ĐỀ TÀI DỰ THI NGHIÊN CỨU MỘT SỐ SẢN PHẨM LÀM ĐẸP TỪ TINH DẦU BẠCH ĐÀN .................................................................................................................................. Vì vậy chúng tôi chọn đề tài “ Nghiên cứu một số sản phẩm làm đẹp từ tinh dầu bạch đàn” với mong muốn tìm ra các sản phẩm làm đẹp có nguồn gốc từ các loại cây cỏ thiên nhiên sẳn có ở địa phương an toàn với người sử dụng.
Trang 1ĐỀ TÀI DỰ THI
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ SẢN PHẨM LÀM ĐẸP TỪ
TINH DẦU BẠCH ĐÀN
Nhóm học sinh thực hiện:1) Nguyễn Văn Hạnh.
2) Võ Hoàng Yến 3) Nguyễn Thị Yến Nhi.
Năm - 2020
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Chúng em xin chân thành cảm ơn BGH và các thầy cô giáo tổ Hóa – Sinh – Kỹ NN trường THPT Hùng Vương đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho chúng em trong quá trình nghiên cứu hoàn thành đề tài này
Đặc biệt chúng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo Lê Thị Phượng người đã giúp đỡ tận tình chúng em trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Xin gửi lời cảm ơn bà con cô bác người dân Vùng Cự Nẫm đã giúp đỡ chúng em trong quá trình sưu tập và tìm nguyên liệu cho đề tài
Cuối cùng chúng em xin cảm ơn gia đình bạn bè và người thân đã động viên giúp đỡ chúng em hoàn thành đề tài
Quảng Bình, Tháng 12 năm 2016
Nhóm tác giả
Trang 3MỤC LỤC
Lời cảm ơn :……… 2
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Lý do chọn đề tài ………4
2.2 Vấn đề đặt ra :……….8
1.3 Mục tiêu nghiên cứu : ………8
1.4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài : ………8
1 5 Lịch sử vấn đề :………8
1.6 Đối tượng nghiên cứu :……… 11
1.7 Kế hoạch và phương pháp nghiên cứu ……….11
PHẦN 2 : CHẾ TẠO SẢN PHẨM 2.1 Tổng quan về tinh dầu bạch đàn………
2.1.1 Sơ lược về cây bạch đàn………
2.1.2 Thành phần tinh dầu bạch đàn………
2.1.3 Chưng cất tinh dầu bạch đàn………
2.2 Các nguyên liệu sử dụng trong đề tài………
2.3 Thực nghiệm……….
PHẦN 3 : KIỂM NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM 3.1 Mục đích ……….18
3.2 Đối tượng ……… 18
3.3 Phương pháp………18
3.4 Kết quả ………19
PHẦN 4 : KẾT LUẬN IV.1 Những kết quả đạt được: ………20
4.2 Thiếu sót và hạn chế của đề tài :……… 20
Trang 44.3 Kiến nghị :……… 20
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Lý do chọn đề tài :
Vùng đất Bố Trạch là nơi phát triển của rất nhiều hệ thực vật đa dạng trong
đó có rất nhiều cây cho các loại tinh dầu quý có tác dụng làm đẹp như tràm, bạch đàn, hương nhu, chổi rành, bạc hà… Trong đó cây bạch đàn là loại cây được trồng nhiều nhất vì đây là loại cây lấy gỗ dễ trồng mau lớn có khả năng chịu nóng và chịuhạn tốt, có thể trồng trên các vùng đất xấu như đồi trọc có nhiều sỏi đá, bạc màu …Những năm gần đây bạch đàn chanh không chỉ trồng để khai thác gỗ mà còn dùng
lá để khai thác tinh dầu
Theo Bách khoa y học năm 2010 [20] tác dụng của tinh dầu bạch đàn (Còn gọi là tinh dầu khuynh diệp) như sau:
* Đối với trẻ em:
+ Trị ngạt mũi, cảm cúm, giúp trẻ ngủ ngon giấc:
+ Phòng cảm lạnh
+ Ngừa lây bệnh
* Đối với người lớn:
+ Tinh dầu bạch đàn trị gàu, mượt tóc, kích thích mọc râu hiệu quả, nhanh
chóng
+ Chữa đau nhức xương khớp, giảm đau chân
+ Tạo không khí thơm mát cho căn phòng
