Mặc dù sau mỗi lần điều chỉnh, tỷ giá chính thức đều lên kịch trầnnhưng tỷ giá trên thị trường không chính thức tỷ giá thị trường tự do vẫn luôn nằmngoài biên độ cho phép của Ngân hàng N
Trang 21 Lý do chọn đề tài:
Thời gian vừa qua kinh tế Việt Nam đã tồn tại song song cơ chế hai tỷ giá Điều đó đãkhiến cho các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính ngân hàng… lúng túng trong việchạch toán và nó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả kinh doanh của các tổ chứckinh tế đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam Đồng thời, nó cũng gây không ít khókhăn cho NHNN trong việc điều hành tỷ giá
Tuy nhiên, bằng những biện pháp cụ thể và kiên quyết, NHNN đã có những biện pháplàm hạ nhiệt đồng USD, đồng thời kéo cơ chế hai tỷ giá về cơ chế một tỷ giá Song, câuhỏi được đặt ra là “Các biện pháp đó có hiệu quả trong dài hạn?”
Vì vậy, để trả lời câu hỏi trên, nhóm nghiên cứu chúng tôi đã chọn đề tài “Hiệu quả
của những chính sách bình ổn tỷ giá từ năm 2008 đến tháng 5/2011”
2 Hướng nghiên cứu:
Thống kê, phân tích các chính sách bình ổn tỷ giá mà NHNN đã ban hành trong khoảngthời gian từ 2008 đến tháng 5/2011
Thông qua các kết quả đạt được trong ngắn hạn, đánh giá hiệu quả của các chính sách
đó trong dài hạn (đến năm 2016)
3 Phạm vi nghiên cứu:
Các chính sách bình ổn tỷ giá của NHNN từ năm 2008 đến tháng 5/2011
Trong pham vi đề tài nghiên cứu này chỉ để cập đến USD vì tổng giá trị thanh toán bằngUSD chiếm đa số trong nền kinh tế
4 Đối tượng nghiên cứu:
Các biện pháp bình ổn tỷ giá của NHNN trong thời gian từ 2008 đến 31/5/2011 Cácbiện pháp bình ổn trên được thể hiện thông qua các thông tư nghị định của NHNN vàcủa Chính phủ trong thời gian nghiên cứu trên
5 Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu thống kê, tổng hợp, diễn dịch và quy nạp:
- Phương pháp thống kê, tổng hợp: dùng để thu thập các thông tư, nghị định, các văn
bản, pháp lệnh về ngoại hối liên quan đến việc kiểm soát ngoại hối và điều hành chínhsách tỷ giá của NHNN từ năm 2008 đến tháng 5/2011
- Phương pháp diễn dịch: dựa trên thông tin thống kê thu thập được để phân tích và
đánh giá hiệu quả của các phương pháp đó dài hạn Đánh giá cung cầu ngoại tệ trên thịtrường thông qua các báo cáo
- Phương pháp qui nạp: trên cơ sở phân tích và đánh giá trên nhóm sẽ tổng hợp lại các
biện pháp bình ổn tỷ giá của NHNN và Chính phủ Dự báo hiệu quả của những chínhsách trên trong dài hạn và có những kiến nghị phù hợp
CHƯƠNG 1
Trang 3DIỄN BIẾN TỶ GIÁ TỪ ĐẦU NĂM 2008 ĐẾN THÁNG 5/2011
1.1 Diễn biến tỷ giá năm 2008:
Năm 2008 là năm tỷ giá có nhiều biến động mạnh; biên độ tỷ giá liên tiếp 3 lần nớirộng, 2 lần được tăng mạnh trực tiếp ở tỷ giá bình quân liên ngân hàng (tháng 6 và tháng12), những điều chỉnh chưa từng có trong lịch sử
Trong những tháng đầu năm, thị trường có hiện tượng ứ đọng ngoại tệ, tỷ giá có lúcxuống “đáy” 15.300 VND; nhiều doanh nghiệp, ngành hàng xuất khẩu phải thông quacác hiệp hội yêu cầu ngân hàng đẩy mạnh mua vào USD, tháo gỡ khó khăn Nhưng từtháng 5, “cơn sốt” khan hiếm ngoại tệ lại diễn ra căng thẳng trên cả thị trường chínhthức lẫn thị trường tự do Nhiều doanh nghiệp phải mua với giá trên 18.000 VND, chiphí tài chính bị đẩy cao, ảnh hưởng đến lợi nhuận
Với sự can thiệp của Ngân hàng Nhà nước, cũng như năng lực dự trữ ngoại hối lần đầutiên được công khai một cách chính thức, tỷ giá ổn định dần về cuối năm
1.1.1 Giai đoạn từ 01/01/2008 – 25/03/2008:
Tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng liên tục sụt giảm, từ mức 16.112 VNĐ/USD xuốngdần đến 15.960 VNĐ/USD và mức thấp nhất là 15.500 VNĐ/USD Trên thị trường tự
do, USD dao động từ mức 15.700 – 16.000 VND/USD Các nguyên nhân chủ yếu:
Thứ nhất: thời điểm này đang ở gần tết Dương lịch nên lượng kiều hối chuyển về nước
là khá lớn
Thứ hai: các nhà đầu tư dự kiến VND sẽ tăng giá so với USD, cộng thêm chênh lệch lãi
suất lớn giữa USD và VND nên các nhà đầu tư đẩy mạnh việc bán USD chuyển quaVND
Thứ ba: thời điểm này doanh nghiệp có ngoại tệ, đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩu
khốn khổ vì không bán được ngoại tệ cho Ngân hàng Đối với khách hàng cá nhân thìNgân hàng rất hạn chế mua, nếu có chỉ từ 100 - 300USD, một số Ngân hàng thì từ chốimua của khách hàng vãng lai
