Phạm Hồng Nhật 8 HVTH: Bùi Quỳnh Mai - Tổng quan các lý thuyết về khái niệm thành phố sinh thái, đô thị sinh thái, các hướng dẫn về quy trình xây dựng, lựa chọn mô hình, tiêu chí đánh gi
Trang 1BÙI QUỲNH MAI
XÂY DỰNG CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐÔ THỊ SINH THÁI TRONG
TRƯỜNG HỢP THỊ XÃ ĐỒNG XOÀI
Chuyên ngành : Cao học quản lý môi trường Khóa 2009
Mã số: 09260540
KHÓA LUẬN THẠC SĨ
TP HỒ CHÍ MINH, tháng 12 năm 2012
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA –ĐHQG -HCM
Cán bộ hướng dẫn khoa học : PGS TS Phạm Hồng Nhật
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký)
Cán bộ chấm nhận xét 1 :
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký) Cán bộ chấm nhận xét 2 :
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký) Khóa luận thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Bách Khoa, ĐHQG Tp HCM ngày tháng năm
Thành phần Hội đồng đánh giá khóa luận thạc sĩ gồm: (Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ khóa luận thạc sĩ) 1
2
3
4
5
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá KL và Trưởng Khoa quản lý chuyên
ngành sau khi khóa luận đã được sửa chữa (nếu có)
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TRƯỞNG KHOA
Trang 3- -oOo -
Tp HCM, ngày 27 tháng 12 năm 2012
NHIỆM VỤ KHÓA LUẬN THẠC SĨ
Họ và tên: BÙI QUỲNH MAI MSSV: 09260540
Ngành : Quản lý Môi trường Lớp: Cao học QLMT K2009
1 Đầu đề khóa luận tốt nghiệp:
XÂY DỰNG CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG THEO ĐỊNH HƯỚNG
ĐÔ THỊ SINH THÁI TRONG TRƯỜNG HỢP THỊ XÃ ĐỒNG XOÀI
2 Nhiệm vụ:
Xây dựng kế hoạch làm việc
Thu thập tài liệu liên quan đến đề tài Thảo luận với người hướng dẫn để hoàn chỉnh nội dung nghiên cứu Xử lý tài liệu, số liệu thực địa, xây dựng biểu bảng
Thực hiện nghiên cứu và đề xuất các giải pháp khả thi
Viết báo cáo kết quả nghiên cứu Thảo luận với Thầy hướng dẫn xây dựng nội dung và cấu trúc khóa luận
Viết luận văn, sửa chữa hoàn chỉnh Người hướng dẫn góp ý
Hoàn chỉnh luận văn, nộp cho người hướng dẫn
3 Ngày giao Khóa luận tốt nghiệp: 30/8/2012
4 Ngày hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp: 27/12/2012
5 Giáo viên hướng dẫn:
Họ và tên: PGS TS PHẠM HỒNG NHẬT Phần hướng dẫn: toàn bộ
Nội dung và yêu cầu Khóa luận tốt nghiệp đã được thông qua đề cương
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 12 năm 2012
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CHỦ NHIỆM BỘ MÔN KHOA QL CHUYÊN NGÀNH
(Họ tên và chữ ký) QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH (Họ tên và chữ ký)
(Họ tên và chữ ký)
PGS TS PHẠM HỒNG NHẬT
Trang 4
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em đã nhận được sự giúp đỡ và hỗ trợ rất nhiều của mọi người xung quanh Em xin chân thành cảm ơn:
PGS TS Phạm Hồng Nhật, người thầy đã tận tình hướng dẫn, hỗ trợ em làm
đồ án này không quản ngại thời gian và công sức
Các thầy cô Khoa Môi Trường đã giảng dạy, cung cấp cho em những kiến thức quý báu và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Chân thành cảm ơn các anh, chị trong Phòng Tài nguyên và môi trường thị xã Đồng Xoài và các anh chị trong Phòng tài nguyên và môi trường huyện Đồng Phú
và Chi cục bảo vệ môi trường tỉnh Bình Phước đã tận tình giúp đỡ em và cung cấp thông tin cho em trong suốt thời gian qua
Và xin được bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình đã luôn cổ vũ, tin tưởng và động viên để em có đủ tự tin và vững vàng trong suốt thời gian qua
TP Hồ Chí Minh, Năm 2012 Bùi Quỳnh Mai
Trang 5CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 1 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG 3
DANH MỤC HÌNH 4
TỪ VIẾT TẮT 5
CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 6
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 6
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 7
1.3 Nội dung nghiên cứu 7
1.4 Phương pháp nghiên cứu 9
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ SINH THÁI 11
2.1 Định nghĩa thành phố sinh thái 11
2.2 Lịch sử hình thành 11
2.3 Các nguyên tắc phát triển các thành phố sinh thái 12
2.4 Các tiêu chí xem xét đánh giá đô thị sinh thái, theo IES, bao gồm các nhóm: 13
2.5 Các thành phố sinh thái điển hình trên thế giới 14
2.6 Tình hình nghiên cứu và xây dựng thành phố sinh thái ở Việt Nam 35
2.6.1 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam 35
2.6.2 Xây dựng thành phố sinh thái Hội An – thành phố sinh thái đầu tiên ở Việt Nam
38
CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN THỊ XÃ ĐỒNG XOÀI VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ ĐỂ XÂY DỰNG ĐỒNG XOÀI – THÀNH PHỐ SINH THÁI 44
3.1. Điều kiện tự nhiên 44
3.1.1. Vị trí địa lý 44
3.1.2. Địa hình – Địa chất 45
3.1.3. Khí hậu thủy văn 46
3.1.4. Các nguồn tài nguyên 48
3.2. Hiện trạng kinh tế - xã hội 52
3.2.1 Kinh tế 52
3.2.2 Xã hội 54
3.2.3 Cơ sở hạ tầng 55
3.2.4 Năng lượng 56
Trang 6CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 2 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
3.3. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội để phát triển theo hướng sinh
thái 56
3.3.1 Những thuận lợi chính 56
3.3.2 Những hạn chế chính 57
4.1 Các nguồn gây ô nhiễm chính 59
4.1.1 Nông nghiệp 59
4.1.2 Công nghiệp 61
4.1.3 Khai thác khoáng sản 61
4.1.4 Đô thị 61
4.2 Hiện trạng môi trường thị xã Đồng Xoài 62
4.2.1 Hiện trạng môi trường nước mặt 62
4.2.2 Hiện trạng môi trường nước ngầm 63
4.2.3 Hiện trạng môi trường đất 63
4.2.4 Hiện trạng môi trường không khí 64
4.2.5 Hiện trạng nước thải 65
4.2.6 Hiện trạng chất thải rắn 66
CHƯƠNG 5 CÁC GIẢI PHÁP ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN THÀNH PHỐ SINH THÁI CHO THỊ XÃ ĐỒNG XOÀI 69
5.1. Quan điểm và mục tiêu 69
5.2. Các giải pháp cơ bản 69
5.2.1. Giải pháp quản lý nước mưa 69
5.2.2. Giải pháp về quản lý chất thải rắn 72
5.2.3. Giải pháp xử lý nước thải sinh hoạt – công nghiệp 79
5.2.4. Giải pháp về sử dụng năng lượng và tài nguyên 87
5.2.5. Giải pháp về quản lý & quy hoạch 90
5.3. Đánh giá khả năng thực hiện các giải pháp quản lý môi trường theo định hướng sinh thái ở thị xã Đồng Xoài 95
CHƯƠNG 6 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98
6.1. Kết luận 98
6.2. Kiến nghị 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 7CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 3 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Thống kê diện tích theo địa hình 45
Bảng 3.2: Một số chỉ tiêu khí hậu tỉnh Bình Phước 47
Bảng 3.3: Bảng thống kê các loại đất 49
Bảng 3.4: Diện tích gieo trồng thị xã Đồng Xoài 2005-2010 52
Bảng 4.1 Kết quả phân tích nước thải 65
Bảng 5.1: Dự báo lượng nước cấp đến năm 2020 69
Bảng 5.2: Dự báo lượng rác thải sinh hoạt thị xã Đồng Xoài đến năm 2020 73
Bảng 5.3: Lượng rác thải nghĩa trang năm 2020 74
Bảng 5.4 : Dự báo lượng rác thải công nghiệp ở thị xã Đồng Xoài đến năm 2020 74
Bảng 5.5: Lượng nước thải sinh hoạt toàn thị xã Đồng Xoài đến năm 2020 79
Bảng 5.6: Hệ số tải lượng ô nhiễm tính theo WHO 80
Bảng 5.7: Công thức tính tải lượng ô nhiễm 80
Bảng 5.8: Tải lượng ô nhiễm nước thải sinh hoạt qua các năm 2010 – 2015 81
Bảng 5.9: Tải lượng ô nhiễm nước thải sinh hoạt qua các năm 2016 – 2020 81
Bảng 5.10: Hiện trạng và quy hoạch phát triển các khu – cụm công nghiệp 82
Bảng 5.11: Lượng nước cấp và nước thải các khu – cụm công nghiệp 83
Bảng 5.12: Tải lượng ô nhiễm của các thông số ô nhiễm đặc trưng trong nước thải công nghiệp tính đến năm 2020 83
Trang 8CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 4 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Bản đồ hành chính thị xã Đồng Xoài 45
Hình 5.1 Hệ thống thứ tự ưu tiên trong quản lý chất thải rắn 75
Hình 5.2 Hệ thống thu gom rác 76
Hình 5.3 Hoạt động tái sinh–tái chế tư nhân 77
Hình 5.4 Hoạt động tái sinh–tái chế tập trung 78
Hình 5.5 Hệ thống có nối lưới 89
Hình 5.6 Hệ thống bơm nước bằng NLMT 89
Hình 5.7 Hệ thống nước nóng bằng NLMT 90
Trang 9CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 5 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
TỪ VIẾT TẮT
TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
Sở KH&CN Sở Khoa học và Công nghệ
KDCST Khu dân cư sinh thái
BTNMT Bộ tài nguyên môi trường
TNMT Tài nguyên môi trường
NTSH Nước thải sinh hoạt
KCNST
UBND
Khu công nghiệp sinh thái
Uỷ ban nhân dân
DO Dissolved oxygen – Oxy hòa tan
COD Chemical Oxygen Demand - nhu cầu oxy hóa học
Trang 10CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 6 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Vấn nạn ô nhiễm môi trường đã và đang trở thành những hiểm họa to lớn đối với đời
sống của sinh vật và con người trên toàn cầu Những sinh hoạt và lao động hằng ngày của
con người để phục vụ cho nhu cầu của cuộc sống, từ các hoạt trồng trọt, chăn nuôi đến các
hoạt động công nghiệp, chiến tranh và quốc phòng, trong đó sự phát triển của công nghiệp là
gây ô nhiễm nhiều hơn cả Vì vậy, vấn đề phát triển kinh tế xã hội đi đôi với công cuộc bảo
vệ môi trường là thách thức mà chúng ta cần phải xem xét một cách nghiêm túc Trên cả
nước ta hiện có 673 đô thị, trong đó có 5 thành phố trực thuộc trung ương, trên 30 thành phố
trực thuộc tỉnh, 60 thị xã và hơn 500 thị trấn Tình trạng ô nhiễm môi trường do khí thải, rác
thải, nước thải, tiếng ồn ngày càng nghiêm trọng
Từ những năm 80 của thế kỷ trước, khái niệm Đô thị sinh thái ra đời trên thế giới và
phát triển mạnh mẽ trên con đường hướng tới sự phát triển bền vững Việc xây dựng đô thị
sinh thái hiện nay không còn là điều xa lạ với các nước Nhật Bản với thành phố Kawasaki,
và nhất là thành phố Kitakyushu với mục tiêu hướng đến là trở thành thủ đô sinh thái toàn
cầu; Trung Quốc cũng đã có thành phố sinh thái DongTan (Thượng Hải); và Singapore có đô
thị sinh thái Thiên Tân Sino Xây dựng đô thị sinh thái là vấn đề cấp thiết và cấp bách, nhất
là khi tốc độ đô thị hóa, hiện đại hóa và dấu hiệu suy thoái đô thị ngày một tăng cao như hiện
nay Cần quy hoạch các đô thị sinh thái ngay từ bây giờ cho các vùng đô thị mới, hoặc sửa
chữa hay thay đổi trong điều kiện có thể, các đô thị cũ thành đô thị theo kiểu đô thị sinh thái
Thị xã Đồng Xoài là một thị xã trẻ, được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ
ngày 01/01/2000; cùng với hai thị xã Phước Long, Bình Long và 8 huyện Đồng Phú, Bù
Đăng, Lộc Ninh, Chơn Thành, Bù Đốp, Bù Gia Mập và Hớn Quản hợp thành đơn vị hành
chính tỉnh Bình Phước Thị xã Đồng Xoài nằm trong địa bàn trọng điểm kinh tế phía Nam, là
vùng phát triển kinh tế năng động của cả nước Nằm trên quốc lộ 14 và ĐT741 đi qua trung
tâm thị xã về thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Tây Nguyên, Đồng Xoài có lợi thế lớn về
vị trí địa lý và giao thông thuận lợi cho phát triển kinh tế do tiếp giáp các vùng kinh tế phát
triển nhanh chóng như Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh, Long An, Bà Rịa – Vũng Tàu và