+ Tinh thần mùi hương tinh dầu khuynh diệp sẽ mang tới cảm giác thư giãn,
giải tỏa căng thẳng
+ Khử mùi hôi nách hương tinh dầu bạch đàn sẽ khử mùi hôi, diệt khuẩn dưới nách
Trang 5+ Vệ sinh răng miệng tinh dầu khuynh diệp sẽ giúp tiêu diệt vi khuẩn trong miệng, ngăn ngừa mảng bám, trị hôi miệng
+ Điều trị các vấn đề hô hấp
+ Ngăn nhiễm trùng, làm giảm kích ứng:
Tuy nhiên hiện nay việc sử dụng tinh dầu bạch đàn trong cuộc sống chỉ mới dùng để phòng cảm lạnh và trị nghẹt mũi đau nhức xương khớp việc sử dụng tinh dầu bạch đàn để làm đẹp còn chưa được biết nhiều
Trong thời đại ngày nay khi cuộc sống đã đầy đủ về vật chất thì nhu cầu làm đẹp hoàn thiện bản thân càng ngày càng được chú trọng vì vậy ngành công nghiệp hóa mĩ phẩm càng ngày càng phát triển, lướt trên các trang web chúng ta dễ dàng bắt gặp rất nhiều quảng cáo về dầu gội đầu, về các loại sữa tắm sữa dưỡng thể …
Tuy nhiên với sự phát triển về hóa học như bây giờ có rất nhiều sản phẩm làm đẹp có chứa các hóa chất độc hại làm ảnh hưởng đến người dùng nên xu hướngbây giờ là sử dụng các sản phẩm làm đẹp có nguồn gốc từ thiên nhiên
Vì vậy chúng tôi chọn đề tài “ Nghiên cứu một số sản phẩm làm đẹp từ
tinh dầu bạch đàn” với mong muốn tìm ra các sản phẩm làm đẹp có nguồn gốc từ
các loại cây cỏ thiên nhiên sẳn có ở địa phương an toàn với người sử dụng
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tinh chế tinh dầu bạch đàn từ lá bạch đàn
- Từ tinh dầu bạch đàn điều chế các sản phẩm làm đẹp từ tinh dầu bạch đàn
1.3 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài nếu thành công sẽ mang lại ý nghĩa thiết thực cho cuộc sống
+ Giúp người dân hiểu hơn tác dụng của lá bạch đàn mà đa số người dân địaphương đều vứt bỏ sau khi khai thác gỗ, giúp người dân địa phương có hướng mớitrong trồng khai thác và sử dụng cây bạch đàn
+ Làm ra bộ sản phẩm dầu ủ tóc, xà phòng, sữa tắm an toàn từ thiên nhiên là những vật dụng quan trọng gần gũi cần thiết cho mọi gia đình
Trang 61.4 Lịch sử vấn đề
Hiện nay chế tạo mĩ phẩm như dầu ủ tóc, xà phòng, sữa tắm trên thị trường rất nhiều nhưng nhiều sản phẩm này bị phát hiện có dùng hóa chất và chất bảo quản không an toàn cho người sử dụng Nhiều sản phẩm mặc dù đã có thông báo chứa các chất cấm trong sản phẩm nhưng vẩn được bày bán trên thị trường làm người dân rất lo lắng không an tâm khi sử dụng những sản phẩm này nhất là sử dụng cho trẻ em
Ngoài ra các đề tài về tinh dầu bạch đàn hiện nay chỉ có hai đề tài:
- Khảo sát tinh dầu bạch đàn chanh và điều chế một số dẫn xuất từ citronelal
- Đánh giá đặc tính thành phần tinh dầu một số loài bạch đàn trồng ở Việt Nam và mối liên hệ của nó với vấn đề sinh thái môi trường điển hình
Chưa có đề tài nào tìm hiểu về ứng dụng của tinh dầu bạch đàn
1.5 Đối tượng nghiên cứu
Ứng dụng của tinh dầu bạch đàn trong lĩnh vực mĩ phẩm
1.6 Kế hoạch và phương pháp nghiên cứu
1.6.1 Kế hoạch nghiên cứu
a Giai đoạn tìm hiểu
- Thời gian: giữa tháng 8 đến giữa tháng 9
- Nội dung: Tìm hiểu về thành phần tính chất tinh dầu bạch đàn, dầu cám gạo, dầu hướng dương, cách sản xuất xà phòng, sữa tắm
b Giai đoạn điều chế các loại tinh dầu và phôi xà phòng
- Thời gian: Giữa tháng 9 đến cuối tháng 10
