1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế tại ngân hàng Standard Chartered.DOC

71 1,3K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế tại ngân hàng Standard Chartered
Trường học Ngân hàng Standard Chartered
Chuyên ngành Quản trị rủi ro
Thể loại chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 336 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế tại ngân hàng Standard Chartered

Trang 1

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nềnkinh tế Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nềnkinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó NHTM thườngchiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng Hoạt độngcủa NHTM rất đa dạng và mang tính rộng khắp, liên quan đến nhiều ngành,nhiều lĩnh vực của nền kinh tế Do phạm vi hoạt động cũng như phạm vi ảnhhưởng rộng khắp như vậy, ngân hàng phải gánh chịu nhiều rủi ro khác nhauliên quan đến các hoạt động kinh tế đó Một số rủi ro đặc thù mà các NHTMthường gặp phải, đó là: rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi

ro hoạt động, rủi ro pháp lý,

Trong tất cả các hoạt động kinh doanh của ngân hàng, cho đến nay hoạtđộng thanh toán quốc tế vẫn là hoạt động kinh doanh quan trọng nhất, manglại phần lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng Tuy nhiên, nó cũng chứa đựngrất nhiều rủi ro Rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế có thể gây ra tácđộng nặng nề đến các hoạt động kinh doanh khác, thậm chí đe doạ sự tồn tạicủa Ngân hàng Chính vì vậy, quản trị rủi ro trong thanh toán quốc tế là mộtcông việc không thể thiếu đối với bất kỳ một Ngân hàng nào

Ngân hàng Standard Chartered là một trong những ngân hàng nướcngoài đã tồn tại ở Việt Nam khá lâu, ngày càng gây dựng được uy tín vàlòng tin đối với khách hàng Là một ngân hàng nước ngoài nên hoạt độngthanh toán quốc tế là một nghiệp vụ quan trọng của SCB Chính vì vậy, việchạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế được đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, đề tài: “Hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế tại ngân hàng Standard Chartered” đã được

lựa chọn làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Trang 3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC

TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1 Khái quát về hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM

1.1 Ngân hàng thương mại và các hoạt động chủ yếu của NHTM

1.1.1 Khái niệm về NHTM

Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nềnkinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương nói riêng Ở cácnền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, mô hình ngân hàng phổ biến là

hệ thống ngân hàng hai cấp : ngân hàng trung ương (Ngân hàng Nhà nước)làm chức năng phát hành tiền, quản lý Nhà nước về mọi hoạt động tiền tệ,tín dụng ngân hàng ; NHTM và các tổ chức trung gian tài chính khác.NHTM thực chất là một doanh nghiệp được thành lập và hoạt động dưới sựkiểm soát, quản lý, điều tiết của ngân hàng Nhà nước, thực hiện kinh doanhtiền tệ tín dụng, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sửdụng tiền gửi để cấp tính dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán

Trong khi nhiều người cho rằng các ngân hàng chỉ đóng một vai trò rấtnhỏ trong nền kinh tế – nhận gửi và cho vay – thì trên thực tế, ngân hànghiện đã phải thực hịên nhiều vai trò mới để có thể duy trì khả năng cạnhtranh và đáp ứng nhu cầu của xã hội Ngày nay, các ngân hàng có những vaitrò cơ bản sau:

- Vai trò trung gian : Chuyển các khoản tiết kiệm, chủ yếu từ hộ gia

đình thành các khoản tín dụng cho các tổ chức kinh doanh và các thành phầnkinh tế khác để đầu tư vào nhà cửa, thiết bị và các tài sản khác phục vụ mụcđích kinh doanh

- Vai trò thanh toán : Thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho

việc mua hàng hóa và dịch vụ ( phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạng lướithanh toán điện tử, kết nối các quỹ và phân phôí tiền )

Trang 4

- Vai trò bảo lãnh : Cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng

không còn khả năng thanh toán ( mất khả năng thanh toán ) : phát hành thưtín dụng – L/C

- Vai trò của một đại lý : Thay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ tài

sản của họ; phát hành hoặc mua lại chứng khoán ( thực hiện tại phòng ủythác )

- Vai trò thực hiện chính sách : Thực hiện các chính sách kinh tế của

chính phủ, góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi các mụctiêu xã hội khác

1.1.2 Các hoạt động chủ yếu của NHTM.

Hoạt động huy động vốn.

Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức cho vay, đầu tư và cungcấp các dịch vụ khác Huy động vốn – hoạt động tạo ra nguồn vốn choNHTM - đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động củangân hàng Hoạt động huy động vốn bao gồm :

- Nhận gửi tiền ( các khoản thanh toán và tiết kiệm ) Ngân hàng bảoquản hộ khách hàng một số tiền và đảm bảo hoàn trả đúng hạn mà kháchhàng yêu cầu cùng với một khoản tiền lãi

- Vay ngân hàng nhà nước và các tổ chức tín dụng khác : đây là nguồn

có tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn huy động của ngân hàng, lãi suất phải trảcho các khoản vay này thường cao hơn các khoản huy động khác, thời gianvay ngắn Tuy nhiên, nguồn này có ưu điểm là có thể đáp ứng kịp thời nhucầu vốn hiện tại của ngân hàng

Hoạt động sử dụng vốn ( hoạt động tín dụng và đầu tư ).

Các ngân hàng hiện nay thực hiện đa dạng các hình thức tín dụng, từcho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, bảo lãnh cho khách, mua các tài sản

để cho thuê

Trang 5

* Hoạt động cho vay.

Hoạt động cho vay gồm :

- Cho vay sản xuất và lưu thông hàng hoá

- Cho vay tiêu dùng

- Tài trợ cho các dự án

* Hoạt động đầu tư.

Hoạt động đầu tư của ngân hàng bao gồm :

- Đầu tư vào chứng khoán

- Hùn vốn mua cổ phần, góp vốn liên doanh : thành lập công ty, gópvốn liên doanh với công ty khác, mua cổ phần để kiểm soát hoạt động củacông ty

- Đầu tư vào tài sản cố định : các loại cơ sở vật chất, trang thiết bị phục

vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Hoạt động thanh toán.

Ngân hàng đưa ra một cơ chế thanh toán, cung cấp các loại tài khoảngiao dịch và thực hiện thanh toán : séc, thẻ tín dụng ( thẻ thanh toán ) …Thông qua hoạt động tài trợ ngoại thương, Ngân hàng đã hỗ trợ chohoạt động xuất nhập khẩu :

- Cung cấp các khoản bảo lãnh hoặc tín dụng : bảo lãnh tín chấp, bảolãnh phát hành L/C, chiết khấu chứng từ hoặc mua lại chứng từ…

- Trung gian thanh toán

- Tư vấn khách hàng :tư vấn trong các giao dịch ngoại thương và đối tác

Trang 6

- Cung cấp khả năng lựa chọn các phương thức thanh toán : thanh toántrước, thanh toán sau, tài khoản mở, nhờ thu, L/C …

Một số hoạt động khác.

- Mua – bán ngoại tệ : Đây là hoạt động mua bán 1 loại tiền này lấy 1 loại

tiền khác và hưởng phí dịch vụ, được xem là 1 trong những dịch vụ ngânhàng đầu tiên của NHTM

- Quản lý ngân quĩ : là việc ngân hàng đồng ý quản lý việc thu chi cho 1

công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vàocác chứng khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cầntiền mặt để thanh toán

- Bảo lãnh : Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho 1 khách hàng rất lớn

và do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của khách hàng ,nên ngân hàng có uy tíntrong bảo lãnh cho khách hàng Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàngcủa mình mua chịu hàng hóa và trang thiết bị,phát hành chứng khoán,vayvốn của tổ chức tín dụng khác

- Bảo quản tài sản hộ

Các ngân hàng thực hiện việc lưu trữ vàng,các giấy tờ có giá và cáctài sản khác cho khách hàng trong két Ngân hàng thường giữ hộ những tàisản tài chính,giấy tờ cầm cố,hoặc những giây tờ quan trọng khác của kháchvới nguyên tắc an toàn,bí mật,thuận tiện

- Cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn

Ngân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ cá nhân

và doanh nghiệp Nhiều khách hàng còn coi ngân hàng như một chuyên gia

tư vấn tài chính Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính,

về thành lập, mua bán, sát nhập doanh nghiệp

- Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm

Trang 7

Từ nhiều năm nay,các ngân hàng đã bán bảo hiểm cho khách hàng,điều đó bảo đảm việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng bị chết,bị tànphế hay gặp rủi ro trong hoạt đông,mất khả năng thanh toán.Ngân hàng liêndoanh với công ty bảo hiểm hoặc tổ chức công ty bảo hiểm con,ngân hàngcung cấp dịch vụ tiết kiệm gắn với bảo hiểm như tiết kiệm an sinh,tiết kiệmhưu trí

1.2 Hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM

1.1.2.1 Khái niệm thanh toán quốc tế

Thanh toán quốc tế là việc thanh toán giữa các nước với nhau về cáckhoản tiền nợ phát sinh từ các quan hệ giao dịch về kinh tế – tài chính – vănhóa – chính trị Chủ thể trong thanh toán quốc tế có thể là pháp nhân hoặc

có thể là chính phủ của các quốc gia có nhu cầu trao đổi ngoại thương

Thanh toán quốc tế là một nghiệp vụ quan trọng, một hoạt động cơ bảntrong nghiệp vụ kinh doanh đối ngoại của NHTM Thanh toán quốc tế hìnhthành và phát triển trên cơ sở các mối quan hệ kinh tế – chính trị – văn hóa –

xã hội giữa các quốc gia với nhau, đồng thời góp phần thúc đẩy các quan hệkinh tế phát triển Hơn nữa, thanh toán quốc tế là yếu tố đánh giá hiệu quảkinh tế của một quốc gia bởi vì nó thúc đẩy hoạt động ngoại thương pháttriển không ngừng, giúp cho các đồng vốn chu chuyển liên tục trên phạm vitoàn cầu Hoạt động thanh toán quốc tế không chỉ phát sinh trên cơ sở cácmối quan hệ thương mại mà còn liên quan đến các hoạt động kinh tế khácnhư chuyển tiền kiều hối, vay nợ nước ngoài, viện trợ ( có hoàn lại hoặckhông hoàn lại ) giữa các tổ chức kinh tế – tài chính và phi kinh tế – tàichính; giữa các quốc gia với nhau

1.1.2.2 Vai trò thanh toán quốc tế của NHTM

Do đặc điểm của thanh toán quốc tế là một quan hệ phát sinh giữa cácchủ thể ở các quốc gia có vị trí địa lý, môi trường, dân cư, phong tục tập

Trang 8

quán khác nhau, bị hạn chế bởi không gian và thời gian, thậm chí mới quenbiết và chưa hiểu rõ, tin tưởng nhau Nếu các chủ thể này tự mình tìm hiểuđối tác, tập quán kinh doanh và thực hiện việc thanh toán mà không cần đếnmột sự giúp đỡ từ bên ngoài thì sẽ mất rất nhiều thời gian, công sức và chiphí Từ đó nảy sinh nhu cầu cần một tổ chức trung gian làm cầu nối, thựchiện thanh toán quốc tế cho các chủ thể này, đó chính là các NHTM Vì vậy,các NHTM có vai trò rất quan trọng trong thương mại quốc tế, điều nàyđược thể hiện ở các mặt sau:

- Cung cấp các khoản bảo lãnh tín dụng hoặc tín dụng: bao gồm bảo lãnh tínchấp, bảo lãnh phát hành L/C, cho vay… đối với nhà nhập khẩu và chiếtkhấu chứng từ xuất khẩu, mua lại chứng từ nhờ thu… đối với nhà xuất khẩu.phép việc thực hiện thanh toán giữa các bên liên quan, đảm bảo an toànnhanh chóng

- Trung gian thanh toán: hệ thống ngân hàng nhanh chóng và chính xác

- Tư vấn: trong bất kì trường hợp nào nếu gặp phải những vấn đề liên quanđến thanh toán trong giao dịch ngoại thương, khách hàng liên quan đều cóthể nhận được những tư vấn tốt từ cán bộ chuyên môn trong các NHTM

- Quản lý rủi ro tín dụng: trong thương mại quốc tế, người mua có thể phảigiao dịch với một người bán mà họ không hề biết, thậm chí kể cả sau khi đã

có công cụ dụng cụ mua bán với nhau, người mua cũng không biết về ngườibán một cách triệt để hoặc tốt hoặc xấu Như vậy người mua và người bánkhông thể nắm bắt chắc chắn về khả năng tài chính, uy tín và khả năng thựchiện trách nhiệm thanh toán của nhau, do đó khó lường trước được nhữngrủi ro có thể xảy ra Với sự giúp đỡ của ngân hàng, người mua và người bán

sẽ yên tâm và tin tưởng hơn vì sẽ loại từ được rủi ro Ví dụ khi ngân hàngphát hành đã thay thế vai trò của người mua để cam kết với người bán rằng

Trang 9

họ sẽ nhận được tiền thanh toán nếu họ chấp hành đúng và đủ các điều kiệnquy định trong L/C.

- Quản lí rủi ro về ngoại hối: Trong thương mại quốc tế người mua và ngườibán ở hai nước khác nhau, nhưng chỉ giao dịch với cùng một loại tiền, họphải đương đầu với những rủi ro về tỷ giá tiền tệ, những rủi ro này sẽ dễdàng loại trừ nếu có sự giúp đỡ của ngân hàng thông qua các nghiệp vụphòng ngừa rủi ro do ngân hàng thực hiện, các hợp đồng mua bán hoặcchuyển đổi ngoại tệ tuỳ theo sự lựa chọn của khách hàng

- Cung cấp khả năng lựa chọn các phương thức thanh toán: hiện nay cácNHTM có thể cung cấp cho khách hàng nhiều phương thức thanh toán quốc

tế khác nhau như: thanh toán trước, thanh toán sau, tài khoản mở, nhờ thu vàL/C Trong tất cả cá phương thức quan trọng này quan trọng nhất là L/C

1.1.2.3 Các phương thức thanh toán quốc tế.

Phương thức thanh toán quốc tế là toàn bộ quá trình, cách thức nhận trảtiền hàng trong giao dịch mua bán ngoại thương giữa người xuất khẩu vàngười nhập khẩu Việc thanh toán hầu hết đều được thực hiện qua Ngânhàng vì chỉ có Ngân hàng mới có đủ năng lực tài chính, nghiệp vụ và antoàn; phát huy tối đa các ưu điểm của các phương thức thanh toán này Kỹthuật nghiệp vụ của NHTM trong thanh toán quốc tế sẽ được thể hiện rõ quacác phương thức thanh toán dưới đây

Phương thức chuyển tiền(Remittance)

a Khái niệm

Chuyển tiền là phương thức thanh toán quốc tế trong đó một kháchhàng (nhà nhập khẩu hay người trả tiền ) yêu cầu ngân hàng phục vụ mìnhchi trả một số tiền nhất định cho một người thụ hưởng tại địa điểm xác định

do khách hàng của ngân hàng yêu cầu và cung cấp thông tin Ngân hàngchuyển tiền đi phải thông qua ngân hàng đại lý của nước người thụ hưởng để

Trang 10

thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền Ở đây, ngân hàng chỉ đóng vai trò trunggian thanh toán, hưởng một tỉ lệ hoa hồng nào đó và sau khi thực hiện thanhtoán thì ngân hàng sẽ không cỏnàng buộc gì với cả người bán lẫn ngườimua.

(2) Người nhập khẩu sau khi kiểm tra hàng hóa và chứng từ sẽ viết lệnhchuyển tiền theo mẫu rồi giao cho ngân hàng phục vụ mình chuyểntiền đi

(3) Ngân hàng kiểm tra tính hợp lệ và khả năng thanh toán của nhà nhậpkhẩu rồi tiến hành trích tiền từ tài khoản của người này để thực hiệnchuyển tiền sau đó báo nợ cho nhà nhập khẩu

(4) Ngân hàng phát lệnh( bằng thư hoặc điện) cho ngân hàng đại lý để họthực hiện chi trả

(5) Ngân hàng đại lý chuyển tiền vào tài khoản cho người thụ hưởnghoặc gửi giấy thông báo

Phương thức nhờ thu ( collection ).

toán.

