1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Sáng tạo truyền thống qua biểu tượng mẫu liễu phần 2 đinh hồng hải

6 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 158,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SÁNG TẠO TRUYỀN THỐNG QUA BIỂU TƯỢNG MẪU LIỄUTRONG VĂN HÓA VIỆT NAM Đinh Hồng Hải Khoa Nhân học, ĐHKHXH&NV, ĐHQG Hà Nội Phần 2: Mẫu Liễu trong huyền thoại và trong đời sống của người V

Trang 1

SÁNG TẠO TRUYỀN THỐNG QUA BIỂU TƯỢNG MẪU LIỄU

TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM

Đinh Hồng Hải

Khoa Nhân học, ĐHKHXH&NV, ĐHQG Hà Nội

Phần 2: Mẫu Liễu trong huyền thoại và trong đời sống của người Việt

Mẫu Liễu qua tư liệu lịch sử và truyền thuyết

Như đã phân tích ở bài trước, hiện tượng đồng cốt cùng các danh xưng ông đồng bà cốt ở

Việt Nam có liên quan đến thuật ngữ đồng (童) và cốt (童) từ gốc Hán tự Mặc dù các hiện tượng

phù thủy hay shaman chắc hẳn đã tồn tại trong văn hóa của người Việt trước khi chịu ảnh hưởng

của văn hóa Hán nhưng với chứng cứ về mặt ngôn ngữ như đã nêu thì hiện tượng đồng cốt ở Việt

Nam chính là sự kết hợp giữa tín ngưỡng phù thủy hay shaman của người Việt với Đạo giáo Trung Hoa để hình thành nên một loại tín ngưỡng mới

Tài liệu sớm nhất đề cập đến từ đồng cốt được phát hiện là vào đời Trần đề cập đến lên

đồng ở giai đoạn trị vì của Lý Thần Tông (1116-1138)1 còn các tài liệu đề cập đến Mẫu Liễu thì

muộn hơn rất nhiều Văn bản sớm nhất mà giới chuyên môn có được cho đến nay là bản Vân Cát Thần Nữ của Đoàn Thị Điểm thế kỷ 18.2 Tuy nhiên, Vân Cát Thần Nữ không phải là sử hay sử

ký mà chỉ là một dạng truyện, vì vậy, tác giả của nó có quyền hư cấu vô giới hạn

Đối lập với các tư liệu lịch sử hết sức hiếm hoi thì các truyền thuyết về Mẫu Liễu vô cùng phong phú Tìm hiểu vị nữ thần này trong các truyền thuyết chúng ta có thể thấy ngay các mục

cơ bản trong ‘lý lịch trích ngang’ của bà (như ngày sinh, nơi sinh, họ tên cha, họ tên mẹ,…) rất

khác nhau:

Ngày tháng năm

sinh/mất Ngày 6 tháng 3 năm QuýSửu đầu thời Lê

ngày 2 tháng 3 năm Quý

Tỵ, thời Hồng Đức (1473), thọ 40t

Thiên Hựu, năm Đinh Tỵ (1557),

Mất ngày 3 tháng 3 năm Đinh Sửu, thời Lê Gia Thái thứ 5 (1577).

Lê Khánh Đức thứ 2 (1650),

Ngày 10 tháng 10 năm Canh Dần

Ngày 23 tháng Chạp năm Mậu Thân, thời Lê Cảnh Trị thứ 6 (1668).

Nơi sinh Ấp Quảng Nạp, xã Vị

Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam

Thôn An Hải, xã Vân Cát, huyện Thiên Bản, hạt Sơn Nam Hạ Thôn Vân Cát xã

An Thái, huyện Thiên Bản (nay là Kim Thái, Vụ Bản , Nam Định

Tây Mỗ, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá,

Tây Mỗ, xã Hà Thái, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá

1 Dẫn theo những ghi chép trong Thiền Uyển Tập Anh: “Một hôm, Sư theo Tịch đến cúng một nhà thí chủ Trên

đường đi, Sư hỏi rằng: "Cái gì là ý chính Thiền tôn của các Tổ?" Gặp lúc nghe nhà dân đang đánh trống lên đồng, Tịch trả lời: "Ấy chẳng phải là thứ lời đồng bóng, đang triệu thỉnh quỷ thần đó sao?" Soạn giả Kim Sơn (1337).

