1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa cấp i thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại bệnh viện da liễu trung ương năm 2020

52 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 523,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH TRẦN THỊ KIM ANH THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ CỦA NGƯỜI BỆNH MẮC BỆNH VẨY NẾN ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG NĂM 2020 BÁO CÁO CHUYÊN

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

TRẦN THỊ KIM ANH

THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ CỦA NGƯỜI BỆNH MẮC BỆNH VẨY NẾN ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU

TRUNG ƯƠNG NĂM 2020

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

NAM ĐỊNH - 2020

Trang 2

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

TRẦN THỊ KIM ANH THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ CỦA NGƯỜI BỆNH MẮC BỆNH VẨY NẾN ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU

TRUNG ƯƠNG NĂM 2020

Chuyên ngành: ĐIỀU DƯỠNG NỘI NGƯỜI LỚN

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Giảng viên hướng dẫn: TS Vũ Văn Thành

NAM ĐỊNH - 2020

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, cũng như quá trình hoàn thiện chuyên đề tốt nghiệp chuyên ngành Điều dưỡng nội người lớn, Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành tới:

Ban Giám hiệu nhà trường, quý thầy cô giáo, các bộ môn và phòng ban Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã trang bị kiến thức, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và xây dựng, thông qua chuyên đề tốt nghiệp

Ts.Vũ Văn Thành, người đã luôn tận tình dành thời gian và kiến thức, kinh nghiệm hướng dẫn và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thực hiện chuyên đề

Ban Giám đốc và quý đồng nghiệp tại Bệnh viện Da liễu Trung ương nơi tôi công tác đã ủng hộ, tạo điều kiện tốt nhất để tôi thực hiện chuyên đề này

Các bạn học viên lớp Điều dưỡng CK1 khóa I đã luôn đồng hành, cùng chia sẻ hiểu biết, kinh nghiệm trong quá trình học tập

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thành viên trong gia đình đã luôn ủng

hộ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập

Xin chân thành cảm ơn!

Nam Định, tháng 11 năm 2020

Học viên

Trần Thị Kim Anh

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Trần Thị Kim Anh, Học viên lớp Điều dưỡng CK1 khóa 1, chuyên ngành Điều dưỡng nội người lớn, Trường Đại Học Điều dưỡng Nam Định, xin cam đoan:

1 Đây là chuyên đề do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của

Ts Vũ Văn Thành

2 Chuyên đề này không trùng lặp với bất kỳ chuyên đề nào khác đã được công

bố tại Việt Nam

3 Các số liệu và thông tin trong chuyên đề là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi thực hiện chuyên đề

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam kết này

Nam Định, tháng 11 năm 2020

Học viên

Trần Thị Kin Anh

Trang 8

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3

1.1 Cơ sở lý luận 3

1.1.1 Đại cương về bệnh vảy nến 3

1.1.2 Chẩn đoán bệnh vảy nến 5

1.1.3 Điều trị 7

1.2 Cơ sở thực tiễn 10

CHƯƠNG 2: LIÊN HỆ VỚI THỰC TẾ Error! Bookmark not defined 2.1 Đặc điểm tình hình về Bệnh viện Da liễu Trung ương 11

2.2 Thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại bệnh viện Da liễu Trung ương 13

2.2.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu 13

2.2.2 Sự thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành của người bệnh sau khi tư vấn 16

CHƯƠNG 3: BÀN LUẬN 24

3.1.Thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại Bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2020 24

3.1.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu 24

3.1.2 Sự thay đổi về KAP của NB vảy nến sau khi được tư vấn 26

3.2 Đề xuất một số giải pháp tăng cường tuân thủ điều trị của người bệnh vẩy nến đến khám tại Bệnh viện Da liễu Trung ương 29

3.2.1 Đối với Bệnh viện : 29

3.2.2 Đối với người bệnh vfa gia đình nguồi bệnh 30

KẾT LUẬN 31

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 33 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Phân bố NB theo tuổi 13

Bảng 2.2 Phân bố NB theo tuổi khởi phát 14

Bảng 2.3 Phân bố người bệnh theo giới 14

Bảng 2.4 Phân bố người bệnh theo trình độ văn hóa 14

Bảng 2.5 Phân bố người bệnh theo nghề nghiệp 15

Bảng 2.6 Phân bố người bệnh theo nơi ở 15

Bảng 2.7 Phương tiện tìm kiếm thông tin về bệnh vảy nến của NB trước khi tư vấn tại bệnh viện da liễu Trung ương 15

Bảng 2.8 Biện pháp người bệnh đã điều trị trước khi điều trị tại Bệnh viện da liễu Trung ương 16

Bảng 2.9 Thay đổi kiến thức của NB về nguyên nhân gây bệnh và các vấn đề liên quan đến bệnh vảy nến 16

Bảng 2.10.Thay đổi kiến thức của NB về mức độ phổ biến bệnh 17

Bảng 2.11 Thay đổi kiến thức của NB về yếu tố khởi phát hoặc làm bệnh nặng lên 17