- Nội dung: Chưng cất tinh dầu bạch đàn từ lá bạch đàn, tinh dầu bưởi, Tinh dầu bạc hà Điều chế phôi xà phòng glixerin
c Điều chế sản phẩm
- Thời gian: Đầu tháng 11 đến giữa tháng 11
- Nội dung: Điều chế dầu ủ tóc, xà phòng, sữa tắm đóng gói sản phẩm
Trang 7d Giai đoạn thực nghiệm và hoàn thiện sản phẩm
- Thời gian: giữa tháng 11 đến đầu tháng 12
- Nội dung: Hoàn thiện sản phẩm đưa vào sử dụng đánh giá, kiểm nghiệm sản phẩm
1.7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu lý thuyết thành phần, tác dụng tinh dầu bạch đàn, tinh dầu cám gạo
- Phương pháp thực nghiệm: Điều chế xà phòng glixerin, pha chế dầu ủ tóc, sữa tắm
Trang 8PHẦN 2 NỘI DUNG CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ TINH DẦU BẠCH ĐÀN
2.1 Giới thiệu về cây bạch đàn
Bạch đàn (Eucalyptus) là loài cây bản địa của Australia được trồng phổ biến
trên thế giới với hơn 700 loài khác nhau Tại Việt Nam, Bạch đàn cũng là loài cây được trồng khá phổ biến để lấy nguyên liệu Tên gọi khác của bạch đàn: cây
khuynh diệp Tên khoa học:Eucalyptus globulus Labill Thuộc họ: Sim Myrtaceae.[số tài liệu tham khảo, số trang]
Tên bạch đàn là tên có từ lâu ở vùng Nghệ An, Hà Tĩnh tên khuynh diệp là do mùi tinh dầu có mùi tinh dầu tràm, cây cũng có lá nghiêng cho nên đặt tên Hiện nay, tên bạch đàn phổ biến hơn
Cây cao to, có thể cao tới 10m hay hơn Cành non có 4 cạnh Hai loại lá: Trên cây non hay cành non, lá mọc đối, gần như không cuống, phiến lá hình trứng hoặc giống hình trái tim, sắc lục, mỏng, như có sáp, dài 10-15cm, rộng 4- 8cm Trên cành cây già, lá mọc riêng biệt, so le, hình liềm, cuống ngắn, cong, phiến lá hẹp dài16-25cm, rộng 2-5cm, cành già tròn, không cạnh Phiến lá soi lên sáng thấy rõ những điểm trong trong, đó là những túi tinh dầu Từ kẽ lá có những nụ hoa hình núm oản ngửa, có 4 cạnh tương ứng với 4 lá đài Quả hình chén, phía trên có 4 ngăn, trong chứa ít hạt
Ngoài cây bạch đàn kể trên, chúng ta còn di thực vào nhiều loài bạch đàn khác như bạch đàn trắng Eucalyptus camaldulensis (E rostrata), bạch đàn lá nhỏ Eucalytus tereticornis (E umbellata), bạch đàn long duyên Eucalyptus exserta, khi còn nhỏ cũng cho lá dễ nhầm với bạch đàn lá nhỏ, bạch đàn đỏ Eucalyptus ro- busia, bạch đàn chanh (có mùi thơm của chanh Eucalyptus citriodora v.v ) [số tài liệu tham khảo, số trang]
Theo nghiên cứu của Dairy R.Batish và cộng sự Bạch đàn có khoảng 700 loài khác nhau, còn theo Lê Văn Truyền và cộng sự Bạch đàn có tới 800 loài khác nhau
Trang 9Ở Việt Nam, lần đầu tiên Bạch đàn được Brochet tìm thấy ở Cốc Lếu tỉnh Lào Cai vào năm 1904 (Hoàng Hòe, 1996) Ngày nay có khoảng trên 20 loài Bạch đàn đã
được trồng ở Việt Nam trong đó Bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis Dehn)
được coi như loài có giá trị kinh tế cao, được trồng rộng rãi ở cả các vùng đất thấp
và cao, trừ những đỉnh núi có độ cao trên 1000 mét so với mực nước biển
Theo tài liệu 3330 cây thuốc nam của hải thượng lãn ông một số loài bạch đàn sau có thể dùng làm thuốc
+ Bạch đàn chanh, Khuynh diệp sả - Eucalyptus maculata Hool, var, citriodora (Hk, Bailey (E citriolora Hook), thuộc họ Sim - Myrtaceae
Thành phần hoá học: Lá chứa 0,5-2% tinh dầu Tinh dầu chứa citronelal 60-65%; citronelol 15,20%, alcol bậc I quy ra geraniol 11.14%, geranial các thành phần khác2%