Thiền Uyển Tập Anh, Lê Mạnh Thát dịch và chú giải Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn xb 1976 tr.133

2 Theo GS Ngô Đức Thịnh thì có thể Đoàn Thị Điểm viết Vân Cát Thần Nữ khoảng từ 1730-1740 Xem lại Đạo

Mẫu Việt Nam (2010) sđd tr.136.

Trang 2

Nơi thờ tự Phủ Quảng Cung/Phủ Nấp,

xã Vị Nhuế, huyện Đại

An, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam

Phủ Dày, thôn Thiên Hương - Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản , Nam Định

Phủ Sòng Sơn Thanh Hóa

Nguồn dẫn Quảng Cung linh từ phả

ký”, “Quảng Cung linh từ

bi ký” và “Cát Thiên tam thế thực lục” Ban quản lý

di tích – danh thắng của tỉnh Nam Đính Hội đồng khoa họclịch sử Nam định thẩm định

Nhân thân Giáng sinh lần 1 Giáng sinh lần 2 Giáng sinh lần 3

Trên đây là những thông tin căn bản trong một số bản ‘lý lịch trích ngang’ phổ biến của Mẫu Liễu được nhiều nhà Nho và học giả cận đại ghi chép lại, chúng cho thấy những khác biệt hết sức lớn về ‘nhân thân’ của Mẫu Liễu Đó là chưa kể đến những ‘mảnh vụn’ truyền thuyết với nhiều khác biệt hơn nữa về cuộc đời của bà

Những tưởng sự khác biệt ‘lý lịch,’ (đặc biệt là nơi giáng thế của Thánh Mẫu) đó có thể dẫn đến những mâu thuẫn của các cộng đồng tín đồ thờ mẫu ở Nam Định, Thanh Hóa và những nơi khác. 3 Nhưng điều đó đã được giải quyết một cách hết sức ‘hòa bình’ và hợp lý vì chúng

được ‘hợp lý hóa’ bằng ba lần giáng sinh của bà Đây là một sáng tạo tuyệt vời của tri thức dân

gian (hay hàn lâm?) của người Việt trong việc giải quyết các xung đột, mâu thuẫn (nếu có) giữa các cộng đồng tín đồ khác nhau

Dĩ nhiên, tín đồ của Mẫu Liễu ở mỗi nơi đều muốn ngôi đền của họ chính là nơi giáng sinh của Thánh Mẫu nhưng các vị Thánh Mẫu đó lại có nhân thân rất khác nhau (trong khi Đức

Thánh Trần có nhân thân khá thống nhất ở các cơ sở thờ tự khác nhau) Nhờ có ba lần giáng sinh mà vấn đề nhân thân khác nhau không những đã được chấp nhận một cách dễ dàng mà còn

tạo nên một sự đoàn kết trong cộng đồng tín đồ thờ mẫu ở nhiều địa phương khác nhau

Việc tìm cách ‘hợp lý hóa’ nhân thân của Mẫu Liễu như trên khó có thể do tầng lớp bình dân ‘ít chữ’ tạo ra mà nó đòi hỏi những người ở tầng lớp có học thực hiện Điều này đã được

chứng minh thông qua sự san định các truyền thuyết về Mẫu Liễu của các trí thức Nho gia như

Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Công Trứ, Kiều Oánh Mậu khi xưa và tầng lớp trí thức phi Nho hiện nay như Ngô Đức Thịnh, Vũ Ngọc Khánh,

Thậm chí, một học giả đương đại còn đề cập đến tính dự báo xuyên thế kỷ của truyền thuyết Tam thế giáng sinh và tác phẩm “Vân cát thần nữ” của Đoàn Thị Điểm, qua đó ‘gắn với

lịch sử giai đoạn Hậu Lê kéo dài 356 năm’ cùng ‘khát vọng của nhân dân về một vị vua có thể đem lại sự bình yên thịnh trị cho đất nước.’ Từ đó đặt vấn đề: ‘Phải chăng mẫu họ Hoàng Tây

Mỗ đã tiếp tục giáng sinh vào cửa họ Hoàng (chi nhánh họ Hoàng Xuân) ở làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An vào năm 1868 để sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh người

3 Điều này đã từng xảy ra ở nhiều tôn giáo, tín ngưỡng khác mà xung đột giữa dòng Hồi giáo Shite va Sunny là tiêu biểu nhất.