Bảng 2.12 Thay đổi kiến thức của NB về đặc điểm của bệnh 18

Bảng 2.13 Thay đổi kiến thức của NB về vị trí biểu hiện của bệnh 18

Bảng 2.14 Thay đổi kiến thức của NB về cách dùng thuốc điều trị duy trì 19

Bảng 2.15.Thay đổi thái độ của NB khi mắc bệnh 19

Bảng 2.16 Thay đổi thực hành của NB trong chế độ ăn uống, sinh hoạt 20

Bảng 2.17.Thay đổi thực hành của NB trong việc đi khám bệnh khi có triệu chứng của bệnh 20

Bảng 2.18 Thay đổi thực hành của NB trong chăm sóc da 21

Bảng 2.19 Thay đổi thực hành của NB khi tiếp xúc với người khác 21

Bảng 2.20 Thay đổi thực hành của NB với các yếu tố khởi động, làm bệnh nặng lên hoặc tái phát bệnh 22

Bảng 2.21 Thay đổi thực hành của NB trong quá trình điều trị bệnh 22

Bảng 2.22 Thay đổi thực hành của NB về việc tái khám 23

Trang 11

DANH MỤC HÌNH Hình 2.1: Các hoạt động chính của Bệnh viện Da liễu TW 11

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vảy nến là một bệnh da mạn tính, gây nên do sự rối loạn biệt hóa lành tính của tế bào thượng bì Bệnh được biết đến từ thời thượng cổ và là một trong những bệnh da hay gặp ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới [7]

Về dịch tễ, bệnh gặp ở cả hai giới và có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi Tuy nhiên,

tỷ lệ bệnh khác nhau tùy từng khu vực, dao động trong khoảng 1-3% dân số [7]

Vảy nến là một bệnh không lây Mặc dù đã được nghiên cứu từ lâu, song cho đến nay nguyên nhân và sinh bệnh học của vảy nến vẫn còn nhiều điều chưa được sáng tỏ, nhiều tác giả cho rằng bệnh liên quan đến rối loạn miễn dịch và yếu tố di truyền Ngoài

ra một số yếu tố góp phần gây nguy cơ làm bệnh tiến triển nặng thêm như căng thẳng tâm lý, nghiện bia, rượu, thuốc lá, nhiễm trùng, rối loạn nội tiết, rối loạn chuyển hóa, một số thuốc, khí hậu, môi trường [7]

Trong những năm gần đây tỷ lệ người bệnh vảy nến đến khám và điều trị tại Khoa khám bệnh Bệnh viện Da liễu TW ngày càng tăng

Năm 2017 có 2.288 lượt người bệnh

Năm 2018 có 3.198 lượt người bệnh

Năm 2020 có 3.665 lượt người bệnh

6 tháng đầu năm 2020 có 2.075 lượt người bệnh

Bệnh thường không gây ảnh hưởng tới sức khỏe nhưng ảnh hưởng đến thẩm mỹ, tâm lý, chất lượng cuộc sống, công việc và sinh hoạt của người bệnh[8]

Người mắc bệnh vảy nến thường mặc cảm về tình trạng bệnh của mình Nhiều người bị ảnh hưởng tới tâm lý, thay đổi tính tình, thay đổi hành vi, ngại giao tiếp, tự ti, mặc cảm Người bệnh thường hoang mang, mong muốn tìm cách chữa trị triệt để Vì vậy họ thường tìm đến với những thông tin không đáng tin cậy, làm cho bệnh có nguy

cơ trầm trọng hơn, thậm chí phải nhập viện điều trị

Bệnh có tính chất mạn tính nên người bệnh cần tái khám nhiều lần, đồng nghĩa với việc cần phải có sự theo dõi, tư vấn thường xuyên

Để đáp ứng nhu cầu đó, tôi làm nghiên cứu “Thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại bệnh viện Da liễu Trung ương” góp phần nâng cao chất lượng điều trị của người bệnh Vì vậy, chúng tôi tiến hành chuyên đề tài này nhằm mục tiêu:

Trang 13

1 Mô tả thực trạng tuân thủ của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại Bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2020

2 Đề xuất một số giải pháp tăng cường tuân thủ điều trị của người bệnh vẩy nến đến khám tại Bệnh viện Da liễu Trung ương

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Đại cương về bệnh vảy nến

Vảy nến là bệnh da mạn tính, biểu hiện lâm sàng với nhiều hình thái khác nhau, đặc trưng là các tổn thương đỏ da, bong vảy, ngoài ra bệnh còn biểu hiện các triệu chứng tại niêm mạc, móng, khớp và liên quan tới hội chứng chuyển hóa Bệnh tiến triển và nặng lên từng đợt, xen kẽ với những đợt bệnh thuyên giảm Cho tới thời điểm hiện tại, căn nguyên của bệnh chưa hoàn toàn sáng tỏ và chưa có một phương pháp nào có thể điều trị dứt điểm bệnh [7]