Công dụng: Tinh dầu có mùi thơm dễ chịu Dùng làm thuốc tẩy uế Tinh dầu Bạch đàn nói chung được dùng làm thuốc sát khuẩn tại chỗ đặc biệt trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp trên và trong một số bệnh ngoài da Trộn lẫn với một lượng tương đương dầu Ô liu, dùng làm thuốc gây sung huyết da để điều trị thấp khớp Còn dùng làm thuốc trị bỏng, làm thuốc gây long đờm trong trường hợpviêm phế quản mạn tính và hen
+ Bạch đàn đỏ - Eucalyptus robusta Smith, thuộc họ Sim - Myrtaceae
Thành phần hoá học: Tinh dầu chứa cineol, pinen, camphen, các aldehyd valeric, butyric
Tính vị, tác dụng: Vị hơi cay, hơi đắng, tính bình, có mùi thơm; có tác dụng tiêu viêm, kháng sinh, trừ mủ và chống ngứa
Công dụng: Ở Trung Quốc được dùng trị: Cảm lạnh, cúm, viêm não truyền nhiễm, viêm não B; Viêm phần trên đường hô hấp, viêm hầu; Viêm khí quản, viêm
phổi nang; Viêm bể thận cấp và mạn; viêm thận; Viêm ruột, bệnh do nấm Candida;Sốt rét; Bệnh giun chỉ Dùng ngoài trị bỏng, viêm mũi, viêm tế bào, viêm vú, cụm
Trang 10nhọt, chốc lở, viêm quầng, mày đay, eczema, nấm tóc, viêm âm đạo do nấm
Candida, và sát khuẩn da
+ Bạch đàn hương, Premna sp thuộc họ Cỏ roi ngựa - Verbenaceae
Tính vị, tác dụng: Lá cây có vị the, tính ấm, mùi thơm, có tác dụng phát tán mồ hôi, giải độc, thông hơi, trừ thấp
Công dụng: Thường dùng trị ho, giải các uế khí, ẩm thấp, chữa đau khớp, nhức xương, làm mạnh gân, nhất là trị đau cột sống trị thiên thời, dịch tả, đau bụng ói mửa, tiêu chảy, chậm tiêu, uất hơi, sình bụng, trúng gió .[số tài liệu tham khảo, số trang]
+ Bạch đàn lá liễu, Khuynh diệp thảo - Eucalyptus exserta F.v Muell., thuộc họSim - Myrtaceae
Thành phần hoá học: Lá chứa 0,65% tinh dầu Tinh dầu chứa 30% cineol, 8% pinen, 10% pinocarveol, pinocarvon Sau khi cất tinh dầu để chuyển thành màu đỏ nhạt và vẩn đục, tạo thành các hợp chất có nhóm carbonyl và carboxyl, cho mùi khó chịu
Công dụng: Nhân dân ta dùng lá Bạch đàn để làm nước uống, làm thuốc bổ, chữa
ho, xông mũi, chữa cảm cúm Qua nghiên cứu thì chất kháng khuẩn lấy từ lá có tác dụng đối với nhiều loại vi khuẩn gram + như cầu khuẩn, vi khuẩn bạch hầu và một
số loài vi khuẩn đường ruột Chất bay hơi của tinh dầu cũng có tác dụng diệt khuẩn mạnh (đối với các loài Bacillus, Staphyloccus, Candida albicans và Shigella
Trang 11đông mật, ở Nam Sumatra, người ta cho vào dầu Cọ khi đang nấu để làm cho đường Cọ trắng hơn
+ Bạch đàn trắng - Eucalyptus camaldulensis Dehnhart, thuộc họ Sim - Myrtaceae
Thành phần hoá học: Cây cho chất gôm, lá chứa tinh dầu
Công dụng: Gôm có thể dùng chữa ỉa chảy, họng bị đau, dùng làm chất săn trong nha khoa và điều trị vết thương Khi áp dụng làm chất gây săn trong chảy máu hoặctrường hợp thanh quản bị đau, gôm được trộn lẫn với một lượng tương đương tinh bột Gôm còn được dùng ở dạng thuốc đạn, 0,32g gôm trong dầu Cacao Tinh dầu dùng trị lỵ mạn tính
+ Bạch đàn xanh Bạch đàn tròn - Eucalyptus globulus Labill., thuộc họ Sim
- Myrtaceae
Thành phần hoá học: Lá Bạch đàn xanh chứa tinh dầu, chất vô cơ, tanin, chất nhựa,chất đắng, acid phenol (acid galic, acid cafeic), hợp chất flavonoid là heterosid của querceton, eucalyptin, heterosid phenolic Hàm lượng tinh dầu là 1-3%; thành phần chính của tinh dầu là cineol, (hay eucalyptol) 70-80%, còn có (pinen,