Trong khoảng thời gian này, Chính phủ và NHNN đẩy mạnh việc kiềm chế lạm phát, sửdụng biện pháp tiền tệ thắt chặt, tăng lãi suất cơ bản từ 8,25%/năm (tháng 12/2007) lên8,75%/năm (tháng 2/2008) NHNN không thực hiện mua ngoại tệ USD nhằm hạn chếviệc bơm tiền ra lưu thông, tăng biên độ tỷ giá USD/VND từ 0,75%/năm lên 1%/nămtrong ngày 10/03/2008
1.1.2 Giai đoạn từ 26/03/2008 – 16/07/2008:
Tỷ giá tăng với tốc độ chóng mặt, tạo cơn sốt USD trên cả thị trường liên ngân hàng lẫnthị trường tự do Trong giai đoạn này, tỷ giá tăng dần đều và đột ngột tăng mạnh từ giữatháng 6, đỉnh điểm lên đến 19.400 VND/USD vào ngày 18/06, cách hơn 2.600 đồng sovới mức trần, còn trên TTTD cao hơn khoảng 100 - 150 đồng, sau đó dịu lại khi NHNNnới biên độ từ 1% lên +/2% vào ngày 27/6
NHNN đã ban hành một loạt các chính sách nhằm bình ổn thị trường ngoại tệ như kiểmsoát chặt các đại lý thu đổi ngoại tệ (cấm mua bán ngoại tệ trên thị trường tự do), cấm
Trang 4mua bán USD thông qua ngoại tệ khác để lách biên độ, cấm nhập khẩu vàng và chophép xuất khẩu vàng; bán ngoại tệ can thiệp thị trường thông qua các NHTM lớn.
1.1.3 Giai đoạn từ 17/07/2008 – 15/10/2008:
Giai đoạn này tỷ giá giảm mạnh và dần đi vào ổn định, tỷ giá giảm mạnh từ 19.400VND/USD xuống 16.400 VND/USD và giao dịch bình ổn quanh mức 16.600VND/USD trong giai đoạn từ tháng 08 đến tháng 11
1.1.4 Giai đoạn từ 16/10/2008 – hết năm 2008:
Tỷ giá USD tăng trở lại, tỷ giá VND/USD tăng đột ngột trở lại từ mức 16.600VND/USD lên mức cao nhất là 16.998 VND/USD sau đó giảm nhẹ Giao dịch nằmtrong biên độ tỷ giá Tuy nhiên cung hạn chế, cầu ngoại tệ vẫn lớn Sau khi NHNN tăngbiên độ tỷ giá từ 2% lên 3% trong ngày 07/11/2008, tỷ giá lại tăng tới mức 17.440VND/USD
1.2 Diễn biến tỷ giá năm 2009:
Năm 2009 là năm thứ hai liên tiếp thị trường ngoại hối bộc lộ những khó khăn rõ nét vànhững vấn đề nội tại chưa thể giải quyết Có thể xem căng thẳng ngoại tệ là một trongnhững điểm nổi bật nhất của kinh tế Việt Nam năm 2009, nhất là khi xét đến những ảnhhưởng của nó đối với hoạt động doanh nghiệp và tâm lý người dân
Căng thẳng trên thị trường bắt đầu xuất hiện từ quý II, khi nhiều doanh nghiệp găm giữngoại tệ, không chịu bán lại cho ngân hàng dẫn đến mất cân đối cung – cầu, tình trạngnày kéo dài cho đến cuối năm Bên cạnh đó, tín dụng ngoại tệ giảm rất mạnh trong nửađầu năm (chủ yếu do doanh nghiệp ngại vay vì lo rủi ro tỷ giá, đến tháng 5 giảm tới9,55% so với cuối năm 2008) lại tạo ra hiện tượng đối ngược là ứ đọng vốn ngoại tệ tạicác ngân hàng Từ đây, năm 2009 có tình huống ít thấy là trong tháng 6 năm ngân hànglớn “bắt tay” giảm lãi suất huy động USD, áp tối đa 1,5%/năm và áp lãi suất vay caonhất chỉ 3%/năm để kích cầu
Tình trạng doanh nghiệp găm giữ ngoại tệ kéo dài, việc mua ngoại tệ khó khăn Thủtướng Chính phủ phải có ý kiến yêu cầu các tập đoàn, tổng công ty nhà nước có nguồnthu ngoại tệ lớn bán lại cho ngân hàng để góp phần giải tỏa nguồn cung Cùng vớinhững điều chỉnh ngày 26/11/2009 nói trên, chỉ đạo của Thủ tướng đã góp phần tạo ổnđịnh hơn cho thị trường ngoại hối và tỷ giá trong tháng 12 này
Một diễn biến nổi bật khác là trong phần lớn thời gian của năm, các ngân hàng thươngmại duy trì trạng thái niêm yết giá mua ngoại tệ ngang với giá bán Giá USD của ngânhàng cũng chính thức vượt mốc 18.000 VND; trên thị trường tự do có thời điểm lên gầnmốc 20.000VND/USD; tỷ giá bình quân liên ngân hàng cả năm dự kiến tăng 5,7% Vàđáng chú ý là dự trữ ngoại tệ từ 20,7 tỷ USD (tháng 6/2008) đã giảm mạnh còn khoảng16,5 tỷ USD hiện nay
Năm 2009 có thể coi là năm “tiền tệ” tại Việt Nam Tỷ giá USD/VND tăng mạnh, nhậpsiêu cao, lạm phát đứng trước áp lực tăng trở lại vào năm 2010, khan hiếm cục bộ USD,giá vàng sốt nóng, lãi suất ngân hàng lên kịch trần
Tỷ giá chính thức giữa USD và VND trong năm 2009 đã trải qua hai lần điều chỉnh, một
Trang 5lần vào tháng 3 (+2%) do tăng biên độ giao dịch từ 3% lên 5% và lần tiếp theo là vàotháng 11 (+3,4%) Mặc dù sau mỗi lần điều chỉnh, tỷ giá chính thức đều lên kịch trầnnhưng tỷ giá trên thị trường không chính thức (tỷ giá thị trường tự do) vẫn luôn nằmngoài biên độ cho phép của Ngân hàng Nhà nước.