nước bạn Campuchia
Trong những năm gần đây, thị xã Đồng Xoài có tốc độ phát triển nhanh và mạnh
trong các lĩnh vực như công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị Hệ quả tất yếu của quá trình
này dẫn đến sự phát triển nhanh của đô thị, dân số tăng và kéo theo nhiều vấn đề về môi
trường Tuy Đồng Xoài chiếm diện tích khá nhỏ trong tổng diện tích tỉnh Bình Phước
Trang 11CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 7 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
(khoảng 2%), nhưng lại có dân số chiếm 8,5% dân số tỉnh Bình Phước Mật độ dân số đạt
hơn 400 người/km2, gấp hơn 3 lần mật độ trung bình của tỉnh Với một mật độ tập trung dân
số cao trong một khu vực nhỏ, lại càng đặt ra vấn đề quan trọng trong việc bảo vệ môi
trường, tránh gây tác động xấu đến môi trường và sức khoẻ của người dân.Thị xã Đồng Xoài,
bên cạnh mật độ dân số lớn, sắp tới còn tập trung phát triển nhiều khu công nghiệp (KCN) và
các cơ sở công nghiệp ngoài khu công nghiệp.Trong tương lai, thị xã Đồng Xoài sẽ có thêm
3-4 KCN và gần 300 cơ sở hoạt động sản xuất Điều này tạo ra nguy cơ gây ô nhiễm môi
trường lớn nếu không có một biện pháp quản lý, kiểm soát ô nhiễm hiệu quả Hơn nữa, theo
quy hoạch phát triển kinh tế của Đồng Xoài trong những năm sắp tới, công nghiệp-dịch vụ
vẫn là nhóm ngành được ưu tiên phát triển Đặc biệt, Bình Phước nói chung và Đồng Xoài
nói riêng, có diện tích trồng cây công nghiệp lâu năm khá lớn, nổi bật là tiêu, điều, cao su
Việc phát triển các loại cây công nghiệp này, chắc chắn kéo theo trong tương lai, các nhóm
ngành chế biến và sản xuất có liên quan có khả năng gây ô nhiễm cho môi trường Việc phát
triển mạnh các lợi thế nêu trên tất yếu dẫn đến thay đổi cơ cấu sử dụng đất, chuyển một phần
diện tích từ lâm nghiệp, đất dự trữ, nông nghiệp sang đất cho đô thị, vùng công nghiệp, gây
ra nhiều sức ép rất lớn cho môi trường
Như vậy, vấn đề đặt ra cho thị xã Đồng Xoài hiện nay là phải thực hiện thật tốt công
tác quy hoạch phát triển kinh tế, sử dụng kết hợp các nguồn tài nguyên hiệu quả cùng với
việc bảo vệ môi trường Công tác bảo vệ môi trường cần được thực hiện tức thời và định
hướng trong một thời gian đủ dài để phát huy hiệu quả, đồng thời phù hợp với quy hoạch
phát triển của địa phương Do Đồng Xoài là một thị xã mới, mức độ ô nhiễm còn chưa nhiều
và hiện tại cũng đang phát triển mạnh mẽ, trong tương lai có thể lên thành phố Để Đồng
Xoài không đi theo lối mòn của những thành phố công nghiệp khác như Hồ Chí Minh, Bình
Dương, em chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp là “Xây dựng các giải pháp quản lý môi
trường theo định hướng đô thị sinh thái trong trường hợp thị xã Đồng Xoài” theo xu
hướng mới của thế giới và Việt Nam
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp quản lý tổng hợp đa ngành để định hướng phát triển Đồng Xoài đến
một đô thị/thành phố sinh thái trong tương lai, đặc biệt là về quản lý môi trường
1.3 Nội dung nghiên cứu
(1) Tổng quan những nghiên cứu, giải pháp và hiện trạng triển khai mô hình thành phố
sinh thái trên thế giới và tại Việt Nam
Trang 12CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 8 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
- Tổng quan các lý thuyết về khái niệm thành phố sinh thái, đô thị sinh thái, các hướng dẫn
về quy trình xây dựng, lựa chọn mô hình, tiêu chí đánh giá các thành phố sinh thái trên
thế giới;
- Tìm hiểu các nhóm giải pháp chính trong xây dựng thành phố sinh thái, tập trung ở các
mảng quy hoạch, kiến trúc, quản lý nước, quản lý năng lượng, quản lý chất thải rắn;
- Khảo sát, đánh giá sơ bộ về những giải pháp xây dựng-môi trường theo hướng sinh thái
theo điều kiện áp dụng ở Việt Nam
- Nhận định các điều kiện để có thể áp dụng mô hình thành phố sinh thái, về tự nhiên, quy
hoạch, kỹ thuật-quản lý và chính sách-xã hội;
- Tổng quan một số kinh nghiệm áp dụng mô hình thành phố sinh thái ở một số trường hợp
trên thế giới;
- Tổng quan và đánh giá các đề tài nghiên cứu trong nước liên quan đến Thiết kế mô hình
thành phố sinh thái;
(2) Đánh giá hiện trạng môi trường thị xã Đồng Xoài
- Điều tra về hiện trạng kinh tế - xã hội và môi trường của thị xã Tiến hành điều tra, khảo
sát, thu thập bổ sung các thông tin về các điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội ở thị xã
Đồng Xoài
(3) Nghiên cứu đề xuất các giải pháp theo định hướng sinh thái đề xuất cho điều kiện
Đồng Xoài
- Dự báo xu thế biến đổi môi trường, tài nguyên thị xã Đồng Xoài dưới tác động của
quá trình phát triển kinh tế xã hội
- Đề xuất các giải pháp sinh thái phù hợp với các điều kiện của thị xã Đồng Xoài theo
kế hoạch nhiều năm;
(4) Đánh giá khả năng áp dụng các giải pháp xây dựng thành phố sinh thái tại Đồng Xoài
- Rà soát hiện trạng sinh thái, môi trường tự nhiên của thị xã Đồng Xoài;
- Rà soát những tiêu chí và cơ sở quy hoạch thiết kế thị xã Đồng Xoài;
- Nhận định những điều kiện thuận lợi hiện hữu và những giải pháp khả thi trước mắt;
- Nhận định những điều kiện hạn chế và sự thiếu hụt những điều kiện cần thiết cho
những giải pháp tăng cường;
- Nhận định khả năng áp dụng các giải pháp xây dựng mô hình thành phố sinh thái tại
Đồng Xoài trên cơ sở phân tích các điều kiện nêu trên
Trang 13CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 9 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập tài liệu & đề tài nghiên cứu liên quan
- Thu thập tài liệu:
Thu thập và tổng hợp số liệu, tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu như: điều kiện tự
nhiên, kinh tế xã hội, chế độ thủy văn, hiện trạng môi trường… Phương pháp này giúp tiết
kiệm tối đa chi phí và thời gian nghiên cứu Tất cả các tài liệu thu thập được khi đi điều tra,
khảo sát được xây dựng thành hệ thống dữ liệu phục vụ đề tài
+ Điều kiện tự nhiên,
+ Điều kiện kinh tế xã hội,
+ Công tác bảo vệ môi trường ở thị xã Đồng Xoài,
+ Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội đến năm 2015-2020,
+ Các tài liệu khác nếu có
- Thu thập đề tài nghiên cứu liên quan: các khái niệm, định nghĩa, tiêu chí thành phố sinh
thái, các cách mà các thành phố đã áp dụng trên thế giới, hiệu quả đạt được ra sao và có
những khó khăn hạn chế cũng như rủi ro gì
Phương pháp khảo sát và điều tra thực địa
- Ghi nhận thông tin qua khảo sát thực địa khi đi lấy mẫu tại thị xã Đồng Xoài;
- Đánh giá hiện trạng quy hoạch kiến trúc, hiện trạng môi trường, khảo sát những điểm phù
hợp và chưa phù hợp để áp dụng mô hình thành phố sinh thái
Phương pháp kế thừa
Kế thừa các kết quả từ quá trình lấy mẫu sẵn có trong quá trình thực hiện dự án khác
gần đây nhất được cung cấp bởi phòng tài nguyên môi trường thị xã Đồng Xoài Các số liệu
được xem xét nhằm xác định đã vượt quy chuẩn hay chưa, hoặc có nguy cơ vượt quy chuẩn
trong thời gian tới
Phương pháp chuyên gia
Từ kết quả khảo sát, tác giả sẽ tham khảo ý kiến của chuyên gia để đánh giá hiện
trạng môi trường và xây dựng các giải pháp và mô hình thành phố sinh thái phù hợp cho
Đồng Xoài, có thể theo quy hoạch phát triển của thị xã hoặc thay đổi nếu cần Chuyên gia
được chọn là PGS TS Phạm Hồng Nhật của Viện kỹ thuật nhiệt đới và bảo vệ môi trường
Phương pháp SWOT
Trang 14CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 10 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
SWOT là từ viết tắt của các chữ S - Strengths (Điểm mạnh), W - Weakness (Điểm yếu), O -
Opportunities (Cơ hội) và T - Threats (Đe dọa) Đây là phép phân tích các hoàn cảnh môi
trường bên trong và bên ngoài khi xây dựng và phát triển một dự án hoặc một qui hoạch Sự
khác nhau giữa hoàn cảnh bên trong và bên ngoài dựa vào 2 tiêu chuẩn:
Không gian: Mọi thứ bên trong một biên địa lý chọn lọc của hệ thống được xem như
là hoàn cảnh môi trường bên trong
Thời gian: Mọi thứ đang xảy ra và tồn tại ở thời điểm hiện tại liên quan đến hoàn
cảnh môi trường bên trong Tình trạng trong tương lai là hoàn cảnh môi trường bên
ngoài
Đôi khi đặc điểm của các điểm đặc trưng này không thể thay đổi, ví dụ như vị trí của một
vùng bị ngập lũ hằng năm nào đó Tuy nhiên thông thường các đặc điểm thì có thể thay đổi,
ví dụ như sự trì trệ trong công việc Môi trường bên ngoài thường được phân tích ở dạng Cơ
hội và Đe dọa Có nhiều Thách thức, đe dọa khó có thể tránh khỏi, nhưng cũng có nhiều Đe
dọa khác cũng có thể thay đổi được (chính sách, luật lệ, ngân sách) Điều quan trọng và phân
biệt giữa môi trường bên trong và bên ngoài để có thể hiểu được những cái gì có khả năng
làm được và không làm được khi phân tích dự án Từ phương pháp này ta sẽ xác định được
điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức cho Đồng Xoài trong việc xây dựng thành phố
sinh thái Thứ tự ưu tiên của một vấn đề được xác định bằng tần số và tầm quan trọng của sự
kiện nổi lên từ việc thực hành SWOT
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là thị xã Đồng Xoài
Phạm vi của đề tài
- Thị xã Đồng Xoài: với các đặc thù về tự nhiên, kinh tế xã hội, pháp lý quy hoạch
chung và các sáng kiến trong địa bàn
- Nghiên cứu tổng quát theo các khía cạnh của khái niệm thành phố sinh thái, và tập
trung đề xuất các cơ chế cần thiết về quản lý môi trường để phát triển thành phố sinh
thái
Trang 15CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 11 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ SINH THÁI
2.1 Định nghĩa thành phố sinh thái
Theo định nghĩa của Tổ chức Sinh thái đô thị của Úc: Thành phố sinh thái cho phép cư dân
sống một chất lượng sống tốt trong khi sử dụng tối thiểu nguồn lực tự nhiên, bằng cách:
• Sử dụng vật liệu địa phương, và năng lượng, dòng chảy không khí và nước địa phương (ánh
sáng mặt trời, gió và mưa) để có lợi thế tốt nhất
• Kết hợp các hệ sinh thái tự nhiên vào các khu vực đô thị, tổ chức động vật hoang dã địa
phương, và nâng cao kinh nghiệm của các không gian công cộng đô thị
• Sử dụng thực vật để kiểm soát vi khí hậu đô thị để ổn định nhiệt độ và độ ẩm
• Nâng cao đời sống của cộng đồng và các mối quan hệ giữa con người, bằng cách tạo ra môi
trường xã hội vui vẻ
• Hỗ trợ một nền văn hóa tiên tiến cho phép người dân để phát triển mạnh và phát triển tiềm
năng sáng tạo của họ, và sử dụng công nghệ mới để cải thiện cuộc sống
Theo quan điểm của tổ chức Ecocity Builders (người sáng lập là ông Richard Register) và
International Ecocity Standards advisory team, 2/20/10 tại Vancouver, Canada:
“Một thành phố sinh thái là một khu định cư của con người theo mô hình cấu trúc tự phục
hồi bền vững và chức năng của hệ sinh thái tự nhiên Thành phố sinh thái cung cấp cuộc
sống phong phú lành mạnh cho các cư dân của nó mà không tiêu thụ nhiều tài nguyên hơn so
với mức phục hồi, không sản xuất chất thải nhiều hơn khả năng đồng hóa, và không độc hại
cho chính nó hoặc các hệ sinh thái lân cận Tác động sinh thái của cư dân phản ánh lối sống
