sa

Hạt rơi xuống giếng, hạt ra ngoài đồng”

(Ca dao)

“Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”

Trang 22

với danh nghĩa bà cả, bà hai… Phải nói rằng, thực tế trên cho thấy, đạo

“Tam tòng” đã thực sự trói chặt người phụ nữ Nhiều người đã ý thức được

điều này và họ chỉ biết than thở với đời với cỏ cây hoa lá:

“Em như cây khế hồng hoa

Trồng nơi đất xấu không ra được chồi”

mà giai cấp phong kiến đặt ra Trong quá trình chuyển từ hình thái cộng đồng nguyên thủy sang hình thái chế độ chiếm hữu nô lệ đã diễn ra cuộc chuyển biến lớn từ chế độ mẫu hệ sang chế độ phụ hệ Ăngghen nhận xét rằng: cuộc chuyển biến này là cuộc cách mạng triệt để nhất trong lịch sử trước đây Người phụ nữ bị tước đoạt hết thảy quyền con người… cả cuộc đời chỉ có ba chữ tòng nghĩa là theo: ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng,

chồng chết theo con trai, đàn ông thì hôm nay con là cháu phải “Tố kì vị” là bên dưới “ti” mà khúm núm vâng dạ và hầu hạ, ngày sau lại trở thành cha, thành ông để “Tố kì vị” là bên trên (tôn) mà bảo ban sai khiến, còn nếu là con gái, đàn bà thì bao giờ cũng phải “Tố kì vị” là con gái đàn bà để vâng

dạ, và hầu hạ Nếu có thể có cương vị bề trên một cách có hiệu lực cụ thể thì chủ yếu là cùng trong giới nữ với nhau như vợ cả với vợ hai, nàng hầu chẳng hạn Ngay trong trường hợp này, sự quyết định cuối cùng thường cũng ở người đàn ông mà ra Đạo đức, lễ nghĩa và trật tự xã hội Nho giáo,

Trang 23

xét cho cùng cũng không dành quyền gì thực sự là quyền con người cho

phụ nữ, hai chữ “nan hóa” của đức thánh hiền vừa là hậu quả vừa là

nguyên nhân của những thành kiến xã hội quá nặng nề Và để phục vụ cho

mục đích của mình, giai cấp phong kiến đã nâng chữ “tòng” thành một

nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức để đánh giá phẩm chất người phụ nữ, nhưng có mấy ai hiểu được sự hi sinh, những đắng cay và nỗi lòng của họ

Sau thành công của Cách mạng tháng Tám, chúng ta bắt tay vào xây dựng chế độ mới Tuy nhiên ảnh hưởng của chế độ xã hội cũ vẫn còn tồn

tại, tiêu biểu là đạo “Tam tòng”, sau khi chế độ phong kiến sụp đổ, người phụ nữ được giải phóng, đạo “Tam tòng” mang nội dung và màu sắc mới

Nó không còn bó hẹp trong lĩnh vực gia đình không còn mang tính ép buộc

mà có nội dung rộng hơn, cao cả và tự nguyện hơn

Hoàn cảnh lịch sử thay đổi dẫn đến vị trí, vai trò, mục tiêu cũng như tiêu chuẩn đánh giá về người phụ nữ cũng biến đổi theo Đặc biệt là sau đổi mới, người phụ nữ thực sự có quyền bình đẳng, quyền bình đẳng ấy không chỉ được ghi trong hiến pháp, pháp luật và nó còn đi vào cuộc sống, cách suy nghĩ và nhận thức của mỗi người Ngày nay người phụ nữ đã tự khẳng định được bản thân mình, không còn chịu sự ràng buộc của lễ giáo phong kiến và những quan niệm cổ hủ, lạc hậu đã tự vươn mình ra ngoài xã hội khỏi bốn bức tường của lễ giáo phong kiến và đã thành công trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống như sự nghiệp, đạo đức, tài năng… Việc phụ nữ có quyền bình đẳng không có nghĩa là phủ nhận sạch trơn những chuẩn mực

đạo đức tốt đẹp của đạo “Tam tòng”, “Tứ đức” Để làm nên bản sắc văn

hóa riêng của một dân tộc ngoài bề dầy văn hóa truyền thống của dân tộc hàng ngàn năm còn phải tiếp thu có chọn lọc những tưởng văn hóa của nhân loại, của quá khứ Nhìn những đạo lí Nho giáo riêng rẽ, ta thấy có hay

có dở, có đúng có sai, không hoàn toàn đồng nhất Nhưng nếu, từ những đạo lí riêng rẽ ấy mà nhìn nhận bằng nhận thức cảm tính và bằng tư duy