Diễn biến tỷ giá VND/USD 2008 – 2009
1.3 Diễn biến tỷ giá năm 2010:
Thị trường ngoại tệ lại tiếp tục bất ổn khi mà tỷ giá thị trường tự do tiếp tục dẫn dắt thịtrường, cao điểm phát sinh từ 01/10-31/12/2010, có thời điểm giá tự do cao hơn giá trầnNHNN tới 2000 VND/USD Nguyên nhân chủ yếu là do sự chênh lệch giá vàng trongnước và thế giới khuyến khích nhập vàng đẩy giả USD tự do lên cao, điều này kéo theogiá giao dịch của Ngân hàng tăng theo
Mặc dù NHNN đã có những giải pháp tích cực đầu năm như kết hối các tập đoàn nhànước, giảm mạnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các tổ chức tín dụng Việcgiảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ từ 7% xuống 4% đối với kỳ hạn dưới 12 tháng,
từ 3% xuống 2% đối với kỳ hạn trên 12 tháng đã làm tăng nguồn vốn khoảng 500 triệuUSD (9.000 tỷ đồng) cho các ngân hàng thương mại để cho vay trên thị trường, quyđịnh mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của tổ chức kinh tế tại tổ chức tín dụng là1%/năm Tuy nhiên, đến cuối năm tỷ giá vẫn chưa về trong biên độ nhà nước cho phép(giá giao dịch thị trường khoảng 20.700VND/USD, trong khi đó trần của NHNN là19.500VND/USD)
Có thể nhận thấy rằng trong năm 2010 Việt Nam tiếp tục nhập siêu và các chính sáchcủa NHNN vẫn chưa đủ mạnh, chưa giải quyết được các vấn đề cốt lõi là giảm nhậpsiêu và củng cố niềm tin cho đồng VND
1.4 Diễn biến tỷ giá trong năm tháng đầu năm 2011:
Những tháng đầu năm tỷ giá giao dịch tiếp tục cao hơn giá NHNN công bố cho tới ngày11/02/2011 NHNN quyết định điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ 18.932
VND/USD lên 20.693 VND/USD, đồng thời thu hẹp biên độ tỷ giá từ 3% xuống 1%.
Với quyết định này các NHTM được phép niêm yết tỷ giá mua, bán với khách hàngkhông quá 20.900 VND/USD Tuy nhiên đợt điều chỉnh này chưa khiến giá vào trong
Trang 6biên độ ngay mà phải tới trung tuần tháng 04 tỷ giá giao dịch mới về trần biên độ củaNHNN, sau đó giao dịch giảm dần và ổn định cho tới cuối tháng 6 (hiện tại ổn định ởmức 20.600-20.700VND/USD).
do tăng biên độ giao dịch từ 3% lên 5% và lần thứ hai là vào tháng 11 (+3,4%) Mặc dùsau mỗi lần điều chỉnh, tỷ giá chính thức đều lên kịch trần nhưng tỷ giá trên thị trườngkhông chính thức (tỷ giá thị trường tự do) vẫn luôn nằm ngoài biên độ cho phép củaNgân hàng Nhà nước
Năm 2010, tỷ giá tiếp tục trình diễn những “điệu nhảy” khiến không chỉ các nhà quản lý
mà cả ngân hàng, doanh nghiệp và người tiêu dùng nhiều phen chóng mặt
Những tháng đầu năm 2011 tỷ giá giao dịch tiếp tục cao hơn giá NHNN công bố cho tớingày 11/02 NHNN quyết định điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ 18.932
VND/USD lên 20.693 VND/USD, đồng thời thu hẹp biên độ tỷ giá từ 3% xuống 1%.
