Hệ thống tiền tệ thế giới sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II Sau chiến tranh Thế giới lần II, chế độ tiền tệ Giê – nơ sụp đổ, đồng USD trở thành đồng tiền chủ chốt trên Thế giới do: Sau
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, xu hướng liên kết kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa nền kinh tế đang diễn ra hết sức mạnh mẽ Sự tham gia vào xu hướng chung đó gần như là lựa chọn bắt buộc đối với mỗi quốc gia nếu như muốn tồn tại và phát triển kinh tế theo kịp trình độ phát triển của nền kinh tế thế giới Tuy nhiên, tùy theo điều kiện của từng quốc gia, khu vực mà mỗi nước tham gia vào liên kết kinh tế quốc tế ở các mức độ khác nhau, khu vực mậu dịch tự do… cho tới liên minh tiền tệ, đỉnh cao của liên kết kinh tế quốc tế
Kể từ khi đồng đôla xuất hiện đóng vai trò quan trọng trong quan hệ thương mại mậu dịch các nước, phần nào cũng ảnh hưởng tới nền kinh tế Việt Nam đặc biệt là trong thời gian gần đây, khi Việt Nam được coi là nước là tình trạng đôla hóa ở mức tương đối cao so với các nước trong khu vực Đông Nam Á Vì vậy, việc nghiên cứu về vị thế đồng đôla và ảnh hưởng của nó tới nền kinh tế trong nước là hết sức cần thiết và đang trở thành đề tài đáng quan tâm của các nhà nghiên cứu kinh tế hiện nay
Nhóm chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Hệ thống tiền tệ Thế giới sau chiến tranh Thế giới lần thứ II và Hiện tượng đôla hóa tại Việt Nam hiện nay” làm đề tài thảo luận nhóm Rất mong cô và các bạn đóng góp ý kiến để đề tài được hoàn thiện hơn
Trang 2PHẦN I KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG TIỀN TỆ THẾ GIỚI SAU CHIẾN
TRANH THẾ GIỚI LẦN THỨ II
I Tổng quan về hệ thống tiền tệ thế giới trước Chiến tranh Thế giới lần thứ II
Hệ thống tiền tệ thế giới (The International Monetary System – IMS) là
hệ thống các tập quán, các quy tắc, thủ tục và các tổ chức điều hành các quan hệ tài chính giữa các quốc gia Hệ thống tiền tệ thế giới đã có nhiều bước tiến quan trọng trong lịch sử hệ thống
Tính hiệu quả của một hệ thống tiền tệ quốc tế được xem xét trên ba khía cạnh:
Một là, hệ thống đó phải có khả năng giúp đỡ các quốc gia hạn chế một cách
tối đa thời gian và những cái giá phải trả khi tiến hành điều chỉnh cán cân thanh toán của mình
Hai là, hệ thống đó phải có khả năng cung cấp nguồn dự trữ với quy mô
thích hợp nhằm giúp các quốc gia điều chỉnh cán cân thanh toán mà không gây tác động tiêu cực tới nền kinh tế của quốc gia đó và của nền kinh tế thế giới nói chung
Ba là, hệ thống đó phải có khả năng duy trì giá trị tuyệt đối và tương đối của
Trang 3• Nguyên tắc hoạt động: Các quốc gia gắn đồng tiền của mình với
vàng bằng cách quy định giá vàng tình bằng đồng tiền đó và cho phép việc mua bán vàng tự do theo mứac giá đã quy định (mức ngang giá vàng) Vàng cũng được phép trao đổi tự do giữa các nước và trở thành nguồn dự trữ quốc tế chính thức
Theo lý thuyết, tỷ giá hối đoái được thiết lập bằng cách đối chiếu nội dung vàng của hai đồng tiền nào đó (mức ngang giá chính thức) và tỷ giá là cố định
Do những yếu tố liên quan đến cung cầu thay đổi nên tỷ giá thường xuyên dao động khỏi mức ngang giá chính thức, tuy nhiên các dao động này thường rất nhỏ
Vì việc vận chuyển vàng đòi hỏi phải có những khoản chi phí nhất định, thường được ước lượng bằng một tỷ lệ phần trăm nào đó của giá trị vàng nên người ta lấy chính mức chi phí đó để quy định giới hạn dao động của tỷ giá về hai phía so với mức ngang giá chính thức Các giới hạn này được gọi là điểm vàng
Khi tỷ giá được coi là cân bằng thì cán cân thanh toán cũng được coi
là cân bằng Khi tỷ giá dao động vượt quá các điểm vàng thì sẽ xảy ra tình trạng mất cân đối tạm thời trong cán cân thanh toán của các quốc gia Tình trạng mất cân đối này sẽ được thủ tiêu thông qua quá trình trao đổi vàng giữa các nước
với mức ngang giá chung nhưng chỉ có một lượng nhỏ vàng được trao đổi giữa các nước khi xảy ra mất cân đối lớn trong cán cân thanh toán (không có được điều kiện hiệu quả 2)
Lý do là có những yếu tố khác tác động đến tỷ giá hối đoái và duy trì nó trong giới hạn các điểm vàng trước khi việc trao đổi vàng diễn ra:
Một là, kinh tế thế giới trong giai đoạn này không gặp phải các cú sốc lớn
mà đang ở thời kỳ tăng trưởng nhanh và với quy mô lớn
Trang 4Hai là, nắm giữ vai trò là trung tâm thương mại và tài chính duy nhất của
thế giới, nước Anh sử dụng chính sách lãi suất của ngân hàng trung ương để điều chỉnh sự vận động của các luồng vốn và qua đó duy trì cân bằng trong cán cân thanh toán
Ba là, các quốc gia (trừ Anh) duy trì sự cân bằng của tỷ giá và cán cân
thanh toán bằng việc thanh toán thông qua chuyển khoản bảng Anh qua ngân hàng tại London
vị vàng:
Một là, sự bùng nổ chiến tranh thế giới I khiến các quốc gia ngừng việc