Trang 3

đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vào ngày 2/9/1945?’4

Qua đó có thể thấy các câu chuyện ‘truyền kỳ’ về Mẫu Liễu đã được tầng lớp Nho sĩ

thời phong kiến và các trí thức thời nay đại tự sự hóa thành một vị tổ của Đạo Mẫu Đại tự sự này đi qua một giai đoạn lịch sử nhiều biến động với chân dung các nhân vật có thật từ Phùng Khắc Khoan thời phong kiến đến Chủ tịch Hồ Chí Minh ở thời hiện đại Sự góp mặt của các nhân vật nổi tiếng và có thật trong đời sống đã khiến cho các truyền thuyết (vốn dĩ phi lịch sử)

‘thấm’ vào các tác phẩm văn học dân gian hay dã sử rồi được lịch sử hóa để đi vào đời sống tâm linh và cả đời sống thực của các tín đồ Nếu như Đạo Mẫu Việt Nam được công nhận là một tôn giáo của người Việt (tương tự như đạo Cao Đài hay Hòa Hảo) thì các trí thức người Việt đã đề cập ở trên chính là những người có công lớn trong việc tạo lập nên (hay sáng tạo nên) tôn giáo này thông qua đại tự sự về Mẫu Liễu

Mẫu Liễu trong đời sống ‘tâm linh’ và trong ‘đời thực’

Sau một giai đoạn ‘chống mê tín dị đoan’ hủy hoại rất nhiều thiết chế tôn giáo và tín ngưỡng từ 1945, đến giai đoạn ‘mở cửa’ 1986, nhiều người Việt Nam chợt nhận ra đời sống tinh thần hay tâm linh của họ đã không được coi trọng Đó là phần đời sống tinh thần có liên quan đến tôn giáo, tín ngưỡng Đây chính là nguyên nhân để một cơn sốt ‘tìm về cội nguồn, tổ tiên’ bùng lên sau giai đoạn ‘đổi mới’: Các ngôi đền, đình, chùa, miếu, phủ từng bị đập phá nay lại được khôi phục, xây mới; Các bản thần phả, gia phả đã bị phá hỏng hoặc chôn giấu kỹ lưỡng

được chép lại hoặc đào lên; Các vị thần, thánh bị đập phá trong phong trào tiêu thổ kháng chiến

được vời về; Các vị vua tổ/quốc tổ được xây tượng; Bên cạnh các hoạt động xây nghĩa trang và tìm xương liệt sĩ (thay cho bản hùng ca ‘da ngựa bọc thây’ trong giai đoạn chiến tranh);… Trong bối cảnh đó, nhu cầu giao tiếp với ‘thế giới tâm linh’ ngày càng trở nên quan trọng và cấp bách

Vậy ai sẽ giúp con người giao tiếp với thế giới tâm linh trong cơn sốt tìm về cội nguồn

và tổ tiên? Câu trả lời gần như được thỏa mãn ngay lập tức: Những người người trung gian kết nối với hồn người chết (như đã đề cập trong bài 1) Họ chính là những ‘thông dịch viên’ cho

những ai có nhu cầu Các ông đồng, bà cốt từ chỗ bị truy đuổi vì ‘mê tín dị đoan’ nay trở thành

những người có vai trò đặc biệt quan trọng và được gọi bằng ‘thầy.’ Có cầu ắt có cung, số lượng các ông đồng, bà đồng ‘chính thức’ rồi cả ‘đồng đua,’ ‘đồng đú’ tăng lên một cách nhanh chóng với nhu cầu ngày một cao của ‘thị trường tâm linh.’ Như một lẽ tất yếu, những người hành nghề