Trang 11

Nhờ thu là phương thức mà người bán sau khi hoàn thành nghĩa vụ giaohàng hay cung ứng dịch vụ sẽ ký phát hối phiếu đòi tiền nhờ ngân hàng thu

hộ số tiền ghi trên hối phiếu

Trong mối quan hệ này, ngân hàng chỉ tham gia với tư cách là trunggian thanh toán, nhận giữ các chứng từ hàng hóa nhưng không bị ràng buộctrách nhiệm về việc kiểm tra chứng từ nhờ thu hoặc giấy nhờ thu có đượcnhà nhập khẩu chấp nhận và thanh toán hay không

b Qui trình nghiệp vụ

Hoạt động thanh toán quốc tế có hai lọai nhờ thu là nhờ thu phiếu trơn

và nhờ thu kèm chứng từ

- Nhờ thu phiếu trơn ( clean collection ) :

Đây là phương thức mà người bán ủy thác cho ngân hàng thu hộ số tiềnghi trên hối phiếu từ người mua nhưng không kèm theo điều kiện gì .Phương thức tiến hành nghiệp vụ như sau :

(3)(6)

(1)

(1) : nhà xuất khẩu giao hàng và toàn bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu(2) : nhà xuất khẩu ký phát hối phiếu và nhờ ngân hàng phục vụ mình thu

hộ số tiền ghi trên hối phiếu từ nhà nhập khẩu

(3) : ngân hàng bên xuất khẩu chuyển hối phiếu cho ngân hàng bên nhậpkhẩu nhờ thu tiền hộ tư nhà nhập khẩu

Ngân hàng bên bán

Ngân hàng bên mua

Trang 12

(4) : ngân hàng bên nhập khẩu chuyển hối phiếu cho nhà nhập khẩu vàyêu cầu thực hiện thanh toán ( fax hoặc thông báo bằng điện ).

(5) : nhà nhập khẩu thực hiện trả tiền hoặc từ chối thanh toán hối phiếu.(6) : ngân hàng bên nhập khẩu chuyển tiền hoặc trả lại hối phiếu bị từchối thanh toán

(7) : ngân hàng bên bán chuyển tiền hoặc hoàn lại hối phiếu cho nhà xuấtkhẩu

- Nhờ thu kèm chứng từ ( documentary collection ) :

Là phương thức mà nhà xuất khẩu sau khi giao hàng xong sẽ lập bộchứng từ thanh toán nhờ thu ( gồm chứng từ gửi hàng và hối phiếu ) và nhờngân hàng của mình thu hộ với điều kiện là nhà nhập khẩu trả tiền ( hoặcchấp nhận thanh toán ) thì ngân hàng mới giao toàn bộ chứng từ đó cho nhànhập khẩu để họ nhận hàng

Có hai loại phương thức nhờ thu kèm chứng từ:

+ Nhờ thu trả tiền đổi chứng từ (D/P) :sử dụng trong trường hợp mua –bán trả tiền ngay

+ Nhờ thu chấp nhận đổi chứng từ ( D/A) :sử dụng khi mua – bán chịu

(1) : HĐTM giữa nhà XK – NK (2) : Hàng lưu chuyển

Ngân hàng người nhập khẩu

Nhà Nhậ p Khẩu

Trang 13

Phương thức tín dụng chứng từ ( documentary credits ).

a Khái niệm :

Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ được hiểu “là một thỏa thuận

mà theo đó một ngân hàng ( ngân hàng mở thư tín dụng ), theo yêu cầu từkhách hàng của mình( người xin mở thư tín dụng ) cam kết sẽ thanh toánmột số tiền nhất định cho bên thứ 3 ( bên thụ hưởng) hoặc chấp nhận hốiphiếu do người thứ 3 ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người thụ hưởngxuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quiđịnh đề ra trong thư tín dụng

b Quy trình nghiệp vụ

(3) (5) (6) (8) (1) (7)

(2)(5)(6)

(1): Dựa trên hợp đồng thương mại, người mua làm đơn xin và yêu cầu được

mở L/C cho nhà xuất khẩu hưởng

(2) Căn cứ vào đơn xin mở L/C, ngân hàng tiến hành mở L/C và thông báonội dung L/C cho người bán biết và gửi bản chính của L/C cho người bánthông qua ngân hàng thông báo

(3) Ngân hàng thông báo tiến hành thông báo nội dung L/C và chuyển bảnchính L/C cho nhà xuất khẩu

Nhà xuất khẩu

Ngân hàng thông báo

Nhà nhập khẩu

Trang 14

(4) Nhà xuất khẩu khi chấp nhận L/C sẽ giao hàng cho nhà nhập khẩu; nếukhông sẽ yêu cầu nhà nhập khẩu và ngân hàng mở L/C sửa đổi nội dung L/Ctheo yêu cầu.

(5) Nhà xuất khẩu lập chứng từ thanh toán và xuất trình cho ngân hàng mởL/C thông qua ngân hàng thông báo để đòi tiền

(6) Ngân hàng mở L/C kiểm tra bộ chứng từ thanh toán, nếu phù hợp sẽ trảtiền, nếu không sẽ từ chối thanh toán và gửi trả bộ chứng từ trên

(7) Ngân hàng mở L/C đòi tiền nhà nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ chohọ

(8) Nhà nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ và tiến hành trả tiền Nếu khônghợp lệ sẽ từ chối thanh toán và gửi trả chứng từ

Phương thức ghi sổ hay tài khoản mở.( open account)

Phương thức ghi sổ hay tài khoản mở là cách mà người xuất khẩu khixuất khẩu hàng hóa – dịch vụ thì sẽ ghi nợ cho người nhập khẩu, theo dõivào cuốn sổ này và việc thanh toán các khoản nợ sẽ được thực hiện vào mộtthời kì nhất định

Theo phương thức này, điều thuận lợi cơ bản là rất đơn giản và chi phíthấp, linh hoạt trong việc qui định ngày thanh toán cụ thể Tuy nhiên, rủi rocao cho nhà xuất khẩu vì có thể vốn bị ứ đọng do đối tác chậm thanh toántiền hàng đã giao Mặt khác, sự thỏa thuận này không có công cụ làm bằngchứng về những giao ước hay cam kết giữa các bên nên rủi ro mất tiền là rấtcao

Phương thức chuyển tiền bồi hoàn bằng điện(telegraphic transfer Reimbusement-TTR)

a Khái niệm

Hình thức này cũng buộc người mua mở L/C như bình thường, khingười bán xuất trình bộ chứng từ cho ngân hàng thông báo, ngân hàng sẽ

Trang 15

kiểm tra nếu thấy bộ chứng từ phù hợp với L/C thì sẽ trả tiền ngay cho ngườibán Ngươi xuất khẩu sẽ nhận được tiền hàng sớm, chỉ độ vài ngày Sau đóngân hàng thông báo sẽ chuyển chứng từ cho ngân hàng mở L/C và ngânhàng này sẽ hoàn tiền bằng điện cho ngân hàng thông báo.