chuyển đổi tiến ra vàng, áp đặt việc cấm xuất khẩu vàng để duy trì lượng
dự trữ vàng của mình
Hai là, chế độ này không thích ứng với quy mô phát triển của lực lượng
sản xuất và các quan hệ kinh tế của chế độ tư bản độc quyền thời bấy giờ
Ba là, trữ lượng vàng là hạn chế trong việc thực hiện chức năng
dự trữ quốc tế
Sau Chiến tranh thế giới II, hệ thống tiền tệ Thế giới có nhiều biến đổi ảnh hưởng sau sắc đến nền kinh tế các nước trên Thế giới, đó là sự ra đời của Hệ thống Bretton Woods cùng sự ra đời và phát triển cùa đồng USD
II Hệ thống tiền tệ thế giới sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II
Sau chiến tranh Thế giới lần II, chế độ tiền tệ Giê – nơ sụp đổ, đồng USD trở thành đồng tiền chủ chốt trên Thế giới do: Sau chiến tranh thế giới thứ hai,
Mỹ trở thành cường quốc mạnh nhất thế giới về mặt ngoại thương , tín dụng quốc
tế và là nước có dự trữ vàng lớn nhất thế giới(chiếm khoảng ¾ tổng dự trự vàng của cả thế giới tư bản) Hệ thống Bretton Woods ra đời với các đặc điểm:
1 Thừa nhận USD là đồng tiền chuẩn, làm trụ cột cho chế độ tiền tệ này
Trang 5USD là phương tiệ dự trữ và thanh toán quốc tế, đóng vai trò quan trọng trong các quan hệ tiền tệ, thanh toán và tín dụng quốc tế Chế độ tiền tệ Bretton Woods còn được gọi là chế độ bản vị USD
- Ngân hàng trung ương các nước thành viên của IMF phải can thiệp đẻ cho tỷ giá hối đoái trên thị trường biến động không vượt quá biên độ ±1%
3 Dự trữ quốc tế
Các quốc gia cần có lượng dự trữ đủ lớn về vàng va ngoại tệ
IMF cung cấp cho các nước thành viên một mức hạn mức tín dụng thường xuyên để tài trợ cho cán cân thanh toán,tránh tình trạng phá giá hay nâng giá đồng tiền
Trang 6Các quốc gia đóng góp vào IMF theo tỷ lệ ¼ là tài sản dự trữ(chủ yếu là vàng), ¾ là đồng tiền quốc gia.
Khi gặp khó khăn, mỗi thành viên được rút 25% hạn mức trong lần đầu,sau
đó muốn rút them phải tuân thủ nghiêm ngặt các chính sách do IMF đưa ra,có thể rút trong 4 lần, mỗi lần 25%
4 Khả năng chuyển đổi của các đồng tiền:
Các quốc gia tham gia vao IMF hay hiệp định chung về thương mại và thuế quan GATT phải cam kết chuyển đổi không hạn chế đồng nội tệ đòi với những giao dich trong cán cân vãng lai(có thể hạn chế kiểm soát chu chuyển vốn nhưng không kiểm soát các chuyển đổi tiề tệ phục vụ cho mục đích thương mại
Ý nghĩa của hệ thống Bretton Woods:
- Mang lại sự ổn định tỷ giá;
- Loại bỏ được những bất ổn với các giao dich buôn bán đầu tư quốc tế;
- Thúc đẩy kinh tế phát triển, đem lại lợi ích cho các nước thành viên
Nguyên nhân sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods:
• Vấn đề thanh khoản: Khi khối lượng USD (được phát hành) cao hơn khối lượng vàng dự trữ của MỸ thì Mỹ đã không còn đủ khả năng thanh toán tất cả USD bằng vàng theo tỷ lệ 35USD =1 ounce vàng dẫn đến việc Mỹ phải chọn 1 trong 2 chính sách đó là: phá giá đồng $ với vàng hoặc không đổi $
ra vàng nữa Tuy nhiên cả hai chính sách này đều dẫn đến việc hệ thống bretton woods sụp đổ do tỷ giá cố định bị phá vỡ
• Giải thích theo quy luật "đồng tiền xấu đuổi đồng tiền tốt": Theo chính phủ Mỹ quy định 35 $=1ounce vàng (lưu thông tiền tệ ) Theo cung cầu thị trường thì 35$< 1 ounce vàng (thị trường hàng hóa) ; nếu theo tỷ giá do Mỹ quy định thì vàng bị định giá thấp, còn $ thì đc định giá cao trong lưu thông tiền tệ tạo điều kiện để mọi người kinh doanh chênh lệch tỷ giá: mua vàng với giá 35$ ở
Trang 7lưu thông tiền tệ và bán với giá cao hơn ở thị trường hàng hóa, lúc này ai cũng lời trừ mỗi chính phủ Mỹ điều này là cho lượng vàng dữ trữ của chính phủ Mỹ ngày càng cạn kiệt=> không thể duy trì được tỷ giá cố định mà bretton woods theo đuổi=> bretton woods sup đổ
• Sự thiếu vắng một cơ chế điều chỉnh:
Bretton Wood cho phép điều chỉnh tỷ giá chính thức như là biện pháp cuối cùng để điều chỉnh sự mất cân đối cơ bản trong BOP của các nước thành viên Tuy nhiên trong thực tế các quốc gia có BOP mất cân đối tỏ ra rất miễn cưỡng khi thực hiện cac biện pháp như: phá giá, nâng giá, hay các chính sách kinh tế khác nhằm duy trì trạng thái cân bằng của BOP
Về phía Mỹ: Cho dù tỷ lệ lạm phát sau nhiều năm tuy có cao, nhưng chính phủ Mỹ không thể phá giá USD đối với vàng được, bởi vì nếu phá giá sẽ làm xói mòn lòng tin vào toàn hệ thống Bretton Woods Hơn nữa, giả sử chính phủ Mỹ phá giá USD so với vàng thì cũng không cải thiện được sức cạnh tranh thương mại quốc tế nếu như các bạn hàng vẫn duy trì tỷ giá cố định đối với USD Như vậy, để duy trì và kiểm soát được thâm hụt BOP chính phủ Mỹ buộc phải áp dụng các chính sách thiểu phát nền kinh tế
Đối với các nước có BOP thâm hụt: Rõ ràng hành động phá giá là phương thuốc cuối cùng để cải thiện BOP của các nước bị thâm hụt Nhưng thực tế chỉ ra rằng các nước có BOP thâm hụt lại tỏ ra rất miễn cưỡng khi phá giá đồng tiền của mình, bởi vì phá giá thường được xem là biểu hiện yếu kém của chính phủ và của