1.1.1.1 Dịch tễ

- Đây là một trong những bệnh da thường gặp nhất trên thế giới, chiếm tỷ lệ 3% dân số thế giới [7]

1 Bệnh xuất hiện ở cả hai giới và có thể ở mọi lứa tuổi

- Tại Việt Nam, năm 2010, theo thống kê tại Bệnh viện Da liễu Trung ương có 2,2% tổng số người bệnh (NB) trên tổng số NB khám bệnh [8]

1.1.1.2 Căn nguyên và cơ chế bệnh sinh

Đến nay vẫn chưa có câu trả lời chính xác cho nguyên nhân gây bệnh, các nghiên cứu mới thừa nhận rằng bệnh có liên quan tới cơ địa di truyền, rối loạn miễn dịch, tăng sinh thượng bì và một số yếu tố khởi phát bệnh [3], [1]

- Di truyền và bệnh vảy nến:

+ Mối liên quan giữa HLA và bệnh vảy nến đã được nhiều tác giả quan tâm trong hơn 70 năm gần đây Gen di truyền nằm trên nhiễm sắc thể số 6 có liên quan tới một số kháng nguyên bạch cầu người (HLA) thường gặp như DR7, B13, B17, BW57, CW6 Một nghiên cứu tiến hành trên 91 người bệnh vảy nến thông thường, cho thấy có liên quan đến các HLA lớp I (HLA-CW6) và lớp II (HLA-DR7) Hầu hết người bệnh, chiếm 91,9% có tính đặc thù CW6, đều có KN DR7, trong khi nhóm chứng là 50,3% [7]

+ Tiền sử gia đình trong bệnh vảy nến đã được nhiều nhà khoa học quan tâm và coi như là một yếu tố rủi ro Tính chất gia đình của bệnh vảy nến đã được biết từ lâu và tiền sử gia đình được biết khoảng 30% các trường hợp [7]

- Rối loạn miễn dịch: vảy nến là bệnh có cơ chế miễn dịch với sự tham gia của lympho T hoạt hóa, các cytokines, IL-1, IL-6,IL-8, nhóm trung gian hóa học

Trang 15

eicosanoides, prostaglandin, plasminogen mà kết quả cuối cùng là tăng sinh tế bào biểu

bì, tăng gián phân gây nên bệnh vảy nến [8]

- Tăng sinh quá mức tế bào thượng bì trong vảy nến: trong vảy nến, sự phân chia của tế bào thượng bì hoạt động rất mạnh [3] Một tế bào bình thường phát triển và rời khỏi

bề mặt da cần 28 đến 30 ngày, tế bào da của NB vảy nến chỉ cần 3-4 ngày là trưởng thành

và di chuyển lên bề mặt da, thay vì bong ra, chúng lại dính với nhau tạo nên thương tổn vảy

+ Nhiễm khuẩn: đa số các tác giả đều công nhận các nhiễm khuẩn khu trú (tai mũi họng…), nguyên nhân chủ yếu là liên cầu tan huyết β nhóm A gây khởi phát (chủ yếu vảy nến thể giọt) hoặc làm nặng và duy trì bệnh vảy nến có sẵn thông qua kích thích tăng sinh tế bào lympho T [7], [1]

+ Chấn thương da gây tổn thương vảy nến (hiện tượng KoeNBer): hiện tượng KoeNBer trong bệnh vảy nến có thể xuất hiện trên các vết xước da do gãi, vết mổ, vết bỏng, vết tiêm chủng, đôi khi bị cháy nắng (sunburn)

+ Vai trò của một số thuốc: một số loại thuốc gồm ức chế β, lithium, corticoid đường toàn thân, interferon, chống viêm giảm đau nhóm nonsteroid, ức chế enzyme angiotensin, thuốc chống sốt rét (chloroquin, quinacrin…) Dùng corticoid đường toàn thân

là nguyên nhân hay gặp nhất gây khởi phát bệnh vảy nến thể mủ Hơn nữa, trong các trường hợp vảy nến thông thường do dùng corticoid toàn thân gây ra vảy nến thể mủ thì các lần tái phát sau thường cũng có xuất hiện vảy nến mụn mủ ở các mức độ khác nhau [7], [2], [23]

+ Chế độ ăn uống, rượu và thuốc lá:

* Chế độ ăn: chế độ ăn nhiều dầu cá, các chất tương tự vitamin A có lợi trong bệnh vảy nến [5] Một chế độ ăn nhiều rau, hoa quả có tác dụng tăng khả năng bảo vệ đối với bệnh Các yếu tố trong chế độ ăn như acid béo không bão hòa, gluten được cho

Trang 16

là ảnh hưởng đến tiến triển của bệnh Tuy nhiên vấn đề này cũng còn có những bàn cãi, tranh luận [7]

* Thuốc lá: Nghiên cứu tại Ecolse trên 216 người bệnh vảy nến và 626 chứng đã cho thấy rủi ro cao hơn ở những người nghiện thuốc lá so với nhóm không nghiện[23]

