Nhiều Ngân hàng đang phải đối mặt với mức độ rủi ro tín dụng rất cao, trong đórủi ro về tổn thất nợ khó đòi là một trong những nhân tố cần được kiểm soát chặt chẽ.Không ít trường hợp, tổ
Trang 1KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÀI TẬP NHÓM MÔN: QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG – QTRR TÀI CHÍNH
TÊN ĐỀ TÀI
HOẠT ĐỘNG MUA BÁN NỢ TẠI CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
THỰC TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG ỨNG
DỤNG TẠI VIỆT NAM
Giảng viên: Học viên thực hiện:
PGS TS Trần Huy Hoàng 1 Nguyễn Thành Dũ – 2611014
2 Võ Đặng Phương Duy – 2611020
3 Nguyễn Trung Hiếu – 2611032
Lớp: CH Kinh tế Tài chính ngân hàng
Khóa: 18
Cần Thơ - 9/2012
Trang 2B NỘI DUNG 2
I LÝ THUYẾT MUA BÁN NỢ 2
1 Sự hình thành của thị trường mua bán nợ 2
1.1 Khái niệm 2
1.2 Sự ra đời của thị trường mua bán nợ 2
1.3 Đối tượng áp dụng 3
1.4 Vai trò của thị trường mua bán nợ trong hệ thống tài chính 3
1.5 Nguyên tắc mua, bán nợ 3
2 Nợ xấu và các biện pháp xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại 4
2.1 Khái niệm nợ xấu 4
2.3 Ảnh hưởng của nợ xấu đến hoạt động của ngân hàng thương mại 5
2.4 Các hướng xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại 6
3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả nghiệp vụ mua, bán nợ 6
3.1 Quy định của pháp luật, của Ngân hàng Nhà nước và của các Ngân hàng thương mại 6
3.2 Thực trạng các khoản nợ 7
3.3 Sự minh bạch của thông tin 8
II TỔNG QUAN VÀ THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ 9
1 Thị trường mua bán nợ thế giới 9
2 Thị trường mua bán nợ trong nước 12
2.1 Thực trạng thị trường mua bán nợ 12
2.2 Đề xuất ra đời công ty mua bán nợ và hoàn thiện các quy trình thủ tục mua bán nợ 13
III NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VIỆC MUA BÁN NỢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 16
1 Thuận lợi 16
2 Khó khăn 16
3 Khả năng ứng dụng vào Việt Nam 17
C KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 3A GIỚI THIỆU
Trên thế giới có nhiều nước đã áp dụng việc mua bán nợ giữa các tổ chức, khôngchỉ riêng Mỹ mà Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc… các quốc gia trên đã giải quyết rấtthành công Tuy nhiên, mỗi quốc gia áp dụng một số biện pháp khác nhau Một sốquốc gia sử dụng ngân sách để mua lại nợ xấu , thậm chí còn chấp nhận mất đi một sốtiền để giải quyết, xoá nợ Còn những khoản nợ có thể mua, bán thu hồi vốn thì họchấp nhận lỗ một phần nào đó Đây là một vấn đề mà Việt Nam cần phải học tập kinhnghiệm
Nợ xấu tại Việt Nam tính đến tháng 06/2012 trên 256.000 tỷ đồng (Số liệuNHNN Việt Nam) nhưng đó chỉ là giá trị được ghi theo sổ sách, còn giá trị thực vẫncòn là một vấn đề cần phải đánh giá lại Rất nhiều khoản nợ vướng mắc do định giá tàisản quá cao, do những phức tạp liên quan đến vấn đề thủ tục Đặc biệt ở Việt Nam lạixuất hiện nhiều trường hợp một tài sản của một công ty được thế chấp tại nhiều ngânhàng và đang trong thế tranh chấp
Và để giải quyết vấn đề trên, các tổ chức mua bán nợ cần phải phân loại ra,những khoản nợ có thể mua và sau đó có thể bán được nhằm tránh những khoản nợsau khi mua xong không thể bán được Khi những tài sản mua rồi thì không bán đượcbuộc Nhà nước phải chấp nhận hy sinh một phần nào đó để giải quyết Đề tài sẽ phântích cách làm của Việt Nam đối với hoạt động mua bán nợ tại các ngân hàng thươngmại (NHTM), từ đó đưa ra thực trạng và khả năng ứng dụng việc mua bán này vàoViệt Nam
Trang 41.2 Sự ra đời của thị trường mua bán nợ
Trong thời đại ngày nay, kinh doanh ngày một phát triển kéo theo sự đa dạngcũng như mức độ phức tạp của mối quan hệ Ngân hàng - Người vay Không mộtdoanh nghiệp nào tránh khỏi những khoản nợ phát sinh, và điều này đã trở thành mộtyếu tố tất nhiên trong các hoạt động kinh doanh thường nhật của doanh nghiệp