được khuyến khích trên hành tinh, trật tự xã hội phản ánh nguyên tắc cơ bản một cách sự
công bằng, công lý và hợp lý.” (Nguồn: http://www.ecocitybuilders.org/)
2.2 Lịch sử hình thành
Ý tưởng về một đô thị sinh thái ban đầu đã xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX dưới tên gọi
Thành phố vườn (Garden-City), là một phương án quy hoạch đô thị của Ebenezer Howard
(1898) nhằm giải quyết các vấn đề môi sinh của đô thị ở thời điểm khởi đầu quá trình hiện
đại hóa Ý tưởng này ngay lập tức trở thành một phong trào lan rộng trong cộng đồng Châu
Âu và các nước công nghiệp trên thế giới, và lúc bấy giờ được xem như công cụ hữu hiệu để
giải quyết các vấn đề môi trường đô thị đang là hậu quả của quá trình công nghiệp hóa Đối
với các nước công nghiệp, đây là bước tất yếu trong quá trình phát triển nhằm đạt đến một đô
thị phát triển bền vững Nhìn lại lịch sử phát triển, đô thị hóa ở quy mô lớn thực tế là hậu quả
Trang 16CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 12 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
của quá trình công nghiệp hóa, phát sinh từ nhu cầu tập trung lực lượng sản xuất để phục vụ
sản xuất công nghiệp, tạo thành các khu dân cư đông đúc Đô thị hóa diễn ra làm phát sinh
vô vàn các tác động đến môi trường tự nhiên và xã hội và kết cục là đòi hỏi các giải pháp
hiện đại hóa để giải quyết các vấn đề đó khi nhu cầu đòi hỏi và điều kiện cho phép Cuối
cùng thì việc quy hoạch sinh thái đô thị là khâu tiếp theo tất yếu của quá trình hiện đại hóa
đô thị
Ở các nước công nghiệp phát triển, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa rồi đến hiện
đại hóa đã diễn ra một cách tự nhiên và tuần tự, nên khái niệm “sinh thái đô thị”, nghĩa là
môi trường sinh thái của đô thị nghe quen thuộc, phổ biến hơn và là đối tượng nghiên cứu từ
một thập kỷ nay Trong khi đó ở các nước đang phát triển, quá trình công nghiệp hóa, đô thị
hóa, và hiện đại hóa thường diễn ra đồng thời do sự phát triển quá độ thẳng từ những hình
thái kinh tế - xã hội lạc hậu thành những hình thái có thể hội nhập được vào nền kinh tế toàn
cầu dưới áp lực của toàn cầu hóa Để giải quyết các vấn đề môi trường đô thị trong bối cảnh
phức tạp như vậy đối với các nước đang phát triển, quy hoạch đô thị sinh thái là một giải
pháp phù hợp Đây là giải pháp quy hoạch có tính định hướng, áp dụng vào thực tế những
kiến thức mới nhất và kinh nghiệm từng trải của các nước phát triển nhằm hướng thẳng tới
một đô thị hiện đại mà không vấp phải những vấn đề của quá trình công nghiệp hóa và đô thị
hóa bùng phát trên diện rộng
2.3 Các nguyên tắc phát triển các thành phố sinh thái
Tổ chức Sinh thái Đô thị, hiện đă hoạt động trên 20 năm, khẳng định sứ mệnh của họ là
xây dựng các thành phố sinh thái theo 10 nguyên tắc:
Định lại những ưu tiên về sử dụng đất để tạo ra những cộng đồng phức hợp, mật độ nén,
đa dạng, xanh, an toàn, vui tươi và sống động gần các nút giao thông và những phương
tiện giao thông
Định lại những ưu tiên về giao thông theo hướng khuyến khích đi bộ, xe đạp và giao
thông công cộng hơn là xe ôtô, và nhấn mạnh “hướng tiếp cận bằng sự lân cận”
Phục hồi những môi trường đô thị bị phá hại, đặc biệt là các thung lũng, đường bờ biển,
Trang 17CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 13 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
Khuyến khích tái sinh tái chế, các công nghệ tiên tiến, và bảo vệ tài nguyên trong khi vẫn
giảm thiểu ô nhiễm và chất thải
Làm việc với các doanh nghiệp để hỗ trợ các hoạt động kinh tế thân thiện với môi trường
trong khi hạn chế ô nhiễm, chất thải, việc sử dụng và sản xuất các vật chất nguy hại
Khuyến khích sự dễ dàng tự nguyện và hạn chế việc sản xuất thừa thăi các hàng hóa vật
chất
Tăng cường nhận thức về môi trường địa phương và vùng sinh thái thông qua các nhà
hoạt động và các dự án giáo dục tăng cường nhận thức cộng đồng về những vấn đề liên
quan đến tính bền vững
2.4 Các tiêu chí xem xét đánh giá đô thị sinh thái, theo IES, bao gồm các nhóm:
- Cơ cấu đô thị: về sử dụng đất và kiến trúc đô thị;
- Giao thông đô thị với thứ tự ưu tiên: giao thông đi bộ, xe đạp, thang vận, giao thông công
cộng bằng xe điện hoặc tàu điện ngầm, giao thông công cộng bằng xe bus, rồi mới đến xe ô
- Năng lượng: sử dụng năng lượng có thể tái tạo như gió, mặt trời…, hạn chế sử dụng tài
nguyên không tái tạo được, dùng các giải pháp bảo tồn năng lượng;
- Xã hội: đáp ứng tốt nhất các yêu cầu về kiến trúc và thiết kế chỗ ở và sinh hoạt cho người
dân, đảm bảo về giáo dục và việc làm…;
- Nông nghiệp;
- Quy hoạch các khu vực đặc thù và các công cụ quản lý;
- Chính sách và thể chế quản lý;
- Kinh tế…
Ở Việt Nam, trong hệ thống văn bản pháp luật hiện nay chưa quy định khái niệm về đô thị
sinh thái cũng như các tiêu chí cụ thể khi xem xét đánh giá đô thị có phải là đô thị sinh thái
hay không Tuy nhiên, theo nhận định của các nhà nghiên cứu về đô thị sinh thái, các tiêu chí
quy hoạch đô thị sinh thái có thể được khái quát trên các phương diện sau: kiến trúc công
trình, sự đa dạng sinh học, giao thông, công nghiệp và kinh tế đô thị:
- Về kiến trúc, các công trình trong đô thị sinh thái phải đảm bảo khai thác tối đa các nguồn
mặt trời, gió và nước mưa để cung cấp năng lượng và đáp ứng nhu cầu nước của người sử
dụng Thông thường là nhà cao tầng để dành mặt đất cho không gian xanh
Trang 18CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 14 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
- Sự đa dạng sinh học của đô thị phải được đảm bảo với các hành lang cư trú tự nhiên, nuôi
dưỡng sự đa dạng sinh học và đem lại sự tiếp cận với thiên nhiên để nghỉ ngơi giải trí
- Giao thông và vận tải cần hạn chế bằng cách cung cấp lương thực và hàng hóa chủ yếu nằm
trong phạm vi đô thị hoặc các vùng lân cận Phần lớn dân cư đô thị sẽ sống và làm việc trong
phạm vi bán kính đi bộ hoặc xe đạp để giảm thiểu nhu cầu di chuyển cơ giới Sử dụng các
phương tiện giao thông công cộng nối liền các trung tâm để phục vụ nhu cầu di chuyển xa
hơn của người dân Chia sẻ ô tô con địa phương cho phép mọi người chỉ sử dụng khi cần
thiết
2.5 Các thành phố sinh thái điển hình trên thế giới
Thành phố Singapore
Diện tích hạn chế của Singapore tạo nên những thách thức về khả năng sẵn có của đất đai và
nguồn tài nguyên thiên nhiên Nhằm tối ưu hóa việc sử dụng đất, Singapore đã đẩy mạnh
phát triển với mật độ cao, không chỉ cho kinh doanh và thương mại mà còn cho cư trú Mật
độ cao làm gia tăng năng suất kinh tế trên mỗi đơn vị đất đồng thời tạo điều kiện phân biệt
khoảng xanh và khu đất bảo tồn tự nhiên Thực tế, Singapore được biết đến là một thành phố
vườn cây Ngoài ra, phát triển mật độ cao đã chuyển tiếp thành việc sử dụng giao thông công
cộng hiệu quả hơn do các khu vực kinh doanh, thương mại và cư trú được kết nối hiệu quả
Trang 19CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 15 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
thành một hệ thống giao thông công cộng tích hợp Năm 2004, phương tiện giao thông công
cộng chiếm tới 63% trong số các phương tiện giao thông vào giờ cao điểm buổi sáng Tỉ lệ
sử dụng phương tiện giao thông công cộng cao đã giúp giảm lượng khí thải nhà kính Số
lượng hành khách lớn đồng nghĩa với việc Singapore có thể tái sử dụng chi phí vận hành
phương tiện giao thông công cộng lấy từ tiền cước, vốn là một kỳ tích mà chỉ có Hong Kong,
Trung Quốc và Singapore đạt được trong số những thành phố hiện đại và phát triển cao
Singapore nhập khẩu hầu hết nguồn tài nguyên thiên nhiên của mình, bao gồm thức ăn, nước
và nguyên liệu công nghiệp Do đó quy hoạch sử dụng tài nguyên là vấn đề quan trọng Ví
dụ, Singapore đã áp dụng cách quản lý tổng hợp đối với nguồn nước bằng cách tạo vòng lặp
và nối tầng để tạo nên vòng tuần hoàn kín cho nước thay vì áp dụng hệ thống cung cấp nước
chảy qua một lần Việc sử dụng nước hiệu quả kết hợp với những hoạt động ở những lĩnh
vực khác vốn là kết quả của quá trình hợp tác đa lĩnh vực giữa các phòng ban chính phủ và
các bên hợp tác liên quan Ví dụ, việc phát triển nhà ở mới sẽ được trang bị các thiết bị thu
gom nước mưa hiệu quả, từ đó mái nhà sẽ là nơi thu gom nước
Singapore đã đưa ra nhiều công cụ và động cơ khác nhau để quản lý cung cầu đối với tài
nguyên Ví dụ, thành phố đã áp dụng thuế nước mang tính chiến lược, các chính sách năng
lượng sáng tạo, các kế hoạch định giá đường sá và một hệ thống hạn ngạch cho xe cộ Các
biện pháp này khiến người dân và doanh nghiệp giảm nhu cầu sử dụng các nguồn tài nguyên
vượt quá khả năng cung cấp của thành phố
Singapore đã chứng minh rằng một thành phố có thể cải thiện năng suất và tăng trưởng kinh
tế trong khi vẫn giảm thiểu tác động sinh thái và tối đa hóa tính hiệu quả của việc sử dụng tài
nguyên Khả năng lãnh đạo mạnh mẽ của thủ tướng là một động lực quan trọng để phát triển
quốc gia thành thị này một cách bền vững, ngoài ra còn cần đến phương pháp tiếp cận một hệ
thống và sự cộng tác tích cực giữa các bên liên quan
Biện pháp tiếp cận, lợi ích kinh tế và sinh thái
Singapore đã cam kết thúc đẩy quá trình phát triển bền vững Ủy ban liên bộ về Phát triển
bền vững, thành lập vào năm 2008, đã khởi động các biện pháp tiếp cận tích hợp liên bộ
trong cơ cấu chiến lược dành cho tăng trưởng bền vững
Quy hoạch giao thông và sử dụng đất tích hợp
Do hạn chế nguồn đất đai nên việc quy hoạch sử dụng đất trở nên quan trọng nhằm duy trì
chất lượng môi trường của Singapore và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế Từ khi giành được độc
lập vào năm 1959, Singapore đã tích cực sung công đất đai để dành đất công cộng cho cơ sở
vật chất công cộng, thúc đẩy tái phát triển thành phố và làm chất xúc tác cho quá trình phát
Trang 20CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 16 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
triển mới Hiện nay, khoảng 90% đất đai thuộc sở hữu nhà nước Do đó thành phố có quyền
lực mạnh mẽ đối với các kế hoạch phát triển đô thị lẫn quá trình thực thi các kế hoạch này
Những khu vực đông đúc và mật độ cao giúp bảo tồn không gian mở, công viên tự nhiên và
cây cối Khoảng 10% diện tích đất được dùng làm khoảng xanh, bao gồm khu bảo tồn tự
nhiên Tỉ lệ khoảng xanh tại Singapore, bao gồm cây cối dọc đường, chiếm 36% vào năm
1986 và tăng lên 47% vào năm 2007 Vẫn có thể nhận thấy mức tăng này dù tỉ lệ tăng dân số
là 68%
Quy hoạch giao thông của Singapore kết hợp và tích hợp hiệu quả với quy hoạch sử dụng
đất Quá trình phát triển mật độ cao gần đây như các thành phố mới, các khu công nghiệp và
khu thương mại đều được kết nối với hệ thống giao thông nhanh chóng và rộng lớn Hệ
thống giao thông này chạy ngầm dưới trung tâm thành phố và chạy ngang mặt đường ở khu
vực ngoài trung tâm và ở những khu vực quan trọng khác Hệ thống này là xương sống của