(2) Người xuất khẩu xin mở L/C thanh toán theo phương thức TTR

(3) Ngân hàng mở L/C gửi cho ngân hàng thông báo một L/C với TTR(4) Ngân hàng nhận L/C thông báo cho người xuất khẩu biết

(5) Người xuất khẩu giao hàng hoá cho người nhập khẩu

(6) Người xuất khẩu trình bộ chứng từ hàng hoá, xin thanh toán

(7) Ngân hàng thông báo thanh toán ngay cho người xuất khẩu khi chứng

Trang 16

(10) Ngân hàng mở L/C báo cho người nhập khẩu đến thanh toán tiềnhàng

(11) Sau khi người nhập khẩu kiểm tra chứng từ và thanh toán thì ngânhàng mở L/C giao cho người nhập khẩu bộ chứng từ để đi nhận hàng

1.2 Rủi ro trong thanh toán quốc tế của NHTM

1.2.1 Khái niệm về rủi ro trong thanh toán quốc tế

1.2.1.1 Khái niệm về rủi ro

Theo định nghĩa truyền thống thì rủi ro chỉ là những sự kiện xảy ra cóthể làm mất mát tài sản hay làm phát sinh một khoản nợ, còn theo quan điểmhiện đại thì rủi ro bao hàm nghĩa rộng hơn, không chỉ tính đến rủi ro tàichính mà còn là những rủi ro ảnh hưởng đến mục tiêu hoạt động và mục tiêuchiến lược Như vậy, rủi ro là sự việc xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của conngười, đem lại những hậu quả mà người ta không thể dự đoán được

Đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng thì ngân hàng ra đời và phát triểngắn liền với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế hàng hoá để giải quyếtnhu cầu phân phối vốn, nhu cầu thanh toán…, phục vụ cho phát triển, mởrộng sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế, cá nhân với đặc thù kinhdoanh trên lĩnh vực tiền tệ Vì vậy, hoạt động ngân hàng chứa đựng nhiềutiềm ẩn rủi ro mà chúng ta khó có thể lường trước được Nguyên nhân củanhững tiềm ẩn rủi ro này là do ngân hàng là một trung gian tài chính, huyđộng vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế với lãi suất thấp, sau đó cho các tổ chứckinh tế, cá nhân vay lại với lãi suất cao hơn để thu lợi nhuận Nếu ngân hàngkhông đáp ứng đủ vốn cho nền kinh tế hoặc huy động đủ vốn nhưng không

có thị trường để cho vay thì ngân hàng hoạt động kém hiệu quả, sẽ dẫn đếnrủi ro

Trang 17

Hoạt động kinh doanh ngân hàng rất nhạy cảm, có liên quan đến nhiềulĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, chịu sự tác động của nhiều nhân tốkhách quan và chủ quan như kinh tế, chính trị, xã hội … gây ra những thiệthại không nhỏ cho ngân hàng Hơn nữa, ngân hàng kinh doanh không chỉhuy động vốn và cho vay mà còn rất nhiều lĩnh vực khác như thanh toán,bảo lãnh, kinh doanh ngoại hối, chứng khoán, góp vốn liên doanh, dịch vụthẻ đại lý … Vì vậy có thể nói rằng rủi ro ngân hàng rất đa dạng Ngoài ra,các ngân hàng đang hoạt động trong cơ chế thị trường có sự cạnh tranh khốcliệt giữa các ngân hàng với nhau và với các tổ chức tín dụng, dẫn đến việccạnh tranh về lãi suất để huy động được vốn, làm cho lãi suất huy động vốncao hơn lãi suất cho vay cũng là một trong những nguyên nhân gây ra rủi rocho ngân hàng.

1.2.1.2 Rủi ro trong thanh toán quốc tế

Rủi ro trong thanh toán quốc tế là rủi ro phát sinh trong quá trìnhthanh toán giữa các bên trong giao dịch quốc tế (nhà nhập khẩu, nhà xuấtkhẩu, ngân hàng, các tổ chức cá nhân, trung gian có liên quan ) Rủi rothanh toán quốc tế cũng tương tự như rủi ro thanh toán nội địa nhưng phứctạp và khó kiểm soát hơn do trong giao dịch quốc tế, các chủ thể ở cách xanhau, thậm chí còn chẳng biết mặt nhau, cũng như sự khác biệt về văn hóa,phong tục tập quán, luật pháp giữa các quốc gia… làm tăng thêm các khókhăn liên quan đến giao dịch thương mại quốc tế, trong đó có thanh toánquốc tế

1.2.2 Rủi ro của NHTM trong thanh toán quốc tế

Do kinh doanh ngân hàng là một loại hình kinh doanh đặc biệt, vì vậynhững rủi ro trong hoạt động ngân hàng cũng mang tính đặc thù Hoạt động

Trang 18

kinh doanh ngân hàng nói chung thường phải đối mặt với những rủi ro saudây:

1.2.2.1 Rủi ro tín dụng:

Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu đượcđầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãikhông đúng kỳ hạn Trong phương thức tín dụng chứng từ, ngân hàng có thểđóng vai trò là ngân hàng phát hành, ngân hàng xác nhận, ngân hàng chiếtkhấu hoặc ngân hàng thông báo Dù ở bất cứ vai trò nào thì trong phươngthức tín dụng chứng từ, ngân hàng cũng đều gặp những rủi ro nhất định:

+ Đối với ngân hàng phát hành

Rủi ro tín dụng đối với ngân hàng phát hành là việc không thu đượchoặc thu không đầy đủ từ nhà nhập khẩu số tiền có giá trị bằng giá trị số tiền

mà ngân hàng đă bỏ ra thanh toán cho nhà xuất khẩu Các trường hợp xảy rarủi ro tín dụng:

Rủi ro trong tín dụng thế chấp hàng nhập khẩu Đây là rủi ro thườnggặp khi nhà nhập khẩu dùng số hàng nhập khẩu để thế chấp nó rất khó đểcác ngân hàng đánh giá giá trị của lô hàng này hoặc việc phá bỏ hợp đồngcủa nhà nhập khẩu Có thể tóm tắt rủi ro sảy ra như sau: nhà nhập khẩu xin

mở L/C nhưng khi ngân hàng thanh toán cho nhà xuất khẩu và lấy chứng từgửi hàng, nhà nhập khẩu không lấy chứng từ để lĩnh hàng và dĩ nhiên làkhông trả tiền cho ngân hàng Rủi ro xảy ra khi ngân hàng cho khách hàngvay ký quỹ mở L/C cũng như thanh toán hàng nhập khẩu mà bảo đảm chính

lô hàng đó Ngân hàng phải bán lô hàng đó và luôn bị lỗ do các lý do: Ngânhàng không phải là nhà kinh doanh nhập khẩu; Hàng nhập khẩu có khi phảichế biến mới bán được; sự giảm chất lượng do nhiêu yếu tố tác động

Trang 19

Rủi ro trong tín dụng bảo lãnh trả chậm: Cần phải hiểu chữ tín dụngtheo nghĩa rộng hơn, nó không chỉ là khoản tiền mà ngân hàng cho kháchhàng vay mà nó còn có cả tín dụng bằng chữ ký tức là vay bằng uy tín củamình Theo nguyên tắc khi khách hàng vay thì phải có một khoản ký quỹnhất định song ngân hàng ngân hàng cũng có thể cho khách hang một khoảntín dụng bằng lời hứa trả của khách hàng khi tiền ký quỹ không đủ Rủi roxảy ra khi nhà nhập khẩu không thanh toán ctiền hàng khi đến hạn thanhtoán cho ngân hàng.

+ Đối với ngân hàng xác nhận

Hoạt động tín dụng còn thể hiện trong mối quan hệ giưa ngân hàngxác nhận và ngân hàng mở thư tín dụng Trong trường hợp ngân hàng mởthư tín dụng là ngân hàng nhỏ, ít có danh tiếng hoặc ítcó giao dịch với ngânhàng thông báo Nói cách khác, ngân hàng xác nhận đã cung cấp tín dụngcho ngân hàng mở L/C

Rủi ro xảy ra đối với ngân hàng xác nhận là khi không nắm đượcnăng lực tài chính của ngân hàng mở đã vội xác nhận theo yêu cầu của họ đểrồi ngân hàng xác nhận phải lấy trách nhiệm thanh toán thay cho ngân hàng

mở khi ngân hàng mở thiếu thiện trí hay mất khả năng thanh toán, thậm chíphá sản

+ Đối với ngân hàng chiết khấu và ngân hàng hoàn trả thì rủi ro tíndụng xảy ra khi không thu được khoản tiền mà trước kia đã thanh toán hoặc

đã chiết khấu cho nhà nhập khẩu

+ Đối với ngân hàng thông báo đôi khi đóng vai trò của cả ngân hàngxác nhận, ngân hàng chiết khấu Rủi ro tín dụng cho ngân hàng thông báokhi cho vay tài trợ xuất nhập khẩu mà không thu hồi được vốn Ngoài ra