Nhiều Ngân hàng đang phải đối mặt với mức độ rủi ro tín dụng rất cao, trong đórủi ro về tổn thất nợ khó đòi là một trong những nhân tố cần được kiểm soát chặt chẽ.Không ít trường hợp, tổn thất do các khoản nợ bị "ngâm" của các Ngân hàng liên tụcgia tăng, làm suy giảm năng lực cạnh tranh, thậm chí dẫn tới nguy cơ phá sản
Trong bối cảnh khó khăn này, nghiệp vụ mua bán nợ trở thành vị cứu tinh khi nó
có thể giải quyết được tình trạng bế tắc về nợ nần, giúp Ngân hàng thu hồi vốn để hoạtđộng Thường thì trước những khoản nợ xấu khó có khả năng thu hồi được vốn đa sốthường nghĩ rằng sẽ bị mất trắng khoản tiền này, may ra thì cũng chỉ thu hồi được mộtchút nhưng không đáng kể Vậy nhưng những khoản nợ đó lại đang trở thành những
cơ hội làm ăn của một loại hình kinh doanh đặc biệt: Mua bán nợ
Trong một nền kinh tế đầy cạnh tranh, việc các Ngân hàng gặp phải những khoản
nợ xấu khó đòi đang diễn ra nhiều hơn Những khoản nợ xấu đó sẽ là một vết đen trênbảng cân đối kế toán của các Ngân hàng Việc mất vốn dường như đã cầm chắc trongtay Vậy nhưng nhờ nghiệp vụ bán nợ, các Ngân hàng đã có thể thoát khỏi gánh nặngnày với việc thu hồi lại được một phần vốn Công ty mua bán nợ sẽ mua lại các khoản
nợ này với giá hợp lý, để rồi biến các khoản nợ đó thành phần góp vốn liên doanh củamình tại các doanh nghiệp mắc nợ, hoặc bán lại cho một bên thứ ba
Hoạt động bán nợ là một lĩnh vực kinh doanh đã xuất hiện từ lâu trên thế giới.Ngay trong khu vực Châu Á một số quốc gia như Hàn Quốc, Malaixia, Thái Lan…
Trang 5cũng đã có hoạt động bán nợ kể từ khi bùng phát cuộc khủng hoảng tài chính năm
1997 Đến nay hoạt động bán nợ trên thế giới đã trở thành một ngành kinh doanh cực
kỳ sôi động và chuyên nghiệp
1.3 Đối tượng áp dụng
- Công ty mua, bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp thành lập theo Quyếtđịnh số 109/2003/QĐ-TTg ngày 5/6/2003 của Thủ tướng Chính phủ (sau đây gọi tắt làCông ty mua, bán nợ); mới đây nhất là Quyết định số 59/2006/QĐ-NHNN ngày21/2/2006 cho phép và quy định việc mua bán nợ giữa các NHTM:
- Các doanh nghiệp có nợ phải thu, tài sản tồn đọng bán cho Công ty mua, bánnợ;
- Các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân mua nợ và tài sản tồn đọng của Công tymua, bán nợ;
- Các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có nợ phải trả;
- Các doanh nghiệp, tổ chức đang giữ hộ nợ, tài sản loại trừ không tính vào giá trịdoanh nghiệp khi chuyển đổi sở hữu công ty Nhà nước
1.4 Vai trò của thị trường mua bán nợ trong hệ thống tài chính
Tránh rủi ro tài chính: Một trong những nguyên nhân chính gây nên tình trạngkhó khăn, phá sản ở phần lớn các Ngân hàng là việc bị chiếm dụng vốn do khách hàngkhông thanh toán các khoản nợ Do đó, việc quản lý rủi ro các khoản nợ không có khảnăng thanh toán của khách hàng trong tín dụng thương mại là một trong những mốiquan tâm hàng đầu của các Ngân hàng Và rủi ro này có thể tránh được khi bán cáckhoản nợ của mình cho một công ty chuyên biệt chuyên mua các khoản nợ Chính cáccông ty này với nghiệp vụ kinh doanh chuyên nghiệp của mình có thể mua lại cáckhoản nợ, bù lại họ sẽ được hưởng lợi nhuận từ việc mua các khoản nợ thấp hơn giá trịthực của các khoản nợ đó
Tạo vốn trong kinh doanh: Điều này có nghĩa là công ty mua nợ sẽ trả tiền ngaytức thì khi chuyển quyền sở hữu các khoản phải thu Thông qua hình thức này, nhiềuNgân hàng không những giải phóng được các khoản nợ khó đòi mà còn có thêm nguồnvốn tái đầu tư cũng như sử dụng vốn có hiệu quả hơn từ việc bán khoản nợ
1.5 Nguyên tắc mua, bán nợ
- Đảm bảo an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nướcngoài
Trang 6- Phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế.
- Đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia mua, bán nợ
- Công khai, minh bạch và phản ánh đúng thực trạng khoản nợ
- Các bên liên quan đến giao dịch mua, bán nợ phải tự chịu trách nhiệm trong cácquyết định liên quan đến giao dịch mua, bán nợ
- Bên mua nợ khi mua khoản nợ sẽ trở thành chủ nợ đối với bên nợ
- Trường hợp mua, bán nợ lại các khoản nợ đã được mua, bán, thì mỗi lần mua,bán đều phải lập và ký kết hợp đồng mua, bán nợ
2 Nợ xấu và các biện pháp xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại
2.1 Khái niệm nợ xấu
Nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghingờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy rakhi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản Nợ xấu gồm gồm cáckhoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên thường quá ba tháng căn cứ vào khả năng trả
nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp
Bản chất của nợ xấu là một khoản tiền cho vay mà chủ nợ xác định không thể thuhồi lại được và bị xóa sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của chủ nợ Đối vớicác ngân hàng, nợ xấu tức là các khoản tiền cho khách hàng vay, thường là các doanhnghiệp, mà không thể thu hồi lại được do doanh nghiệp đó làm ăn thua lỗ hoặc phásản, Nhìn chung, một doanh nghiệp luôn phải ước tính trước những khoản nợ xấutrong chu kỳ kinh doanh hiện tại dựa vào những số liệu nợ xấu ở kì trước
Theo quy định của NHNN: nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm
3 (Nợ dưới chuẩn), nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn)
2.2 Nợ xấu nội bảng và nợ xấu hạch toán ngoại bảng
Nợ xấu nội bảng bao gồm các khoản nợ xấu được phân loại nợ nhóm 3, nhóm 4
và nhóm 5 theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và được hạch toán trên các tàikhoản ở nội bảng
Đối với các khoản nợ xấu nhóm V, theo quy định tại Quyết định số493/2005/QĐ-NHNN, sau khi đã sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng, tổ chứctín dụng phải chuyển các khoản nợ đã được xử lý rủi ro tín dụng từ hạch toán nội bảng
ra hạch toán ngoại bảng để tiếp tục theo dõi và có các biện pháp để thu hồi nợ triệt để.Đây chính là các khoản nợ xấu được hạch toán trên tài khoản ở ngoại bảng
Trang 7Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất cóthể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết.
Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của tổchức tín dụng
Những trường hợp được xử lý từ quỹ dự phòng rủi ro là khi khách hàng vay vốn,bên được bảo lãnh vay vốn, bên được hưởng dịch vụ thanh toán là những tổ chức bịgiải thể, phá sản hoặc cá nhân bị chết, mất tích hoặc không thực hiện được các nghĩa
vụ nợ do bất khả kháng và những khoản nợ thuộc nhóm 5 - Nợ có khả năng mất vốn
2.3 Ảnh hưởng của nợ xấu đến hoạt động của ngân hàng thương mại
Phát sinh nợ xấu là tất yếu trong kinh doanh nói chung, hoạt động của ngànhngân hàng nói riêng Các ngân hàng thương mại phải chật vật đối phó với các khoản
nợ xấu do những ảnh hưởng tiêu cực to lớn của nó đối với hoạt động kinh doanh củangân hàng
- Nợ xấu làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.