Với quyết định này các NHTM được phép niêm yết tỷ giá mua, bán với khách hàngkhông quá 20.900 VND/USD
Vấn đề tỷ giá là vấn đề trung tâm và nhạy cảm nhất của chính sách tiền tệ, nó ảnhhưởng trực tiếp đến tất cả các khu vực kinh tế cũng như đời sống nhân dân
Khi tỷ giá tăng, hoa ̣t đô ̣ng tài chính vâ ̣n hành mô ̣t cách thi ̣ trường hơn, ta ̣o khả năng giảiquyết cung cầu USD, góp phần chống nhâ ̣p siêu, ha ̣n chế viê ̣c găm giữ đầu cơ USD Tuynhiên, cũng có mă ̣t tác đô ̣ng tiêu cực ảnh hưởng rõ nhất là viê ̣c tăng chi phí đối với cácdoanh nghiê ̣p phải sử du ̣ng nhiều ngoa ̣i tê ̣ nhâ ̣p vâ ̣t tư, nhiên liê ̣u, thiết bi ̣, kích thích la ̣mphát, đẩy giá lên Khi la ̣m phát tăng lên sẽ ảnh hưởng đến lãi suất, lãi suất là giá củađồng tiền
Khi tỷ giá USD giảm, tính hấp dẫn của VND tăng lên, hạn chế tình trạng đô la hóa tronggiao dịch, kinh doanh Tuy nhiên, việc tỷ giá USD giảm cũng có một số tác động khôngmong muốn lên nền kinh tế Đó là xu hướng doanh nghiệp vay USD ngày càng gia tăng.Nguyên nhân bởi giá USD và lãi suất huy động USD xuống thấp và được dự đoán là có
sự ổn định khá dài, khiến lãi suất cho vay USD cũng giảm đáng kể, trong khi lãi suấtvay VND vẫn quá cao, khiến doanh nghiệp chuyển hướng sang vay USD
CHƯƠNG 2 HIỆU QUẢ CỦA NHỮNG CHÍNH SÁCH BÌNH ỔN TỶ GIÁ TỪ
Trang 7NĂM 2008 ĐẾN THÁNG 5 NĂM 2011
2.1 Các biện pháp bình ổn tỷ giá từ năm 2008 đến tháng 5/2011 và hiệu quả:
Trong năm 2008, kinh tế thế giới có nhiều diễn biến phức tạp Tăng trưởng kinh tế toàncầu sụt giảm đáng kể do tác động lan truyền của khủng hoảng cho vay bất động sảndưới chuẩn của Mỹ Các nền kinh tế phát triển đều rơi vào suy thoái Chính phủ cácnước phải thực thi các giải pháp cứu trợ kinh tế trị giá hàng nghìn tỷ đôla Mỹ và liêntiếp cắt giảm lãi suất chủ đạo, bơm thanh khoản vào hệ thống ngân hàng
Diễn biến phức tạp của kinh tế thế giới khiến cho kinh tế Việt Nam gặp nhiều tháchthức Trong những tháng đầu năm 2008, tỷ lệ lạm phát gia tăng nhanh trong khi thịtrường bất động sản và thị trường chứng khoán bắt đầu suy yếu Chính phủ đã kịp thờitriển khai 8 nhóm giải pháp lớn nhằm kiềm chế lạm phát, tăng trưởng bền vững và đảmbảo an sinh xã hội Trong 6 tháng đầu năm, do biến động giá trên thị trường thế giới,nhập siêu của Việt Nam đã tăng mạnh Tính tới cuối tháng 6, nhập siêu đã lên tới 14,8
tỷ USD, đe dọa sự bền vững của cán cân thanh toán và gây áp lực lên tỷ giá USD/VND.Tới cuối quý III/2008, các nhóm giải pháp của Chính phủ đã mang lại những kết quảbước đầu với việc nhập siêu giảm, lạm phát được kiềm chế Tuy nhiên, sự suy thoáikinh tế toàn cầu đã bắt đầu có tác động tiêu cực tới xuất khẩu và tốc độ tăng trưởng củakinh tế Việt Nam và Chính phủ đã đề ra 5 nhóm giải pháp mới để chủ động ngăn chặn
đà suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế
Trong bối cảnh kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế thế giới, mức độ tự dohóa các giao dịch vốn tương đối cao, biến động của các luồng vốn đầu tư, đặc biệt làluồng vốn gián tiếp đã ảnh hưởng mạnh tới cung cầu ngoại tệ và tỷ giá Trong năm
2008, luồng vốn đầu tư gián tiếp đã liên tục biến động, khiến cho cung cầu ngoại tệ mấtcân đối Luồng vốn này gia tăng đáng kể trong ba tháng đầu năm, gây áp lực tăng giáVND, sau đó có dấu hiệu đảo chiều làm tăng cầu ngoại tệ khi tình hình kinh tế thế giớitiếp tục khó khăn, kinh tế trong nước đối mặt với lạm phát, nhập siêu tăng cao Sau khi
có dấu hiệu tăng nhẹ trở lại do kinh tế vĩ mô Việt Nam diễn biến khả quan, trong cáctháng cuối năm, tình trạng khủng hoảng thị trường tài chính quốc tế lại khiến cho cácnhà đầu tư có xu hướng rút vốn về nước để bảo đảm thanh khoản của các tổ chức ởchính quốc
Những biến động khó lường của kinh tế và thị trường tài chính thế giới cũng như trongnước đã ảnh hưởng tiêu cực tới cân bằng cung cầu ngoại tệ trong nước Tuy nhiên, với
sự chỉ đạo sát sao của Thủ tướng Chính phủ và sự phối hợp chặt chẽ của các Bộ, ngành,Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã điều hành tỷ giá linh hoạt, thực hiện được các mụctiêu của chính sách tỷ giá, đảm bảo thanh khoản ngoại tệ của hệ thống ngân hàng, gópphần thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập siêu, kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ
mô, cụ thể là:
- NHNN đã can thiệp thị trường ngoại hối với mức tỷ giá mua vào và bán ra được điềuchỉnh linh hoạt Trong thời điểm thị trường dư cầu, NHNN đã kịp thời bán ngoại tệ canthiệp, hạ nhiệt thị trường Trong thời điểm thị trường dư cung, NHNN mua ngoại tệ vào
ở mức hợp lý, bảo đảm tỷ giá không giảm sâu, nhằm thực hiện mục tiêu kiềm chế nhậpsiêu
Trang 8- Trong hoạt động can thiệp, NHNN đã kết hợp đa dạng, linh hoạt các hình thức canthiệp Bên cạnh can thiệp trực tiếp, lần đầu tiên NHNN áp dụng hình thức can thiệp giántiếp để ổn định tâm lý thị trường Với sự phối hợp tốt giữa NHNN với các NHTM, hìnhthức can thiệp này đã nhanh chóng phát huy hiệu quả, đưa thị trường bình ổn trở lại.