hệ thống giao thông công cộng tại Singapore Những hình thức giao thông khác như xe buýt
và tàu điện nhẹ được kết nối hoàn hảo với các tuyến đường trên hệ thống tại những ga
chuyển đổi và phục vụ những khu vực nội bộ Nhằm giảm bớt cước chuyển tàu xe, Singapore
đã áp dụng hệ thống thu cước dựa trên khoảng cách
Việc kết hợp tuyến giao thông nhanh chóng và rộng lớn, hệ thống xe buýt và tàu điện nhẹ đã
giúp tăng nhanh tỷ lệ sử dụng giao thông công cộng (bao gồm taxi) lên tới 63% vào năm
2004, mặc dù đã giảm so với mức 67% vào năm 1997, vốn được xem là thời điểm gia tăng
sử dụng xe cá nhân Do hệ thống giao thông này đã được tích hợp vào những khu vực phát
triển mật độ cao với quy mô dân số lớn nên vẫn có thể duy trì năng lực tài chính và dịch vụ
chất lượng cao trên toàn hệ thống Người dân rất thỏa mãn với hệ thống giao thông công
cộng
Cơ quan Vận tải Đất đai Singapore được thành lập vào năm 1995 bằng cách kết hợp 4 phòng
ban vận tải đất đai nhằm lập quy hoạch, kiểm soát và quản lý các chính sách liên quan Cơ
quan này hướng đến việc cung cấp một hệ thống giao thông chất lượng cao, cải thiện chất
lượng cuộc sống người dân, đồng thời duy trì tốc độ tăng trưởng và khả năng cạnh tranh toàn
cầu của Singapore
Singapore đưa ra động lực để kiểm soát số lượng xe cá nhân Năm 1990, hệ thống hạn ngạch
do chính phủ áp dụng nhằm hạn chế số lượng xe đăng ký mới còn 3 – 6% mỗi năm Một
khách hàng muốn mua xe mới cần nộp đơn lên Cơ quan Vận tải Đất đai để tiến hành đấu
thầu công khai Chủ sở hữu xe hơi phải có giấy chứng nhận đã ghi danh có hiệu lực trong
vòng 10 năm sau khi đăng ký
Trang 21CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 17 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
Nhằm ứng phó với tình trạng tắc nghẽn giao thông ngày càng tăng, Singapore đã áp dụng
một hệ thống giấy phép khu vực vào năm 1975 để quản lý xe hơi đi vào khu vực kinh doanh
trung tâm trong giờ cao điểm Năm 1988, nhằm cải thiện tính hiệu quả, hệ thống giấy phép
khu vực được thay thế bằng hệ thống định giá đường sá bằng điện tử ngày nay Hệ thống mới
thu phí tài xế bằng phương tiện điện tử thông qua những bộ phận tích hợp trong xe hơi dành
cho những xe hơi đi vào những khu vực chỉ định ở trung tâm thành phố trong những khoảng
thời gian cố định của giờ cao điểm Hệ thống có nhiều lựa chọn dựa trên loại đường sá
(đường trục chính và đường cao tốc) cũng như khoảng thời gian Giá cao nhất áp dụng cho
khoảng thời gian đông đúc nhất Ngoài ra, Singapore cũng sử dụng nhiều biện pháp kiểm
soát nguồn cầu khác như khuyến khích lái xe trong giờ thấp điểm hoặc áp dụng hệ thống
lái-và-đậu thông qua các biện pháp khuyến khích bằng tài chính
Nhìn chung, các biện pháp giao thông đường bộ, giao thông công cộng và đảm bảo tính linh
hoạt này, chiếm 71% chuyến đi lại ở Singapore có thể hoàn tất trong vòng không quá 1 tiếng
đồng hồ Tình trạng tắc nghẽn giao thông đã giảm nhẹ và vẫn duy trì tốc độ lưu thông trung
bình Do đó cũng tránh được việc loại bỏ lượng xe cộ không cần thiết Điều này nghĩa là có ít
lượng khí thải nhà kính hơn liên quan đến biến đổi khí hậu Tuy nhiên, nhu cầu đi lại dự kiến
sẽ tăng từ 8,9 triệu chuyến đi vào năm 2008 lên 14,3 triệu chuyến vào năm 2020 Tại
Singapore, 12% diện tích đất dành cho đường sá và 15% diện tích đất dành cho nhà ở Hơn
nữa, rất khó có thể dành thêm đất cho đường sá để đáp ứng nhu cầu đi lại Do vậy Singapore
cần phải đáp ứng nhu cầu đang gia tăng thông qua các dịch vụ giao thông công cộng chứ
không phải bằng xe hơi
Quản lý nguồn nước
Singapore được xem là một quốc gia đô thị thiếu nước mặc dù lượng mưa hàng năm cao,
2.400 mm/năm Singapore nhập khẩu nước từ quốc gia láng giềng Malaysia Nhằm giảm bớt
mức độ phụ thuộc vào nguồn nước bên ngoài, Singapore đã tiến hành các bước đi nhằm cải
thiện an ninh nước và thiết lập một nguồn cung nước độc lập nằm trong lãnh thổ Biện pháp
mà Singapore phát triển và thực hiện nhằm đạt được mục tiêu này được xem là một biện
pháp thành công do tính hiệu quả mang tính thể chế của quốc gia đô thị này cũng như khả
năng kiểm soát cung cầu đối với nguồn nước đạt hiệu quả cao Singapore đã thành công khi
giảm bớt được nhu cầu nước hàng năm, từ 454 triệu tấn vào năm 2000 xuống còn 440 triệu
tấn vào năm 2004, trong khi dân số và GDP tăng tương ứng 3,4 và 18,3% Singapore đã cho
thấy rằng có thể thực hiện được các biện pháp quản lý nguồn nước mang tính tổng hợp bằng
cách sử dụng các phương pháp mới, và các phương pháp này đều không vượt quá khả năng
của ngân sách
Hệ thống thể chế giúp thực hiện các biện pháp tích hợp
Trang 22CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 18 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
Hội đồng Dịch vụ công (PUB – Public Utilities Board), một hội đồng pháp định thuộc Bộ
Môi trường và Nguồn nước, quản lý toàn bộ vòng tuần hoàn nước, bao gồm thu thập, sản
xuất, phân phối và cải tạo Đây là cơ quan nước quốc gia tại Singapore Khi PUB thành lập
vào năm 1963, cơ quan này quản lý nhiều dịch vụ bao gồm nước, điện và ga Nhằm giảm chi
phí và cải thiện các dịch vụ, PUB đã tiến hành các hoạt động tái cấu trúc mang tính thể chế
vào năm 2001 Dịch vụ điện và ga được tư nhân hóa, còn chức năng về thoát nước và hệ
thống thoát nước được chuyển giao cho PUB Kể từ năm 2001, PUB đã phát triển và thực
hiện các biện pháp tổng hợp và tổng thể đối với hệ thống nước thay vì quản lý từng chức
năng về nước (cung cấp nước, nước thải, thoát nước…) Bằng cách này, vòng tuần hoàn của
nước trở nên khép kín, từ đó giúp PUB áp dụng chiến lược Bốn Phân nhánh Quốc gia, một
chiến lược nhằm đảm bảo Singapore có nguồn nước ổn định Chiến lược Bốn Phân nhánh
Quốc gia bao gồm (1) nước thu gom tại địa phương, (2) nước nhập khẩu, (3) nước khử mặn
và (4) NEWater (cải tạo từ nước thải) Bằng cách áp dụng hệ thống nước mang tính tổng thể,
PUB có thể giải quyết hiệu quả các vấn đề và hoạt động khác nhau, như bảo vệ nguồn nước,
quản lý nước mưa, khử mặn, quản lý nguồn cầu, quản lý thu gom nước, kết hợp với khối tư
nhân và các chương trình mang tính cộng đồng, bao gồm các chương trình giáo dục và nâng
cao ý thức cộng đồng PUB cũng tiến hành một cuộc nghiên cứu và phương tiện phát triển,
trong đó các chuyên gia nghiên cứu công nghệ nước
Quản lý nguồn cung
Do nguồn nước khan hiếm nên Singapore cần quản lý nguồn nước một cách thận trọng Hệ
thống thoát nước bao phủ 100% diện tích của quốc gia này và nước thải được thu gom toàn
bộ Singapore có một hệ thống thoát nước riêng biệt nhằm đảm bảo nước thải và nước mưa
không trộn lẫn với nhau Nước thải và nước thoát qua cống rãnh được tái chế thành nguồn
nước cho quốc gia đô thị này
Chiến lược Bốn Phân nhánh Quốc gia quan tâm đến những nguồn nước sau đây:
1 Nước thu gom tại địa phương (quản lý thu gom): nước mưa được thu gom từ sông,
suối, kênh rạch, cống rãnh và được lưu trữ tại 14 bể nước Do hệ thống nước mưa
tách biệt với hệ thống nước thải nên có thể đưa nước mưa trực tiếp đến sông suối
hoặc bể nước để sau này xử lý thành nước máy Các bể chứa nối với nhau bằng ống
nước Có thể bơm lượng nước thừa từ bể này sang bể khác, từ đó tối ưu hóa khả năng
lưu trữ và tránh lụt lội trong suốt mùa mưa Khu vực thu gom được bảo vệ và các hoạt
động gây ô nhiễm đều bị cấm tại những khu vực này bằng những quy định ngặt
nghèo Tính đến năm 2009, khu vực thu gom nước đã mở rộng từ 1/2 đến 2/3 diện
tích đất tại Singapore Các hoạt động gây ô nhiễm chỉ được phép tiến hành trong vòng
5% diện tích đất tại Singapore; phần đất khác đều được bảo vệ Việc thu gom nước
Trang 23CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 19 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
cung cấp khoảng một nửa nhu cầu nước tại Singapore Nhằm cải thiện việc quản lý
nguồn tài nguyên và môi trường, chính phủ đặc biệt chú trọng đến những khu vực thu
gom nước và đến địa điểm của các khu công nghiệp Singapore cũng theo đuổi quy
hoạch đô thị tích hợp Ví dụ, PUB cùng Hội đồng Phát triển và Nhà ở, thuộc Bộ Phát
triển Quốc gia, đã hợp tác để cải thiện những khu vực thu gom nước tại Singapore
PUB xem lượng mưa là một nguồn tài nguyên quan trọng, đồng thời lắp đặt hệ thống
thu gom và thoát nước mưa trên mái nhà, là những hệ thống do Hội đồng Phát triển
và Nhà ở phát triển Các vật dụng mới phát triển đều được trang bị cùng với hệ thống
thu gom và thoát nước mưa Nước thu gom được trữ trong những bồn trữ nước gần đó
và được chuyển tới các bể chứa Chiến lược này cho phép những khu vực đông dân
cư tham gia quá trình thu gom nước Dự kiến 2/3 diện tích đất tại Singapore sẽ tham
gia vào quá trình thu gom nước nói trên
2 Nước nhập khẩu: Singapore sẽ tiếp tục nhập khẩu nước từ Malaysia theo 2 hiệp định
song phương sẽ hết hiệu lực tương ứng vào năm 2011 năm 2061 Lượng nước nhập
khẩu chiếm khoảng 1/3 nhu cầu nước của quốc gia
3 Nước khử mặn: Vào tháng 9 năm 2005, Singapore khánh thánh một nhà máy khử mặn
nước trị giá 200 triệu đô la Mỹ, là dự án hợp tác công-tư đầu tiên của PUB Nhà máy
có thể sản xuất 30 triệu gallon (136.000 m3) nước một ngày; đây là một trong những
nhà máy thẩm thấu ngược nước biển lớn nhất trong khu vực Năm 2007, nhà máy
cung cấp khoảng 10% nhu cầu nước của quốc gia
4 NEWater: Nước đã qua sử dụng (nước thải) là cũng một nguồn nước quan trọng
Nước thải được thu gom thông qua một hệ thống đường ống nước thải mở rộng và
được xử lý tại các nhà máy cải tạo nước Nước thải được tinh chế bằng cách sử dụng
công nghệ vách ngăn để sản xuất nước tái chế ở cấp độ cao, được gọi là NEWater, đủ
an toàn để uống Do lượng nước này tinh khiết hơn nước máy nên đó là nguồn nước
lý tưởng để sử dụng trong công nghiệp vốn cần đến nguồn nước chất lượng cao,
chẳng hạn như sản xuất dụng cụ chính xác và công nghệ thông tin Mỗi ngày, PUB
pha trộn 6 triệu gallon (28.000 m3) nước NEWater với nước trữ trong bồn chưa qua
xử lý để sau này xử lý thành nước máy Lượng nước pha trộn sẽ tăng lên 10 triệu
gallon mỗi ngày (46.000 m3) tính đến năm 2011 Bốn nhà máy NEWater hoạt động
tại Singapore và một nhà máy thứ năm đang được xây dựng theo một hợp đồng hợp
tác công-tư Năm 2008, NEWater đã đáp ứng hơn 15% tổng nhu cầu nước hàng ngày
tại Singapore, đồng thời tỉ lệ này dự kiến sẽ tăng lên 30% vào năm 2010
PUB đã xây dựng một hệ thống đường ống thoát nước sâu dưới đất vốn là một phần của
vòng tuần hoàn nước Mặc dù mức độ bao phủ của hệ thống thoát nước là 100% nhưng hệ
Trang 24CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 20 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
thống thoát nước lão hóa lại gây ra vấn đề Hệ thống mới bao gồm những đường ống thoát
nước sâu dưới đất giúp chặn dòng chảy từ những đường ống thoát nước hiện tại, trạm bơm
nước và đường ống thoát nước liên kết với nhau Tuổi thọ thiết kế của hệ thống này là 100