Nợ xấu làm cho doanh thu thấp (do không thu được lãi vay), dẫn đến lợi nhuậnthu được thấp (nằm ngoài dự kiến), thậm chí là lỗ Hơn nữa, khi phát sinh nợ xấu,ngân hàng phải thực hiện trích lập đủ dự phòng rủi ro theo quy định Như vậy, khi nợxấu tăng cao, thu nhập của ngân hàng bị suy giảm trong khi phải tăng số tiền trích lập
dự phòng rủi ro cho các khoản nợ xấu sẽ khiến cho lợi nhuận còn lại của ngân hàngcàng bị suy giảm, thậm chí không còn lợi nhuận Mặt khác, chi phí phát sinh do nợ xấutăng lên là rất lớn: chi trả lãi tiền gửi (vì không thu hồi được nợ để thanh toán); chi phíquản lý, xử lý nợ xấu và các chi phí khác liên quan Điều này làm giảm khả năng cạnhtranh của ngân hàng, giảm uy tín, ảnh hưởng đến các lĩnh vực kinh doanh khác
- Nợ xấu làm ảnh hưởng đến việc hoạch định chiến lược kinh doanh, phát triển của Ngân hàng.
Các khoản nợ xấu phát sinh dẫn đến ngân hàng không thu được gốc và lãi đúnghạn, vòng quay vốn tín dụng chậm, giảm tốc độ chu chuyển vốn làm giảm hiệu quả sửdụng vốn, thậm chí mất vốn, giảm doanh thu và lợi nhuận của ngân hàng Điều nàyảnh hưởng đến việc hoạch định kế hoạch phát triển dài hạn của Ngân hàng
Đồng thời, các khoản nợ xấu sẽ đòi hỏi phải tiêu tốn thời gian, nhân lực và vậtlực để xử lý khiến việc tập trung phát triển Ngân hàng cũng bị ảnh hưởng
Trang 8- Nợ xấu ảnh hưởng đến uy tín của Ngân hàng trên thị trường trong nước và trên thế giới.
Các tổ chức xếp hạng tín dụng coi nợ xấu Ngân hàng là một trong các tiêu chí
để thực hiện xếp hạng tín dụng đối với Ngân hàng Điều này có ý nghĩa đặc biệt quantrọng khi là các tổ chức có uy tín trên thế giới như Moody, Standard&Poor’s Đây là
sẽ vấn đề làm giảm khả năng cạnh tranh của các Ngân hàng khi hội nhập vào nền kinh
tế thế giới
- Nợ xấu gia tăng khả năng phá sản của Ngân hàng
Việc không thu hồi được các khoản nợ, uy tín bị sút giảm, tâm lý e ngại, lo sợcủa khách hàng khi thực hiện quan hệ với Ngân hàng dẫn đến số lượng khách hànggiao dịch giảm sút ồ ạt
Khả năng thanh khoản của Ngân hàng cũng sẽ là một vấn đề khi nguồn vốn sửdụng không tương xứng với nguồn vốn huy động Đây là các nguyên nhân làm giatăng khả năng phá sản của Ngân hàng
2.4 Các hướng xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại
Có rất nhiều cách thức xử lý một khoản nợ xấu phát sinh trong bảng cân đối kếtoán Trong đó, ba cách phổ biến nhất là:
+ Bán tài sản đảm bảo hay kiện ra tòa xin phá sản doanh nghiệp để tận thu, phầntổn thất sẽ dùng quỹ dự phòng rủi ro để xử lý
+ Dùng quỹ dự phòng rủi ro chuyển toàn bộ khoản nợ ra ngoại bảng rồi tiếp tục
áp dụng các biện pháp đôn đốc, thu hồi nợ
+ Bán khoản nợ này cho các tổ chức có chức năng mua, bán nợ; phần tổn thấtcũng dùng quỹ dự phòng rủi ro để xử lý
3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả nghiệp vụ mua, bán nợ
3.1 Quy định của pháp luật, của Ngân hàng Nhà nước và của các Ngân hàng thương mại
Đây có thể coi là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả nghiệp vụ mua, bán nợcủa các ngân hàng thương mại đặc biệt là các Ngân hàng thương mại quốc doanh, cácNgân hàng thương mại có sự chi phối của Nhà nước
Do thị trường mua, bán nợ tại Việt Nam còn đang trong quá trình bắt đầu pháttriển, kinh nghiệm trong hoạt động mua, bán nợ hầu như không có Hành lang pháp lý
Trang 9cho hoạt động mua, bán nợ là cơ sở chủ yếu để các Ngân hàng đưa ra các quy định,hướng dẫn cụ thể và áp dụng trong thực tế.