piperiton, phellandren, butyraldehyd, capronaldehyd
Tính vị, tác dụng: Lá Bạch đàn xanh có tác dụng hạ nhiệt, bổ và làm se do có tanin,cầm máu yếu, diệt ký sinh trùng Tinh dầu được hấp thụ qua da, ống tiêu hoá và mô
tế bào dưới da, dễ bài tiết, làm long đờm, diệt vi khuẩn, diệt ký sinh, sát trùng chủyếu là thuốc nhựa thơm Dùng ở trong nó có tác dụng sát trùng, chủ yếu sát trùng đường hô hấp và đường niệu, làm chất thơm, trừ thấp, trị giun và kích thích Dùng ngoài, có tính chất diệt vi khuẩn, diệt ký sinh, làm liền sẹo, đề phòng bệnh nhiễm trùng và bệnh về phổi và trừ muỗi
Công dụng: Dùng trong chữa Bệnh đường hô hấp, viêm phế quản cấp và mạn, cảm cúm, ho lao phổi, hen suyễn, ho; Bệnh đường tiết niệu, bệnh trực khuẩn coli, đái
Trang 12tháo; Một số chứng bệnh và sốt như sốt rét, rốt ricketsia, sởi; Thấp khớp, đau dây thần kinh; Ký sinh trùng đường ruột; Ðau nửa đầu, suy nhược
Vậy chúng ta có thể sử dụng hầu như các loại tinh dầu bạch đàn trên trong lĩnh vực mĩ phẩm trong đề tài này chúng tôi sử dụng chủ yếu là tinh dầu bạch đàn chanh
2.2 Thành phần tinh dầu bạch đàn
Theo nghiên cứu của Brooker và Kleinig (2006), tinh dầu Bạch đàn là một hỗn hợp phức tạp của nhiều monoterpenes và sesquiterpenes khác nhau, cùng với các phenol và oxit, este, rượu, ete, andehyt và keton Thành phần này phụ thuộc vào từng loài, khu vực trồng, khí hậu, loại đất và tuổi của lá, chế độ phân bón, đồng thời còn phụ thuộc vào phương pháp tách chiết tinh dầu
Các hợp chất chính trong tinh dầu Bạch đàn với hoạt tính sát trùng chiết từrất nhiều các loại Bạch đàn khác nhau cho ở Bảng 1
Bảng 1 Thành phần chính của tinh dầu tách chiết từ một số
loài Bạch đàn
STT Loài bạch đàn Thành phần chính Tác giả
1 E camaldulensis Eucamalol Watanabe và cộng sự, 1993
2 E citriodora Citronella Ramezani và cộng sự, 2002
3 E globulus 1,8-Cineole Yang etal, 2004
4 E grandis Α-Pinene, 1,8-cineole Lucia etal, 2007
5 E robusta Α-Pinene Sartorelli và cộng sự, 2007
6 E urophylla γ-Terpin, Su và cộng sự, 2006
7 E urophylla Alloocimene,α-pinene Liu etal, 2008
Các nghiên cứu tại Trung Quốc đã chỉ ra rằng hàm lượng tinh dầu trong látươi của Bạch đàn chanh thay đổi từ 0,5 - 2,0 % Tinh dầu thường có màu vàngnhạt, tỉ trọng ở 150C từ 0,915 - 0,925 Tinh dầu có thành phần chủ yếu là citronellal(65 – 80 %), citronellol (15 – 20 %) và một lượng nhỏ geraniol
Nghiên cứu thành phần hóa học trong tinh dầu Bạch đàn chanh trồng ở
Australia, Boland và cộng sự (1991) đã cung cấp các dẫn liệu sau: citronellal (80,1
Trang 13%), isoisopulegol (3,4 %), linalool (0,7 %), ß-caryophyllen (0,4 %), ß-pinene (0,4
%), α-pinene (0,1 %) và α-para-dimethylstyren (0,1 %) Các hợp chất còn lại như α-terpineol, geraniol, 1,8-cineole, globulol và viridiflorol chỉ ở dạng vết .[số tài liệu tham khảo, số trang]
Năm 2006 Su và cộng sự đã chứng minh hoạt tính chống nấm của tinh dầu một
số loài Bạch đàn như E grandis, E camaldulensis và E citriodora kháng lại nấm Năm 2004 Dhaliwal đã công bố tinh dầu bạch đàn loài E camaldulensis có khả năng kháng lại nấm ngoài da-Microsporum canis, Microsporum gypseum,