cả một quốc gia Một khi các quốc gia có thâm hụt BOP miễn cưỡng áp dụng các chính sách thiểu phát nền kinh tế cũng như phá giá đồng bản tiền tệ, có nghĩa là
hệ thống Bretton Woods phải trông chờ vào các nước có thặng dư BOP làm một cái gì đó để BOP của họ giảm xuống
Trang 8Đối với các nước có thặng dư BOP như Đức, Nhật, Thuỵ Sỹ cũng muốn chứng tỏ rằng việc nâng giá đồng tiền của họ cũng khó khăn và miễn cưỡng chẳng kém gì các nước phải phá giá đồng tiền Điều này xảy ra là vì khi đồng tiền của họ tiếp tục được định giá thấp sẽ cho phép duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong xuất khẩu và hướng nền kinh tế vào sản xuất hàng xuất khẩu Họ lo ngại rằng nếu nâng giá đồng bản tệ sẽ khiến cho tăng trưởng xuất khẩu chậm lại, thất nghiệp gia tăng bởi vì các ngành sản xuất hàng xuất khẩu phải co lại Hơn nữa, các quốc gia này không dễ gì áp dụng chính sách mở rộng tiền tệ như là các biện pháp giảm thặng dư BOP bởi vì họ luôn lo ngại về những hậu quả của lạm phát
mà chính nó sản xuất ra, trong khi đó nước Mỹ có đặc quyền là có thể tiêu dùng nhiều hơn những gì mà chính nước Mỹ sản xuất ra
III Quỹ tiền tệ thế giới (The International Monetary Fund – IMF)
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều tổ chức tài chính - tín dụng Các tổ chức tài chính - tín dụng quốc tế ra đời là một yêu cầu khách quan trên cơ sở quan hệ ngoại thương và thanh toán quốc tế; không chỉ là yêu cầu khách quan về mặt kinh tế mà còn là yêu cầu khách quan để phát triển các mối quan hệ về chính
Trang 9trị, ngoại giao và các quan hệ khác giữa các nước.
1 Quá trình hình thành và phát triển
Quỹ tiền tệ quốc tế là một tổ chức quốc tế giám sát hệ thống tài chính toàn cầu bằng theo dõi tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán, cũng như hỗ trợ kỹ thuật
và giúp đỡ tài chính khi có yêu cầu
Đây là một tổ chức tiền tệ, tín dụng liên chính phủ được thành lập trên cơ sở Nghị quyết của Hội nghị quốc tế và tiền tệ, tài chính của Liên hợp quốc Hội nghị diễn ra vào năm 1944 tại Bretton Wood sự tham gia của 44 nước Hội nghị đã thành lập IMF dựa trên sự phối hợp hai dự án: dự án Keynes và dự án White Từ ngày 1/3/1947 IMF chính thức đi vào hoạt động như là một cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc (United Nations), với 49 nước hội viên
Trong tổ chức và cơ chế ban đầu của IMF có nhiều nhược điểm Trải qua các thời kì biến chuyển của nền kinh tế và hệ thống tiền tệ thế giới, IMF đã cố gắng phát triển hoạt động của mình theo hai hướng: ổn định các tỉ giá hối đoái và đấu tranh chống những biện pháp hạn chế và phân biệt đối xử Sự sụp đổ của hệ thống tỉ giá hối đoái cố định đặt ra sau chiến tranh bắt buộc phải thay đổi quy chế của IMF Tháng 6/1967, Hội đồng Thống đốc IMF đã họp và chấp nhận nguyên tắc tạo ra một loại dự trữ quốc tế mới là SDR (Special drawing right)
Trụ sở chính của IMF đặt tại Washington D.C Hiện nay, số lượng thành viên của IMF đã lên đến 187 quốc gia Số lượng thành viên của IMF tăng đều đặn, không có biến động chứng tỏ uy tín của IMF ngày càng được củng cố
Việt Nam tham gia IMF từ ngày 18/08/1956 Sau khi đất nước thống nhất, Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tiếp quản hội viên từ ngày 21/06/1976 Hiện nay tổng số cổ phần của Việt Nam tại IMF là 460,7 triệu SDR
2 Chức năng, cơ cấu hoạt động của IMF
Trang 10Mục đích thành lập IMF là nhằm kêu gọi, khuyến cáo sự hợp tác quốc tế về tiền tệ, ổn định tỷ giá hối đoái giữa các đơn vị tiền tệ nhằm tránh sự phá giá tiền
tệ do cạnh tranh giữa các quốc gia, thiết lập hệ thống thanh toán đa phương, cung ứng cho các quốc gia hội viên ngoại tệ cần thiết để quân bình hoặc giảm bớt thiếu hụt trong cán cân thanh toán quốc tế
Khi gia nhập IMF, mỗi nước phải đóng một khoản tiền nhất định được coi
là phí hội viên Tuy nhiên, khoản đóng này chỉ được thực hiện khi quỹ có nhu cầu
Tổng nguồn vốn của IMF chia làm hai bộ phận: vốn pháp định và vốn tích luỹ Vốn pháp định do các quốc gia hội viên đóng góp theo nguyên tắc:
• 1/4 phần đóng góp của quốc gia hội viên bằng vàng hoặc Mỹ kim
Số tiền này được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau:
• Thứ nhất, nó tạo thành một khoản vốn IMF có thể trích ra cho các nước thành viên vay mỗi khi họ gặp khó khăn về tài chính
• Thứ hai, nó là căn cứ để quyết định số lượng tiền mà nước thành viên được vay và là cơ sở để phân bổ rút vốn lớn đặc biệt (SDR) theo từng thời
kỳ cho các nước thành viên
• Thứ ba, số tiền ký quỹ này còn có vai trò quyết định quyền bỏ phiếu của nước thành viên
Trang 11Với sự đóng góp của các quốc gia hội viên IMF tạo lập được số trữ kim bằng vàng và các loại tiền tệ trên thế giới Quỹ này có thể cho các quốc gia nào thiếu hụt trong cán cân thanh toán quốc tế vay.