- NHNN đã phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng làm tốt công tác tuyêntruyền, củng cố lòng tin trong nhân dân và doanh nghiệp
- Việc điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá đã được phối hợp đồng bộ Lãisuất VND tăng trong khi lãi suất USD giảm đã tạo sự hấp dẫn cho tiền đồng, góp phần
ổn định tỷ giá
Trong bối cảnh cung cầu ngoại tệ và tỷ giá trên thị trường biến động phức tạp, có nhữngthời điểm biến động đột biến, NHNN đã kịp thời bám sát diễn biến thị trường, thườngxuyên giám sát, cập nhật thông tin và đánh giá các dòng vốn vào và ra để có chính sáchđiều hành tỷ giá thích hợp
Đặc biệt, thời điểm giữa tháng 6/2008, thị trường có nhiều biến động đột biến, NHNN
đã chủ động thực hiện các giải pháp kịp thời, đồng bộ, thực hiện từng bước các giảipháp chính sách, tập trung vào giai đoạn cuối tháng 6/2008 Cụ thể:
- Điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng 2% để phản ánh sát hơn cung cầu thịtrường;
- Mở rộng biên độ tỷ giá giao dịch USD/VND từ mức ±1% lên mức ±2% so với tỷ giábình quân liên ngân hàng do NHNN công bố;
- Tăng mạnh lãi suất cơ bản tập trung nguồn tiền đồng vào hệ thống ngân hàng, kiềmchế lạm phát và giảm áp lực lên tỷ giá;
- Công bố mức dự trữ ngoại hối Nhà nước, củng cố lòng tin thị trường;
- Yêu cầu các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại hối nghiêm túc chấp hànhquy định về biên độ tỷ giá giữa VND và USD, thực hiện niêm yết và giao dịch theođúng quy định;
- Tăng cường bán ngoại tệ cho các NHTM để đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế,đáp ứng tối đa các nhu cầu thiết yếu như nhập khẩu xăng dầu, thuốc chữa bệnh, thuốcbảo vệ thực vật, phân bón, thiết bị y tế, đồng thời hỗ trợ ngoại tệ cho các ngân hàng cóphục vụ nhu cầu trả nợ vay hoặc thanh toán L/C đến hạn, các nhu cầu ngoại tệ hợp phápcủa cá nhân và hỗ trợ trạng thái cho các NHTM;
- Yêu cầu các tổ chức tín dụng kiểm soát chặt chẽ và chấn chỉnh hoạt động của các đại
lý, bàn đổi ngoại tệ bảo đảm thực hiện nghiêm túc các quy định hiện hành về quản lýngoại hối
Từ ngày 07/11/2008, biên độ tỉ giá giao dịch USD/VND được mở rộng từ mức 2% lên3% so với tỉ giá bình quân liên ngân hàng do NHNN công bố (Quyết định số 2635/QĐ-NHNN ngày 06/11/2008)
Với các biện pháp đồng bộ của NHNN, thị trường ngoại hối đã ổn định trở lại
Có thể nói trong bối cảnh khó khăn chung của kinh tế toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam
Trang 9đứng trước những khó khăn mà nhiều tổ chức quốc tế và nhà đầu tư nước ngoài chorằng Việt Nam đã đứng bên bờ vực của khủng hoảng cán cân thanh toán quốc tế, việcViệt Nam bình ổn được thị trường ngoại tệ, tỷ giá vẫn giữ tương đối ổn định đã nhậnđược sự đánh giá cao của các tổ chức tài chính quốc tế, củng cố lòng tin của các nhà đầu
tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước vào khả năng điều hành kinh tế vĩ mô củaChính phủ
Qua thực tiễn điều hành chính sách tỷ giá trong năm 2008, có thể rút ra một số bài học trong công tác điều hành tỷ giá như sau:
- Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng tham gia sâu rộng vào hội nhập kinh tế quốc tế vàmức độ tự do hoá các giao dịch vốn tương đối cao, biến động của dòng vốn đầu tư, đặcbiệt là các dòng vốn đầu tư gián tiếp ảnh hưởng mạnh tới cung cầu ngoại tệ và diễn biến
tỷ giá Do đó, việc giám sát và tiến tới kiểm soát có chọn lọc các luồng vốn này là mộtyêu cầu hết sức cấp thiết để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô
- Nhập siêu không được quản lý chặt chẽ và duy trì ở mức cao làm ảnh hưởng tới cáncân thanh toán quốc tế và gây khó khăn cho công tác điều hành tỷ giá
- Lạm phát tăng cao ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam, trongkhi đó, các công cụ kiềm chế lạm phát lại khiến cho việc duy trì tỷ giá để hỗ trợ sứccạnh tranh đối mặt với những giới hạn nhất định Vì vậy, trong bối cảnh lạm phát tăngcao, sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá là hết sức cầnthiết
- Việc kiên trì mục tiêu điều hành tỷ giá linh hoạt trong ngắn hạn, tương đối ổn địnhtrong dài hạn là rất quan trọng trong việc kiềm chế lạm phát và khôi phục ổn định kinh