* Rượu: Người bệnh vảy nến nam thường là những người uống rượu quá mức, uống rượu nhiều gây ảnh hưởng đến điều trị cũng như rối loạn tâm lý người bệnh Mặt khác, uống rượu có thể làm nặng lên vùng da có tổn thương, làm giảm đáp ứng điều trị[7], [22]

+ Khí hậu, thời tiết:

Ánh nắng mặt trời và dùng nước ấm là tốt cho người bệnh, trong khi dùng nước lạnh làm bệnh nặng hơn Tuy nhiên có một nhóm nhỏ người bệnh xuất hiện bệnh nặng hơn vào mùa hè, nhất là khi tiếp xúc với ánh nắng Thể này hay gặp ở phụ nữ cao tuổi, tăng nhạy cảm với ánh sáng [21]

+ Bệnh kết hợp:

Vảy nến thường kết hợp với rối loạn chuyển hóa lipid, chuyển hóa đạm, đặc biệt

là đột quỵ về tim mạch Ngoài ra, vảy nến còn kết hợp với các bệnh viêm khác, bệnh tự miễn khác như bạch biến, viêm đa khớp dạng thấp

1.1.2 Chẩn đoán bệnh vảy nến

1.1.2.1 Lâm sàng

a Vảy nến thể thông thường:

Vảy nến hiện nay được cho là một bệnh lý toàn thân, với biểu hiện lâm sàng xuất hiện ở nhiều cơ quan và được chia thành nhiều thể bệnh khác nhau

- Thương tổn da: trong vảy nến thông thường, điển hình là các dát, mảng đỏ, giới hạn rõ, hơi gồ cao lên bề mặt da, kích thước to nhỏ khác nhau (0,5 -1cm trong vảy nến thể giọt, 1 - 3cm trong vảy nến đồng tiền, > 3cm trong vảy nến thể mảng), bề mặt tổn thương phủ nhiều vảy trắng sắp xếp thành nhiều lớp, dễ bong khi cạo Thương tổn thường xuất hiện ở da những vùng tì đè, dễ sang chấn (rìa trán, khuỷu tay, đầu gối, xương cùng…), ở mặt duỗi nhiều hơn mặt gấp

- Thương tổn móng: hay gặp nhất là rỗ móng, tách móng, móng dày và mủn, có thể bị cả móng tay, móng chân

Trang 17

- Thương tổn khớp: với biểu hiện viêm khớp mạn tính, nhiều hình thái, thường xuất hiện ở các khớp nhỏ, nhỡ, khớp cột sống, trường hợp bệnh nặng, diễn biến lâu dài

có thể dẫn tới biến dạng khớp, cứng khớp, lệch khớp…

- Tổn thương móng: 80% người bệnh có tổn thương móng tay, 35% có tổn thương móng chân Móng có nhiều tổn thương như rỗ móng, dày sừng dưới móng, xuất huyết móng Tổn thương khớp gây viêm khớp vảy nến

- Tổn thương cơ quan nội tạng: Có thể kèm theo các bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu

- Bệnh diễn biến thất thường, tiến triển từng đợt tái phát xen lẫn những thời kỳ

ổn định bệnh

- Các rối loạn khác: NB vảy nến có thể kèm theo các bệnh lý khác tăng huyết áp, rối loạn lipid, đái tháo đường…

- Triệu chứng cơ năng: có thể ngứa ít hoặc nhiều, tùy từng thể và giai đoạn bệnh

- Dựa vào kích thước của tổn thương, có thể chia vảy nến thể thông thường thành các thể sau:

+) Thể giọt: Tổn thương dưới 1cm, thường gặp ở vảy nến mới phát bệnh, trẻ em, thiếu niên

+) Thể đồng tiền: Kích thước vài cm, trung tâm nhạt màu, bờ ngoài đỏ thẫm

+) Thể mảng: Kích thước 2 cm hoặc lớn hơn Các mảng có thể liên kết nhau thành mảng lớn

b Vảy nến thể đặc biệt khác

- Thể mụn mủ lan toả: Mụn mủ, hồ mủ nông trên nền dát đỏ lan tỏa toàn thân từng đợt cộng với sốt cao [10] Mụn mủ khu trú: vảy nến thể mủ lòng bàn tay bàn chân Barber, viêm da đầu chi liên tục Hallopeau

- Thể đỏ da toàn thân: Đỏ da ≥ 90% diện tích cơ thể

1.1.2.2 Cận lâm sàng

- Sinh thiết - nhuộm Hematoxylin eosin (HE): là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán bệnh vảy nến, rất có giá trị trong những trường hợp nghi ngờ chẩn đoán và giúp chẩn đoán phân biệt Hình ảnh mô bệnh học đặc trưng trong bệnh vảy nến là lớp sừng dày có hiện tượng á sừng, lớp hột biến mất, lớp gai mỏng, mầm liên nhú dài ra và có vi apxe Munro trong lớp gai Trung bì thâm nhiễm bạch cầu lympho và giãn mạch nhú bì