Trichophyton rubrum, Trichophyton schoenleinii,Trichophyton mentagrophytes và Epidermophyton floccosum
Tinh dầu Bạch đàn có hoạt tính như một loại thuốc trừ côn trùng tự nhiên đểchống lại muỗi và các loài chân đốt gây hại hoặc một vài loài động vật ăn cỏ Yang
và cộng sự (2004) đã công bố rằng tinh dầu của loài Bạch đàn xanh (E globulus)
với hợp chất chính là 1,8-cineole có biểu hiện tính độc chống lại chấy hại da đầu
Pediculus humanus capitis Hoạt tính trừ chấy rận của tinh dầu Bạch đàn tốt hơn
cả deltaphenothrin hoặc pyrethrum Giá trị LT50( Thời gian trung bình gây chết50% sinh vật thí nghiệm) của tinh dầu Bạch đàn là 0,125 mg/cm2, trong khi đó củadelta-phenothrin là 0,25 mg/cm2 Năm 2006, Ceferino cũng đã chứng minh trongtinh dầu ở một số loài Bạch đàn có hoạt tính chống lại một số loài chấy rận hại dađầu Theo nghiên cứu đó Ceferino đã kết luận rằng tinh dầu bạch đàn có thể được
sử dụng để phát triển các sản phẩm mới cho chữa trị các loài chấy rận hại da đầu.Hoạt tính trừ côn trùng của tinh dầu một số loài Bạch đàn được thống kê trongBảng 2
Bảng 2 Hoạt tính trừ côn trùng của tinh dầu một số loài Bạch đàn
Xua đuổi muỗi vằn trưởng thành Erler et al (2006)
Giết chết loài Callosobruchus, Sitophilus Negahban và
Trang 14E camaldulensis oryzae và Tribolium castaneum trưởng
thành từ 1-7 ngày
Moharramipour(2007)
E citriodora Độc tính chống lại Sitophilus zeamais Tinkeu et al (2004)
E globulus
Giết chết nhộng Musca domestica. Abdel Halim và
Morsy (2005)Chống lại chấy rận hại da đầu Yang et al (2004)
Độc với ấu trùng Aedes aegypti. Lucia et al (2007)
Eucalypstus sp Trừ ấu trùng Aedes albopictus, A aegypi
và Culex pipiens pallens.
Zhu et al (2006)
Vào cuối những năm 1990, một số công trình nghiên cứu công bố cho thấycác sản phẩm tinh dầu Bạch đàn chủ yếu sử dụng để xua đuổi các loài côn trùng.Sau đó vào năm 2002 Fraduin và Day cho rằng 30 % tinh dầu Bạch đàn có thểdùng trong xua đuổi muỗi trong 2 giờ, tuy nhiên tinh dầu phải có ít nhất 70 % hàmlượng cineole Lucia và cộng sự, (2007) đã chứng minh rằng tinh dầu Bạch đàn
xanh (E globulus) thì độc với ấu trùng Aedes aegypi và có giá trị LC50 ( Nồng độtrung bình gây chết 50% sinh vật thí nghiệm )là 32,4 ppm Năm 2005, Trung tâmKiểm soát và ngăn chặn bệnh ở Mỹ đã đề nghị sử dụng tinh dầu Bạch đàn chanhtrong đó có p-methane-3,8 diol có hoạt tính chống lại virus West Nile gây bệnhNeuological do muỗi
Ở Việt Nam trong các công trình nghiên cứu về tinh dầu của loài cây này phải kểđến công trình nghiên cứu của tác giả NguyễnXuân Dũng và cộng sự (1995) Tácgiả đã xác định được khoảng 30 hợp chất trong tổng số khoảng 40 hợp chất có
trong tinh dầu Bạch đàn chanh (Eucalyptus citriodora), hàm lượng tinh dầu trong lá
tươi từ 1,8 - 2,0 %, tỉ trọng 0,87235 Hàm lượng các chất trong tinh dầu như sau:citronellal (72,53 %), isopulegol (12,5 %), citronellol (5,61 %), neo- isopulegon(1,63 %), caryophyllen (1,16 %), 1,8-cineole (0,63 %)
Trang 15Theo Nguyễn Thị Thái Hằng (1995) thì tinh dầu Bạch đàn trắng (Eucalyptus
camaldulensis) chứa tới 64,79 % hoạt chất 1.8cineole Bạch đàn liễu lá có 0,4 %
-2,0 % tinh dầu, trong đó hợp chất chính là 1,8- cineole chiếm từ 40 % - 82 %.[ ]