Hàng năm, IMF thường gửi chuyên viên tới các quốc gia thiếu hụt trong cán cân thanh toán quốc tế hay thiếu hụt ngoại tệ để tư vấn cho các quốc gia này áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm cải thiện tình hình tiền tệ của họ
a Chức năng cơ bản của IMF
Ø Xác định hệ thống ngang giá tiền tệ và tỷ giá hối đoái của các nước thành viên
Theo Hiệp định của IMF: “Tất cả các thành viên công nhận là chỉ cho phép diễn ra trên lãnh thổ của nước mình những hoạt động hối đoái giữa các đồng tiền của mình với đồng tiền của những nước thành viên nào tôn trọng một sự cách biệt không quá 1% chế độ đồng giá.”
Hệ thống tiền tệ mà IMF quản lý từ năm 1978 đến nay được gọi là hệ thống
tỷ giá thả nổi có quản lý Theo cơ chế này, IMF có vai trò lớn tác động đến chính sách quản lý tỷ giá của các nước thông qua các điều kiện tín dụng Mặc dù quản
lý hệ thống tiền tệ bằng nhiều cách gián tiếp nhưng IMF đã thực hiện chức năng này một cách có hiệu quả
Ø Cấp tín dụng cho các nước thành viên có khó khăn tạm thời về cán cân thanh toán
Để thực hiện mục tiêu trọng tâm là duy trì sự ổn định của hệ thống tiền tệ quốc tế, IMF đã cung cấp cho các nước thành viên các khoản tín dụng khi họ gặp khó khăn tạm thời về cán cân thanh toán Khi một nước rơi vào tình trạng này buộc họ phải giảm dự trữ ngoại hối hoặc đi vay để tài trợ cho các hoạt động này Hậu quả là các nước đó phải đối mặt với sức ép ngày càng tăng về tỷ giá hối
Trang 12cán cân thanh toán, nước đó có thể lập tức rút lại 25% phần vốn góp của mình bằng vàng hoặc ngoại tệ có thể chuyển đổi
Ø Theo dõi tình hình của hệ thống tiền tệ quốc tế và chính sách kinh tế của các nước thành viên
Theo Hiệp định thành lập thì mục tiêu và hoạt động trọng tâm của IMF là
“thực hiện sự giám sát chặt chẽ tỷ giá hối đoái của các nước thành viên” Đồng thời IMF có quyền áp dụng các nguyên tắc cụ thể để hướng dẫn các thành viên trên cơ sở tôn trọng chính sách của họ Để thực hiện chức năng này, IMF tiến hành kiểm tra các vấn đề tiền tệ quốc tế và phân tích các khía cạnh của chính sách đó có thể tạo ra tác động đến hệ thống tỷ giá hối đoái
Trong những năm gần đây, tầm quan trọng của việc giám sát kịp thời và hiệu quả đã tăng lên do nhiều chuyển biến cơ bản trong nền kinh tế: tăng trưởng nhanh chóng của thị trường vốn tư nhân, hội nhập khu vực và thế giới, gia tăng, chỉnh đốn tài khoản vãng lai và cải cách kinh tế theo hướng trị trường của nhiều nước
Ủy ban Tài chính Tiền tệ Quốc tế trước đây gọi là Ủy ban Lâm thời, do Hội đồng Thống đốc IMF thành lập vào tháng 10/1974 với chức năng là để tư vấn cho các Thống đốc về các vấn đề tiền tệ quốc tế Mỗi thành viên trong số 24 thành
Trang 13viên của Ủy ban Tài chính Tiền tệ Quốc tế cũng là Thống đốc tại IMF, một Bộ trưởng hay một quan chức có chức vụ tương đương.
Ban Giám đốc Điều hành gồm 1 Tổng Giám đốc điều hành và 24 Giám đốc điều hành, trong đó 5 Giám đốc điều hành đại diện cho 5 nước có cổ phần lớn nhất tại Quỹ (Mỹ, Nhật, Đức, Anh, Pháp) và 19 Giám đốc điều hành đại diện cho các nhóm nước có đặc điểm giống nhau về kinh tế địa lý, văn hóa, trừ Nga và Trung quốc có Giám đốc điều hành riêng
Tổng Giám đốc do Ban Giám đốc Điều hành lựa chọn, với nhiệm kỳ đầu tiên là 5 năm Tổng Giám đốc tham gia vào các buổi họp của Hội đồng Thống đốc, Ủy ban Tài chính Tiền tệ Quốc tế và Ủy ban Phát triển Ngoài ra, Tổng Giám đốc còn phụ trách các cán bộ IMF Mỗi Phó Tổng Giám đốc có nhiệm vụ chủ trì các buổi họp của Ban Giám đốc Điều hành và duy trì các mối liên hệ với các quan chức Chính phủ của nước hội viên, với các Giám đốc Điều hành, với các cơ quan thông tin và các tổ chức khác
Cán bộ Quỹ: có khoảng 2600 cán bộ từ hơn 100 nước, được tổ chức thành:
• 5 Vụ khu vực (Vụ Châu Phi, Vụ Châu Âu, Vụ Trung đông và Trung Á, Vụ Châu Á Thái Bình Dương và Vụ Tây Bán cầu)
• 9 Vụ chức năng và nghiệp vụ đặc biệt (Vụ Tài chính, Vụ Các vấn
đề ngân sách, Học viện IMF, Vụ Thị trường vốn quốc tế, Vụ Pháp luật, Vụ các
Hệ thống Tài chính Tiền tệ, Vụ Kiểm điểm và Xây dựng Chính sách, Vụ Nghiên cứu, Vụ Thống kê)
• 3 Vụ về thông tin liên lạc (Vụ Đối ngoại, Văn phòng thông tin liên lạc khu vực Châu Á Thái Bình Dương, Văn phòng Quỹ tại Liên Hợp Quốc)
• 3 Bộ phận giúp việc (Vụ thư ký, Vụ Nguồn nhân lực, và Vụ Dịch
vụ Tổng hợp và Công nghệ)
Trang 14Ngoài ra, IMF có hơn 60 Văn phòng đại diện tại nhiều nước thế giới có trách nhiệm báo cáo cho các Vụ khu vực tương ứng.