- Xét nghiệm máu: có thể phát hiện các rối loạn chuyển hoá lipid máu, đường máu

Trang 18

1.1.2.3 Chẩn đoán phân biệt

Vảy nến cần phân biệt với các trường hợp bệnh da có tổn thương đỏ da bong vảy Bệnh vảy nến cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh lý sau:

- Á vảy nến: tổn thương thường là các sẩn, mảng màu hồng, có vảy trắng, cạo vảy có dấu hiệu “gắn xi”

- Vảy phấn hồng Gibert: tổn thương là các dát đỏ hình tròn hoặc bầu dục, ngoại

vi có tổn thương viền vảy, trung tâm có xu hướng lành, tổn thương chủ yếu vùng thân mình, gốc chi Bệnh có thể tự khỏi sau 4-8 tuần

- Giang mai thời kỳ II: sẩn hồng, thâm nhiễm, ngoại vi có viền vảy Xét nghiệm huyết thanh giang mai dương tính

- Lupus ban đỏ dạng đĩa: thương tổn là các dát đỏ, có teo da, vảy da dính khó bong 1.1.2.4 Tiến triển và biến chứng

- Tiến triển: bệnh tiến triển từng đợt, xen kẽ những đợt bùng phát là thời kỳ bệnh thuyên giảm Khi sạch thương tổn da cũng không thể coi là bệnh đã khỏi hoàn toàn

- Biến chứng: Bệnh diễn biến lâu ngày có thể gây chàm hóa, lichen hoá, bội nhiễm; đỏ da toàn thân Vảy nến thể khớp có thể làm biến dạng khớp, cứng khớp, nhất

là khớp cột sống

1.1.3 Điều trị

Cho đến nay chưa có phương pháp đặc hiệu nào để điều trị khỏi hoàn toàn bệnh vảy nến Chiến lược điều trị bao gồm: giai đoạn tấn công để làm sạch tổn thương và giai đoạn duy trì để giữ cho sự ổn định lâu dài Tư vấn cho người bệnh hiểu rõ về bệnh vảy nến, phối hợp với thầy thuốc trong điều trị cũng như dự phòng bệnh bùng phát [Error! Reference source not found.]

1.1.3.1 Điều trị tại chỗ

* Chỉ định:

* Là đơn trị liệu đối với vảy nến thể mảng mức độ nhẹ

* Phối hợp với các thuốc đường toàn thân hoặc điều trị ánh sáng đối với vảy nến thể vừa và nặng hoặc cá thể vảy nến đặc biệt khác

a Thuốc bôi tại chỗ

- Dithranol, anthralin: điều trị tấn công hoặc điều trị củng cố, rất có hiệu quả đối với bệnh vảy nến thể mảng Chống chỉ định với những trường hợp đỏ da toàn thân, vảy nến thể mủ Tác dụng không mong muốn ít gặp, chủ yếu là gây kích ứng da

Trang 19

- Acid salicylic: Thuốc có tác dụng bạt sừng, bong vảy Không bôi thuốc toàn thân vì có nguy cơ gây độc toàn thân, tăng men gan

- Calcipotriol: là một dẫn xuất của vitamin D3, điều trị bệnh vảy nến thể thông thường, lượng thuốc bôi, bôi dưới 30% diện tích da cơ thể (không quá 15g/ngày hoặc 100g/tuần) Calcipotriol có thể kết hợp với corticoid, dùng điều trị tấn công Chế phẩm dạng gel dùng điều trị vảy nến da đầu, dạng mỡ dùng điều trị vảy nến ở thân mình

- Vitamin A axid dùng tại chỗ: có thể có các tác dụng phụ như kích ứng, đỏ da, bong vảy da

- Kẽm oxyd: tác dụng làm dịu da, giảm kích ứng, sử dụng kết hợp với các thuốc bạt sừng bong vảy mạnh

- Corticoid tại chỗ: thuốc dùng điều trị tấn công, tác dụng điều trị nhanh nhưng

dễ tái phát sau ngừng thuốc, dùng kéo dài có thể gặp các tác dụng không mong muốn, cần phải giảm dần liệu khi đã kiểm soát được triệu chứng

b Quang trị liệu (phototherapy)

Chỉ định:

- Điều trị đơn trị liệu đối với vảy nến thể mảng mức độ vừa

- Có thể kết hợp với thuốc bôi hoặc một số thuốc toàn thân khác

Các thương pháp điều trị bằng ánh sáng được áp dụng:

- UVA (320-400nm), PUVA (Psoralen phối hợp UVA)

- UVB (290-320nm) ngày nay ít sử dụng, được thay thế dần bằng UVB dải hẹp (UVB-311 nm, Narrow Band-UVB)

1.1.3.2 Điều trị toàn thân

* Chỉ định: Điều trị vảy nến thể mảng mức độ vừa và nặng và một số thể vảy nến khác

* Một số thuốc thường được sử dụng:

- Methotrexat: điều trị đỏ da toàn thân do vảy nến, vảy nến thể mủ toàn thân, vảy nến thể mảng lan rộng Cần theo dõi chức năng gan khi dùng thuốc kéo dài