tế vĩ mô
- Sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa các Bộ, ngành đóng vai trò rất quan trọng vàquyết định sự thành công của công tác điều hành tỷ giá Trong năm 2008, NHNN đãphối hợp chặt chẽ và thường xuyên với Bộ Công thương trong việc kiểm soát nhập siêu
và với Bộ Tài chính trong việc huy động các nguồn ngoại tệ để tăng dự trữ quốc giacũng như khả năng can thiệp thị trường
- Với tính nhạy cảm của tỷ giá và trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng hội nhập kinh tếquốc tế, các luồng chu chuyển vốn gia tăng, công tác điều hành tỷ giá phải gắn với việcbám sát mọi diễn biến của thị trường để có biện pháp kịp thời, phù hợp với diễn biến thịtrường
- Sự phối hợp chặt chẽ với các NHTM đóng góp đáng kể vào hiệu quả công tác điềuhành tỷ giá do các NHTM có ảnh hưởng lớn trên thị trường là kênh truyền tải nhanh,hiệu quả ý đồ can thiệp của NHNN đến thị trường
- Công tác tuyên truyền đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố lòng tin của ngườidân, doanh nghiệp, tăng cường hiệu quả điều hành chính sách
Thực hiện Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ về nhữnggiải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảođảm an sinh xã hội “để chủ động ngăn chặn suy giảm kinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinh
Trang 10doanh, đẩy mạnh xuất khẩu, kích cầu đầu tư và tiêu dùng, bảo đảm an sinh xã hội, trên
cơ sở dự báo tình hình kinh tế thế giới và trong nước năm 2009, NHNN đã điều chỉnh tỷgiá bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng áp dụng cho ngày 25/12/2008 lênmức 16.989đ/USD Mặt bằng tỷ giá mới đã góp phần hỗ trợ xuất khẩu, kiểm soát nhậpsiêu và đảm bảo sự bền vững của cán cân thanh toán quốc tế, đồng thời hạn chế tâm lý
kỳ vọng tỷ giá sẽ tăng cao, tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động xây dựng phương
án sản xuất kinh doanh ổn định NHNN sẽ áp dụng các biện pháp cần thiết để giữ ổnđịnh mức tỷ giá này
Những yếu tố tác động đến diễn biến tỷ giá tăng trong năm 2009 bao gồm cả yếu tốtrong và ngoài nước
Yếu tố nước ngoài như tăng trưởng kinh tế, giá cả hàng hóa, CSTT - tài chính các
nước… có tác động đến tỷ giá hối đoái Việt Nam chủ yếu qua các kênh sau:
Một là, ảnh hưởng đến cung cầu ngoại tệ của nền kinh tế, cụ thể là cán cân thanh toán
Việt Nam, thông qua tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, kiều hối và cácluồng vốn vào ra của nền kinh tế Thực tế có thể minh chứng rằng, chỉ trong những ngàycuối tháng 10/2009, tỷ giá VND/USD giao dịch trên thị trường tự do tăng khoảng 1,4%
do dự báo khả năng cán cân tổng thể Việt Nam sẽ thâm hụt mạnh Điều này có thể tạotâm lý gây áp lực lên tỷ giá Tuy nhiên, theo số liệu đã công bố, nhu cầu ngoại tệ hiệnnay vẫn được đảm bảo do NHNN cùng phối hợp với các bộ, ngành nổ lực đàm phán vớicác tổ chức tài chính Quốc tế như Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và Ngân hàngthế giới (WB) Kết quả là Việt Nam vừa vay được 500 triệu USD từ Quỹ hỗ trợ chốngkhủng hoảng của ADB để hỗ trợ khắc phục khủng hoảng
Hai là, sự biến động của đồng USD trên thị trường thế giới cũng là một trong những căn
cứ để NHNN quyết định điều chỉnh tỷ giá
Mặt khác, giá cả hàng hóa thế giới tác động đến diễn biến tỷ giá trong nước như dầuthô, gạo, sắt thép, kim loại quý, phân bón… thường gắn liền với diễn biến lạm phát Dogiá cả các hàng hóa đó có ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị xuất nhập khẩu của Việt Nam,điều này có thể ảnh hưởng đến cán cân thanh toán tổng thể và gây sức ép lên tỷ giá.Ngoài ra, CSTT - tài chính thế giới cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu tácđộng lên tỷ giá hối đoái Việt Nam như động thái tăng hoặc giảm lãi suất chỉ đạo củaNHTW các nước, nhất là Mỹ (FED), Trung Quốc, NHTW châu Âu (ECB) Mỗi khiNHTW các nước quyết định tăng hoặc giảm lãi suất chỉ đạo đều phản ánh lên xu hướngbiến động giá trị của đồng tiền nước đó, và do vậy, khi NHTW quyết định tăng lãi suấtchứng tỏ đồng tiền nước đó mạnh lên hoặc ngược lại, khi giảm lãi suất, đồng nội tệ bịgiảm giá