Theo Lã Đình Mỡi, chất Citronella được coi là thành phần chủ yếu trong tinhdầu Bạch đàn chanh Song Bạch đàn chanh không chỉ đa dạng về hình thái mà còn
đa dạng về hoạt động sinh tổng hợp và tích lũy tinh dầu Hàm lượng citronellal biếnđộng rất rộng (từ 1 % đến 91 %).[ ] Căn cứ vào thành phần hóa học chính trongtinh dầu người ta cho rằng ở Australia loài Bạch đàn chanh có thể gồm bốn dạnghóa học:
- Dạng Bạch đàn chanh trong tinh dầu chứa chủ yếu là citronellal (65 - 91 %):
loại citronellal;
- Dạng Bạch đàn chanh có các thành phần chính trong tinh dầu gồm citronellol
(khoảng 50 %) và citronellal (1 – 14 %): loại citronellol và citronellal;
- Dạng Bạch đàn chanh mà thành phần chính trong tinh dầu chỉ gồm citronellal
(20 – 50 %) và guaiol: loại citronellal và guaiol;
- Dạng Bạch đàn chanh với các hydrocarbon là thành phần chủ yếu của tinh
dầu: loại hydrocacbon
Như vậy theo nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước tinh dầu bạch đàn là hỗn hợp của nhiều hợp chất hóa học trong đó có nhiều hợp chất có những đặc tính sát trùng diệt nấm xua đuổi côn trùng hích hợp cho các sản phẩm sữa tắm dầu gội dưỡng tóc [ ]
2.3 Chưng cất tinh dầu bạch đàn
Theo nghiên cứu của Đoàn Ngọc Thuận [ ] để chưng cất tinh dầu bạch đàn có hai cách
2.3.1 Phương pháp tẩm trích
Phương pháp tẩm trích bằng dung môi dễ bay hơi có nhiều ưu điểm vì tiếnhành ở nhiệt độ phòng, nên thành phần hóa học của tinh dầu ít bị thay đổi Phương
Trang 16pháp này không những được áp dụng để trích ly cô kết từ hoa mà còn dùng để tậntrích khi các phương pháp khác không trích ly hết hoặc dùng để trích ly các loạinhựa dầu (oleoresin), gia vị.
a Nguyên tắc của phương pháp
Dựa trên hiện tượng thẩm thấu, khuếch tán và hòa tan của tinh dầu có trongcác mô cây bằng các dung môi hữu cơ
b Yêu cầu của dung môi
Yếu tố quan trọng nhất cho sự thành công của phương pháp này là đặc tínhcủa dung môi sử dụng, do đó dung môi dùng trong tẩm trích cần phải đạt đượcnhững yêu cầu sau đây:
+ Hòa tan hoàn toàn và nhanh chóng các cấu phần có mùi thơm trong nguyênliệu;
+ Hòa tan kém các hợp chất khác như sáp, nhựa dầu có trong nguyên liệu;+ Không có tác dụng hóa học với tinh dầu;
+ Không biến chất khi sử dụng lại nhiều lần;
+ Hoàn toàn tinh khiết, không có mùi lạ, không độc, không ăn mòn thiết bị,không tạo thành hỗn hợp nổ với không khí và có độ nhớt kém;
+ Nhiệt độ sôi thấp vì khi chưng cất dung dịch trích ly để thu hồi dung môi,nhiệt độ sôi cao sẽ ảnh hưởng đến chất lượng tinh dầu Điểm sôi của dung môi nênthấp hơn điểm sôi của cấu phần dễ bay hơi nhất trong tinh dầu
+ Ngoài ra, cần có thêm những yếu tố phụ khác như: giá thành thấp, nguồncung cấp dễ tìm, …
Thường thì không có dung môi nào thỏa mãn tất cả những điều kiện kể trên.Người ta sử dụng cả dung môi không tan trong nước như dietyl ete, ete dầu hỏa,hexan, cloroform,… lẫn dung môi tan trong nước như etanol, aceton Trong một sốtrường hợp người ta còn dùng một hỗn hợp dung môi
c Ưu và nhược điểm
Trang 17+ Ưu điểm: sản phẩm thu được theo phương pháp này thường có mùi thơm
tự nhiên Hiệu suất sản phẩm thu được thường cao hơn các phương pháp khác
+ Khuyết điểm: yêu cầu cao về thiết bị; thất thoát dung môi; quy trình
tương đối phức tạp và tốn kém chi phí