Trang 15PHẦN II
VỊ THẾ ĐỒNG ĐÔLA VÀ HIỆN TƯỢNG ĐÔLA HÓA
I Vị thế của đồng Đôla
1 Sự ra đời của đồng Đôla
Đồng đô la Mỹ là đơn vị tiền tệ chính thức của Hoa Kỳ Hiện nay trên thế giới ngoài Hoa Kỳ, còn có một vài quốc gia khác cũng dùng đô la Mỹ làm đơn vị tiền tệ chính thức của mình và nhiều quốc gia khác cho phép dùng đôla Mỹ trong thực tế (nhưng không chính thức)
Ø Trước Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất
Cả thế giới sử dụng chế độ bản vị vàng USD mới xuất hiện như đồng tiền của một quốc gia
Ø Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai
Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, chế độ bản vị vàng sụp đổ Đến khi Chiến tranh Thế giới lần thứ hai kết thúc, đồng USD trở thành đồng tiền chủ chốt của thế giới
Ø Giai đoạn từ 1973 – 1980
Các giao dịch quốc tế dựa trên chế độ tỷ giá thả nổi mới được hình thành Đồng USD trở về với vai trò là một đồng tiền quốc gia, nhưng vẫn là một đồng tiền mạnh
Ø Giai đoạn đỉnh cao 1980 – 1985
Trong giai đoạn này, USD liên tục tăng giá
Ø Sau cuộc khủng bố 11/9 và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cho đến nay
Trang 16Đồng USD liên tục mất giá sau cuộc khủng bố nhắm vào nước Mỹ và tiếp tục giảm mạnh sau cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng hiện nay đang có xu hướng tăng trở lại.
2 Vai trò của đồng Đôla trong nền kinh tế Thế giới
Ø Trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất
Trước Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, nền kinh tế thế giới vận hành theo
hệ thống bản vị vàng (tiền tệ của mỗi nước được qui đổi ra vàng theo một tỷ lệ được định rõ) Hệ thống này dẫn tới các tỷ lệ hối đoái cố định - tức là, tiền tệ của mỗi nước có thể đổi ra tiền của mỗi quốc gia khác theo một tỷ giá không thay đổi xác định trước Tỷ giá hối đoái cố định đã khuyến khích thương mại thế giới phát triển bằng việc xóa đi tính không chắc chắn liên quan tới các tỷ giá dao động, nhưng lại có hai nhược điểm Thứ nhất, dưới hệ thống bản vị vàng, các nước có thể không kiểm soát được các mức cung tiền của chính mình; đúng hơn, mức cung tiền của mỗi nước được xác định bởi dòng tiền vàng được sử dụng để quyết toán các khoản nợ của mình với những nước khác Thứ hai, chính sách tiền tệ ở tất cả các nước bị ảnh hưởng mạnh bởi nhịp độ sản xuất vàng Trong giai đoạn này đồng USD chỉ đơn thuần đóng vai trò là 1 đồng tiền quốc gia
Ø Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai
Các quốc gia đã cố gắng phục hồi lại hệ thống bản vị vàng, nhưng nó đã sụp đổ hoàn toàn trong cuộc Đại khủng hoảng của những năm 1930 Sự sụp đổ này đã là cho quan hệ tài chính - tiền tệ quốc tế trở nên rối ren, dẫn đến sự hình thành các liên minh tiền tệ do một số nước tư bản đầu sỏ cầm đầu Khu vực đồng
đô la do Mỹ cầm đầu tồn tại bên cạnh các “đối thủ không hơn kém” là khu vực đồng Bảng Anh và khu vực đồng Phơ-răng Pháp Nhưng sau Đại chiến thế giới lần thứ II, Mỹ trở thành một cường quốc mạnh nhất thế giới về ngoại thương, về
Trang 17tín dụng quốc tế và là nước có dự trữ vàng lớn nhất thế giới (chiếm khoảng ¾ tổng dự trữ vàng của toàn bộ thế giới tư bản) Đây chính là những yếu tố tạo nên thế mạnh cho đồng đô la Mỹ trên trường quốc tế, đưa đồng tiền này “lên ngôi” đồng tiền chủ chốt của thế giới
Tháng 7 năm 1944, Hoa Kỳ đã đứng ra triệu tập Hội nghị tiền tệ - tài chính quốc tế tại thành phố Bretton-woods với sự tham gia của 44 nước để thoả thuận
về việc thiết lập các quan hệ tài chính tiền tệ quốc tế mới cho thời kỳ sau chiến tranh thế giới lần II Được gọi là chế độ tiền tệ Bretton-woods Nội dung chủ yếu của chế độ tiền tệ Bretton-woods:
- Thừa nhận USD là đồng tiền chuẩn, làm trụ cột cho chế độ tiền tệ này
Nó được coi là phương tiện dự trữ và thanh toán quốc tế, đóng vai trò chủ chốt trong các quan hệ tiền tệ, thanh toán và tính dụng quốc tế Nhiều thập kỷ qua, đồng đôla vẫn là đồng tiền các nước trên thế giới có xu hướng sử dụng trong kinh doanh Hầu hết các ngân hàng trung ương trên thế giới giữ phần lớn lượng dự trữ ngoại tệ bằng đồng đôla, mặt khác, hầu hết các hàng hóa được giao dịch trên toàn cầu (như dầu lửa) cũng được định giá bằng đồng tiền của nước Mỹ này
- Việc sử dụng USD trong thanh toán quốc tế và các quan hệ đối ngoại khác không hạn chế, các đồng tiền của các nước khác phải liên hệ chặt chẽ với USD theo chế độ tỷ giá cố định
- Các nghiệp vụ về vàng được thực hiện theo 1 giá chính thức là 35 USD
= 1 ounce vàng Đô la Mỹ được tự do chuyển đổi ra vàng theo giá đó Ngân hàng trung ương của các nước thành viên phải can thiệp vào thị trường vàng để giữ giá vàng chính thức luôn luôn ở mức 35 USD = 1 ounce vàng
Trang 18- Các nước phải thực hiện ngay các biện pháp thiết thực để loại trừ chế độ kiểm soát và quản chế ngoại hối, đồng thời thiết lập chế độ tiền tệ tự do chuyển đổi.