Về yếu tố trong nước: Các yếu tố trong nước tác động đến diễn biến tỷ giá chủ yếu do
yếu tố cung cầu ngoại tệ của nền kinh tế trong nước, sự chênh lệch lợi tức giữa đồng nội
tệ và USD, cơ chế điều hành tỷ giá của NHNN, yếu tố tâm lý làm tăng nhu cầu muaUSD để tích lũy tạo áp lực tăng tỷ giá và các kênh đầu tư khác như chứng khoán, vàng,bất động sản…
Theo số liệu thống kê, cán cân thương mại tháng 10/2009 tiếp tục thâm hụt ở mức 1,9 tỷ
Trang 11USD, tăng mạnh so với mức 1,52 tỷ USD tháng 9/2009 Như vậy, tổng giá trị nhập siêutrong 10 tháng đầu năm 2009 là 8,78 tỷ USD, tăng cao so với mức nhập siêu 6,54 tỷUSD của 9 tháng đầu năm 2009 Điều này có thể tạo áp lực về khả năng cung cầu ngoại
tệ, tác động đến tâm lý giao dịch trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, xuất hiện tìnhtrạng găm giữ ngoại tệ khi cầu ngoại tệ lớn hơn cung, tạo ra áp lực tăng tỷ giá NHNNthực hiện cơ chế điều hành tỷ giá linh hoạt với mục đích nhằm thực hiện được các mụctiêu của chính sách tỷ giá, đảm bảo thanh khoản ngoại tệ của hệ thống ngân hàng… Mặtkhác yếu tố tâm lý do NHNN điều chỉnh biên độ tỷ giá thông qua các giao dịch ngoại tệtrên thị trường liên ngân hàng còn được thể hiện ở động thái mua hoặc bán ngoại tệ củacác doanh nghiệp xuất khẩu với các NHTM Các kênh đầu tư khác, nhất là TTCK doliên quan đến luồng vốn vào - ra nên mỗi khi sự kỳ vọng vào thị trường này thay đổi thìkênh dẫn vốn này cũng thay đổi, theo đó ít nhiều cũng tác động lên tỷ giá Chẳng hạn,nếu như vốn vào nhiều làm tăng nguồn ngoại tệ hoặc ngược lại, vốn ra lớn làm giảmnguồn ngoại tệ cũng gây áp lực lên tỷ giá VND/USD
Hàng loạt các chính sách của NHNN được ban hành trong năm 2010 nhằm ổn định tỷ giá VND/USD
Tăng khá mạnh trong 2 năm 2008 và 2009, sang đến tháng 1/2010 tỷ giá VND/USDgiảm nhẹ, đứng ở mức 18.479 đồng/USD Sự giảm giá này của đồng USD là do sự tạmthời “dư thừa” ngoại tệ, xuất phát từ các nguyên nhân như: nguồn vốn đầu tư nướcngoài (cả trực tiếp và gián tiếp, vốn hỗ trợ phát triển chính thức), kiều hối tăng Bêncạnh đó, các tập đoàn, tổng công ty lớn của nhà nước bán ngoại tệ cho ngân hàng Sự
“dưa thừa” này là kết quả của hàng loạt chính sách được NHNN ồ ạt ban hành
Ngày 11/2/2010, NHNN điều chỉnh tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ mức 17.941đồng/USD lên mức 18.544 đồng/USD nhằm khuyến khích các tập đoàn, tổng công tylớn của nhà nước bán lại ngoại tệ cho các ngân hàng, cải thiện trạng thái ngoại tệ vốnđang căng thẳng Trước đó, ngày 18/01 NHNN có Quyết định số 74/QĐ-NHNN giảmmạnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các tổ chức tín dụng Việc giảm tỷ lệ
dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ từ 7% xuống 4% đối với kỳ hạn dưới 12 tháng, từ 3%xuống 2% đối với kỳ hạn trên 12 tháng đã làm tăng nguồn vốn khoảng 500 triệu USDcho các NHTM để cho vay trên thị trường Để tăng thêm nguồn cung USD, NHNN tiếptục ban hành Thông tư số 03/2010/TT-NHNN, quy định mức lãi suất tiền gửi tối đabằng USD của tổ chức kinh tế tại tổ chức tín dụng là 1%/năm Sự dư thừa ngoại tệ khiếnlãi suất vay vốn bằng VND và USD có sự chênh lệch rất lớn
Trong khi lãi suất vay VND ở mức 15% - 17%/năm, thì lãi suất vay USD chỉ khoảng6% - 9%/năm Chênh lệch này khiến nhiều doanh nghiệp chọn vay USD rồi bán lại lấyvốn VND Sở dĩ doanh nghiệp có thể làm như vậy vì từ ngày 15/12/2009, NHNN banhành Thông tư số 25/2009/TT-NHNN mở rộng đối tượng được vay vốn bằng ngoại tệ,đặc biệt là các đối tượng xuất khẩu Danh sách chính thức các đối tượng doanh nghiệpđược vay ngoại tệ không nhiều, nhưng “không ai có thể đảm bảo mọi doanh nghiệp vayngoại tệ đều đúng đối tượng”, lãnh đạo một NHTM thừa nhận “làn sóng” tín dụngngoại tệ ngày càng mạnh Tín dụng bằng ngoại tệ đã tăng đột biến tới 14,07% trong quýI/2010, trong khi cùng kỳ năm ngoái giảm 2,24% So với tháng trước, tín dụng bằng
Trang 12ngoại tệ đã tăng lần lượt: tháng 2/2010 là 6,74%; tháng 3 giảm đà còn 5,95%; tháng 4 là3%/; tháng 5 ở mức 3,16%.
