Từ chuyến đi thực tế này, hồn thơ Huy Cận mới thực sự nảy nở trở lại và dồi dào trong cảm hứng về thiên nhiên, đất nước, về lao động và niềm vui trước cuộc sống mới.. “ Đoàn thuyền đán
Trang 1Giáo viên: Nguyễn Thị Phương Liên
Trang 2ĐỒNG CHÍ, CHÍNH HỮU BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH,
PHẠM TIẾN DUẬT
Trang 4Huy Cận
- Huy Cận (1919-2005) tên đầy đủ là
Cù Huy Cận
- Quê: Làng Ân Phú, huyện Vụ
Quang, tỉnh Hà Tĩnh.
- Trước cách mạng tháng Tám ông
nổi tiếng trong phong trào Thơ mới
- Sau cách mạng Huy Cận là một
trong những nhà thơ tiêu biểu của
nền thơ ca hiện đại Việt Nam.
- Ông tham gia cách mạng từ rất
sớm, từng giữ nhiều trọng trách
trong chính quyền cách mạng.
- Năm 1996 ông được trao tặng giải
thưởng Hồ Chí Minh về văn học
nghệ thuật.
Trang 5ĐỜI THƠ HUY CẬN
Trước cách mạng tháng Tám :
- Ông nổi tiếng trong phong trào
Thơ mới với tập Lửa thiêng.
- Hai đặc điểm bao trùm: Cảm
hứng vũ trụ và nỗi sầu nhân thế.
Sau cách mạng tháng Tám:
- Những trang thơ của Huy Cận đã
ấm áp hơi thở cuộc sống.
- Thơ vẫn giàu cảm hứng vũ trụ nhưng tràn đầy niềm vui.
Trang 6*Hoàn cảnh sáng tác:
- Bài thơ được sáng tác vào
4/10/1958, là kết quả của chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh của tác giả Từ chuyến đi thực
tế này, hồn thơ Huy Cận mới thực sự nảy nở trở lại và dồi dào trong cảm hứng về thiên nhiên, đất nước, về lao động và niềm vui trước cuộc sống
mới.
- Bài thơ ra đời vào thời kì miền Bắc
hòa bình bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
*Xuất xứ:
Bài thơ được in trong tập “ Trời
mỗi ngày lại sáng” ( 1958)
Trang 7“ Đoàn thuyền đánh cá của tôi được viết ra
trong những tháng năm đất nước bắt đầu xây dựng CNXH… không khí lúc này thật vui… Tôi viết bài thơ tương đối nhanh, chỉ vài giờ của một buổi chiều trên vùng biển Hạ Long Bài thơ của tôi là cuộc chạy đua giữa con
người và thiên nhiên và con người đã chiến
thắng Tôi coi đây là khúc tráng ca, ca ngợi
con người lao động với tinh thần làm chủ, với niềm vui.”
(Huy Cận, Cuộc đời và sáng tác thơ ca)
Trang 8Mặt trời xuống biển như hòn lửa.
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi.
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng,
Cá thu biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng.
Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng,
Ra đậu dặm xa dò bụng biển,
Dàn đan thế trận lưới vây giăng.
Cá nhụ cá chim cùng cá đé,
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe.
Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long.
ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ
Ta hát bài ca gọi cá vào,
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao.
Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.
Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng,
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng.
Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông, Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.
Câu hát căng buồm với gió khơi, Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời Mặt trời đội biển nhô màu mới,
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi Hồng Gai, 4-10-1958
Trang 9* Chó thÝch:
Cá bạc
Cá song
Cá đé
Cá chim
Cá nhụ
Cá thu
Loài cá cùng họ với cá thu, thân và má có vẩy nhỏ, màu trắng nhạt.
Loài cá biển sống ở tầng mặt nước, thân dẹt hình thoi.
Loài cá mình dẹt, màu bạc, ít vảy.
Còn gọi là cá bẹ, cùng họ với cá chích nhưng lớn hơn.
Thân dài, hơi dẹt
Sống ở gần bờ, thân dày, dài, có nhiều vạch dọc thân hoặc các chấm mà đen,hồng
Trang 10*Bố cục : 3 phần
- 2 khổ thơ đầu: Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi.
- 4 khổ thơ tiếp: Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển đêm.
- Khổ thơ cuối: Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về.
* Thể thơ : Bảy chữ ( thất ngôn)
*Phương thức biểu đạt : Biểu cảm kết hợp miêu tả
-> Bố cục theo trình tự thời gian chuyến ra khơi đánh
cá của đoàn thuyền
Cảm hứng chủ đạo của bài thơ: Cảm hứng về thiên nhiên
và cảm hứng về lao động
Trang 12Mặt trời xuống biển như hòn lửa.
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi.
Câu hát căng buồm cùng gió khơi
- Điểm nhìn nghệ thuật: Từ trên con thuyền đang ra khơi.
- So sánh: Mặt trời - hòn lửa-> Cảnh hoàng hôn trên biển đẹp kì vĩ,
huy hoàng, tráng lệ, rực rỡ, ấm áp.