đồng cốt cần ‘tìm lại’ (hoặc sáng tạo) cho họ một vị tổ nghề, và không ai phù hợp hơn là Thánh

Mẫu Liễu Hạnh

Không chỉ thỏa mãn cơn khát tìm về cội nguồn, Mẫu Liễu còn góp phần giải tỏa lòng tự

ti dân tộc của một bộ phận người Việt Nam bởi họ chưa từng có cho mình một tôn giáo truyền thống Hơn thế, yếu tố truyền thống ở đây lại rất phù hợp với tinh thần của Nghị quyết TƯ 5

khóa VIII là tìm về bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam Nhất cử lưỡng tiện, những người tham gia

vào công cuộc chấn hưng hoặc tạo dựng Đạo Mẫu vừa nhận được sự ủng hộ của các cấp quản lý lại vừa nhận được sự ủng hộ cả về tinh thần cũng như vật chất của các tín đồ Chừng đó thôi cũng đủ để các tín đồ của tín ngưỡng thờ mẫu phục dựng (hay sáng tạo) truyền thống của mình chỉ trong một thời gian cực ngắn (khoảng hơn hai thập niên) Có vẻ như cái đích để tín ngưỡng thờ mẫu được công nhận là một tôn giáo có tên gọi Đạo Mẫu chỉ còn là vấn đề thời gian

4 PGS.TS NguyễnThị Yên (2010), Tính dự báo xuyên thế kỷ của truyền thuyết Tam thế giáng sinh và tác phẩm

“Vân cát thần nữ” của Đoàn Thị Điểm trong

http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/thong-diep-tu-tam-the-giang-sinh-cua-mau-lieu-hanh Truy cập 18/7/2016.

Trang 4

Nhưng những cơ hội nói trên có nguy cơ ‘đổ xuống sông xuống biển’ vì một hiệu ứng

nằm ngoài dự kiến của các tín đồ thờ mẫu: Trào lưu giao tiếp với người âm vốn mô phỏng những

lễ thức của tín ngưỡng lên đồng đã và đang được áp dụng vào ‘đời thực’ một cách rầm rộ Thông

qua đó các dịch vụ ngoại cảm, gọi hồn, áp vong nở rộ để giao lưu với tổ tiên và người thân đã

khuất Vượt ra khỏi khuôn khổ của một loại nghi lễ biểu tượng trong tín ngưỡng thờ mẫu, loại hình dịch vụ mới này còn được ứng dụng để tra kết quả số đề, chơi lô-tô, dự đoán chứng khoán, giá nhà đất,… vì ‘người âm’ có những khả năng siêu phàm mà ‘người trần mắt thịt’ không thể có được (như những lời quảng cáo úp mở của các nhà cung ứng dịch vụ này) Vượt ra khỏi phạm vi

của nghi lễ truyền thống là lên đồng, dịch vụ gọi hồn, áp vong, tìm mộ liệt sĩ đã cung cấp một

loại hình sản phẩm dịch vụ mới để ‘gọi’ được vong linh của thân nhân đã khuất những người bình thường và cả những vị nổi tiếng như Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Hồ Chí Minh,…(!).5

Cần phải lưu ý lại rằng, những hoạt động này hoàn toàn mới và đều mô phỏng tín ngưỡng lên đồng6 nhưng dường như đã khiến cho cả xã hội ‘lên cơn sốt’ vì đánh trúng vào cơn khát tìm hiểu thế giới ‘tâm linh’ sau nửa thế kỷ vô thần của người dân Việt Nam Nhưng những người cung cấp dịch vụ ‘tâm linh’ này dường như đã và đang khuấy đảo đời sống xã hội khiến cho nền đạo đức xã hội Việt Nam chao đảo vì các hiện tượng ma quỷ phù phép được công khai thực hiện