năm Do nước thải chảy trong hệ thống theo trọng lực đến một nhà máy tái chế nước trung
tâm (nhà máy Chanqi) nên có thể không cần đến các trạm bơm trung gian Điều này loại bỏ
rủi ro ô nhiễm nguồn nước mặt do sai sót của trạm bơm trung gian và rủi ro do hư hỏng
đường ống dẫn chính Các nhà máy tái chế nước và các trạm bơm cần khoảng 300 ha mặt
đất Các nhà máy tái chế nước mới thuộc hệ thống đường ống sâu dưới mặt đất chỉ cần 100
ha; do đó 200 ha còn lại có thể dành cho mục đích khác Xây dựng một hệ thống được chứng
minh là ít tốn kém chi phí hơn (hơn 2 tỷ đô la Mỹ hoặc khoảng 1,35 tỷ đô la Mỹ) hơn là mở
rộng và nâng cấp cơ sở vật chất hiện tại Hệ thống này cũng cải thiện vòng tuần hoàn kín của
nước bằng cách thu gom nước thải một cách hiệu quả để sản xuất NEWater
Quản lý nguồn cầu
PUB có một chính sách phù hợp mang tính tổng hợp để quản lý nguồn cầu đối với nước Các
mức thuế với nhiều loại tỷ lệ dựa trên mức độ tiêu thụ chứ không dựa trên phần đại diện trọn
gói (lump-sum proxies) (bảng 1.2) Nếu hộ gia đình sử dụng vượt quá 40 m3 mỗi tháng, giá
mỗi đơn vị sẽ cao hơn mức thuế không dành cho hộ gia đình Mức thuế nước cơ bản tăng lên
mỗi năm kể từ năm 1997 Thuế duy trì nguồn nước được áp dụng để tiến hành duy trì nguồn
nước Ngoài ra, người ta còn áp dụng một loại phí nước để trang trải chi phí xử lý nước thải
cũng như bảo trì và mở rộng hệ thống dẫn nước thải công cộng Khoản tiền này khiến các hộ
gia đình cân nhắc khi sử dụng nước Kết quả là khi hóa đơn nước tăng lên (bao gồm 6 loại
thuế) thì lượng nước tiêu thụ đã giảm Hệ thống thuế nói trên đã ảnh hưởng mạnh mẽ lên
việc tiêu thụ nước Mặc dù lượng nước tiêu thụ hàng năm tại Singapore tăng từ 403 triệu m3
vào năm 1995 lên 454 triệu m3 vào năm 2000, nhưng những chính sách kiểm soát nguồn cầu
này đã giúp giảm xuống còn 440 triệu m3 vào năm 2004
Quan tâm của xã hội và nâng cao ý thức
Nhằm đảm bảo công bằng, chính phủ đã cung cấp các gói trợ cấp trực tiếp cho những gia
đình có mức thu nhập thấp hơn Thuế trọn đời sẽ trợ cấp không chỉ cho những người không
thể chi trả mức thuế cao mà còn cho tất cả những người sử dụng nước Như vậy, Singapore
chỉ cung cấp các gói trợ cấp cho những hộ gia đình nghèo theo chỉ tiêu Trợ cấp theo chỉ tiêu
được nhiều người xem là hiệu quả hơn theo nghĩa kinh tế-xã hội liên quan đến những khoản
trợ cấp đối với lượng nước tiêu thụ ban đầu của tất cả các hộ gia đình mà không xét đến điều
kiện kinh tế Hệ thống thuế cho thấy rõ ràng là những ai tiêu thụ nhiều nước hơn thì sẽ bị
phạt (thông qua các khoản thuế cơ bản) thậm chí nặng hơn so với việc sử dụng nước cho
thương mại và công nghiệp
Trang 25CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 21 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
Những biện pháp tiếp cận khác về môi trường
Singapore truyền sức mạnh cho hoạt động kinh tế mạnh mẽ ở một quốc gia đô thị nhỏ bé
Duy trì được một môi trường chất lượng cao là một vấn đề quan trọng Bộ Môi trường và
Nguồn nước đã đưa ra Kế hoạch Xanh cho Singapore năm 2012 vào năm 2002 và bổ sung
vào năm 2006 Kế hoạch này giải quyết 6 vấn đề chính: thay đổi khí hậu và không khí, nước,
quản lý chất thải, tự nhiên, sức khỏe cộng đồng và các mối quan hệ môi trường quốc tế Kế
hoạch này được xây dựng dựa trên Kế hoạch Xanh cho Singapore năm 1992 Kể từ năm
1992, chính quyền địa phương đã tích cực giải quyết các vấn đề môi trường bằng việc tiến
hành nhiều hành động bao gồm nhiều bên liên quan, gồm công dân và các thực thể công và
tư Năm 2009, Bản kế hoạch Singapore bền vững – “Một Singapore sống động và dễ dàng
chung sống: chiến lược cho phát triển bền vững” – do Ủy ban liên bộ về Phát triển bền vững
triển khai nhằm đảm bảo rằng Singapore không chỉ đạt được mục tiêu trong Kế hoạch Xanh
mà sẽ vượt xa mục tiêu này để đạt được mức tăng trưởng kinh tế và một môi trường sống
hoàn hảo theo một cách thức tích hợp
Năng lượng: Nhằm tránh tiêu thụ năng lượng quá mức, Singapore không trợ cấp năng lượng
Các nguồn cung năng lượng được thiết lập theo nhu cầu thị trường và tình hình cạnh tranh,
các ngành công nghiệp được khuyến khích tìm ra các giải pháp tốt hơn và sử dụng năng
lượng hiệu quả hơn Nhằm cải thiện mức độ hiệu quả của chi phí, năng lực phát điện dựa trên
khí ga gần đây đã cao hơn năng lực phát điện dựa trên dầu Tỷ lệ điện sản xuất bằng khí ga
tự nhiên tăng từ 19% năm 2000 lên 79% năm 2007 Ngoài ra, số năng lượng sử dụng trên
mỗi đơn vị GDP đã giảm xuống, đồng thời tính hiệu quả của năng lực phát điện đã được cải
thiện Nhằm nâng cao ý thức cộng đồng về các mối quan tâm đối với năng lượng, chính phủ
đã đưa ra chương trình Singapore E2, một kế hoạch nâng cao hiệu quả năng lượng quốc gia
Chính phủ cũng đầu tư vào nghiên cứu và công nghệ năng lượng Ví dụ, để cấp vốn cho địa
điểm nhiệt đới tại Singapore, chính phủ đã đẩy mạnh nghiên cứu năng lượng mặt trời nhằm
tăng cường cho lĩnh vực năng lượng sạch
Các biện pháp đối với ô nhiễm không khí: Nhằm giảm thiểu ô nhiễm không khí, các quy
hoạch sử dụng đất đã đưa các công trình công nghiệp ra ngoài phạm vi đô thị Lượng khí thải
từ xe hơi cũng là một nguồn gây ô nhiễm không khí Hệ thống hạn ngạch xe cộ và hệ thống
định giá đường sá điện tử giúp giảm kẹt xe, đồng thời hệ thống giao thông công cộng tích
hợp cũng khuyến khích việc đi lại bằng phương tiện giao thông công cộng Lượng khí thải từ
xe hơi đã giảm, bao gồm vấn đề về hạt phóng xạ trong không khí và khí thải nhà kính Năm
2008, 96% thời gian trong ngày cho thấy chất lượng không khí trong lành
Quản lý chất thải: Tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và dân số tăng nhanh mang lại ngày
càng nhiều chất thải Do thiếu đất chôn lấp rác, Singapore đã đốt rác không thể tái chế hoặc
Trang 26CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 22 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
tái sử dụng Việc đốt rác đã giảm khối lượng và thể tích rác tương ứng là 10% và 20%, đồng
thời được chứng minh là một quy trình xử lý rác thải hiệu quả Lượng điện sản xuất từ đốt
rác cung cấp 2 – 3% nhu cầu điện của thành phố Singapore chỉ còn lại một khu vực chôn lấp
rác, cách trung tâm thành phố 8 km về phía Nam và là khu chôn lấp rác trên đất liền đầu tiên
được xây dựng tại quốc gia đô thị này Không còn đất để chôn lấp rác hoặc loại bỏ chất thải
từ việc đốt rác Dự kiến vòng đời của bãi chôn lấp trên đất liền này sẽ là cuối năm 2040 nhờ
vào nỗ lực tái chế của cư dân Tuy nhiên, thành phố đang phải đối mặt với những thách thức
quản lý rác thải, đặc biệt là lượng rác thải hàng ngày tăng từ 6.000 – 7.600 tấn từ năm 1970
đến năm 2000 do tăng trưởng kinh tế, tăng dân số và điều kiện sống được cải thiện Nhằm
thúc đẩy quá trình tái chế và giảm thiểu rác thải, Chương trình Tái chế Quốc gia Singapore
cải thiện nhiều hoạt động khác nhau, đồng thời lượng rác thải nội địa bình quân đầu người đã
giảm mặc dù kinh tế vẫn tăng trưởng Năm 2008, tỷ lệ tái chế đạt đến 56% Ngoài ra, mối
quan hệ chính phủ-công nghiệp đã giúp giảm rác thải từ việc đóng gói
Làm sạch sông suối: Singapore đã thành công trong việc làm sạch và phục hồi điều kiện môi
trường của những sông suối đã từng bị hủy hoại Năm 1977, Singapore và thủ tướng đã hỗ
trợ một dự án lớn nhằm làm sạch Sông Singapore và Lòng chảo Kallang, bao phủ khoảng 1/5
diện tích của quốc gia đô thị này Lượng chất thải và nước thải không bị kiểm soát ở trang
trại, nhà ở không nằm trong hệ thống dẫn nước thải cùng với người dân lập nghiệp ở đất
công bị thải loại trực tiếp vào sông suối Nhằm ứng phó với tình trạng này, nhà cửa và những
hoạt động gây ô nhiễm khác được chuyển địa điểm và nhiều nỗ lực được thực hiện để cải
thiện tình trạng vật chất của sông suối Lòng sông được nạo vét, các công trình mặt nước
được nâng cấp và khoảng xanh được thêm vào hai bên bờ sông Các cơ quan chính phủ, cộng
đồng dân cư và các tổ chức phi chính phủ cùng hợp tác để làm sạch sông suối Sông suối
được tái sinh trong vòng 10 năm với chi phí 200 triệu đô la Singapore Ngày nay, các khu
vực mặt nước, bao gồm kênh đào và bể trữ nước, đều được bảo vệ và duy trì một cách hiệu
quả Các khu vực sông suối này trở thành nơi lưu trữ nước và phòng tránh lụt lội, đồng thời
cung cấp không gian giải trí cho cộng đồng
Đường thủy tại Singapore, bao gồm sông suối và bể chứa, được thiết kế thân thiện với con
người Thiết kế đã bổ sung cho tầm nhìn của Singapore là một thành phố của nước và vườn
cây Đường thủy và bờ kè thông thường là địa điểm giải trí; ngoài ra, người dân hầu như
không muốn gây ô nhiễm nguồn nước mà họ sẽ uống PUB cung cấp các cơ hội giáo dục
thông qua một trung tâm cho khách tham quan và các khóa học PUB cũng khuyến khích bảo
vệ nguồn nước bằng việc cung cấp các hướng dẫn và thiết bị để tiết kiệm nước trong gia
đình
Trang 27CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 23 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
Khoảng xanh: Người ta đã đề xuất Chiến dịch Thành phố Vườn cây Singapore kể từ thập
niên 1970 để xanh hóa quốc gia bằng việc trồng cây dọc đường phố, trồng ở khu đất trống, ở
khu đất cải tạo và ở những khu vực mới phát triển Người ta cũng trồng thêm hoa Kể từ khi
giành độc lập vào năm 1959, người ta đã trồng hơn 1 triệu cây và quốc gia này đã đạt được
một tiêu chuẩn cao trong việc tạo lập không gian cảnh quan
Nhà ở
Chính phủ đặt mục tiêu cung cấp nhà ở hợp túi tiền cho cư dân Hội đồng Nhà ở và Phát triển
đã lập quy hoạch và phát triển nhà ở xã hội cũng như các trang thiết bị ở những thành phố
mới Do hạn chế về đất đai nên các khu vực phát triển mật độ cao và các cao ốc được khuyến
khích dành cho thương mại, kinh doanh và cư trú Người ta khuyến khích sáng tạo đô thị và
phát triển các đô thị mới và đô thị vệ tinh; 20 đô thị như vậy đã được xây dựng Các đô thị
mới được kết nối với hệ thống giao thông công cộng và trung tâm thành phố Singapore Năm
2003, 84% dân số Singapore cư trú tại những khu nhà ở công cộng và 92,8% trong số đó có
nhà riêng Kể từ năm 1989, Hội đồng Nhà ở và Phát triển đã thực thi một chính sách kết hợp
dân tộc để đảm bảo pha trộn hài hòa các nhóm dân tộc trong khu vực nhà ở xã hội Singapore
có nhiều nhóm dân tộc, bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ và Malaysia Chính sách này đã loại bỏ
những khu đất cùng chủng tộc và thúc đẩy hình thành các cộng đồng đa dạng và hợp nhất xã
hội
Bài học rút ra từ trường hợp Singapore
Singapore gặp thách thức về hạn chế đất đai và nguồn tài nguyên thiên nhiên cùng với tốc độ
tăng trưởng kinh tế và dân số mạnh mẽ Singapore cho thấy có thể đạt được năng lực quản lý
sáng tạo và tổng thể đối với đất đai và những tài nguyên khác Singapore đã đầu tư vốn cho
những hiểu biết về điều kiện địa phương để phát triển một thành phố mật độ cao đồng thời
giữ được khoảng xanh và khoảng không gian công cộng Hệ thống giao thông công cộng làm