- Thiết lập một tổ chức tiền tệ quốc tế nhằm điều chỉnh các quan hệ tiền tệ
- tài chính quốc tế theo những nguyên tắc của chế độ tiền tệ Bretton-woods
Ø Giai đoạn từ năm 1973 đến những năm 1980
Qua 2 lần phá giá USD, năm 1973, Mỹ và các quốc gia khác đã chấp thuận cho phép tỷ giá hối đoái thả nổi Chế động tiền tệ Bretton Woods sụp đổ Hệ thống tiền tệ thế giới hình thành nên 1 số chế độ tiền tệ mới:
- Chế độ tiền tệ Gia-mai-ca ra đời trên cơ sở Hiệp định được ký kết giữa các nước thành viên IMF tại Gia-mai-ca vào những năm 1976-1978 Chế độ tiền
tệ này thừa nhận SDR là cơ sở của chế độ tiền của các nước SDR trở thành một đơn vị tiền tệ tính toán quốc tế mới Giá trị của nó được xác định theo phương pháp rổ tiền tệ, lúc đầu rổ tiền tệ gồm 16 đồng tiền mạnh nhất của thế giới Hiện nay, tham gia “rổ tiền tệ” là 5 đồng tiền mạnh của những quốc gia có tiềm lực về kinh tế, tài chính Như vậy, chế độ tiền tệ Gia-mai-ca thực chất là chế độ bản vị SDR
- Chế độ tiền tệ châu Âu: Chế độ tiền tệ châu Âu là một chế độ tiền tệ quốc tế khu vực Chế độ tiền tệ này ra đời trong bối cảnh mâu thuẫn giữa ba trung tâm thế lực quốc tế trong lĩnh vực thương mại, tiền tệ, tài chính ngày càng trở nên gay gắt Nó được xây dựng trên cơ sở Hiệp định tiền tệ do các nước trên lục địa châu Âu ký kết vào tháng 3-1979 Chế độ tiền tệ châu Âu dựa vào ECU - một đơn vị tiền tệ quốc tế khu vực của các nước châu Âu Giá trị của ECU được đảm bảo bằng dự trữ vàng và ngoại hối của các nước thành viên
Trang 19USD lại trở về vị trí đồng tiền quốc gia Nhưng do tiềm lực kinh tế của
Mỹ rất lớn, cho nên USD vẫn còn là một đồng tiền mạnh, đồng thời nó vẫn chiếm
1 tỷ trọng đáng kể trong quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia của các nước
Ø Giai đoạn 1980 – 1985
Trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 1980 đến tháng 3 năm 1985 đồng USD không ngừng tăng giá, tỷ giá danh nghĩa của USD tăng gần 50% và tỷ giá thực cũng tăng với một tỷ lệ tương tự Một trong những nguyên nhân chính khiến cho đồng USD lên giá mạnh là vì Chính phủ Mỹ áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ nhưng nới lỏng chính sách tài khoá dẫn đến thâm hụt ngân sách (từ 16 tỷ $ năm 1979 lên 204 tỷ $ năm 1986) Tuy nhiên việc USD liên tục lên giá làm phát sinh nhiều mối quan tâm lớn đó là ảnh hưởng lớn đến xuất khẩu và gây thâm hụt cán cân vãng lai
Ø Sau sự kiện khủng bố 11/09 và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
cho đến nay
Sau sự kiện khủng bố tại Mỹ và sự ra đời chính thức của đồng Euro, đồng USD liên tục mất giá so với các các ngoại tệ khác và vàng (trong 05 năm qua, đồng USD đã mất giá 25%) Đồng euro ngày càng được các công ty cũng như các chính phủ từ Trung Quốc đến Trung Đông chấp nhận nhiều hơn như một ngoại tệ dự trữ Đồng đô la Mỹ có lúc trồi sụt, gây thiệt hại kinh tế, mất an toàn cho nền tài chính tiền tệ các nước và nhiều nước chủ trương thay thế vị trí độc tôn của USD bằng euro Theo Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF), dự trữ ngoại tệ toàn cầu trong quí 1 -2006 xấp xỉ 4,34 ngàn tỷ USD Trong số đó, đồng USD chiếm 66,3% và đồng euro 24,8% Kinh tế toàn cầu, vốn đang bị tác động bởi cuộc khủng hoảng thị trường tài chính và sự suy giảm kinh tế của Mỹ, hiện đang đứng
Trang 20vào đó là mối lo sợ các ngân hàng trung ương đột ngột tung nguồn dự trữ USD không lồ của họ ra để mua các phương tiện dự trữ khác thay thế và các nước Trung Đông có thể từ bỏ chế độ tỷ giá gắn kết với USD
Sự kiện 11/9/2001 và cuộc chiến chống khủng bố đã tác động xấu đến cán cân thanh toán của Mỹ, mà đỉnh cao là đổ vỡ tín dụng tại Mỹ và dẫn đến khủng hoảng tài chính toàn cầu Chính sự mất cân đối ngân sách kỷ lục tại Mỹ và sự nổi lên của các nền kinh tế mới nổi đã khiến cho USD mất giá 16% tính từ tháng 3/2009 và trên 20% tính từ năm 2002 và còn tiếp tục xuống giá Tỉ trọng USD trong dự trữ thế giới giảm từ 72% vào năm 1999 (đồng euro bắt đầu lưu hành) xuống còn 62,8% vào quí 2/2009
Trong thời gian qua, thị trường tiền tệ thế giới có nhiều biến động với việc đồng USD giảm giá kỷ lục so với các đồng tiền chủ chốt cũng như so với các đồng tiền châu Á khác Trong giai đoạn từ tháng 7 đến tháng 9/2007, giá trị đồng USD đã giảm 5,4% so với đồng Euro và giảm 6,8% so với đồng Yen Nhật
Kể từ đầu năm 2007 tới nay, đồng USD nhìn chung đã mất giá khoảng 16%
Đồng USD liên tục xuống dốc không phanh trong những tháng cuối năm
2007 Đồng USD đã thực sự đạt được một dấu mốc khi nó vượt cả mức thấp nhất