-Nhân hóa: Sóng- cài then; đêm- sập cửa -> Sóng là then cài, màn
đêm là cánh cửa đang đóng rất nhanh.
> Biển cả như ngôi nhà gần gũi thân thương của người lao động.
- Đoàn thuyền đánh cá-> số đông, có tổ chức như một cuộc ra quân
bề thế ->Khí thế lao động tập thể thật sôi nổi trong cuộc sống mới.
- Từ “lại”-> Hoạt động thường xuyên đã trở thành một nếp sống
quen thuộc của những người ngư dân.
- Câu hát căng buồm cùng gió khơi-> Nhân hóa, ẩn dụ chuyển đổi
cảm giác , gợi liên tưởng độc đáo.
->Không khí lao động hào hứng, phấn chấn, niềm vui niềm lạc quan của những người lao động được làm chủ biển khơi.
lại
Trang 13Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng,
Cá thu biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng.
Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!
- Liệt kê: cá bạc, cá thu
- So sánh : Cá thu biển Đông như đoàn thoi
- Nhân hóa : Đêm ngày dệt biển( biển như tấm lưới được
dệt bởi các loài cá )
-> Ca ngợi biển Đông vừa đẹp vừa giàu có vô cùng vô tận
- Nhân hóa : Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!
-> Gửi gắm ước mơ đánh bắt được nhiều cá và những
chuyến ra khơi thuận lợi, bình yên.
Thảo luận: Nội dung lời hát gửi gắm những tâm tư, tình cảm gì của người lao động? Cách thể hiện có gì đặc biệt?
Trang 14Với bút pháp lãng mạn, giọng thơ hào hùng, lạc quan, các hình ảnh thơ đẹp gợi nhiều liên tưởng sáng tạo độc đáo, hai khổ thơ
đầu bài thơ đã phác họa thành công cảnh đoàn thuyền ra khơi trong niềm vui náo nức của
những người lao động Qua đó, tác giả đã làm hiện lên những
bức tranh thiên nhiên đẹp kì vĩ, huy hoàng, tráng lệ, thể hiện sự hài hòa giữa thiên nhiên với con người đồng thời cho thấy niềm vui, niềm tin yêu của nhà thơ
Huy Cận trước cuộc sống mới, con người mới.
Trang 15Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng,
Ra đậu dặm xa dò bụng biển, Dàn đan thế trận lưới vây giăng.
* Không gian: Gió, trăng, mây cao, biển bằng
*Con thuyền: Lái gió, buồm trăng, lướt
+ Con thuyền vốn nhỏ bé trước biển trời bao la trở thành nên kì vĩ mang tầm vóc vũ trụ.
- Các động từ: Đậu, dò, dàn đan, vây giăng-> Khí thế lao động khẩn
trương, vẻ đẹp khỏe khoắn của những người lao động.
-> Rộng lớn bao la vô cùng vô tận, tưởng như không có giới hạn.
-> Con thuyền có gió làm người lái, có trăng làm cánh buồm đang lướt đi như bay giữa mây trời và sóng nước.
- Bút pháp phóng đại:
+ Chủ nhân của con thuyền- những người lao động trở nên lồng lộng giữa biển trời trong tư thế làm chủ .
- Ẩn dụ: Dò bụng biển-> Tìm luồng cá
Trang 16Với bút pháp lãng mạn, các hình ảnh thơ đẹp
phóng khoáng, thể hiện sự liên tưởng phong phú, độc đáo, khổ thơ thứ ba đã
khắc họa được bức tranh thiên nhiên biển Hạ Long thật kì vĩ trong đó người ngư dân nổi bật với vẻ đẹp khỏe khoắn, tư thế lớn lao hòa nhập tầm vóc vũ trụ, qua đó bộc lộ niềm vui,
niềm tự hào của nhà thơ trước đất nước và cuộc
sống.
Trang 17Yêu biết mấy những con người đi tới
Hai cánh tay như hai cánh bay lên Ngực dám đón những phong ba dữ dội Chân đạp bùn không sợ các loài sên.
( Mùa thu mới, Tố Hữu)
Đi ta đi! khai phá rừng hoang Hỏi núi non cao đâu sắt đâu vàng?
Hỏi biển khơi xa đâu luồng cá chạy?
Sông Đà sông Lô sông Hồng sông Chảy
Hỏi đâu thác nhảy cho điện quay chiều?
( Bài ca mùa xuân 1961, Tố Hữu)
Yêu biết mấy , những bước đi dáng đứng
Của đời ta chập chững buổi đầu tiên
Tập làm chủ tập làm người xây dựng
Dám vươn mình cai quản cả thiên nhiên.
( Mùa thu mới, Tố Hữu)
Trang 19HƯỚNG DẪN VỀ NHÀ
- Học kĩ nội dung bài thơ.
- Chuẩn bị tiết 2 bài Đoàn thuyền đánh cá
- Sưu tầm thơ ca viết về người lao động thời kì miền Bắc hòa bình sau kháng chiến chống Pháp.
- Soạn bài Bếp lửa