việc hiệu quả và đảm bảo khả năng tài chính cũng như khả năng kết hợp với việc sử dụng
đất Nhờ vào năng lực quản lý nguồn tài nguyên mang tính tổng thể và tích hợp của
Singapore nên quốc gia đô thị này đã thành công trong việc giải quyết các vấn đề về sinh
thái, kinh tế và xã hội, đồng thời vẫn đảm bảo tính bền vững và năng suất cao
Stockholm của Thuỵ Điển
Thành phố Stockholm, thủ đô Thụy Điển, đã theo đuổi việc quy hoạch và quản lý tích hợp
nhằm trở thành một thành phố bền vững Thành phố có một tầm nhìn đô thị bao quát, các
chương trình môi trường và các kế hoạch hành động cụ thể Thành phố đã thực hiện các biện
pháp quy hoạch đô thị tích hợp đồng thời cân nhắc đến những lợi ích sinh thái và việc sử
dụng tài nguyên hiệu quả
Trang 28CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 24 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
Quá trình tái phát triển hiện tại ở khu vực phía Nam của thành phố, Hammarby Sjöstad, là
một mô hình phù hợp nhằm tăng hiểu biết về các biện pháp tiếp cận tích hợp dành cho quy
hoạch và tái phát triển đô thị bền vững Mục tiêu của khu vực này là sẽ bền vững gấp đôi so
với trường hợp thực tiễn tiêu biểu nhất tại Thụy Điển vào năm 1995 Khu vực này đã tiến
hành quản trị tích hợp các nguồn tài nguyên (rác thải, năng lượng, nước, nước thải) thông
qua quá trình hợp tác có hệ thống giữa các bên liên quan, đồng thời chuyển đổi quá trình
chuyển hóa đô thị tuyến tính thành mô hình tuần hoàn với tên gọi là Mô hình Hammarby
Theo Grontmij AB, một công ty tư vấn tư nhân tại Stockholm, đánh giá ban đầu về những
khu vực phát triển thời kỳ đầu tại Hammarby Sjöstad cho thấy rằng khu vực này, chẳng hạn
như, đã cắt giảm sử dụng từ 28 đến 42% nguồn năng lượng không thể tái chế và giảm từ 29
đến 37% nguy cơ ấm lên toàn cầu
Stockholm đã cho thấy khả năng lãnh đạo tuyệt vời về quy hoạch và thực thi chiến lược phát
triển đô thị bền vững Biện pháp tiếp cận một hệ thống của thành phố lên việc sử dụng nguồn
tài nguyên là một thành công Ngoài ra, Hammarby Sjöstad đã áp dụng công cụ hồ sơ sơ
lược về gánh nặng môi trường (ELP – Environmental Load Profile) nhằm đánh giá và giám
sát công việc liên quan đến môi trường trong dự án phát triển
Các biện pháp tiếp cận của Stockholm đối với việc phát triển bền vững
Stockholm theo đuổi chính sách phát triển bền vững tổng quát Vào năm 2007, thành phố đã
chấp thuận một dự án chiến lược, tên là Tầm nhìn 2030, giúp vẽ nên con đường phát triển để
cải thiện quá trình phát triển đô thị bền vững Dự án này cho thấy rằng, tính đến năm 2030,
dân số Stockholm sẽ tăng thêm hơn 1 triệu người, trong khi khu vực Stockholm rộng lớn hơn
sẽ tăng thêm gần 3,5 triệu người Dự kiến thành phố sẽ phải đối mặt với những yêu cầu mới
từ toàn cầu hóa, thăng trầm thương mại, di dân và tăng số người già cũng như những thách
thức môi trường Dựa trên dự án Tầm nhìn 2030 và những chiến lược khác, Stockholm đã
chấp thuận một biện pháp tiếp cận dành cho việc phát triển đô thị, nhận định về mức độ
chiến lược và trình độ địa phương
Phù hợp với Tầm nhìn 2030, Chương trình Môi trường Stockholm đã lập ra những mục tiêu
và nguyên tắc môi trường cho giai đoạn 2008-11: (1) giao thông hiệu quả đối với môi
trường, (2) hàng hóa chất lượng tốt và các công trình xây dựng tránh được những vật chất
nguy hiểm, (3) sử dụng năng lượng bền vững, (4) sử dụng đất và nước bền vững, (5) xử lý
nước với mức tác động môi trường tối thiểu và (6) một môi trường trong nhà trong lành
Ngoài ra, Stockholm cũng đã thực thi những chương trình hành động về khí thải nhà kính và
biến đổi khí hậu Những kế hoạch này kêu gọi hợp tác từ những tổ chức công, tư và những cá
nhân sinh sống và làm việc tại thành phố Người ta đã tiến hành nhiều biện pháp, bao gồm
việc áp dụng nhiên liệu sinh học, mở rộng quản lý nguồn nhiệt và hệ thống làm mát trên toàn
Trang 29CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 25 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
bộ khu vực cũng như thúc đẩy hành vi lái xe thân thiện hơn với môi trường Kết quả là lượng
khí thải nhà kính đã giảm từ 5,3 tấn xuống còn 4 tấn CO2 từ năm 1990 đến 2005 Thành phố
cũng nhận ra tầm quan trọng của hiệu quả năng lượng nhằm giảm lượng khí thải và ngăn
chặn biến đổi khí hậu, nhưng cũng ưu tiên hiệu quả về chi phí trong quá trình bảo tồn nguồn
tài nguyên Sáng tạo những cách thức để thu hút các bên liên quan vào những hành động đảm
bảo bền vững môi trường và kinh tế vẫn là một thách thức Mục tiêu dài hạn của Stockholm
là hoàn toàn không sử dụng nhiên liệu hóa thạch vào năm 2050
Các biện pháp tiếp cận đối với phát triển đô thị
Phát triển đô thị bền vững rõ ràng là một mục tiêu quan trọng Stockholm có thể dễ dàng hơn
trong việc thực thi biện pháp sử dụng đất và các kế hoạch giao thông tích hợp và bền vững
bởi vì thành phố đã từng sử dụng quyền lực thực chất đối với quy hoạch sử dụng đất và
quyền sở hữu đất Năm 1904, Stockholm đã bắt đầu mua đất để phát triển trong tương lai
Kết quả là khoảng 70% đất đô thị thuộc về thành phố Tỉ lệ sở hữu đất lớn của thành phố đã
ngăn chặn việc đầu cơ đất của những nhà phát triển và nhà đầu tư, đồng thời trao quyền quy
hoạch và thực thi phát triển cho thành phố Do đó thành phố có được một nền tảng vững chắc
để phát triển Chủ đầu tư xây dựng các cao ốc và nhà cửa trên diện tích đất công phù hợp với
quy hoạch của thành phố Do đường phố công cộng dễ dàng được bảo đảm, việc phát triển
giao thông đã trở nên dễ dàng, đồng thời cũng khuyến khích phát triển xung quanh các trạm
giao thông Hiện nay, lợi ích từ phát triển đã quay về chính quyền địa phương thông qua việc
quy hoạch tại những khu vực đô thị mới Ngoài ra, công viên và khoảng xanh đã che phủ
40% diện tích đất tại Stockholm và người dân cũng được tận hưởng một môi trường mang
đậm chất sinh thái
Nhằm thúc đẩy phát triển bền vững, chiến lược quy hoạch của Stockholm hướng đến việc gia
tăng mật độ thông qua phát triển các khu đất bỏ hoang (đất đã sử dụng) trong thành phố
trước khi phát triển bất kỳ khu đất chưa sử dụng nào ở ngoại ô Đây là mục tiêu chung của
quy hoạch sử dụng đất tổng quát được hội đồng thành phố chấp thuận vào năm 1999
Chiến lược phát triển của Stockholm
Tái sử dụng đất đã phát triển (đất bỏ hoang)
Xác định vị trí cho những công trình phát triển mới tại những khu vực tiếp cận
giao thông công cộng dễ dàng
Tôn trọng và cải thiện đặc tính của thành phố, chẳng hạn như quang cảnh
thành phố, môi trường đã định hình và cấu trúc khoảng xanh
Tái phát triển khu vực bán trung tâm và chuyển đổi những khu vực công
nghiệp thành đô thị có mục đích sử dụng đa dạng
Trang 30CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 26 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
Tạo dựng những điểm trọng tâm ở khu ngoại ô
Đáp ứng yêu cầu của địa phương
Phát triển không gian công cộng
Những khu vực hải cảng và công nghiệp manh mún, lâu đời (đất bỏ hoang) liền kề với thành
phố đang được tái sử dụng và tái phát triển, vốn là một phần trong chiến lược phát triển
thành phố Nhiều khu vực phát triển chiến lược kể trên được kết nối trực tiếp với một hệ
thống xe điện nhanh mới, đồng thời cũng tiếp cận trực tiếp với những hệ thống giao thông
công cộng khác như đường tàu điện ngầm Các khu vực này có đặc tính riêng biệt bởi vì
chúng thường tọa lạc gần với những nguồn nước và khu vực tự nhiên Một số khu vực được
xây dựng trong nhiều năm và sẽ cung cấp nhà ở, vốn là một phần trong các chương trình nhà
ở của thành phố Những khu vực khác đều đang ở bước lập quy hoạch Những khu vực này
nhắm đến việc phát triển tổ hợp với nhiều tiện ích kinh doanh và nhà ở lôi cuốn; những công
trình trên sẽ tạo thêm không khí đô thị cho những khu vực trước đây là ngoại ô
Hammarby Sjöstad, vốn là một trong những khu vực tái phát triển thời kỳ đầu và vẫn đang
tiếp tục tiến hành, là một khu vực mang tính chứng minh với đầy đủ quy mô Khu vực này
cho thấy một ví dụ về biện pháp phát triển đô thị tích hợp, minh họa cho các giải pháp hệ
thống, công nghệ hiện đại, quan tâm đến môi trường và hợp tác năng động liên khu vực
Hammarby Sjöstad
Dự án tái phát triển đang thực hiện dành cho Hammarby Sjöstad – tên gọi của khu vực có
nghĩa là “thành phố trên hồ Hammarby” – được tiến hành trên một khu đất bỏ hoang vốn
trước kia là hải cảng và khu công nghiệp, tọa lạc ở phía Nam hồ Hammarby và nằm ở phía
Nam trung tâm thành phố Mục tiêu của dự án là mở rộng khu nội đô thành một môi trường
sông nước, trong khi đó chuyển đổi một khu công nghiệp cũ kỹ thành một vùng ngoại vi hiện
đại, bền vững, sử dụng đa mục đích Người ta sẽ loại bỏ ô nhiễm đất bằng cách thải loại dầu,
nhớt và kim loại nặng Hệ sinh thái sẽ được tái sinh, đồng thời tài nguyên sinh thái hiện hữu,
bao gồm cây cối và công viên, sẽ được bảo tồn Quá trình tái phát triển sẽ giải phóng giá trị
của khu đất và các bất động sản bằng cách tái sinh khu đất bỏ hoang Ngoài ra, một khu vực
từng bị chia nhỏ sẽ được cải thiện, đồng thời khoảng 11.000 cư dân mới và 200.000 km2 khu
văn phòng và dịch vụ mới sẽ được tạo lập
Tầm nhìn và ý tưởng đô thị cho khu vực mới nêu trên đã hình thành từ đầu thập niên 1990
Phần mở rộng tự nhiên ở khu vực thuộc nội đô Stockholm hướng đến bờ sông đã ảnh hưởng
đến thiết kế nhà cửa và cơ sở hạ tầng trên quy hoạch Hammarby Sjöstad đã thêm một lớp
mới vào quá trình phát triển của Stockholm: một khu vực hiện đại, bán mở rộng, bao gồm
một tổ hợp các khối nhà nằm trong chu vi truyền thống của thành phố cùng với các khu đô
Trang 31CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 27 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
thị mở rộng và mang tính đương đại Quy mô đường phố nội đô, chiều dài các khối nhà,
chiều cao xây dựng và mật độ được hài hòa hóa và tạo nên vẻ mở rộng, cung cấp ánh sáng,
công viên và hướng nhìn ra sông nước
Hồ sơ sơ lược về Hammarby Sjöstad
Hammarby Sjöstad
Một khu vực nằm ở phía Nam thành phố Stockholm
Tổng diện tích: 200 ha, bao gồm 50 ha mặt nước
Dân số dự kiến: 25.000 người
Dự báo lượng căn hộ: 11.000 căn
Dự báo diện tích thương mại và văn phòng: 200.000 km2
Là một trong ba khu vực tuần hoàn sinh thái ở Stockholm: Hammarby Sjöstad,
Östberga và Skärholmen
Dự kiến có khoảng 35.000 người sẽ sinh sống và làm việc tại khu vực này
Hiện nay, đã hoàn tất quá nửa quá trình phát triển và dự kiến khu vực này sẽ
hoàn toàn phát triển vào năm 2017
Khu dân cư tại Hammarby Sjöstad
Trang 32CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 28 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
Quang cảnh thành phố Hammarby Sjöstad
Khu vực này cũng kết nối hoàn chỉnh với đường xe điện công cộng Theo một cuộc khảo sát
năm 2005, hai phần ba chuyến đi của cư dân đều bằng phương tiện giao thông công cộng, xe
đạp và đi bộ, một phần ba còn lại là xe hơi Lượng di chuyển bằng phương tiện giao thông