- Acitretin: điều trị các thể vảy nến nặng, đặc biệt có hiệu quả tốt với vảy nến thể

mủ

- Cyclosporin: điều trị những thể vảy nến nặng, khi dùng thuốc cần theo dõi chức năng thận và huyết áp thường xuyên

Trang 20

- Các thuốc trên có nhiều tác dụng phụ như gây quái thai, rối loạn chức năng gan, thận, giảm bạch cầu Vì vậy, phải thận trọng khi chỉ định và phải theo dõi nghiêm ngặt trong quá trình điều trị

- Corticoid: Sử dụng khi thật sự cần thiết và phải cân nhắc lợi, hại vì có thể sẽ gây nhiều biến chứng nguy hiểm, đặc biệt gây đỏ da toàn thân vảy nến hoặc vảy nến thể

mủ toàn thân

- Các thuốc sinh học (biotherapy): đây là một phương pháp điều trị mới, là lựa chọn cuối cùng khi không đáp ứng với các phương pháp khác Thuốc cho hiệu quả cao nhưng giá thành còn đắt

1.1.3.3 Khống chế và điều trị các yếu tố khởi phát bệnh

Một số yếu tố có thể gây khởi phát bệnh hoặc đợt cấp và làm bệnh nặng hơn Do

đó cần có sự phối hợp giữa bác sĩ và người bệnh để tìm ra các yếu tố này để có chiến lược phòng và giúp điều trị bệnh một các hiệu quả nhất

- Giảm thiểu căng thẳng, lo âu

- Chăm sóc da đúng cách: bảo vệ cơ thể khỏi các tác động gây tổn thương da như tránh va chạm, nhiễm bẩn, côn trùng cắn, vệ sinh thân thể hàng ngày, không cần cố gắng loại bỏ tất cả vảy trên tổn thương, tránh nước quá nóng hoặc quá lạnh, dùng nhiều xà bông làm da thêm khô ngứa Thoa kem làm ẩm da theo đơn của bác sĩ, tránh gãi gây tổn thương da nặng hơn

- Bổ sung yếu tố vi lượng và vitamin: các yếu tố vi lượng như đồng, kẽm,…

- Chế độ ăn và thói quen lành mạnh: ăn uống điều độ, một số thực phẩm giàu carotene, thức ăn có chứa vitamin D và ăn dầu cá có ích lợi trong bệnh vảy nến, khônguống rượu bia, không hút thuốc lá Tập luyện để tránh tăng béo phì, rối loạn chuyển hóa lipid, có nguy cơ khởi phát hay làm nặng lên bệnh vảy nến[7]

β Lưu ý khi sử dụng một số loạithuốc: thuốc chẹn β, kháng sinh nhóm ββ lactam, thuốc điều trị sốt rét, đặc biệt cấm dùng tất cả các corticoid đường toàn thân

- Vấn đề sử dụng thuốc nam, tắm nước lá trong điều trị bệnh: hiện nay đã có một

số công trình nghiên cứu sử dụng cây lô hội và dùng nước khoáng trong việc hỗ trợ điều trị vảy nến đạt hiệu quả tốt hơn [13] Tuy chưa có công trình nghiên cứu sử dụng thuốc nam trong điều trị vảy nến nhưng nghiên cứu của PGS Trần Văn Tiến (2004) chỉ ra một

số người bệnh vảy nến sau khi dùng thuốc nam thì thương tổn nặng hơn, một số trường hợp tiến triển thành vảy nến vảy nến thể mủ hoặc vảy nến đỏ da toàn thân[17]

Trang 21

- Đặc biệt cần giải thích cho người bệnh rõ ràng để người bệnh tuân thủ điều trị,tái khám đúng hẹn, khi tự nhận thấy bệnh thuyên giảm, hết tổn thương, không được chủ quan,

tự ý bỏ thuốc hoặc tự ý mua thuốc theo đơn cũ để dùng

1.2 Cơ sở thực tiễn

Tình hình vảy nến ở Việt Nam và vấn đề nhận thức của người bệnh

Nghiên cứu của PGS Trần Văn Tiến tại Viện Da liễu Trung ương có 134 bệnh nhân vảy nến điều trị trong thời gian từ 3/1999 - 8/2000, chiếm tỷ lệ 12,04% số người bệnh nằm điều trị nội trú tại viện[17] Theo số liệu thống kê tại Bệnh viện Da liễu Trung ương năm

2010, tỷ lệ người bệnh vảy nến chiếm khoảng 2,2% tổng số người bệnh đến khám bệnh

Các tài liệu cho thấy rằng có đến 40-70% số người bệnh không sử dụng thuốc theo quy định của bác sĩ Giáo dục người bệnh, mối quan hệ bác sĩ-người bệnh, hiệu quả điều trị, thời gian tiêu thụ, sự phiền phức khi sử dụng thuốc bôi và sợ tác dụng phụ được báo cáo là những lý do tại sao người bệnh không sử dụng thuốc theo chỉ định của bác