Không chỉ có thế, hiện tượng này còn được nhiều cơ quan được gọi là khoa học và

truyền thông chính thống (có giấy phép hoạt động của nhà nước) tung hô nên đã khiến cho người

dân đinh ninh rằng ‘các hiện tượng ma quỷ phù phép’ đó chính là khoa học(!) Mặc dù hiện tượng này đã được nhiều nhà khoa học thực thụ và nhiều cơ quan báo chí nghiêm túc chỉ ra nhưng có vẻ như loại hình dịch vụ này đang ‘ăn nên làm ra’ vì nhu cầu (tâm linh) trong xã hội quá cao bất chấp khuôn khổ của pháp luật và cả quy luật khách quan của khoa học Dĩ nhiên, khi

đã phát triển bất chấp khuôn khổ của pháp luật và quy luật của khoa học thì các dịch vụ này sẽ sớm bị cấm và tín ngưỡng lên đồng cũng dễ bị liên lụy.7

Mẫu Liễu qua các hoạt động nghiên cứu đương đại và tiến trình tôn giáo hóa tín ngưỡng thờ mẫu

Nếu không kể đến sự sáng tạo mang tính đột khởi (hay đột phá) của Đoàn Thị Điểm trong

Vân Cát Thần Nữ cùng vô số truyền thuyết, thần phả, sắc phong của các triều đại phong kiến

dành cho Mẫu Liễu, các công trình nghiên cứu đương đại trong hơn hai thập niên qua cũng có những đóng góp to lớn đối với tín ngưỡng thờ mẫu và biểu tượng Mẫu Liễu Theo con số thống

kê chưa đầy đủ, với gần 20 đầu sách chuyên khảo, 03 cuộc hội thảo quốc tế cùng hàng chục cuộc hội thảo quốc gia (không kể đến hàng trăm bài viết trên báo, tạp chí trong nước và quốc tế),… Mẫu Liễu và tín ngưỡng thờ mẫu là một trong những đối tượng nghiên cứu chiếm vị trí quan trọng nhất của Viện Văn hóa dân gian (nay là Viện Nghiên cứu văn hóa, Viện HLKHXHVN) cùng các nhà nghiên cứu thuộc nhiều cơ quan khoa học có liên quan trong hơn hai thập niên qua

Đối tượng nghiên cứu này đã đưa tên tuổi một số nhà khoa học ở Việt Nam lên tầm quốc gia và quốc tế như Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Thị Hiền, Nguyễn Kim Hiền, Phạm Quỳnh

5 http://www.phattuvietnam.net/doisong/tamlinh/15673-nh%C3%A0-ngo%E1%BA%A1i-c%E1%BA%A3m-b

%C3%ADch-h%E1%BA%B1ng-chuy%E1%BB%83n-l%E1%BB%9Di-vua-quang-trung.html

6 Trên thực tế, tín ngưỡng lên đồng chủ yếu thể hiện các giá đồng – đóng vai trò như những nghi lễ biểu tượng của các vị thánh của Đạo Mẫu như ông Hoàng Mười, cô Ba/Bơ, cô Chín,…

7 Cho dù tín ngưỡng lên đồng là một loại hình văn hóa, nghệ thuật đặc sắc nhưng nếu như nó bị trục lợi một cách bất chính thì những nỗ lực của giới trí thức trong việc tôn vinh tín ngưỡng thờ mẫu sẽ trở thành ‘dã tràng xe cát.’ Chúng tôi sẽ đề cập một cách kỹ lưỡng hơn đến vấn đề có liên quan đến các ‘dịch vụ tâm linh’ trong phần cuối của nghiên cứu này.

Trang 5

Phương, 8 Các quỹ học bổng và quỹ tài trợ khoa học Việt Nam giai đoạn này (như Ford Foundation, Sumitomo Foundation, Toyota Foundation,…) cũng đã tài trợ nhiều học bổng và chương trình nghiên cứu dành cho đối tượng văn hóa tín ngưỡng đặc thù này Xa hơn, sự quan tâm của các học giả quốc tế đương đại như Janet Hoskins, Frank Porchan, Laurel Kendall, Philip Taylor, Karen Fjelstad, Kristen Endres, Barley Norton,… đã góp phần ‘quốc tế hóa’ loại hình tín ngưỡng này một cách nhanh chóng thông qua các xuất bản phẩm cùng nhiều luận văn, luận án được công bố ở nước ngoài