so với đồng Mark Đức hồi đầu năm 1995, tương đương với khoảng 1,455-1,457 USD/Mark và đồng Euro tăng lên với 1 Euro đổi được 1,48 USD Đồng đôla Canada (CAD) đã tăng lên mức cao nhất trong gần nửa thế kỷ qua so với đồng USD, tương đương với 1 CAD đạt xấp xỉ 1,05 USD Đồng Bảng Anh đã có lúc tăng lên 2,0317 USD/bảng Anh - mức cao nhất kể từ năm 1981
Trên các thị trường châu Á, đồng USD liên tục giảm giá so với đồng baht Thái Lan và đạt ngưỡng 34 Baht/USD - mức thấp nhất kể từ sau cuộc khủng
Trang 21hoảng tài chính năm 1997-1998 Kể từ đầu năm 2007, giá của đồng Baht đã tăng 7%, sau khi tăng 12% vào năm 2006 Đồng Peso của Philippines cũng đã tăng lên mức cao nhất trong 7 năm qua so với đồng USD, trong khi đồng đôla Singapore tăng cao nhất kể từ 10 năm nay Tại Ấn Độ, đồng Rupee tăng 12% so với đồng USD trong năm Còn đồng Rupiah của Indonesia, đồng Won của Hàn Quốc, đồng đôla Đài Loan đều tăng mạnh so với đồng USD Đồng Nhân dân tệ (NDT) của Trung Quốc liên tục lập các mức cao kỷ lục mới trong nhiều phiên giao dịch liên tiếp Nếu tính từ đầu năm đến nay, đồng NDT đã 67 lần lập mức cao kỷ lục
và tăng tổng cộng trên 4% Đồng đôla Australia (AUD) cũng đã tăng lên 0,9023 USD/AUD - mức cao nhất trong 23 năm qua
Các nguyên nhân khiến cho đồng USD giảm giá:
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến giá các đồng tiền, đặc biệt là tầm ảnh hưởng của chính sách lãi suất trên khắp thế giới, sự mất cân đối thương mại, những điểm khác biệt về tăng trưởng kinh tế và chính sách kiểm soát tiền tệ
- Đồng USD đã chịu sức ép trong 4 năm qua do tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai của Mỹ và quyết định giảm lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) trong năm 2007 Và gần đây là những lo ngại về lĩnh vực cho vay thế chấp yếu, gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế lớn nhất thế giới này Mất cân bằng trong cán cân thanh toán là vấn đề đáng lo ngại trong vòng 10 năm trở lại đây đối với nhiều nước Theo thống kê của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), mức thâm hụt cán cân buôn bán của Mỹ trong năm 2006 tương đương 6% GDP, mức cao chưa từng
có trong lịch sử nước này Trong khi đó, một số nước châu Á như Trung Quốc
và Nhật Bản lại đạt thặng dư thương mại ngày càng lớn Năm 2006, thặng dư
Trang 22thương mại của Nhật Bản đạt 3,9% GDP, trong khi con số này của Trung Quốc là 9,4% GDP Các số liệu Hải quan Trung Quốc cũng cho biết khối lượng thặng dư mậu dịch của nước này trong 9 tháng đầu năm đã lên tới 185,7 tỷ USD, vượt qua
cả số lượng thặng dư mậu dịch của cả năm 2006 (177,47 tỷ USD) Dự đoán thặng
dư thương mại năm 2007 của Trung Quốc sẽ tăng lên 250 - 300 tỷ USD Xu hướng thâm hụt thương mại kéo dài đã tạo nên áp lực khiến đồng USD tiếp tục giảm giá
- Một nhân tố khác cũng có tác động đồng thời lên đồng USD là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Đồng USD yếu đã kích thích luồng vốn lớn từ nước ngoài đổ vào Mỹ Nhờ vào việc đồng Euro có sức mua mạnh, các doanh nghiệp trong khu vực Eurozone và Anh có thể đẩy mạnh chuyển hướng đầu tư và mua lại các công ty Mỹ Năm 2000, khi người ta bắt đầu đề cập tới vấn đề đồng Euro yếu, châu Âu đã đầu tư 125 tỷ USD vào Mỹ dưới dạng FDI Năm 2006, con số này đã giảm xuống chỉ còn 122 tỷ USD và trong 6 tháng đầu năm 2007 mới chỉ
có 12,1 tỷ USD được giải ngân trong lĩnh vực này Trong khi đó, luồng FDI từ
Mỹ sang châu Âu đã tăng từ 77 tỷ USD năm 2000 lên 127 tỷ USD năm 2006, và trong 6 tháng đầu năm 2007, con số này cũng đã đạt 85 tỷ USD Như vậy, tính
từ năm 2006 đến nay, dòng vốn FDI có xu hướng chảy từ Mỹ sang châu Âu Và
xu hướng này cũng đã được kiểm chứng trên phạm vi toàn cầu khi mà trong 6 tháng đầu năm 2007, lượng vốn FDI vào Mỹ là 85 tỷ USD, trong khi lượng vốn chạy ra khỏi Mỹ lại lên tới 150 tỷ USD Thêm vào đó là cán cân tài khoản vãng lai bị thâm hụt từ năm 1989 khiến cho các luồng tài chính phải chịu sức ép không thuận lợi của việc đồng USD mất giá
Đồng USD ngay lập tức bị ảnh hưởng sau khi vài quan chức ngân hàng Trung Quốc phát biểu rằng Trung Quốc có thể thay đổi cơ cấu tiền tệ của kho dự
Trang 23trữ ngoại hối khổng lồ Tính đến cuối tháng 9/2007, dự trữ ngoại tệ của quốc gia này đã lên tới 1.430 tỷ USD, tăng 45,1% so với cùng kỳ năm ngoái Nhiều đối tác làm ăn của Trung Quốc cho rằng các kho dự trữ ngoại tệ này tăng từ 40-50 tỷ/tháng trong 6 tháng đầu năm nay khiến cho đồng NDT bị đánh giá thấp hơn giá trị thật của nó.