Bản thân quy định của các Ngân hàng thương mại cũng sẽ ảnh hưởng đến nghịêp
vụ bán nợ Có những Ngân hàng chú trọng đến việc xử lý nợ xấu bằng biện pháp bán
nợ thì sẽ có những quy định, hướng dẫn cụ thể Bản thân các Ngân hàng này lại cónhững quy định riêng biệt so với quy định chung của Ngân hàng Nhà nước do đặc thùkinh doanh của Ngân hàng, do quan điểm xử lý nợ
Tuy nhiên, có những Ngân hàng thì nghiệp vụ bán nợ hầu như chưa thực hiện,chỉ thực hiện việc chuyển giao khoản nợ trong nội bộ (cho công ty quản lý và khaithác tài sản của Ngân hàng - AMC)
3.2 Thực trạng các khoản nợ
Thực trạng của khoản nợ bao gồm:
+ Trạng thái của khoản nợ: khoản nợ hiện đang hạch toán nội bảng hoặc đanghạch toán ngoại bảng Thông thường, các khoản nợ hạch toán ngoại bảng là các khoản
nợ đã được các Ngân hàng sử dụng quỹ dự phòng rủi ro để xử lý có khả năng thu hồithấp hơn nhiều so với các khoản nợ hiện đang hạch toán nội bảng Đối với các khoản
nợ hạch toán nội bảng thì cũng được xếp từ nhóm 1 đến nhóm 5 theo Quyết định số493/QĐ-NHNN
+ Tình hình tài sản đảm bảo: tài sản đảm bảo hầu như là nguồn thu chủ yếu vàduy nhất của các khoản nợ (đối với các khoản nợ có tài sản đảm bảo) Việc nắm bắtđược chính xác tình hình tài sản đảm bảo của khoản nợ sẽ gia tăng khả năng đàm phánmức giá bán nợ cũng như sẽ đảm bảo một mức giá bán nợ phù hợp cho Ngân hàng.+ Tình hình khách hàng: thiện chí trả nợ của khách hàng, tình hình hoạt động sảnxuất kinh doanh, khả năng phục hồi cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến việc mua,bán một khoản nợ
+ Khả năng thu hồi các khoản nợ: đây chính là một trong các yếu tố cơ bản đểxác định giá bán một khoản nợ Khả năng thu hồi càng cao, thời gian thu hồi càngngắn thì giá mua, bán nợ càng gần với giá trị của khoản nợ (gốc+lãi+phí phát sinh).Bên cạnh việc xác định khả năng thu hồi các khoản nợ từ việc xử lý tài sản đảm bảocủa khoản vay còn có thể xác định từ việc dự đoán các nguồn thu nhập khác của kháchhàng
Trang 10Tuy nhiên, có những trường hợp, việc xác định khả năng thu hồi một khoản nợ làkhông hề dễ dàng, việc dự đoán đôi khi không chính xác, thậm chí còn sai lệch hoàntoàn Đây là rủi ro trong quá trình bán nợ của Ngân hàng, vì nếu dự báo không chínhxác thì có thể mức giá bán nợ sẽ rất thấp so với mức giá trị còn lại của khoản nợ vànhư thế thì gây thất thoát vốn cho Ngân hàng
Tóm lại, trên cơ sở thực trạng các khoản nợ, các Ngân hàng sẽ có các biện phápứng xử phù hợp Trong trường hợp dự định bán nợ, tuỳ từng thực trạng, tính chấtkhoản nợ mà Ngân hàng thoả thuận mức giá bán phù hợp cũng như chọn lựa đối tácmua nợ
3.3 Sự minh bạch của thông tin
Sự minh bạch của thông tin cũng có thể được coi là một trong các nhân tố ảnhhưởng đến nghiệp vụ mua, bán nợ của Ngân hàng Sự minh bạch thông tin ở đây đượchiểu là sự minh bạch về thông tin khách hàng, thông tin tình hình quan hệ tín dụng củakhách hàng
Khi có đầy đủ, chính xác và kịp thời các thông tin liên quan đến khoản nợ màNgân hàng dự kiến bán thì khả năng thu hồi vốn, khả năng đàm phán tăng giá bán nợ
sẽ tăng, hiệu quả của nghiệp vụ bán nợ tăng lên nhiều so với tình trạng thông tin không
rõ ràng, minh bạch