Một số cuốn sách chuyên khảo về lên đồng xuất bản tại nước ngoài đã chính thức đặt

danh từ Đạo Mẫu tương đương với thuật ngữ tôn giáo trong tiếng Anh (Mother Goddess

religion) và ‘tôn giáo’ này được giải thích là một trong những truyền thống tôn giáo lâu đời nhất của Việt Nam.9

Qua đó có thể thấy, hành trình tôn giáo hóa tín ngưỡng thờ mẫu trong xã hội Việt Nam

đương đại đã gặp những điều kiện hết sức thuận lợi như :

- Quá trình tự do hóa tôn giáo và tín ngưỡng sau giai đoạn sau đổi mới;

- Quá trình hàn lâm hóa hay học thuật hóa các ấn phẩm có liên quan đến tín ngưỡng thờ mẫu;

- Quá trình quốc tế hóa các nghiên cứu về Mẫu Liễu;…

Đặc biệt, các nghiên cứu này ít nhiều đều dựa trên các đại tự sự về Mẫu Liễu nên khi được phổ biến ở tầm quốc gia và quốc tế đều có xu hướng được văn bản hóa hay giáo lý hóa một cách vô tình hay hữu ý

Trở lại với những phát hiện của CXG-PLH đã đề cập ở phần đầu nghiên cứu này với

nhận định về ‘các nghiên cứu học thuật đã tựa như trở thành một nhánh của đại tự sự về

Mẫu Liễu,’ các tác giả nói trên cho rằng ‘đại tự sự Mẫu Liễu vẫn đang tiến triển mạnh mẽ về

hướng tương lai Sự thịnh vượng của phủ Tây Hồ ngày nay được người đến lễ bái xem như là hệ quả tất yếu của đại tự sự Mẫu Liễu, hay ngược lại, đại tự sự đã mang đến cho Thăng Long một phủ Tây Hồ để lưu dấu thiêng và minh chứng cho sự hiện hữu/trường tồn của Mẫu Liễu Đó là vấn đề thuộc về lĩnh vực niềm tin của tín ngưỡng dân gian, hay rộng ra là của tôn giáo tín ngưỡng.’

Và cuối cùng các tác giả đặt ra một câu hỏi: Vậy, trong tương lai, liệu tôn giáo tín ngưỡng, ở cả bình diện thực hành và bình diện niềm tin của nó, vẫn có thể tồn tại mà không cần đến đại tự sự hay không?10 Điều này có liên quan đến vai trò của Mẫu Liễu trong đời sống của người Việt sẽ được nghiên cứu này đề cập đến trong Phần 3 của nghiên cứu này

(Xem tiếp Phần kết: Tín ngưỡng lên đồng và vai trò của Mẫu Liễu trong đời sống các tín đồ người Việt)

Tài liệu trích dẫn

1 Alexandre de Rhodes (1991, 1651) Từ điển Annam - Lusitan - Latinh (Từ điển Việt - Bồ - La), Thanh

Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính dịch, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

2 Bùi Văn Tam, khảo cứu, biên soạn (2007), Phủ Dầy và tín ngưỡng mẫu Liễu Hạnh, Nxb Văn hóa dân

tộc

3 Chu Xuân Giao (2014), “Về một ngộ nhận liên quan đến Tứ bất tử: Soạn giả Thanh Hòa Tử và cuốn

Hội Chân Biên,” trong tạp chí Nghiên cứu tôn giáo số 1/2014, tr.64-86 và số 2/2014, tr 82-91

8 Đây là nhóm các nhà khoa học Việt Nam có nhiều ấn phẩm được xuất bản bằng tiếng Anh đề cập đến tín ngưỡng lên đồng.

9 Fjelstad, K & Nguyen Thi Hien (Ed.) 2006 Possessed by the Spirits: Mediumship in contemporary Vietnamese

Communities Cornell University Press P.7

10 Chu Xuân Giao, Phan Lan Hương (2008), "Truy tìm những khoảnh chân thực riêng lẻ: về thời điểm xuất hiện của

Phủ Tây Hồ từ góc nhìn nhân loại học lịch sử”, Tạp chí Văn hóa dân gian số 3 (117) – 2008.