Trang 20

trong nghiệp vụ chiết khấu bộ chứng từ cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro Trườnghợp ngân hàng phát hành không chịu trả tiền cho ngân hàng thông báo mặc

dù nhà nhập khẩu đã thanh toán tiền rồi Trường hợp này ít xảy ra tuy nhiên

để đảm bảo an toàn ngân hàng chỉ thông báo với ngân hàng mở quen biết, có

uy tín hoặc phải ký quỹ

1.2.2.2 Rủi ro lãi suất: thể hiện rủi ro lỗ tiềm tàng của một Ngân hàng do

các biến động của lãi suất Rủi ro lãi suất có thể có một số hình thức khácnhau như: rủi ro xác định lại lãi suất, rủi ro đường cong lãi suất thay đổi, rủi

ro tương quan lãi suất, và rủi ro quyền chọn đi kèm

1 2.2.3 Rủi ro thanh khoản:

Rủi ro thanh khoản phát sinh khi những người gửi tiền đồng thời cónhu cầu rút tiền gửi ở ngân hàng ngay lâpj tức Trong những trường hợp nhưvậy, ngân hàng phải di vay bổ sung nguồn vốn thanh toán hoặc phải bán tàisản có của mình để đáp ứng nhu cầu rút tiền của người gửi tiền Trong cơcấu tài sản có thì tiền mặt có độ thanh khoản cao nhất, do đó trước hết ngânhàng sử dụng tiền mặt để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng Bởi vìtiền mặt tại quỹ không mang lại thu nhập lãi suất, cho nên trong nhữngtrường hợp bình thường, ngân hàng chỉ duy trì một lượng tiền mặt ở mức tối

ưu đủ để đáp ứng các nhu cầu rút tiền thường xuyên của người gửi tiền màkhông gây ảnh hưởng đến độ thanh khoản của ngân hàng Ngân hàng có thểlàm được điều này, vì qua kinh nghiệm công tác ngân quỹ hàng ngày, ngânhàng có thể dự tính chính xác nhu cầu rút tiền gửi hàng ngày và trong trườnghợp thiếu hụt tiền mặt tạm thời thì ngân hàng chỉ cần đi vay bổ sung mộtcách thông thường trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng

Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, ngân hàng có thể phảiđối mặt với rủi ro thanh khoản, ví dụ như trong tình huống dân chúng mất

Trang 21

lòng tin vào ngân hàng, hoặc nhu cầu rút tiền có tính chất thời vụ mà ngânhàng không dự tính trước được, đòi hỏi ngân hàng phải chi trả tức thời mộtkhoản tiền lớn hơn mức bình thường Trong bối cảnh đó, hầu hết các ngânhàng đều đang phải đối phó với tình huống tương tự, thì chi phí để huy độngvốn bổ sung tăng lên một cách đáng kể do lượng vốn cung ứng trên thịtrường giảm Hậu quả là ngân hàng phải bán một số tài sản có độ thanhkhoản thấp để đáp ứng nhu cầu rút tiền của người gửi Điều này khiến chongân hàng gặp phải rủi ro thanh khoản nghiêm trọng và ngân hàng buộc phảibán gấp ngay cả những tài sản khó chuyển nhượng với giá rẻ Do bán khẩncấp một số tài sản với giá thấp khiến cho khả năng thanh toán cuối cùng củangân hàng bị đe dọa Trong trường hợp rủi ro thanh khoản ngày càngnghiêm trọng, nếu tất cả những người gửi tiền đồng loạt yêu cầu ngân hàngchỉ trả toàn bộ tiền cảu họ thì ngân hàng sẽ phải đối mặt với rủi ro phá sản.

1.2.2.4 Rủi ro ngoại hối: Một xu hướng đang phát triển mạnh mẽ trong hoạt

động của các ngân hàng hiện đại là việc mở rộng các nghiệp vụ ngoại hối.Rủi ro ngoại hối phát sinh khi có sự chênh lệch về kỳ hạn, về loại tiền tệ củacác khoản ngoại hối nắm giữ, vì thế làm cho Ngân hàng có thể phải gánhchịu thua lỗ khi tỷ giá ngoại hối biến động

1.2.2.5 Rủi ro công nghệ và hoạt động:

Rủi ro công nghệ phát sinh khi những khoản đẩu tư cho phát triểncông nghệ không tạo ra được khoản tiết kiệm trong chi phí như đã dựtính khi

mở rộng qui mô hoạt động Tính không hiệu quả trong đầu tư công nghệ củangân hàng phát sinhtrong trường hợp, ví dụ, dung lượng đầu tư quá lớn dẫnđến công nghệ không sử dụng đến và hậu quả là tổ chức bộ máy trở nênquan liêu, kém hiệu quả, hoặc là qui mô hoạt động không được mở rộng mặc

dù đã đầu tư công nghệ mới Rủi ro về công nghệ có thể gây nên hậu qủ làkhả năng cạnh tranh của ngân hàng giảm xuống đáng kể và là nguyên nhân

Trang 22

tiềm ẩn cảu sự phá sản ngân hàng trong tương lai Ngược lại, lợi ích từ việcđầu tư công nghệ là tạo cho ngân hàng một sức bật quan trong trong cuộccạnh tranh dữ dội trên thương trường và đồng thời cho phép ngân hàng pháttriển các sản phẩm mới, tiên tiến, hiện đại giúp cho ngân hàng tồn tại và pháttriển bền vững.

Rủi ro hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với rủi ro công nghệ và cóthể phát sinh bất cứ khi nào nếu hệ thống công nghệ bị trục trặc hoặc là khi

hệ thống hỗ trợ bên trong ngừng hoạt động Ví dụ trong giao dịch trên thịtrường liện ngân hàng, ngân hàng có thể là người cho vay hoặc là người đivay Việc thanh toán giữa các ngân hàng diễn ra trong ngày Thông thườngthì hệ thống máy tính của ngân hàng hoạt động hiệu quả, nhưng đôi khi cũngxảy ra trục trặc và do đó rủi ro có thể phát sinh Rủi ro có thể xảy ra khi hệthống máy tính đã xử lý sai khoản đi vay của ngân hàng thành khoản chovay Kết quả là đến cuối ngày, trạngthái tiềncho vay của ngân hàng có thể ởmức cao quá mức, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán cảu ngân hàng

1.2.2.6 Rủi ro pháp lý: Thường tác động tới các Ngân hàng theo hai cách:

+ Các khách hàng và những người khác có thể khởi kiện Ngân hàng

Lý do của việc khởi kiện có thể phát sinh từ quá trình hoạt động kinh doanhbình thường, ví dụ việc Ngân hàng từ chối cấp lại hạn mức cho vay mà theokhách hàng là vô lý Tuy nhiên, các trường hợp khác cũng có thể phát sinh

từ các lý do tách biệt khỏi hoạt động kinh doanh Ngân hàng như việc tài trợcho những khách hàng gây ô nhiễm môi trường có thể làm Ngân hàng bị cácbên thứ ba kiện cáo

+ Thu xếp pháp lý của Ngân hàng: ví dụ, các hợp đồng cho vay và tàisản đảm bảo tiêu chuẩn của Ngân hàng có vấn đề, hoặc Nhà nước thay đổiđột ngột chính sách vĩ mô về cơ cấu kinh tế, lĩnh vực ưu tiên điều này cóthể dẫn tới rủi ro thua lỗ cho Ngân hàng

Trang 23

1.2.2.7 Các rủi ro khác

Ngoài những rủi ro cơ bản trên thì hoạt động ngân hàng còn phải đối mặt vớimột số rủi ro như sau:

Rủi ro chiến lược: phát sinh từ các thay đổi trong môi trường hoạt

động của Ngân hàng trên phạm vi rộng hơn về mặt kinh doanh và tài chính.Rủi ro chiến lược cũng có thể phát sinh từ các hoạt động của bản thân Ngânhàng Ví dụ, việc xâm nhập vào một thị trường mới mà thiếu sự nghiên cứuđầy đủ và thiếu các nguồn lực cần thiết để khai thác thị trường này có thểlàm Ngân hàng gặp phải rủi ro thua lỗ

Rủi ro uy tín: Là rủi ro dư luận đánh giá xấu về Ngân hàng, gây khó

khăn nghiêm trọng cho Ngân hàng trong việc tiếp cận nguồn vốn hoặc kháchhàng rời bỏ Ngân hàng Nhận thức rõ tầm quan trọng của uy tín và thươnghiệu, hiện nay,các ngân hàng đều đang cố gắng xây dựng được hình ảnh đẹpvới khách hàng nhằm xây dựng uy tín