Trang 24

siêu hình, thì một số đạo lí đúng đắn, hấp dẫn dễ thành ra toàn bộ học thuyết là hoàn hảo và đưa tới bảo thủ mù quáng, và ngược lại, một số đạo lí lạc lõng dễ thành ra học thuyết là lỗi thời và đưa tới chủ nghĩa xóa sạch, rốt cục là đều thoát li hiện thực, bảo thủ cũng sai mà xóa sạch cũng sai

Kinh nghiệm sinh động, thiết thực và phong phú của cuộc sống luôn luôn đòi hỏi: bao giờ cũng đặt sự vật và con người dưới ánh sáng của khoa học và của thực tiễn cách mạng mà phân biệt đúng sai, cụ thể để kế thừa và

phát huy cái tốt cải tạo và xóa bỏ cái cũ Do đó, đối với đạo “Tam tòng”,

“Tứ đức” chúng ta phải có cách nhìn nhận đánh giá khách quan, tìm ra

điểm tích cực để góp phần xây dựng người phụ nữ trong thời đại mới và vận dụng nó như thế nào trong thời đại của nền kinh tế thị thường

Chúng ta phải khẳng định một điều rằng giá trị của đạo “Tam tòng”

tạo nên tôn ti trật tự trong gia đình: Cha mẹ đối với con cái, con cái đối với cha mẹ, anh chị em đối với nhau, mọi người trong gia đình yêu thương tôn trọng lẫn nhau, bởi chúng ta biết rằng gia đình là một tế bào xã hội Vì thế vịêc xây dựng gia đình văn hóa trong thời đại ngày nay là rất có ý nghĩa và quan trọng, nó là cơ sở cho sự ổn định và phồn vinh của xã hội

Bước vào công cuộc đổi mới, nền kinh tế thị trường tạo ra những thời cơ đồng thời là những thách thức mà chúng ta phải đối mặt, những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường, văn hóa phẩm ngoại lai đã và đang ngày càng len lỏi vào ngõ ngách từng gia đình, từng cá nhân, một số phụ nữ có lối sống khác và không thoát khỏi những cám dỗ, đã sa vào làm mai một truyền thống văn hóa dân tộc

Phụ nữ ngày nay có điều kiện để khẳng định mình và có xu hướng độc lập nên họ không còn nghe theo hay phục tùng cha mẹ như trước đây

Ông bà ta thường nói: “cá không ăn muối cá ươn, con không nghe lời cha

mẹ trăm đường con hư” Nhưng thế hệ trẻ bây giờ thích sống độc lập, sống

riêng để được tự do thoải mái và không bị phụ thuộc Nhiều người nghĩ:

Trang 25

mình có cuộc sống riêng của mình, có quyền riêng tư của mình, cha mẹ có cuộc sống riêng của cha mẹ, không ai phụ thuộc ai nên cũng không cần phải nghe theo nhưng họ đâu biết rằng cha mẹ tần tảo nuôi dạy con cái đâu phải chỉ bằng vật chất, bằng truyền thống gia đình mà còn bằng cả trái tim,

cả cuộc đời trải nghiệm của họ

Một hiện thực đau lòng hiện nay đó là do khoảng cách về thế hệ giữa cha mẹ và con cái dẫn đến suy nghĩ và cách sống khác nhau, con cái luôn cho mình là người thời hiện đại phải sống theo kiểu hiện đại, cho cha mẹ là

cổ hủ, còn cha mẹ thì cho rằng con cái còn trẻ người non dạ, chưa trải đời

dễ sa ngã và làm những điều sai trái Thực tế ý kiến của cha mẹ thường xuất phát từ lòng yêu thương con cái, là kết quả của cả một đời trải nghiệm cuộc sống Vì thế con cái không nên có thái độ mảy may, xem thường những điêù cha mẹ dạy, cha mẹ cũng không nên áp đặt những suy nghĩ của mình đối với con cái, ý kiến của cha mẹ cần được tôn trọng sau đó phân

biệt đúng sai và đưa ra lựa chọn đúng đắn nhất Như vậy, đạo “Tòng” cha

mẹ nhìn dưới góc độ tích cực vẫn có những yếu tố cần thiết cho cuộc sống hiện đại, điều này vô cùng quan trọng đối với việc xây dựng gia đình hiện đại, nhất là đối với người phụ nữ bởi họ luôn là người có vai trò quan trọng trong việc lưu giữ, kế thừa đạo đức của dân tộc