Trang 6

4 Chu Xuân Giao, Phan Lan Hương (2008), "Truy tìm những khoảnh chân thực riêng lẻ: về thời điểm

xuất hiện của Phủ Tây Hồ từ góc nhìn nhân loại học lịch sử”, Tạp chí Văn hóa dân gian số 3 (117) –

2008

5 Chu Xuân Giao (2013), “Mẫu Liễu với sự kiện phát hiện ngọc phả bằng đồng ở đền Sòng năm 1939:

Bối cảnh, nội dung và dư luận”, Thông báo văn hóa 2011 - 2012, Viện Nghiên cứu văn hóa, Nxb Tri

thức

6 Đào Duy Anh trong Từ điển Truyện Kiều, Hà Nội, 1974

7 Đinh Hồng Hải (2012), Những biểu tượng đặc trưng trogn văn hóa truyền thống Việt Nam – Tập 1:

Các bộ trang trí điển hình Nxb Tri thức, Hà Nội

8 Fjelstad, K & Nguyen Thi Hien (Ed.) 2006 Possessed by the Spirits: Mediumship in contemporary

Vietnamese Communities Cornell University Press

9 Giới Minh (2010), "Nên hay không nên áp vong, gọi hồn? http://www.phattuvietnam.net/doisong/tamlinh/12319-n%C3%AAn-hay-kh%C3%B4ng-n

%C3%AAn-vi%E1%BB%87c-%C3%A1p-vong,-g%E1%BB%8Di-h%E1%BB%93n.html Truy cập: 6/6/2016

10 Hà Dương (2012), Lời giải gây sốc về áp vong tìm mộ trong:

http://anninhthudo.vn/phap-luat/loi-giai-gay-soc-ve-ap-vong-tim-mo/443580.antd Truy cập 23/11/2016

11 Hoàng Phê cb (1998), Từ điển tiếng Việt Nxb Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển tiếng Việt xb

13 Hồ Đức Thọ (2010), Huyền tích Thánh mẫu Liễu Hạnh và di sản văn hoá - lễ hội Phủ Dầy, sưu tầm,

biên soạn, Nxb Văn hoá thông tin.

14 Huyện uỷ - UBND huyện Hà Trung, nhóm tác giả Hoàng Tuấn Phổ - Phạm Tấn - Phạm Tuấn (2005),

Địa chí huyện Hà Trung Nxb Khoa học xã hội

15 Kim Sơn (1337) Thiền Uyển Tập Anh, Lê Mạnh Thát dịch và chú giải Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn

xb 1976

16 Nhiều tác giả (2010), Phủ Quảng Cung trong hệ thống đạo Mẫu Việt Nam, Phủ Quảng Cung trong hệ

thống đạo Mẫu Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo khoa học do Trung tâm nghiên cứu và bảo tồn văn hoá tín

ngưỡng Việt Nam và Uỷ ban nhân dân huyện Ý Yên - tỉnh Nam Định tổ chức, Nxb Tôn giáo

17 Ngô Đức Thịnh chủ biên (1996), Đạo mẫu ở Việt Nam, Nxb Văn hoá thông tin, 1996.

18 Ngô Đức Thịnh (2004)Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá ở Việt Nam , Nxb Trẻ.

19 Ngô Đức Thịnh (2010), Đạo mẫu Việt Nam, Nxb Tôn giáo, 2010.

20 NguyễnThị Yên (2010), Tính dự báo xuyên thế kỷ của truyền thuyết Tam thế giáng sinh và tác phẩm

“Vân cát thần nữ” của Đoàn Thị Điểm trong

http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/thong-diep-tu-tam-the-giang-sinh-cua-mau-lieu-hanh Truy cập 18/7/2016

21 Nguyễn Văn Huyên (1995), Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam Tập 1, Nxb KHXH Hà Nội

22 Vũ Ngọc Khánh (2008), Tục thờ Đức Mẫu Liễu - Đức Thánh Trần, Nxb Văn hoá thông tin

Ngày đăng: 03/09/2021, 19:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w