Rủi ro quốc gia: Rủi ro quốc gia là những rủi ro liên quan đến sự thay

đổi về chính trị, kinh tế, về chính sách quản lý ngoại hối, ngoại thương củamột quốc gia Như chúng ta đã biết, mỗi một thay đổi trong chính sách củamỗi một quốc gia đều có tác động rất lớn không chỉ trong lĩnh vực ngânhàng nói riêng mà tác động đến toàn bộ nền kinh tế nói chung Nếu ngânhàng hoạt động ở một quốc gia có tình hình chính trị, kinh tế không ổn định,các chính sách kinh tế cũng như lãi suất biến đổi thất thường thì sẽ gây rấtnhiều rủi ro cho ngân hàng

2.3 Nguyên nhân gây ra rủi ro trong thanh toán quốc tế

2.3.1 Nguyên nhân khách quan

Trong thanh toán quốc tế có rất nhiều nguyên nhân gây ra nhiều rủi

ro trong thanh toán như môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, môi trường

Trang 24

kinh tế, môi trường pháp lý Sau đây là những nguyên nhân khách quan chủyếu:

Nguyên nhân xuất phát từ phía khách hàng

Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta đang có những chuểnbiến hết sức rõ rệt Với xu thế hôi nhập các doanh nghiệp việt nam có cơ hộithử trên thương trường quốc tế rộng lớn Bên cạnh đó cũng có những hạnchế do mới tham gia nên kinh tế mở cửa các nhà doanh nghiệp việt nam phảicạnh tranh với các đối thủ mạnh có kinh nghiệm Sự hiểu biết hạn chế vềthông lệ quốc tế, luật pháp quốc tế cũng như luật pháp của đối tác Thêm vào

đó là sự thiếu các chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật, kỹ thuật, nghiệp vụthanh toán Thực trạng của các doanh nghiệp việt nam hiện nay là tiềm lựckinh tế còn rất kém chỉ dựa vào tài trợ của ngân hàng Khi kinh doanh vớicác đối tác nước ngoài bị thua lỗ thì hầu như đều ảnh hưởng trực tiếp tớingân hàng Trong kinh doanh ngoại thương các doanh nghiệp việt namtưởng rằng thanh toán bằng thư tín dụng là an toàn song trong thực tế đãchứng minh nhiều doanh nghiệp đã phải trả giá cho các điều kiện lập lờtrong hợp đồng ngoại thương cũng như trong thư tín dụng Do vậy ngânhàng khi thanh toán cũng gặp nhiều rủi ro

Một nguyên nhân nưa là khách hàng cố ý làm sai nguyên tắc Kháchhàng bao gồm cả nhà xuất khẩu lẫn cả nhập khẩu, vấn đề ở đây là đạo đứckinh doanh của khách hàng Họ đã nắm được điểm yếu của thư tín dụng làviệc thanh toán tách rời khỏi hàng hoá mà chỉ căn cứ vào chứng từ Dối tác

có thể tinh vi lập bộ chứng từ giả mà ngân hàng không thể phát hiện tính xácthực của nó

Môi trường pháp lý

Trang 25

Trong thanh toán quốc tế luôn chứa đựng những rủi ro, những tranhchấp và nó tỷ lệ thuận với sự hoà nhập ngày càng rộng, càng nhiều ,càng sâuvào nền kinh tế khu vực và quốc tế Trong những nhân tố quan trọng gây rarủi ro là sự thiếu trung thực hay cố ý lam trái của khách hàng Do vậy phápluật của mỗi quốc gia cần phải có những quy định cụ thể điều chỉnh mốiquan hệ này trong sự tương quan hợp lý với thông lệ quốc tế Ví dụ như:Trung quốc người ta cho phép toà án địa phương có quyền ra lệnh tạmnghừng thanh toán thư tín dụng khi người cung cấp thư tín dụng có khiếunại Bộ luật dân sự cộng hoà liên bang nga quy định khá nhiều điều khoảnliên quan đến giao dịch thư tín dụng tương quan với thông lệ quốc tế ở việtnam những quy định về thư tín dụng là chưa nhiều có thể nói là chưa có.Hiện nay tại các ngân hàng thì chỉ thực hiện theo quy định của UCP500 làchủ yếu.

Môi trường pháp lý có thể gây ra rủi ro cho ngân hàng khi chính sáchluật thay đổi hoặc hệ thống luật chưa hoàn thiện, cách thức thi hành chưađảm bảo thời gian, tính nghiêm minh và còn nhiều kẽ hở cho các doanhnghiệp lợi dụng Trong thanh toán quốc tế sự khác biệt về pháp luật giữa cácnước cũng gây ra tranh chấp giữa các ngân hàng

Môi trường tự nhiên, kinh tế, xã hội

NHTM, các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế khác trong nềnkinh tế đều hoạt đọng trong môi trường kinh tế xã hội chung Môi trườngkinh tế xã hội coa ảnh hưởng sâu sắc tới hoạt động của ngân hàngthươngmại và các doanh nghiệp Nếu môi trường kinh tế xã hội ổn định sẽ tạo điềukiện cho các doanh nghiệp hoạt đọng hiệu quả, tăng khả năng thanh toán chongân hàng Ngược lại môi trường kinh tế xã hội biến động sẽ ảnh hưởng rấtlớn tới tình hình kinh doanh của các doang nghiệp Khi đó ngân hàng sẽ chụi

Trang 26

ảnh hưởng trầm trọng ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của mình Khinhắc đén môi trường kinh tế xã hội thì không thể không nhắc tới môi trường

tự nhiên như thiên tai, dịch hoạ cũng làm cho ngân hàng gặp phải khókhăn

2.3.2 Nguyên nhân chủ quan

Đây là nguyên nhân xuất phát từ chính ngân hàng, do những sơ suấtkhông đáng có mà ngân hàng gây thiệt hại tới lợi nhuân của mình và mất uytín trong kinh doanh

Một trong những nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong thanh toán quốc

tế xuất phát từ chính cán bộ ngân hàng do chuyên môn nghiệp vụ còn hạnchế Trước khi mở L/C cho khách hàng thì ngân hàng phải thẩm định tínhpháp lý của doanh nghiệp Khi tiến hành mở L/C việc ký quỹ, miễn giảm kýquỹ, cho vay thanh toán hàng nhập ngân hàng phải xem xét tình hình tàichính của doanh nghiệp cũng như uy tín và mối quan hệ với ngân hàng Đặcbiệt trong trường hợp khách hàng thế chấp tài sản để đảm bảo Tuy nhiên kếtquả thẩm định không khi nào cũng chính xác do thông tin không cân xứng

Vì vậy cán bộ ngân hàng ngoài khả năng phân tích tài chính doanh nghiệpcòn phải biết về tình hình kinh tế nói chung để dự toán khả năng thanh toáncủa khách hàng

Ngoài ra nhiều cán bộ biến chất còn thông đồng với khách hàng đưa

ra những quyết định không đúng gây ra thiệt hại lớn cho ngân hàng

Trang 27

Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG THANHTOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNGSCB CHI NHÁNH HÀ NỘI

2.1 Giới thiệu tổng quan về SCB chi nhánh Hà Nội

2.1.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển

Ở Việt Nam,SCB có mặt lần đầu tiên vào năm 1904 và ngừng hoạtđộng từ năm 1975, sau đó đã quay trở lại mở văn phòng đại diện tại thànhphố Hồ Chí Minh năm 1990 Chi nhánh ngân hàng tại Hà Nội được thànhlập năm 1994 theo giấy phép số 12/GP-NH ngày 01/06/1994 do thống đốcNHNN cấp, đặt trụ sở tại tầng 8, trung tâm tháp Hà Nội, số 49 phố Hai BàTrưng Tiếp đó, ngày 11, tháng 1 năm 2006, NHNN Việt Nam chính thứctrao giấy phép số 12/GP-NH ngày 28/12/2005 cho phép SCB thành lập chinhánh tại Tp Hồ Chí Minh, tăng số lượng chi nhánh của SCB tại Việt Namlên 2 chi nhánh Vào ngày 7 tháng 6 năm 2006, SCB chính thức khai trươngchi nhánh thành phố Hồ Chí Minh Đối vớiSCB, chi nhánh mới tại thànhphố Hồ Chí Minh đem đến cho ngân hàng cơ hội tốt giúp ngân hàng đẩymạnh và mở rộng các hoạt động tại Việt Nam

Như vậy, ở Việt Nam, SCB đã hoạt động và phát triển được 17 năm,một khoảng thời gian khá dài so với các ngân hàng đang hoạt động tại ViệtNam hiện nay Trải qua quá trình hoạt động và phát triển, SCB đã hoà nhậpvào hoạt động chung của cả hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế thị trường.Hơn nữa, trong lúc hệ thống ngân hàng ở Việt Nam đang phát triển mạnh mẽnhư hiện nay, SCB không chỉ đứng vững trong cạnh tranh mà còn khôngngừng mở rộng và phát triển với hiệu quả ngày càng cao

2.1.2 Các hoạt động nghiệp vụ của SCB.

2.1.2.1 Huy động vốn

Ngân hàng huy động vốn dưới các hình thức sau:

Trang 28

- Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dướicác hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, và các loại tiền gửikhác.