Trang 22

CHƯƠNG 2

MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT

2.1 Đặc điểm tình hình về Bệnh viện Da liễu Trung ương

Bệnh viện Da liễu Trung ương, số 15A, phố Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội, là Bệnh viện chuyên khoa đầu ngành về Phong - Da liễu của cả nước Bệnh viện nằm cạnh Bệnh viện Bạch Mai và các tuyến đường lớn nên giao thông khá thuận tiện Bệnh viện được xếp là Bệnh viện hạng I nên theo quy định của Bộ Y tế, Bệnh viện Da liễu Trung ương có 07 chức năng và nhiệm vụ chính, đó là: Khám, Chữa bệnh, Đào tạo cán bộ, Nghiên cứu khoa học, Chỉ đạo tuyến, Phòng bệnh, Hợp tác quốc tế và Quản lý kinh tế trong Bệnh viện Tiền thân của Bệnh viện Da liễu Trung ương là Khoa Da liễu của Bệnh viện Bạch Mai.Vào tháng 03/2006, Bộ Y tế cho ra quyết định thành lập Viện Da liễu Quốc gia trực thuộc Bộ Y tế Năm 2009, Viện Da liễu Quốc gia được đổi tên thành Bệnh viện Da liễu Trung ương trực thuộc Bộ Y tế

Các hoạt động chính của Bệnh viện Da liễu Trung ương được thể hiện ở mô hình dưới đây:

Hình 2.1: Các hoạt động chính của Bệnh viện Da liễu TW

Để thực hiện được các hoạt động trên, hiện tại Bệnh viện có các khoa phòng chức

Các hoạt động của Bệnh viện

Da liễu TW

Chỉ đạo tuyến, HTQ, NCKH, Đào tạo

Khám bệnh

da thông thường, điều trị nội trú

Các bệnh LTQĐTD HIV/AIDS

Phẫu thuật chỉnh hình, tạo hình, Laser

Tế bào gốc

và chống lão hóa da

xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh, dược

Khám bệnh da: đặc biệt, nghề nghiệp

Trang 23

năng sau:

- Các phòng chức năng: gồm có các phòng là Phòng tổ chức cán bộ, Phòng Hành chính; Phòng đào tạo và nghiên cứu khoa học; Phòng hợp tác quốc tế; Phòng chỉ đạo ngành; Phòng tài chính - kế toán; Phòng kế hoạch tổng hợp, Phòng quản trị-vật tư và thiết bị y tế, Phòng Điều Dưỡng, Phòng công nghệ thông tin và truyền thông giáo dục y

tế, Phòng Công tác Xã hội

- Các khoa lâm sàng: Khoa khám bệnh; Khoa điều trị bệnh phong và Laser-phẫu thuật (gồm có phòng người bệnh phong nội trú, phòng vật lý trị liệu, UVA-UVB, phòng Laser, phòng phẫu thuật và phòng chăm sóc da thẩm mỹ); Khoa điều trị bệnh da phụ nữ

và trẻ em; Khoa điều trị bệnh da nam giới, Khoa kiểm soát nhiễm khuẩn, Khoa Dinh dưỡng và tiết chế

- Các khoa cận lâm sàng: Khoa dược; Khoa xét nghiệm (phòng Vi sinh-nấm, phòng giải phẫu bệnh, phòng huyết thanh, phòng sinh hóa-huyết học và phòng miễn dịch); Khoa Chẩn đoán hình ảnh

- Các khoa phòng luôn thống nhất, phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau trong các hoạt động tạo nên một dây chuyền khám, chữa bệnh nhuần nhuyễn, đem lại hiệu quả cao cho công tác chăm sóc sức khỏe, thỏa mãn nhu cầu của người bệnh

- Về nhân lực điều dưỡng và cơ cấu nhân lực điều dưỡng: Toàn Bệnh viện có 93 điều dưỡng Về cơ cấu trình độ điều dưỡng: Sau đại học: 14, Đại học: 55, Cao đẳng: 22, Trung học: 2

Công tác điều trị bệnh vẩy nến tại bệnh viện Da liễu Trung ương: Tại Bệnh viện

Da liễu Trung ương đã xây dựng riêng phòng khám Chuyên đề bệnh vảy nến và bệnh da điều trị bằng ánh sáng với các Bác sĩ có chuyên môn cao để góp phần khám, điều trị, tư vấn cho người bệnh vảy nến ngoại trú Trung bình hàng ngày các Bác sĩ tại đây tiếp nhận hàng chục người bệnh, tuy chưa có thống kê cụ thể nhưng khá nhiều Bác sĩ không có nhiều thời gian để tư vấn bệnh cho người bệnh

Ngày Vảy nến thế giới 19.10 là một sự kiện được tổ chức hàng năm tại Bệnh viện

Da liễu TW dành cho người bệnh vẩy nến Đây cũng là sự kiện toàn cầu nhằm mục đích lên tiếng cho hơn 125 triệu người bệnh trên toàn thế giới và nâng cao nhận thức trong cộng đồng, đồng thời đem đến cho người bệnh điều kiện chăm sóc sức khỏe tốt hơn Ngày vảy nến thế giới mang đến thông điệp ý nghĩa kết nối cộng đồng để cùng chia sẻ