Bên cạnh đó thì vẫn còn những hiện tượng đàn ông gia trưởng độc đoán ép con cái phải phục tùng theo ý mình, con cái cần biết phân biệt đúng sai không phải cái gì cũng nghe và làm theo Thấy cha mẹ sai phải biết đấu tranh, góp ý, khuyên bảo, đấu tranh với những sai lầm của cha mẹ

là một nội dung mới của đạo “Tam tòng” trong thời đại mới

Như vậy, trong gia đình hiện đại, người phụ nữ có điều kiện để phát huy hết khả năng của mình nhưng không phải vì thế mà sống buông thả tự

do, mà phải luôn luôn tu dưỡng, rèn luyện nhân phẩm, đạo đức dưới sự

Trang 26

giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội để xứng đáng là người phụ nữ Việt Nam thế kỉ XXI

Đạo “Tam tòng” trong xã hội phong kiến luôn bênh vực và coi trọng

người đàn ông, còn phụ nữ (người vợ) chỉ được xem là người nâng khăn sửa túi, ngoài việc phục tùng chồng một cách vô điều kiện, người phụ nữ chẳng có chút quyền lợi nào Xã hội hiện đại đã lên tiếng phê phán, lên án điều đó Vấn đề đặt ra là, nếu xã hội hiện đại phê phán điều đó thì liệu đạo

“Tam tòng” còn tồn tại hay không? nếu tồn tại thì được hiểu như thế nào?

Ngày nay, theo nghĩa đen, người phụ nữ lấy chồng phải theo chồng như

ông cha ta vẫn thường nói “Thuyền theo lái gái theo chồng”, trong một số

trường hợp người chồng có thể theo vợ do nhà vợ không có con trai hay vì

lí do nào đó Người vợ không còn phải phục tùng chồng một cách tuyệt đối, xem chồng là trời dù đúng dù sai cũng phải nghe theo, hạnh phúc gia đình

phải được xây dựng và vun đắp từ hai phía Chữ “tòng” được cả hai cùng

thực hiện:

“Thuận vợ thuận chồng tát biển đông cũng cạn”

(ca dao)

Hay

Râu tôm nấu với ruột bầu

Chồng chan vợ húp, gật đầu khen ngon!

Ở đây, vợ chồng không chỉ yêu thương mà còn phải hiểu nhau, tôn trọng nhau, cùng nhau chia sẽ buồn vui trong cuộc sống, trong thực tế, xã hội ngày nay, hôn nhân gia đình không còn phải chịu sự áp đặt, ép buộc của cha mẹ hay được đặt dưới quyền của gia đình mà được dựa trên sự tự nguyện của cả hai bên dựa trên tình yêu chân chính, nam nữ được tự do tìm hiểu lựa chọn bạn đời trước khi kết hôn Một điều quan trọng nữa, trước khi tiến đến hôn nhân điều giới trẻ quan tâm đó là điều kiện kinh tế (nghề

Trang 27

nghiệp, thu nhập, việc làm) Nghĩa là việc cùng xây dựng kinh tế, tổ chức cuộc sống gia đình, nuôi dạy con cái thành người có ích cho xã hội

Người phụ nữ đã được giải phóng khỏi những hủ tục lạc hậu nhưng chưa hoàn toàn giải phóng về mặt tâm lí, đối với những phụ nữ góa bụa, họ luôn bị giằng xé giữa một bên là đạo lí, một bên là khát vọng hạnh phúc Như chúng ta đã biết việc sau khi chồng chết, người phụ nữ được tái giá đã được pháp luật và dư luận xã hội thừa nhận nếu làm tốt trách nhiệm đối với con cái (quan tâm, chăm sóc,dạy bảo con nên người) Dư luận xã hội chỉ lên án những người phụ nữ đi thêm bước nữa mà thiếu trách nhiệm đối với con cái Trong xã hội hiện nay, đã có không ít những người mẹ vô trách nhiệm lao vào hư danh, ái tình bỏ mặc con cái, thiếu sự quan tâm dạy dỗ của cả cha lẫn mẹ con cái dễ sa vào hư hỏng Dù xã hội có phát triển đến đâu, ở trình độ nào vẫn không thay thế được sự quan tâm, tình yêu thương chăm sóc của người mẹ Trong nghi quyết 04/NQ – TW của Bộ chính trị,