2.3.2 Phương pháp chưng cất hơi nước
Phương pháp này dựa trên sự thẩm thấu, hòa tan, khuếch tán và lôi cuốn theohơi nước của những hợp chất hữu cơ trong tinh dầu chứa trong các mô khi tiếp xúcvới hơi nước ở nhiệt độ cao Vì lá bạch đàn có chứa sáp, nhựa, axít béo thì khichưng cất phải được thực hiện trong một thời gian dài vì những hợp chất này làmgiảm áp suất hơi chung của hệ thống và làm cho sự khuyếch tán trở nên khó khăn
a Lý thuyết chưng cất
Chưng cất có thể được định nghĩa là: Sự tách rời các cấu phần của một hỗnhợp nhiều chất lỏng dựa trên sự khác biệt về áp suất hơi của chúng phương phápchưng cất hơi nước làm giảm nhiệt độ sôi của hổn hợp vì vậy đây là phương phápđầu tiên dùng để tách tinh dầu ra khỏi nguyên liệu thực vật
b Những ảnh hưởng chính trong sự chưng cất hơi nước
+ Sự khuếch tán
Von Rechenberg đã mô tả quá trình chưng cất hơi nước như sau: “Ở nhiệt độnước sôi, một phần tinh dầu hòa tan vào trong nước có sẵn trong tế bào thực vật.Dung dịch này sẽ thẩm thấu dần ra bề mặt nguyên liệu và bị hơi nước cuốn đi Cònnước đi vào nguyên liệu theo chiều ngược lại và tinh dầu lại tiếp tục bị hòa tan vàolượng nước này Quy trình này lặp đi lặp lại cho đến khi tinh dầu trong các môthoát ra ngoài hết
Như vậy, sự hiện diện của nước rất cần thiết, cho nên trong trường hợpchưng cất sử dụng hơi nước quá nhiệt cần tránh để nguyên liệu bị khô Nhưng nếulượng nước sử dụng thừa cũng không có lợi, nhất là trong trường hợp tinh dầu cóchứa những cấu phần tan dễ trong nước
Trang 18Ngoài ra, vì nguyên liệu cần được xay vụn ra càng nhiều càng tốt, nên khichưng cất cần làm cho lớp nguyên liệu có một độ xốp nhất định để hơi nước có thể
đi xuyên ngang lớp này đồng đều và dễ dàng
+ Sự thủy phân
Những cấu phần este trong tinh dầu thường dễ bị thủy phân tạo ra axit vàrượu khi đun nóng trong một thời gian dài với nước Do đó, để hạn chế hiện tượngnày, sự chưng cất hơi nước phải được thực hiện trong một thời gian càng ngắn càngtốt
+ Nhiệt độ
Nhiệt độ cao làm phân hủy tinh dầu Do đó, khi cần thiết phải dùng hơi nướcquá nhiệt (trên 100oC) và thực hiện việc này trong giai đoạn cuối cùng của sựchưng cất sau khi các cấu phần dễ bay hơi đã lôi cuốn đi hết Thực ra, hầu hết cáctinh dầu đều kém bền dưới tác dụng của nhiệt nên vấn đề là làm sao cho thời gianchịu nhiệt độ cao của tinh dầu càng ngắn càng tốt
Tóm lại, dù ba ảnh hưởng trên được xem xét độc lập nhưng thực tế thì chúng
có liên quan với nhau và quy về ảnh hưởng của nhiệt độ Khi tăng nhiệt độ, sựkhuếch tán thẩm thấu sẽ tăng, sự hòa tan tinh dầu trong nước sẽ tăng nhưng sự phânhủy cũng tăng theo
c Ưu điểm
+ Quy trình kỹ thuật tương đối đơn giản;
+ Thiết bị gọn, đơn giản;
+ Thời gian tương đối nhanh
- Nhược điểm
+ Không có lợi đối với những nguyên liệu có hàm lượng tinh dầu thấp;
+ Chất lượng tinh dầu có thể bị ảnh hưởng nếu trong tinh dầu có những cấuphần dễ bị phân hủy;
Trang 19+ Không lấy được các loại nhựa và sáp có trong nguyên liệu (đó là nhữngchất định hương thiên nhiên rất có giá trị);
Ngoài ra còn một số phương pháp mới để tách tinh dầu nữa Qua nghiêncứu trên cơ sở tình hình thực tế ở địa phương và chúng tôi chọn phương án chưngcất lôi cuốn hơi nước để thu được tinh dầu bạch đàn