- Tiền tệ luôn có xu hướng di chuyển qua biên giới để tìm kiếm lợi nhuận cao hơn Bởi vậy, tiền tệ sẽ tăng khi thị trường kỳ vọng vào triển vọng kinh tế khả quan và giảm khi kinh tế suy giảm Sự mạnh lên hay yếu đi về kinh tế được thể hiện trong thu nhập từ trái phiếu và lãi suất trái phiếu của quốc gia đó Vào thời điểm này, thị trường cho rằng nền kinh tế Mỹ đang phát triển chậm lại Bởi vậy, các nhà đầu tư đã liên tục từ đồng USD sang các loại tiền tệ khác cho lãi cao hơn
- Tuy nhiên, các nhân tố kinh tế vĩ mô này cũng chưa giải thích toàn bộ các vấn đề trên thị trường ngoại hối Theo quan điểm của IMF và bộ trưởng tài chính các nước G7, sự định giá quá thấp của các đồng tiền châu Á, đặc biệt là đồng NDT của Trung Quốc và đồng Yen Nhật, là nguyên nhân chính khiến đồng tiền chủ chốt trong thanh toán quốc tế này giảm giá Để hạn chế sự mất cân bằng thương mại hiện nay, Trung Quốc và Nhật Bản cần phải kích thích tiêu dùng nội địa và không định hướng chính sách tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu Để làm được điều đó, không có gì thích hợp hơn là áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi để cho đồng nội tệ tự định giá Đối với Trung Quốc, biện pháp này không những có thể giúp họ kiềm chế xuất khẩu và hạn chế những tác động do lạm phát gây ra, mà việc tăng giá đồng NDT còn tạo điều kiện cho người dân Trung Quốc
Trang 24được Nhật áp dụng và nếu điều đó thành hiện thực, thâm hụt thương mại của Mỹ
sẽ giảm bớt và đồng USD khi đó sẽ có thể tăng giá trở lại
Những tác động tiềm tàng
Đồng USD mất giá đang là bài toán hóc búa cho giới quản lý các kho dự trữ ngoại tệ lớn của thế giới Đối với các nước, như Trung Quốc và các nước vùng Vịnh vốn gắn tỷ giá đồng nội tệ với đồng USD, thì sức ép của nguy cơ lạm phát có thể gây ra các vấn đề nghiêm trọng cho kinh tế và xã hội Tuy nhiên, bất
kỳ động thái nào nhằm gỡ bỏ mối liên hệ với đồng USD cũng sẽ ảnh hưởng lên thị trường tiền tệ, gây tổn thất về giá trị tài sản cho các kho dự trữ ngoại tệ của các nước này IMF cho biết các kho dự trữ ngoại tệ trên toàn cầu hiện tăng từ 2.000 tỷ USD trong quý II/2002 lên 5.700 tỷ USD đến quý II/2007 Hơn thế nữa, 2/3 trong tổng số quỹ dự trữ ngoại tệ trên toàn thế giới nằm trong tay 6 nền kinh
tế như Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Nga và Singapore
Theo các chuyên gia kinh tế, việc nhiều đồng tiền của các nước châu
Á tăng giá so với đồng USD trong năm nay đã khiến cho hàng hóa xuất khẩu trở nên đắt đỏ hơn và lượng ngoại tệ dự trữ bị giảm giá trị Giá trị đồng USD sụt giảm sẽ khiến cho các mặt hàng xuất khẩu của các nước châu Á trở nên đắt đỏ hơn đối với người tiêu dùng ở Mỹ Ấn Độ và Thái Lan là những nước đáng lo ngại nhất, vì tỷ giá hối đoái sẽ tạo lợi thế cho hàng hóa của Trung Quốc so với hàng hóa của hai nước này trên thị trường thế giới Tuy nhiên, chính phủ các nước châu Á không quá lo ngại đối với vấn đề giá cả hàng hóa xuất khẩu đắt đỏ hơn, một phần vì đa số các đồng tiền trong khu vực đều tăng giá so với đồng USD Các chuyên gia cho rằng, sự sụt giảm lượng hàng hóa xuất khẩu sang Mỹ
có thể bù lại bằng việc xuất khẩu sang châu Âu, châu Phi và Mỹ Latinh Bên cạnh đó, chính phủ các nước châu Á được hưởng lợi từ việc đồng nội tệ tăng giá
Trang 25vì điều này sẽ giúp họ mua dầu mỏ - được bán với giá tính bằng USD - rẻ hơn Nhiều nước cũng mua được hàng hóa của Mỹ với giá rẻ hơn, giúp những nước phụ thuộc vào nhập khẩu như Singapore có thể bù đắp lại sự gia tăng giá cả của một số mặt hàng nhập khẩu.
Đồng USD yếu khiến các mặt hàng được giao dịch bằng USD như dầu thô trở nên rẻ hơn đối với những khách hàng sử dụng đồng tiền có giá trị hơn và
do đó khuyến khích nhu cầu tiêu thụ Điều này giúp bù đắp giá dầu đang ở mức cao kỷ lục trên thị trường thế giới Tuy nhiên, đồng USD yếu sẽ làm giảm giá trị doanh thu từ xuất khẩu dầu của các nước khai thác dầu thô lớn Thực tế này khiến
Tổ chức các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) không vội vã tăng sản lượng một lần nữa, mặc dù nguồn cung trên thị trường thế giới đang eo hẹp Cho đến nay, nền kinh tế Khu vực đồng Euro vẫn chưa phải hứng chịu tác động của sự bất ổn
về tỷ giá hối đoái, nhưng các rủi ro đang tăng lên Đồng USD tiếp tục giảm giá
là mối lo ngại lớn bởi nó làm cho hàng hóa và các dịch vụ của châu Âu trở nên đắt đỏ hơn so với hàng hóa và dịch vụ của Mỹ Nhiều nhà hoạch định chính sách châu Âu đang lo ngại đồng USD sẽ kìm hãm đà tăng trưởng của Eurozone
Đồng USD yếu sẽ khiến hàng hóa Mỹ cạnh tranh hơn trên thị trường thế giới Thâm hụt thương mại của Mỹ sẽ giảm khi xuất khẩu tăng, hạn chế ảnh hưởng của thâm hụt đối với tăng trưởng Đồng USD yếu cũng giúp cải thiện tình hình việc làm vì các công ty đa quốc gia sẽ chọn thuê người Mỹ với chi phí thấp hơn Khi đồng USD giảm giá, hàng nhập khẩu sẽ đắt lên, đẩy giá cả đắt đỏ lên theo và như vậy sức ép lạm phát sẽ tăng Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng nền kinh tế quá lớn và cạnh tranh đến mức phần lớn các công ty không có cơ hội tăng giá bán