Đảng cộng sản Việt Nam xác định: “phụ nữ vừa là người lao động, người

công dân, vừa là người mẹ, vừa là người thầy đầu tiên của con người”

[10; 296]

Cùng với Nho giáo đạo “Tam tòng” đã tồn tại trong suốt chiều dài

lịch sử dân tộc, cho đến nay, dư âm của xã hội cũ vẫn còn, tuy nhiên những tác động tiêu cực của nó đã dần được loại bỏ, những giá trị tích cực thì vẫn được kế thừa và có ý nghĩa đối với việc xây dựng phụ nữ Việt Nam hiện đại

Bên cạnh ảnh hưởng của đạo “Tam tòng” là ảnh hưởng của “Tứ

đức”, theo quan niệm trong chế độ xã hội phong kiến thì “Tứ đức” gồm bốn

đức: Công – Dung – Ngôn – Hạnh Vậy phải hiểu bốn đức đó như thế nào

và ảnh hưởng của nó ra sao đối với xã hội Việt Nam nói chung và phụ nữ Việt Nam ngày nay nói riêng?

Trang 28

“Công” theo quan niệm của chế độ phong kiến là nữ công gia chánh,

tề gia nội trợ, may vá thêu thùa, là sự khéo léo của phụ nữ trong việc gia đình Họ phải biết sắp xếp công việc sao cho hợp lí việc gì cũng phải chu

đáo, không chỉ thế mà còn phải biết “đối nội đối ngoại” khôn khéo, nuôi

dạy con cái khỏe mạnh, chăm ngoan:

“Vá may giữ nếp đàn bà

Mũi Kim nhỏ nhặt mới là nữ công”

(Gia Huấn Cao)

“Công” theo quan niệm của Nho giáo chỉ giới hạn về nội dung và

phạm vi công việc của phụ nữ là gia đình, công việc xã hội là của đàn ông, phụ nữ không được phép tham gia Mục đích của chế độ phong kiến khi sử

dụng “Tứ đức” là muốn tạo ra an phận, cam chịu của con người để giữ gìn

trật tự xã hội Đó là quan niệm của xã hội phong kiến Trung Quốc xưa, còn

ở Việt Nam tuy chịu ảnh hưởng của đạo “Công” nhưng “Công” không còn

nguyên nghĩa mà được biến tấu một cách linh hoạt, phù hợp với đời

thường “Công” được mở rộng trong lĩnh vực xã hội trong đấu tranh chống

giặc ngoại xâm

Trong cuộc sống gia đình vợ chồng người Việt, phụ nữ đóng vai trò hết sức quan trọng từ việc nhà, nuôi dạy con cái cho đến việc cùng chồng xây dựng kinh tế gia đình Trong Nho giáo Trung Quốc, quan hệ hôn nhân

được sắp đặt theo trật tự “Phu – phụ” (chồng – vợ), nhưng theo tập quán tiếng Việt, trật tự đó đảo lộn thành “Phụ - phu” (vợ – chồng) Trong quan

hệ vợ chồng, người vợ là người bạn đời, người chia sẻ trách nhiệm nghĩa

vụ, niềm hạnh phúc, là chỗ dựa tinh thần cho người chồng “Đằng sau sự

thành công của người đàn ông luôn có bóng dáng người phụ nữ” Giữ

được anh em họ hàng, bạn bè hay không do bàn tay của người phụ nữ Ngoài ra còn có những công việc mà người phụ nữ phải gánh vác một mình

đó là việc “mang nặng đẻ đau”

Trang 29

Phụ nữ Việt Nam còn tham gia đánh giặc giữ nước, ngay từ buổi đầu dựng nước, họ đã ý thức được về tự do Tự do của phụ nữ gắn liền với tự

do dân tộc, số phận phụ nữ gắn liền vận mệnh dân tộc Đất nước có được tự

do độc lập thì phụ nữ mới được tự do, được phát triển Ngay từ thời Bắc

thuộc, mở đầu trang sử là chiến công vẻ vang của hai nữ tướng: “Đô kì

đóng cõi Mê Linh, Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta” Cuộc khởi

nghĩa của hai nữ anh hùng đầu tiên trong lịch sử dân tộc đã cùng ba sáu nữ tướng đứng lên chống quân Nam Hán vào năm 34 (TCN): Trưng Trắc, Trưng Nhị Tinh thần chống giặc ngoại xâm của các bà được tập trung trong lời thề trên sông cửa Hát