- Mở tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn bằng VND và ngoại tệ

- Phát hành các loại chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu cácloại giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoàinước khi được thống đốc NHNN chấp nhận

- Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và các tổchức tín dụng nước ngoài

- Vay vốn ngắn hạn của NHNN dưới hình thức tái cấp vốn

- Các hình thức huy động vốn khác theo qui định của NHNN, như tiếp nhậnvốn tài trợ, vốn uỷ thác đầu tư từ NHNN và các tổ chức quốc tế, chính phủcủa các nước và các cá nhân…

2.1.2.2 Hoạt động tín dụng.

Ngân hàng cấp tín dụng cho các tổ chức cá nhân dưới các hình thức

- Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn bằng VND và ngoại tệ đối với các tổchức kinh tế, các cá nhân và hộ gia đình thuộc mọi thành phần kinh tế

- Chiết khấu, tái chiết khấu cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắnhạn khác

- Bảo lãnh: bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh mua hàng trả chậm,bảo lãnh tham gia đấu thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, vay vốn với bênthứ ba, bảo lãnh tiền đặt cọc, bảo lãnh giao nhận hàng

- Cho thuê tài chính và các hình thức theo qui định của NHNN

2.1.2.3 Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ.

Ngân hàng thực hiện các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ:

- Cung ứng các phương tiện thanh toán

Trang 29

- Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán trong và ngoài nước cho khách hàng:thực hiện các nghiệp vụ ghi có và ghi nợ cho tài khoản khách hàng thôngqua hệ thống điện tử liên ngân hàng Có hai hệ thống chính:

Hệ thống CITAD: là hệ thống thanh toán thông qua NHNN, thực hiện vớicác giao dịch thanh toán ở trong nước và bằng tiền VND

Hệ thống Vietcombank: là hệ thống thanh toán thông qua Vietcombank,thực hiện với các giao dịch ngoại tệ và thanh toán nước ngoài

- Thực hiện nghiệp vụ thu hộ và chi hộ

- Thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế: thực hiện nghiệp vụ thanh toánxuất nhập khẩu hàng hoá dịch vụ bằng các phương thức

 Thư tín dụng (L/C): nhận phát hành thư tín dụng, thông báo L/C, xácnhận, chiết khấu và thanh toán L/C…

 Nhờ thu: nhờ thu hối phiếu trả ngay (D/P) và nhờ thu chấp nhận hối phiếu(D/A)…

 Chuyển tiền kiều hối

 Thanh toán thẻ tín dụng quốc tế, séc du lịch…

- Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng

Thực hiện các dịch vụ kinh doanh tiền tệ, ngoại hối

- Dịch vụ mua bán ngoại hối giao ngay (Spot)

- Dịch vụ mua bán ngoại hối kỳ hạn (Forward)

- Dịch vụ hoán đổi SWAP

Trang 30

- Được quyền ủy thác, nhận ủy thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quanđến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức

cá nhân trong nước và ngoài nước theo hợp đồng ủy thác và đại lý

- Cung ứng dịch vụ bảo hiểm thành lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh

để kinh doanh ngoại hối theo quy định của pháp luật

Tư vấn tài chính và tiền tệ trực tiếp cho khách hàng hoặc qua các công tytrực thuộc được thành lập theo quy định của pháp luật

Bảo quản hiện vật quý và các giấy tờ có giá khác, cho thuê tủ két, nhân cầm

cố và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật

2.1.3 Cơ cấu bộ máy tổ chức của SCB tại Hà Nội

Đứng đầuSCB Hà Nội là ông Asok Sud, tổng giám đốcSCB tại ViệtNam, Lào, Campuchia Ông Asok Sud có trách nhiệm giám sát chung mọihoạt động củaSCB tại Hà Nội Dưới sự quản lý của ông là các phòng ban vớitừng chức năng riêng biệt nhưng có quan hệ mật thiết với nhau

2.1.3.1 Phòng quan hệ đại lý, quản lý khách hàng (CR & IB):

- Tiếp cận với khách hàng, giới thiệu với họ những dịch vụ của ngân hàng

- Chọn lọc hồ sơ khách hàng: Sau khi tiếp cận và giới thiệu cho khách hàng,các cán bộ phòng sẽ chọn lọc những khách hàng phù hợp

- Kiểm tra hồ sơ khách hàng: Sau khi tiếp cận và chọn lọc được nhữngkhách hàng phù hợp, các cán bộ của phòng sẽ có trách nhiệm kiểm tra hồ sơkhách hàng để xem hồ sơ của khách hàng có đầy đủ và tuân thủ đúng luậtpháp hay không Sau đó sẽ báo cáo với tổng giám đốc giám đốc cũng nhưthông báo cho những phòng liên quan để hoàn tất việc kiểm tra hồ sơ

2.1.3.2 Phòng cố vấn pháp luật:

- Tư vấn cho khách hàng về những thủ tục pháp lý khi thực hiện và tham giacác dịch vụ của ngân hàng

Trang 31

- Cập nhật những quy định pháp luật mới ban hành để từ đó hướng dẫn chocác phòng ban khác

- Hoàn tất những thủ tục pháp lý của ngân hàng

- Hỗ trợ các phòng khác trong việc thực hiện nghiệp vụ sao cho tuân thủđúng pháp luật

2.1.3.3 Phòng quản lý rủi ro (Credit Risk Control – CRC): Phòng có chức

năng nhằm đảm bảo hạn chế và tránh các rủi ro cho ngân hàng thông quanhững chức năng chính sau:

- Quản lý rủi ro tín dụng

- Quản lý hạn mức khách hàng

- Thụ lý hồ sơ khách hàng và hoàn tất thủ tục pháp lý của khách hàng đốivới ngân hàng

- Theo dõi quản lý hạn mức ngoại hối

2.1.3.4 Phòng ngoại hối (Global Market): Chịu trách nhiệm cao nhất là bà

Saranya Srotratak người Thái Lan Chức năng chính của phòng ngoại hối là

- Kinh doanh ngoại tệ

- Nhận và đặt tiền gửi của các công ty và tổ chức tín dụng

- Mua bán trái phiếu

- Thực hiện các nghiệp vụ phái sinh, tham gia đấu thầu trái phiếu trên sàngiao dịch, thực hiện chức năng bảo lãnh cho các tổ chức tín dụng

2.1.3.5 Phòng thanh toán (Payment Centre) thực chất chia làm 2 bộ phận

với chức năng riêng biệt

 Bộ phận thực hiện các nghiệp vụ thanh toán thông thường

- Thực hiện thanh toán trong và ngoài nước: thông qua việc ghi có và ghi nợcho tài khoản khách hàng,

- Chuyển tiếp các khoản kiều hối

- Thực hiện các nghiệp vụ ngoại hối

Trang 32

- Thực hiện các giao dịch mua và bán ngoại tệ, thực hiện giao dịch của sảnphẩm phái sinh

- Thanh toán mua và bán trái phiếu

- Đối chiếu tài khoản mở tại các ngân hàng đại lý, nhận và gửi xác nhậngiao dịch của khách hàng Đó là những công ty, tổ chức tín dụng, các tổchức phi chính phủ, các đại sứ quán và các công ty 100% vốn nước ngoài