công cộng, bằng xe đạp và đi bộ đã giúp giảm lượng khí thải xe hơi và các loại khí nhà kính
liên quan Người ta khuyến khích sử dụng đất đa mục đích, đồng thời chính sách đất đai lại
đòi hỏi những tầng trệt dọc theo con phố chính cần được sử dụng cho mục đích thương mại
Điều này khuyến khích mọi người đi bộ và đạp xe để thăm thú đường phố với những cửa
hàng sinh động Để lôi kéo các cửa hàng và dịch vụ đến khu vực mới phát triển, thành phố đã
cung cấp nhiều khoản trợ cấp tài chính Ngoài ra, các hoạt động kinh tế tại khu vực này đã
được thiết lập trong những giai đoạn đầu của quá trình phát triển Các thiết kế đô thị và xây
dựng chủ yếu đều nhìn ra sông nước Vô số các thiết kế được kiến tạo bởi nhiều kiến trúc sư
nhằm tạo nên không gian đô thị đa dạng, sống động và đạt chất lượng cao
Stockholm đã thiết kế để Hammarby Sjöstad sẽ trở nên bền vững gấp đôi so với trường hợp
thực tiễn điển hình nhất tại Thụy Điển vào năm 1995 dựa trên một loạt các thông số (chương
trình môi trường được chấp thuận vào năm 1995), nổi bật nhất là tính hiệu quả năng lượng
trên mỗi m2 Tại Thụy Điển, tỉ lệ sử dụng năng lượng bình quân hàng năm ở một số khu vực
mới thông thường là 200 kWh/m2 Những công trình phát triển và điển hình thực tiễn tiên
tiến tại Thụy Điển sản xuất một mức hiệu quả là 120 kWh/m2 Dự án Hammarby Sjöstad
nhắm đến con số 100 kWh/m2 Dự án cũng đặt ra những mục tiêu khác: bảo tồn nguồn nước,
cắt giảm và tái chế rác thải, giảm lượng khí thải, giảm sử dụng vật liệu xây dựng nguy hại, sử
dụng những nguồn năng lượng tái chế và áp dụng các giải pháp vận tải tích hợp Stockholm
hiện đã là một thành phố bền vững, nhưng hội đồng thành phố kỳ vọng rằng dự án này sẽ
minh chứng cho những bước sáng tạo mới trong quá trình phát triển đô thị bền vững
Mô hình Hammarby
Trang 33CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 29 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
Những mục tiêu môi trường của Hammarby Sjöstad, ban đầu vốn dành cho Ngôi làng
Olympic tại cuộc đấu thầu ở Stockholm cho Thế vận hội mùa hè năm 2004, thực sự táo bạo
Có thể hiểu các giải pháp môi trường tích hợp của khu vực này là một vòng tuần hoàn sinh
thái với tên gọi Mô hình Hammarby Vòng tuần hoàn sinh thái nêu trên giải quyết năng
lượng, rác thải, nguồn nước và nước thải của nhà ở, văn phòng và các công trình thương mại
khác
Mô hình này nỗ lực chuyển đổi một hệ chuyển hóa đô thị tuyến tính, trong đó sử dụng nguồn
tài nguyên đầu vào và thải loại chất thải đầu ra, thành một hệ thống tuần hoàn nhằm tối ưu
hóa việc sử dụng nguồn tài nguyên và tối thiểu hóa chất thải Mô hình này đơn giản hóa hệ
thống cơ sở hạ tầng và dịch vụ đô thị, đồng thời cung cấp một sơ đồ thiết kế để đạt được
những mục tiêu bền vững Ví dụ như, mô hình cho thấy mối tương quan giữa quá trình xử lý
rác thải và cung cấp năng lượng, cách thức giải quyết chất thải và giá trị gia tăng cho xã hội
bằng hệ thống xử lý rác thải và chất thải hiện đại Dưới đây là những điểm nổi bật:
Vật liệu xây dựng: Quá trình cân nhắc về môi trường được áp dụng cho tất cả các loại
vật liệu, được sử dụng ở mặt tiền, ngầm dưới đất hoặc ở phần nội thất Điều này cần
đến tường nhà công trình và các thiết bị đã lắp đặt Chỉ sử dụng các sản phẩm bền
vững và đã được chứng minh là thân thiện với hệ sinh thái Các vật liệu nguy hại tiềm
tàng, như đồng và kẽm, không được sử dụng để tránh rò rỉ những vật chất không
mong muốn vào môi trường
Nguồn nước và nước thải: Nước mưa không được kết nối vào hệ thống nước thải
nhằm cải thiện chất lượng nước thải và nước cống Nước mưa từ đường phố và những
vùng ngoài đô thị được thu gom, lọc bẩn bằng một máy lọc cát và được đưa vào hồ
Điều này giúp giảm bớt áp lực lên nhà máy xử lý nước thải Nước mưa từ những ngôi
nhà và khu vườn xung quanh sẽ chảy theo ống dẫn nước mở rộng để đổ vào kênh đào
Lượng nước này chảy qua một loạt các hồ chứa, được gọi là hồ cân bằng, sau đó chảy
đến hồ nước Hammarby Sjöstad có riêng một nhà máy xử lý nước thải nhằm kiểm
nghiệm công nghệ mới Bốn quy trình mới và khác biệt để tinh lọc nước hiện đang
được kiểm nghiệm
Khí biogas: Khí biogas được sản xuất trong nhà máy xử lý nước thải từ quá trình tiêu
hóa chất thải hữu cơ và nước cống Lượng nước thải từ một căn hộ sẽ sản xuất đủ
lượng khí biogas cho bếp ga gia đình Đa số khí biogas được sử dụng làm nhiên liệu
trong xe hơi và xe buýt thân thiện với hệ sinh thái
Khoảng xanh: Mái nhà được che phủ bằng cỏ cảnh thiên hoặc cây trường sinh trở nên
hấp dẫn Ngoài ra, cây cối cũng hấp thụ nước mưa, nếu không nước mưa sẽ chảy qua
hệ thống nước thải và làm tăng áp lực lên nhà máy xử lý nước thải Ngoài ra, khu
Trang 34CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 30 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
rừng sồi được bảo tồn cẩn trọng tại khu vực này, khoảng xanh và những cây cối khác
cũng giúp thu gom nước mưa thay vì phải dẫn nước vào hệ thống nước thải Lớp thực
vật này cũng đảm bảo không khí được trong lành hơn và cân bằng khung cảnh đô thị
đông đúc
Chất thải: Chất thải dễ cháy, chất thải từ thức ăn, giấy báo và những chất thải khác sẽ
được phân loại và chuyển đến những máng trượt rác khác nhau nằm ở trong hoặc gần
với các tòa nhà Các máng trượt rác kết nối đến các ống chân không ngầm đi đến một
trạm thu gom trung tâm Một hệ thống kiểm soát cao cấp sẽ chuyển rác đến những
thùng chứa lớn hơn, mỗi thùng chứa một loại rác thải Xe thu gom rác sẽ thu gom
những thùng chứa này mà không cần lái xe vào nội đô, đồng thời tránh cho nhân công
thu gom rác phải mang vác nặng nề
Hệ thống sưởi và làm mát toàn khu vực: Nước thải và rác thải sinh hoạt đã qua xử lý
sẽ trở thành nguồn sưởi ấm, làm mát và điện năng Một nhà máy nhiệt điện sử dụng
rác sinh hoạt làm nhiên liệu để sản xuất nhiệt và điện cho toàn khu vực Nước thải từ
nhà máy xử lý sẽ cung cấp nhiên liệu để nhà máy nhiệt Hammarby sản xuất nhiệt sưởi
ấm cho toàn khu vực Được làm mát bởi những đường ống nhiệt, lượng nước thải đã
qua xử lý và làm mát cũng có thể đem sử dụng trong hệ thống làm mát toàn khu vực
Điện năng (năng lượng mặt trời): Năng lượng mặt trời được chuyển đổi thành điện
năng nhờ pin mặt trời Năng lượng từ một khối pin mặt trời riêng lẻ trải rộng trên diện
tích 1 m2 sẽ cung cấp khoảng 100 kWh mỗi năm, tương đương với năng lượng dùng
cho 3 m2 nhà ở Người ta đặt nhiều tấm pin mặt trời đặt trên mái nhà để đun nước
Các tấm pin mặt trời ở những cao ốc căn hộ thường cung cấp đủ năng lượng cho một
nửa lượng nước nóng của tòa nhà đó
Hammarby Sjöstad có Trung tâm Thông tin Môi trường riêng, tên là GlashusEtt Trung tâm
này giúp truyền đạt những cân nhắc liên quan đến môi trường đến cư dân và giới thiệu
Hammarby tới du khách quốc tế
Những tài liệu đánh giá tại những khu vực phát triển thời kỳ đầu ở Hammarby Sjöstad đem
so sánh với một diễn tiến phát triển mang tính tham khảo được mô tả ở biểu đồ 3.22 Kết quả
khá lạc quan: giảm lượng tiêu thụ năng lượng không tái chế từ 28 – 42%, giảm lượng tiêu thụ
nước từ 41 – 46%, giảm nguy cơ ấm lên toàn cầu từ 29 – 37%, giảm lượng phát sinh ozone
quang hóa từ 33 – 38%, giảm nguy cơ a-zít hóa từ 23 – 29%, giảm nguy cơ phì dưỡng từ 49
– 53% và giảm lượng chất thải phóng xạ từ 27 – 40% Bằng việc giám sát gánh nặng môi
trường từ Hammarby Sjöstad, người ta có thể lên kế hoạch áp dụng các biện pháp xã hội và
tài chính mang tính môi trường phù hợp để tiếp tục quá trình phát triển của khu vực, đồng
thời cung cấp những hướng dẫn cho những dự án tương tự
Trang 35CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 31 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
Giai đoạn tiếp theo
Bài học và kinh nghiệm của Hammarby Sjöstad sẽ được xem xét trong quá trình quy hoạch
và thực thi tại các khu vực thành phố mang tính sinh thái mới tại Stockholm Những khu vực
này sẽ sử dụng công nghệ môi trường mới nhất nhằm đáp ứng cho mô hình ý tưởng về thành
phố bền vững Các vấn đề năng lượng, giao thông, lối sống và hành vi sẽ là những yếu tố đặc
biệt quan trọng để quyết định liệu có thể đáp ứng được các mục tiêu của dự án hay không
Tầm nhìn cho khu vực này có thể được tóm tắt vào ba mục tiêu tổng quát như sau:
1 Đến năm 2030, đây sẽ là một khu vực thành phố không sử dụng nhiên liệu hóa thạch
2 Đến năm 2020, lượng khí thải CO2 sẽ được cắt giảm xuống còn 1,5 tấn/người/năm (lượng
khí CO2 tương đương)
3 Khu vực này sẽ trở nên phù hợp với những hệ quả mong đợi của biến đổi khí hậu
Những lĩnh vực trọng tâm của dự án là tiêu thụ và đạt hiệu quả năng lượng, giao thông bền
vững, thích ứng với biến đổi khí hậu, áp dụng mô hình tuần hoàn sinh thái và duy trì lối sống
chất lượng cao Những mục tiêu quan trọng khác bao gồm thực thi một quy trình tổng quát
và tích hợp; liên tục đánh giá và thường xuyên bám sát; đồng thời đánh giá và hợp tác giữa
các tổ chức tư nhân, nhà nước và học thuật liên quan
Bài học của Stockholm
Năng lực lãnh đạo tuyệt vời về quy hoạch và thực thi các chiến lược phát triển đô thị bền
vững đã chứng minh cam kết mạnh mẽ của Stockholm đối với sự phát triển bền vững Thành
công trong một dự án như Hammarby Sjöstad là dựa trên sự hợp tác hiệu quả giữa các bên
liên quan chủ chốt Quy hoạch và quản lý tích hợp thông qua hợp tác có hệ thống giữa các
bên liên quan có thể đem lại những lợi ích thực sự lớn lao hơn qua nhiều thế hệ
Kinh nghiệm của Canada về thành phố sinh thái với hàm lượng carbon thấp
(low-carbon city)
Phát triển thành phố thải ít carbon:
Giải pháp giảm nhẹ hiệu ứng đảo nhiệt
Đáp ứng hiệu ứng đảo nhiệt đô thị, Canada đã thực hiện một số chương trình giảm thiểu tác
động lớn:
(1) Cho sự phát triển mới hoặc các dự án đổi mới đô thị, các tòa nhà và khu vực lân cận có
thể được thiết kế để cân bằng xây dựng cấu trúc với các hình dạng hình học và các đặc
điểm của khu vực (hẻm núi) giữa các tòa nhà,
Trang 36CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 32 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
(2)Bề mặt có màu sáng và các vật liệu bên ngoài ít hấp thụ nhiệt có thể được sử dụng để làm
giảm hấp thu năng lượng,
(3)Một cách tiếp cận sinh thái để giảm thiểu bằng cách sử dụng bề mặt thảm thực vật để hấp
thụ nhiệt bề mặt
Đồng thời, đáp lạivới sự nóng lên toàn cầu và nền kinh tế ít carbon, với sự giúp đỡ của
Quỹ Thiên nhiên toàn cầu, người ta đã nghiên cứu và thực hành thành phố có lượng thải
carbon thấp đang phổ biến ở Canada:
(1) Xây dựng một nền văn hóa công việc từ xa;
(2) Chia sẻ đường bộ và đi xe
(3) Tối ưu hóa vận chuyển;
(4) Tiến hành thêm các hội nghị chính thức;
(5) Thực hiện kỹ thuật số hóa với sản phẩm điện tử và giao dịch điện tử;
(6) Giảm phát thải khí nhà kính
Cơ sở hạ tầng xanh
Cơ sở hạ tầng xanh là một khái niệm mới sử dụng nhiều kỹ thuật cũ, và thường được cho là
mạng kết nối với nhau như rừng, vùng đất ngập nước, đường thủy và sinh thái đất khác để