Có một tiền lệ tồn tại nhiều năm tại Việt nam, gây cản trở cho quá trình xử lý nợxấu là nợ xấu của các ngân hàng luôn là câu hỏi không có trả lời chính xác Trong khicác công ty kiểm toán, các định chế tài chính quốc tế nhận định số nợ khó đòi của cácngân hàng Việt Nam rất cao, thì bản thân các tổ chức tín dung công bố luôn ở mứcthấp Tại sao có sự bất nhất này, nếu không nói là sự kém minh bạch để đi đến thốngnhất thông tin, bên cạnh sự khác biệt về tiêu chí phân loại Do đó, minh bạch thông tin
nợ xấu được xem là chìa khoá để khách nợ và chủ nợ, vai trò của định chế trung giangặp nhau và tìm được giải pháp
Thông tin chung về nợ tồn đọng của các doanh nghiệp (đặc biệt là các doanhnghiệp nhà nước) chưa được thu thập, theo dõi, cập nhật một cách thường xuyên và có
hệ thống, chưa có đủ chế tài cho chủ nợ và khách nợ theo dõi và báo cáo tình hình nợtồn đọng một cách thường xuyên Ngay cả trong các văn bản chính thức còn chưaphân biệt được các khái niệm như nợ tồn đọng, nợ xấu, nợ khó đòi, nợ quá hạn, nợdưới chuẩn
Trang 11II TỔNG QUAN VÀ THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ
1 Thị trường mua bán nợ thế giới
Hoạt động mua bán nợ đã xuất hiện từ lâu trên thế giới Các quốc gia trong khuvực như Hàn Quốc, Malayxia, Thái Lan cũng đã có hoạt động mua bán nợ kể từ khibùng phát cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 Ở các nước Malayxia, Hàn Quốccòn ban hành những bộ luật về mua bán xử lý nợ xấu…
Có thể tham khảo hoạt động mua, bán nợ trên thế giới qua một thị trường tàichính có nhiều điểm tương đồng với thị trường tài chính Việt Nam là Trung Quốc nhưsau:
Huarong Asset Management (AMC) tại Trung Quốc
Từ cuối thập kỷ 20, nợ khó đòi trong các ngân hàng thương mại quốc doanhTrung Quốc đã trở thành một quả bom hẹn giờ đặt trong lòng ngành tài chính nướcnày, với mức nợ khó đòi lên tới khoảng 10-25% tổng dư nợ cho vay, tùy theo ước tính.Một phần các khoản cho vay khó đòi này là các khoản cho vay đầu tư vào bấtđộng sản, đầu cơ chứng khoán, và các dự án sản xuất quá tham vọng trong thời kỳkinh tế bong bóng của thập kỷ 90 Một phần lớn hơn là các khoản tín dụng gần nhưcấp phát cho các doanh nghiệp Nhà nước (tổng số lên tới 17.000 doanh nghiệp lớn),trong số đó có nhiều doanh nghiệp thua lỗ triền miên, phải phụ thuộc vào trợ giúp vềvốn của nhà nước, thông qua các ngân hàng thương mại quốc doanh, để tồn tại
Nợ khó đòi đã làm cho một ngân hàng thương mại và hàng chục tổ chức đầu tưtín thác phải đóng cửa vì mất khả năng chi trả, và tiếp tục đe dọa sự tồn tại của nhiều
tổ chức tín dụng khác Các ngân hàng thương mại quốc doanh, chiếm đến trên 80%tổng dư nợ cho vay trong hệ thống ngân hàng, đã cố gắng giải quyết vấn đề nợ khó đòinhưng họ không hành động đủ nhanh
Nhận thức được tính nghiêm trọng của vấn đề, Chính phủ Trung Quốc đã thànhlập lần lượt bốn tổ chức quản lý tài sản (AMC) năm 1999 như là một giải pháp tốithượng cho vấn đề nợ khó đòi vì thông qua các AMC, ngân hàng thương mại có thểngay lập tức gạt bỏ các khoản nợ khó đòi ra khỏi bảng tổng kết tài sản để trở nên lànhmạnh hơn
Được thành lập theo mô hình của tổ chức Resolution Trust and Corporation của
Mỹ, các tổ chức AMC của Trung Quốc có một nhiệm vụ lớn: “dọn dẹp” các khoản nợkhó đòi làm trong sạch bảng cân đối tài sản của các ngân hàng thương mại Về vốn, tổ