- Kiểm tra đối chiếu các xác nhận giao dịch gửi đi và nhận về

- Thanh toán séc của khách hàng và séc nhờ thu

 Bộ phận nghiệp vụ tín dụng và thực hiện cho vay, tài trợ tín dụng:

- Thanh toán L/C, thực hiện các nghiệp vụ

Ngân hàng xuất khẩu: thông báo thư tín dụng, thông báo sửa đổi thư tíndụng; tiếp nhận kiểm tra gửi chứng từ và đòi tiền

Ngân hàng nhập khẩu: mở, sửa đổi L/C và ký quỹ; tiếp nhận kiểm tra chứng

từ, giao chứng từ

- Cho vay các công ty

- Hỗ trợ tín dụng cho các công ty, các tổ chức

2.1.3.6 Phòng ngân quỹ

Gồm 2 mảng nghiệp vụ chính:

 Thực hiện các nghiệp vụ tại quầy, thực hiện các giao dịch trực tiếp vớikhách hàng

- Trả tiền mặt bằng VND hoặc các ngoại tệ cho khách hàng

- Thanh toán séc và hối phiếu

- Huy động tiền mặt tại quầy, nhận tiền gửi của khách hàng

- Hướng dẫn và nhận lệnh thanh toán của khách hàng

 Kho tiền:

- Xuất tiền mặt, ngoại tệ ra quỹ nghiệp vụ

- Xuất tiền đi nộp với các khách hàng

Trang 33

- Lĩnh tiền mặt, ngoại tệ, giá từ các ngân hàng về quỹ nghiệp vụ

- Nhập tiền mặt, ngoại tệ vào kho

- Nhập, xuất tiền của các phòng giao dịch

- Nhập, xuất các chứng từ có giá, quản lý kho tiền

2.1.3.7 Phòng dịch vụ khách hàng (Customer Service), thực hiện các chức

năng sau:

- Mở tài khoản cho khách hàng: Sau khi phòng cố vấn về pháp luật xem xétkiểm tra hồ sơ của khách hàng thấy hợp lệ và tiếp nhận hồ sơ, phòng dịch vụkhách hàng sẽ giúp đỡ hỗ trợ khách hàng trong việc mở tài khoản tại SCBsao cho nhanh chóng và thuận tiện nhất với khách hàng

- Trả lời các tra soát của khách hàng

- Quản lý hồ sơ khách hàng

- Xác nhận và đối chiếu các chữ ký thẩm quyền đối với khách hàng: để thựchiện những giao dịch của khách hàng thì trên mỗi tờ lệnh ghi có hay ghi nợcủa khách hàng trước tiên đều phải được đưa qua phòng dịch vụ khách hàng

để xác nhận xem chữ ký trên lệnh có đúng là chữ ký của người có thẩmquyền hay không Điều đó đảm bảo tính an toàn, giảm thiểu rủi ro trongthanh toán, đảm bảo quyền lợi của khách hàng

- Hỗ trợ tư vấn, giải đáp thắc mắc của khách hàng

2.1.3.8 Phòng kế toán (Finance): thực hiện chức năng chủ yếu sau

- Quản lý việc hoạch toán kế toán của ngân hàng

- Báo cáo tài chính về tình hình của chi nhánh SCB tại Hà Nội cho công ty

mẹ và báo cáo cho NHNN

- Quản lý thuế đầu vào và đầu ra

- Thống kê đưa ra kết luận, đánh giá chung về tình hình hoạt động của ngânhàng, tình hình lỗ lãi của ngân hàng

Trang 34

2.1.3.9 Phòng tổ chức hành chính: Chức năng của phòng là thực hiện các

công việc về hành chính quản trị, đảm bảo cơ sở vật chất cho hoạt động kinhdoanh của các phòng ban,

2.1.3.10 Phòng nhân sự:

Quản lý sắp xếp và điều chuyển nhân sự sao cho hợp lý

Quản lý hồ sơ của cán bộ nhân viên

Tiếp nhận và chọn lọc hồ sơ xin việc

Tham mưu cho lãnh đạo về xét tuyển và đề bạt cán bộ

Đảm bảo tiền lương và quyền lợi của nhân viên

2.1.3.11 Phòng tin học

Thực hiện quản lý hệ thống tin học của toàn ngân hàng, đồng thời chịu tráchnhiệm cung cấp các phần mềm phục vụ cho công tác quản lý và kinh doanhtrong ngân hàng

Tiến hành xử lý và khắc phục các sự cố máy tính, đảm bảo hệ thống luônlàm việc hiệu quả, góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngân hàng

Các phòng trên đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, phối hợp vớinhau để thực hiện tốt các hoạt động của ngân hàng Cơ cấu tổ chức cảu cácphòng ban ngày các được cải tiến để phục vụ tốt hơn cho nhiệm vụ của mộtngân hàng đa năng, hiện đại và ngày càng có nhiều sản phẩm mới, đáp ứngđược các nhu cầu của khách hàng

2.1.4 Tình hình hoạt động của SCB chi nhánh tại Hà Nội

Cùng trong làn sóng phát triển của tập đoànSCB, chi nhánh SCB tại

Hà Nội cũng có những bước phát triển đáng kể Với việc mở rộng kinhdoanh, tập đoànSCB đã tăng vốn đầu tư ở Việt Nam lên 30 triệu USD Đặcbiệt, năm 2005,SCB đã trở thành định chế tài chính nước ngoài đầu tiên mua8,56% cổ phần của NHTM Cổ phần Á châu (ACB), mở đầu cho làn sóng

Trang 35

các ngân hàng ngoại đầu tư vào các ngân hàng Việt Nam Sự phát triển củaSCB chi nhánh Hà Nội được thể hiện cụ thể trên từng lĩnh vực.

2.1.4.1 Hoạt động huy động vốn.

Trong năm 2006 hoạt động huy động vốn được SCB đặc biệt quantâm Do đó trong năm qua,các hoạt động huy động vốn không chỉ giới hạn ởcác công ty, các tổ chức lớn màSCB chủ trương huy động vốn từ mọi nguồn,mọi đối tượng khách hàng

Là một ngân hàng nước ngoài, lại là ngân hàng bán buôn nên kháchhàng củaSCB là cá nhân người Việt Nam rất ít, chủ yếu các cá nhân là ngườinước ngoài, đang sinh sống và làm việc tại các tổ chức, các cơ quan có mởtài khoản tại SCB, nên thựctế, việc huy động vốn từ dân cư của SCB là khákhiêm tốn Tuy nhiên, việc huy động vốn từ các tổ chức, các công ty lớn củaSCB là rất lớn Kết quả đến hết năm 2006 tổng nguồn vốn huy động đạt trên

8943 tỷ đồng vượt kế hoạch 21%, và tăng gần 3000 tỷ đồng so với năm2005

Chi nhánh SCB đã đạt được mức tăng trưởng cao trong bối cảnh hầuhết các NHTM đều tăng lãi suất huy động để thu hút nguồn vốn Có thể nói,

sự tăng trưởng lớn về nguồn vốn không hỉ là kết quả cảu phong cách phục

vụ văn minh, lịch sự, tận tình, chu đáo mà còn khẳng định về uy tín và vị thểcủa chi nhánh trên thương trường

2.1.4.2 Hoạt động tín dụng

Công tác cho vay vốn

SCB đã chủ trương thực hiện kế hoạch phát triển nghiệp vụ cho vay vàbảo lãnh với khách hàng có sức cạnh tranh lớn, tăng cường kiểm tra giám sátkhách hàng, chủ động thâm nhập thị trường cho vay Trong năm 2006, hoạtđộng tín dụng cuả Standard tuy không phát triển nóng bằng cách nới lỏngđiều kiện tín dụng nhưng nhờ có sự nỗ lực tiếp thị khách hàng của các đơn

Ngày đăng: 29/08/2012, 14:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tình hình công tác cho vay vốn năm 2006 - Hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế tại ngân hàng Standard Chartered.DOC
Bảng 1 Tình hình công tác cho vay vốn năm 2006 (Trang 36)
Bảng 3: Tình hình thanh toán quốc tế từ 2004-2006 - Hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế tại ngân hàng Standard Chartered.DOC
Bảng 3 Tình hình thanh toán quốc tế từ 2004-2006 (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w