Một xin rửa sạch nước thù

Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng

Ba kẻo oan ức lòng chồng

Bốn xin vẻn vẹn sở công lệnh này

Nợ nước thù chồng, tham gia gánh vác việc chung là điều rất bình thường trong vô số nữ binh, nữ tướng hưởng ứng khởi nghĩa Mê Linh dưới trướng Hai Bà Trưng Chỉ vài thế kỉ sau đó, người thiếu nữ Triệu Thị

Trinh, đã phải tự khẳng định mình vượt lên trên thường tình nhi nữ “Tôi

muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp làn sóng dữ, chém cả tràng kình ngoài biển Đông, quét sạch quân Ngô ra ngoài bờ cõi chứ không chịu khom lưng làm

tì thiếp người ta” Lẫm liệt là như thế, một lí tưởng đời người, oai phong là

thế, vua bà làm kinh sợ đối phương, nhưng suốt nhiều trăm năm tiếp theo,

do trật tự nam trọng nữ khinh, nam ngoại nữ nội, phụ nữ hình như không

có mặt hay không còn lưu dấu trong lịch sử chiến tranh, ngoại trừ hiếm hoi những ả Đào, những phụ nữ vô danh trong khởi nghĩa Lam Sơn, hay trong đội quân áo vải cờ đào Quang Trung Nguyễn Huệ Nữ tướng Bùi Thị Xuân rồi vợ ba cai vàng, vợ ba đề thám, những danh xưng nhiều khi chưa lưu dấu

Trang 30

tên người phụ nữ nhưng đủ minh chứng truyền thống quật cường của những người đàn bà không chỉ làm vợ và làm mẹ

Nhưng lịch sử nào phải chỉ có chiến tranh và khởi nghĩa, Ỷ Lan từ cô gái hái dâu trở thành nguyên phi rồi thái hậu, hai lần nhiếp chính thay chồng, thay con trị nước là hai lần để lại dấu ấn tốt đẹp trong lòng người Được tôn xưng phật bà quan âm vì dân no ấm, khiến Thánh Tông không thể lui quân mà không dành chiến thắng; kiên quyết chống tệ nạn lạm sát trâu là sức kéo cho nông nghiệp, nhân hậu và thấu hiểu nhân tình khi xuất của kho chuộc gái nhà nghèo ở đợ gả cho con trai nghèo không tiền cưới vợ

với người ta, “đổi đời cho họ” như lời bình của sứ thần Ngô Sỹ Liên Bà

còn là tác giả của một bài kệ sau này tìm lại được, đó là những quan điểm

của bà về hai phạm trù của triết học Phật giáo: “Sắc”, “Không”, tức hữu và

vô; Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng rồi bị giáng làm công chúa vì cái tội oan khiên là không con nối dõi Trần Thị Dung, hoàng phi triều lý

và quốc mẫu triều trần; nàng công chúa Trần Huyền Trân trở thành bà hoàng chiêm quốc để đất nước thêm hai châu: châu Ô, châu Rí; Trịnh Thị Ngọc Trúc với hai đời chồng ngang trái nhưng là tác giả những công trình nghiên cứu tâm huyết và uyên bác… Trần Thị Thái và Nguyễn Thị Lệ đóng vai trò nào trong cuộc đời danh nhân Nguyễn Trãi, văn thơ hay danh phận được nhiều đời truyền tụng, nhưng hậu thế hiểu đến đâu tâm hồn phụ nữ của những Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Thị Hinh (Huyện Thanh Quan), Hồ Xuân Hương, Lê Ngọc Hân hay gần hơn là những bà Từ Dũ, Từ Cung và bao nhiêu nữa những phụ nữ con vua cháu chúa hay lam lũ dân thường với những số phận tâm tư còn chờ trang sử cũ được soi thêm quan điểm giới? Dẫu sao, chính sử Việt Nam tuy ít nói về phụ nữ song thường lưu dấu hình ảnh đẹp; cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng từ đầu công nguyên được trân trọng ghi chép và bình luận, tôn vinh kể cả trong những thời Nho giáo độc tôn

Trang 31

Như vậy, chữ “công” xét dưới góc độ là quan niệm của xã hội phong

kiến là phiến diện, có nhiều hạn chế, quan niệm ấy có ảnh hưởng sâu sắc đến thân phận người phụ nữ, làm hạn chế khả năng sáng tạo của người phụ

nữ, chức năng của phụ nữ với xã hội rất mờ nhạt Thường người ta quan niệm phụ nữ là phận liễu yếu đào tơ nên chỉ cần làm những công việc gia đình nhưng nhiều phụ nữ đã vươn lên và bức phá ra khỏi những quan niệm