Đầu ra tăng mạnh nhưng đầu vào rất khiếm tốn: huy động vốn bằng ngoại tệ trong 6tháng đầu năm 2010 chỉ tăng 3,09% Để đáp ứng nhu cầu vay vốn bằng ngoại tệ cácNHTM buộc phải tăng lãi suất huy động lên quanh mức 5%/năm
Tỷ giá: Điệu nhảy của tổng hòa nhiều “dòng nhạc”
Bất ngờ đầu tiên, đáng chú ý của thị trường ngoại hối năm 2010 là vào ngày 28/4/2010
tỷ giá trên thị trường tự do lần đầu tiên đã thấp hơn mức tỷ giá niêm yết của các NHTM
Và tỷ giá do các NHTM niêm yết trong thời gian này cũng luôn thấp hơn mức trần chophép của NHNN, đứng ở mức 18.950 - 18.970 đồng/USD Thế nhưng, chính sáchthường có độ trễ từ 6 - 9 tháng Những chính sách trên của NHNN đã giải quyết đượcvấn đề dư thừa tạm thời ngoại tệ trong những tháng cuối năm 2009, đầu 2010, nhưng đãdẫn đến hàng loạt hệ lụy sau này
Trước sức ép của thị trường, tháng 8/2010, NHNN buộc phải tăng tỷ giá bình quân liênngân hàng thêm 2,1%, lên mức 18.932 đồng/USD Cuối tháng 11, tỷ giá tăng vọt lênmức 21.380 - 21.450 đồng/USD, trên thị trường tự do tỷ giá vượt qua mức 21.500đồng/USD Chênh lệch tỷ giá giữa thị trường tự do so với tỷ giá chính thức đến 10%.Đây là mức chênh lệch cao nhất trong lịch sử tài chính Việt Nam từ năm 1990 Tuynhiên, công bằng mà nói, tỷ giá tăng không chỉ do độ trễ của chính sách mà còn do tácđộng không nhỏ của giá vàng và lãi suất VND, và CPI (bắt đầu tăng tốc từ tháng9/2010) Ngày 9/11/2010, giá vàng (ăn theo giá vàng thế giới và chịu tác động tâm lýmạnh của người dân) cũng đã đạt “đỉnh” 38 triệu đồng/lượng Lãi suất VND thì rập rìnhtrở lại ngưỡng 20%/năm của năm 2008
Sự bất thường của tỷ giá còn cho thấy sức mạnh của yếu tố tâm lý người dân Bất chấp
sự mất giá của USD trên thế giới, người dân, doanh nghiệp vẫn găm giữ USD Việc gămgiữ này, xét trên góc độ kinh tế, xã hội là do tình trạng đô la hóa của Việt Nam ngàycàng trầm trọng, hiện đã ở khoảng 23%
Các chính sách của NHNN đã có kết quả tốt hơn trong năm tháng đầu năm 2011
Thực hiện Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ về những giải phápchủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội,Ngân hàng Nhà nước đang phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tăng cường quản lýngoại hối và thực hiện các giải pháp cần thiết để tổ chức, cá nhân, trước hết là tập đoànkinh tế, bán ngoại tệ cho ngân hàng khi có nguồn thu và được mua khi có nhu cầu hợp
lý, đảm bảo thanh khoản ngoại tệ, bình ổn tỷ giá, đáp ứng yêu cầu ổn định, phát triểnsản xuất kinh doanh và tăng dự trữ ngoại hối
Ngân hàng Nhà nước liên tục điều chỉnh tỷ giá đồng thời thu hẹp biên độ tỷ giá
Ngân hàng NN đã điều hành tỷ giá linh hoạt, can thiệp thị trường ngoại hối với mức tỷgiá mua vào và bán ra được điều chỉnh linh hoạt
Bên cạnh can thiệp trực tiếp, lần đầu tiên NHNN áp dụng hình thức can thiệp gián tiếp
để ổn định tâm lý thị trường