duy trì các quá trình sinh thái tự nhiên Các tính năng cơ bản của cơ sở hạ tầng xanh ở
Canada chủ yếu phản ánh trong cách bố trí và sắp xếp (phân phối, nhóm, có mối liên hệ với
nhau), các mối quan hệ bên ngoài và tự nhiên (tích hợp, tái tạo), chức năng đặc điểm của
dịch vụ (dịch vụ theo định hướng đáp ứng các yêu cầu sử dụng), và tính linh hoạt (phản ứng
nhạy cảm, đa mục đích, có thể thay đổi) Cơ sở hạ tầng xanh đã cải thiện được lợi ích môi
trường đô thị,cùng với các giá trị kinh tế và xã hội Do đó, quy hoạch cơ sở hạ tầng xanh phải
thực hiện trước khi quy hoạch khu vực đô thị và quy hoạch sử dụng đất, và phối hợp và tích
hợp hiệu quả với quy hoạch phát triển kinh tế, quy hoạch giao thông và các chính sách công
cộng khác
Kế hoạch chiến lược khu vực sống
Nhiệm vụ chính của Kế hoạch chiến lược khu vực sống là để giúp duy trì cuộc sống
trong khu vực và bảo vệ môi trường trong tình trạng tăng trưởng dân số dự kiến Các kế
hoạch chiến lược cho khu vực sống dựa trên bốn chiến lược cơ bản:
(1) Bảo vệ Vùng Xanh,
(2) Xây dựng cộng đồng hoàn chỉnh;
Trang 37CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 33 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
(3) Xây dựng một khu vực dân cư tập trung
(4) Tăng sự lựa chọn vận chuyển
Kế hoạch chiến lược khu vực sống cũng có thể được phản ánh trong Chiến lược Bảo
dạng sinh học mà dựa trên một quan hệ đối tác của chính phủ liên bang, tỉnh, khu vực, tổ
chức nghiên cứu, và nhiều tổ chức phi lợi nhuận Nó sử dụng bản đồ sinh học để xác định
tính đa dạng sinh học tương đối trên khu vực
Kế hoạch của Trung Quốc từ kinh nghiệm của Canada
Phát triển thành phố sinh thái carbon thấp ở Trung Quốc
Thành phố sinh thái với hàm lượng cacbon thấp đã trở thành một mô hình mới, và nó
đã được thiết lập như là các mục tiêu phát triểnThiên Tân,Đường Sơn, Chu Châu, Hợp Phì,
Thâm Quyến, Bảo Bình và thành phố Nhật Chiếu Từ kinh nghiệm của Canada, hoạt động
khả thi cho phát triển thành phố sinh thái có hàm lượng carbon thấp có thể được thực hiện
trong các lĩnh vực sau đây:
(1) Tăng cường tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải các chất ô nhiễm bằng cách sử
dụng chia sẻ xe hơi hợp lý, mạng lưới cho công việc…Đó không chỉ có thể giải quyết
hiệu ứng đảo nhiệt đô thị, mà còn giảm nhẹ xu hướng của sự nóng lên toàn cầu
(2) Hướng dẫn và tối ưu hóa sự phát triển đô thị bằng cách thực hiện Đánh giá Kế hoạch
môi trường chiến lược (PSEA) và quy hoạch phân khu chức năng đô thị sinh thái
(3) Thiết lập khu vực điển hình cacbon thấp, và các chương trình của Canada là một ví dụ
tốt hướng tới chất lượng cuộc sống cao và thành phố dễ sống Thành phố sinh thái
Dongtan trên đảo Chongming ở Thượng Hải mong muốn trở thành thành phố không
carbon đầu tiên trên thế giới Thành phố cảng Thượng Hải, tập trung vào khu vực
cộng đồng carbon thấp, khu công nghiệp và các chương trình khuyến khích carbon
thấp khác của địa phương, cũng cố gắng để phát triển carbon thấp
Cơ sở hạ tầng đô thị xanh ở Trung Quốc
Việc thực hiện các chức năng sinh thái trong quy hoạch cơ sở hạ tầng đô thị và quá
trình phát triển có thể giảm thiểu hiệu ứng tiêu cực trong quá trình đô thị hóa và phát triển
khu vực Cần phải làm nhiều việc có thể cho cơ sở hạ tầng đô thị sinh thái trong các khía
cạnh sau đây:
(1) Tăng tốc xây dựng nước thải nhà máy xử lý đô thị, và cải thiện hiệu quả xử lý
nước thải
(2) Phân loại và sử dụng chất thải rắn đô thị
(3) Giao thông vận tải xanh
(4) Xanh hóa theo định hướng sinh thái
Trang 38CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 34 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
(5) Bảo tồn và phục hồi đa dạng sinh học;
(6) Phục hồi sinh thái của đất thành phố bị bỏ hoang
(7) Kết hợp với các cơ sở hạ tầng xanh vào quy hoạch phát triển
Theo Hướng dẫn về cơ sở hạ tầng xanh cho đô thị Canada: mái nhà xanh, sân vườn,
vỉa hè xốp thấm, đất ngập nước đô thị và đường xanh Nó có thể duy trì tự nhiên chức năng
thủy văn thông qua hấp thụ và sự thâm nhập của lượng mưa, và sau đó làm tốt hơn để phát
triển bền vững Tại Trung Quốc, đô thị xanh có các vấn đề bao gồm lấn chiếm đất xanh, các
loài thực vật đơn lẻ, diện tích cây xanh bình quân đầu người thấp, sự cố của các chức năng
sinh thái Theo đó, với các tài liệu tham khảo kinh nghiệm của Canada, họ có thể thực hiện
ba chiều đô thị xanh đó là tập trung vào những mái nhà xanh, các cách xanh hóa và xanh hóa
trong mỗi gia đình Nó có thể được phổ biến trong phát triển đô thị trong tương lai với việc
lưu trữ nước mưa, làm giảm nhiệt độ, bảo tồn năng lượng và giảm phát thải, cải thiện chất
lượng không khí, giảm tiếng ồn, giảm hiệu ứng đảo nhiệt đô thị
Quy hoạch đô thị sinh thái ở Trung Quốc
Thành phố nên được coi là hệ sinh thái phức tạp trong quy hoạch đô thị là trung tâm
sinh thái Tham khảo Kế hoạch chiến lược khu vực sống của Vancouver, quy hoạch quản trị
(được chia nhiều dòng: dòng màu đỏ, dòng xanh lá cây và dòng xanh dương) của chức năng
sinh thái nên được áp dụng vào đô thị kế hoạch của Trung Quốc :
(1) Dòng đỏ điều khiển chiến lược Tối ưu hóa hình thức không gian: thiết lập bảo vệ
nghiêm ngặt đối với đất nông nghiệp cơ bản; bảo vệ và phục hồi quan trọng khu vực
sinh thái nhạy cảm, hạn chế quy mô của xã hội và hoạt động kinh tế nơi mà các hoạt
động này nhanh hơn năng lực môi trường của khu vực
(2) Dòng xanh cải thiện chiến lược Thông tư kinh tế: chuyển đổi sinh thái trong ngành
công nghiệp được coi như là trung tâm của xã hội, kinh tế và biến đổi nền văn minh,
điều chỉnh và tối ưu hóa cơ cấu công nghiệp, thay đổi chế độ tăng trưởng kinh tế dựa
trên chất lượng cao về đầu vào, tiêu thụ, và phát thải, dẫn đến mô hình phát triển kinh
tế và tiêu thụ bền vững và nâng cao chất lượng phát triển
(3) Dòng xanh dương xây dựng chiến lược bảo đảm an toàn môi trường: để loại bỏ mùi
hôi hoặc nước đen và phục hồi hệ sinh thái thủy sinh; phòng ngừa ô nhiễm nước
Ngoài ra, nên chú ý phát triển phương tiện giao thông công cộng, lập kế hoạch xanh
hóa, lập kế hoạch sức khỏe nơi nhà ở, và khuyến khích đi bộ và đi xe đạp Năng
lượng mặt trời, thông gió tự nhiên, thu gom nước mưa và tái sử dụng cũng cần được
ủng hộ để đạt được các mục tiêu giảm phát thải và phát triển sinh thái ở khu dân cư
Tham gia cộngđồng ở Trung Quốc
Trang 39CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 35 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
Sự tham gia của cộng đồng là những tính năng phổ biến của các đô thị sinh thái và dự
án lowcarbon tại Canada Điểm mấu chốt là các bên liên quan của chính phủ, doanh nghiệp,
và nói chung cộng đồng cùng nhau thúc đẩy các mục tiêu phát triển thành phố carbon thấp
thông qua việc thành lập quan hệ đối tác Chính phủ tối ưu hóa vai trò của mình như là nhà
sản xuất quyết định phát triển đô thị sinh thái carbon thấp trong việc đưa ra quyết định khoa
học hợp lệ, doanh nghiệp hạn chế hoạt động của mình để sản xuất sinh thái; công chúng có
thể hình thành thói quen tiêu thụ carbon thấp cho vấn đề sinh thái
2.6 Tình hình nghiên cứu và xây dựng thành phố sinh thái ở Việt Nam
2.6.1 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Đề tài Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng Khu dân cư sinh thái tại TP.HCM: Nghiên
cứu điển hình cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm (2009) của Sở khoa học và công nghệ do Ths
Lý Khánh Tâm Thảo chủ biên
Đây là một báo cáo khá đầy đủ về việc phát triển khu dân cư sinh thái Trong báo cáo, tác giả
đã đi tổng quan về lý thuyết khu dân cư sinh thái, tìm hiểu đặc điểm khu dân cư hiện hữu ở
TP.HCM về hiện trạng môi trường (nước thải, khí thải, chất thải rắn), hiện trạng sử dụng
nước và năng lượng Từ đó xây dựng mô hình Khu dân cư sinh thái cho TP.HCM, đề ra các
giải pháp quản lý Nhà nước về khung pháp lý và các hành động cần có để phát triển được
khu dân cư sinh thái, nghiên cứu điển hình tại khu đô thị mới Thủ Thiêm Báo cáo là một
hướng đi mới, có thể áp dụng để xây dựng khu dân cư sinh thái – điều mà nước ta hiện nay
đang hướng đến nhằm ngăn ngừa ô nhiễm cũng như sử dụng năng lượng tiết kiệm và tốt hơn
Nội dung của báo cáo:
Tổng quan những nghiên cứu, giải pháp và hiện trạng triển khai KDCST trên
thế giới và tại Việt Nam
- Tổng quan các lý thuyết về khái niệm KDCST, các hướng dẫn về quy trình xây dựng,
lựa chọn mô hình, tiêu chí đánh giá KDCST trên thế giới;
- Tìm hiểu các nhóm giải pháp chính trong xây dựng KDCST, tập trung ở các mảng
quy hoạch, kiến trúc, quản lý nước, quản lý năng lượng, quản lý chất thải rắn;
- Khảo sát, đánh giá sơ bộ thị trường trong nước về những giải pháp xây dựng-môi
trường theo hướng sinh thái
- Nhận định các điều kiện để có thể áp dụng mô hình KDCST, về tự nhiên, quy hoạch,
kỹ thuật-quản lý và chính sách-xã hội;
- Tổng quan một số kinh nghiệm áp dụng mô hình KDCST ở một số trường hợp trên
thế giới;
Trang 40CBHD: PGS TS Phạm Hồng Nhật 36 HVTH: Bùi Quỳnh Mai
- Tổng quan và đánh giá các đề tài nghiên cứu trong nước liên quan đến Thiết kế sinh
thái cho KDC;
Nghiên cứu đánh giá hiện trạng một số khu dân cư tại TP.HCM
- Khảo sát một số KDC hiện hữu thuộc dự án quy hoạch (2 khu) và một số nhà ở hiện
hữu rải rác trong thành phố;
- Đánh giá các số liệu quy hoạch (sử dụng đất, cảnh quan, không gian, hạ tầng kỹ
thuật…), cơ cấu quản lý (tập trung về mặt quy hoạch và môi trường) ở 2 KDC được
quy hoạch đã lựa chọn;
- Đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường ở 2 KDC được quy hoạch;
- Đánh giá và so sánh tổ chức không gian kiến trúc ở 2 KDC được quy hoạch và các
nhà ở hiện hữu rải rác trong Thành phố (về mặt thông thoáng-chiếu sáng-nhiệt liên
quan đến năng lượng);
- Đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động (thói quen sinh hoạt) liên quan đến môi
trường ở các hộ gia đình ở 2 KDC được quy hoạch và các nhà ở hiện hữu rải rác trong
Thành phố;
Nghiên cứu mô hình KDCST đề xuất cho điều kiện TP.HCM
- Tổng quan các điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và pháp lý làm cơ sở cho việc đề
xuất mô hình KDCST phù hợp cho TP.HCM;
- Đề xuất mô hình KDCST phù hợp với các điều kiện khác nhau của Tp.HCM;
- Nghiên cứu đề xuất hệ thống tiêu chí KDCST
Đánh giá khả năng áp dụng các giải pháp xây dựng KDCST tại Khu trung tâm
đô thị mới Thủ Thiêm
- Rà soát hiện trạng sinh thái, môi trường tự nhiên của KĐTM Thủ Thiêm;
- Rà soát những tiêu chí và cơ sở quy hoạch thiết kế KĐTM Thủ Thiêm;
- Nhận định những điều kiện thuận lợi hiện hữu và những giải pháp khả thi trước mắt;
- Nhận định những điều kiện hạn chế và sự thiếu hụt những điều kiện cần thiết cho
những giải pháp tăng cường;
- Nhận định khả năng áp dụng các giải pháp xây dựng KDCST tại Khu trung tâm đô thị
mới Thủ Thiêm trên cơ sở phân tích các điều kiện nêu trên
Đề xuất các giải pháp về quản lý Nhà nước để phát triển KDCST tại TP.HCM