ấy và khẳng định được vai trò của mình trong gia đình và ngoài xã hội

Từ 1945 đến 1975 là giai đoạn có nhiều biến động lớn lao của lịch sử dân tộc, cuộc sống của phụ nữ cũng vì thế mà có nhiều thay đổi Chuẩn

mực xây dựng người phụ nữ trong giai đoạn này chủ yếu vẫn là: Trung

hậu, đảm đang, trung với nước với nhà, với chồng con đi xa, với nhân dân đồng bào Những người chồng, người con đi chiền đấu, người phụ nữ một

mình ở lại hậu phương thay chồng nuôi con chăm sóc cha mẹ già yếu: “Anh

đi, việc nhà em đảm, việc nước việc làng em lo” Họ còn dũng cảm cầm

súng chiến đấu: “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”

Như chúng ta đã thấy, thời kỳ này, chuẩn mực công theo quan niệm

cũ không còn ảnh hưởng nặng nề đối với phụ nữ khi xã hội đang ngày càng phát triển theo chiều hướng đi lên cùng với xu thế toàn cầu hóa sẽ kéo theo

sự biến đổi về mọi mặt: Từ kinh tế cho đến văn hóa tư tưởng, lối sống Điều đó tác động không nhỏ tới đời sống của mỗi gia đình, trách nhiệm của người phụ nữ lúc này càng lớn lao hơn, họ không chỉ phải giữ cho cửa nhà

êm ấm, hạnh phúc mà còn phải sắp sếp làm công việc xã hội

Sự phát triển của công nghiệp khoa học kỹ thuật, những đô thị lớn đã tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia trực tiếp vào lao động sản xuất và các ngành nghề khác, đã có nhiều phụ nữ thành đạt trong nhiều lĩnh vực và nhiều hộ gia đình làm kinh tế giỏi Để có thêm thu nhập ngoài công việc chính thì họ còn tham gia làm thêm hay tăng gia sản xuất Như vậy phụ nữ thế kỉ XXI đã thể hiện được sự năng động linh hoạt và sáng tạo của mình

Trang 32

Họ đã ý thức được vị trí vai trò của mình, họ tự tin và rất có bản lĩnh Sự biến động đến chóng mặt của nền kinh tế thị trường, sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ đòi hỏi người phụ nữ phải hết sức nhạy bén, phải luôn trau dồi kiến thức rèn luyện tu dưỡng đạo đức bởi công việc đòi hỏi trình độ ngày càng cao, và cần có nghị lực phi thường, lạc quan và tỉnh táo để vượt qua khó khăn thử thách Việc phát huy truyền thống tốt đẹp của

dân tộc “nước nhà là một” là rất cần thiết để bảo vệ hạnh phúc gia đình và

ngăn chặn các tệ nạn xã hội cũng như sự biến đổi khó lường của nền kinh

tế thị trường

Tỉ lệ phụ nữ tham gia vào các lĩnh vực trong đời sống xã hội ngày càng nhiều, trong đó, nữ công nhân viên chức nhà nước là lực lượng nòng cốt, trong lĩnh vực khoa học kỹ thuât, văn hóa, xã hội chiếm 47% lao động

xã hội trong khu vực nhà nước; 51,5% trong các doanh nghiệp ngoại quốc doanh Trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, thương mại… là 60 đến 70%, ngân hàng, bưu điện,… lao động nữ chiếm khoảng 50%, trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, ngoại giao… chiếm khoảng 30%, trong tương lai lĩnh vực này co xu hướng tăng lên, phụ nữ là nông dân chiếm khoảng 70% Có những người đã vươn lên và trở thành những doanh nghiệp lớn, đội ngũ tri thức trong lao động nữ tuy số lượng còn chưa lớn nhưng đóng vai trò rất quan trọng và phát triển nhanh về số lượng

Phụ nữ ngày nay cũng không còn vất vả nhiều với những công việc

nữ công gia chánh do khoa học công nghệ phát triển, được chồng chia sẻ công việc nhà hay thuê người giúp việc cũng như một số lý do khác Tuy thế, việc bếp núc trong gia đình, chăm sóc con cái vẫn cần đến bàn tay người phụ nữ, người vợ vẫn đóng vai trò chủ chốt

Trang 33

Người đóng góp nhiều công sức nhất cho gia đình theo vùng điều tra

Đồng Bằng

Trung du Miền núi Chung

Ngày đăng: 22/12/2013, 16:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w