Trang 24

và nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh vảy nến, tuyên truyền cho xã hội không kỳ thị với người không may mắc phải căn bệnh này, đồng thời cũng thôi thúc những người làm ngành y luôn cố gắng tìm ra phương thức giúp cho việc kiểm soát căn bệnh này một cách tốt hơn

Mặc dù hiện nay y học đã có nhiều tiến bộ trong việc chẩn đoán và điều trị bệnh vảy nến, tuy nhiên có nhiều người bệnh chẳng những không tuân thủ điều trị mà còn tiếp xúc với những yếu tố nguy cơ làm bệnh nặng thêm như thuốc lá, rượu, bia, chất kích thích, stress khiến cho bệnh dễ tái phát, dẫn đến phải nhập viện điều trị, kéo theo những gánh nặng

về chi phí cho người bệnh Nhận thức của người bệnh về bệnh và về các phương pháp điều trị là khác nhau, tùy thuộc vào tuổi, trình độ văn hóa Kiểm soát để bệnh ổn định, không tái phát là nhiệm vụ vô cùng quan trọng giúp điều trị bệnh tốt hơn Giáo dục sức khỏe về vảy nến cho người bệnh là cần thiết và đã nâng cao được đáng kể kiến thức, thái độ, thực hành của người bệnh, qua đó hiệu quả điều trị được tốt hơn và nâng cao chất lượng sống của người bệnh

2.2 Thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại bệnh viện Da liễu Trung ương

Từ 01/01/2020 đến 30/07/2020, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu trên 80 người bệnh vảy nến đến khám và điều trị tại Bệnh viện Da liễu Trung ương

2.2.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

2.2.1.1 Phân bố người bệnh theo tuổi

Bảng 2.1 Phân bố NB theo tuổi (n= 80)

Theo bảng 2.1: Tuổi thấp nhất trong nhóm nghiên cứu là 18 tuổi, tuổi cao nhất là

76 tuổi Nhóm tuổi từ 40-49 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 28 người bệnh (35%)

Trang 25

2.2.1.2 Phân bố người bệnh theo tuổi khởi phát

Bảng 2.2 Phân bố NB theo tuổi khởi phát (n=80) Tuổi khởi phát ≤ 20 tuổi 20-40 tuổi ≥40 tuổi Tổng

Kết quả bảng 2.2: Trong số 80 NB nghiên cứu tuổi khởi phát thấp nhất là 6 tuổi, cao nhất là 70 tuổi Tỷ lệ người bệnh có tuổi khởi phát từ 20-40 tuổi cao nhất, chiếm 51%

2.2.1.3 Phân bố người bệnh theo giới tính:

Bảng 2.3 Phân bố người bệnh theo giới (n=80)

2.2.1.4.Phân bố người bệnh theo trình độ văn hóa

Bảng 2.4 Phân bố người bệnh theo trình độ văn hóa (n=80)

Kết quả bảng 2.4: Tỷ lệ NB có trình độ trung học phổ thông cao nhất chiếm 35%, 32% là số NB có trình độ cao đẳng, đại học, thấp nhất là NB không biết chữ, chiếm 9%

Trang 26

2.2.1.5 Phân bố người bệnh theo nghề nghiệp

Bảng 2.5 Phân bố người bệnh theo nghề nghiệp (n=80)

2.2.1.6 Phân bố người bệnh theo nơi ở

Bảng 2.6 Phân bố người bệnh theo nơi ở (n=80)

Bảng 2.7 Phương tiện tìm kiếm thông tin về bệnh vảy nến của NB trước khi tư

vấn tại bệnh viện da liễu Trung ương (n=80)

Ngày đăng: 03/09/2021, 10:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Các hoạt động chính của Bệnh viện Da liễu Trung ương được thể hiện ở mô hình dưới đây:   - Chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa cấp i  thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại bệnh viện da liễu trung ương năm 2020
c hoạt động chính của Bệnh viện Da liễu Trung ương được thể hiện ở mô hình dưới đây: (Trang 22)
Bảng 2.1. Phân bố NB theo tuổi (n=80) - Chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa cấp i  thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại bệnh viện da liễu trung ương năm 2020
Bảng 2.1. Phân bố NB theo tuổi (n=80) (Trang 24)
Bảng 2.2. Phân bố NB theo tuổi khởi phát (n=80) - Chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa cấp i  thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại bệnh viện da liễu trung ương năm 2020
Bảng 2.2. Phân bố NB theo tuổi khởi phát (n=80) (Trang 25)
Kết quả bảng 2.2: Trong số 80 NB nghiên cứu tuổi khởi phát thấp nhất là 6 tuổi, cao nhất là 70 tuổi - Chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa cấp i  thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại bệnh viện da liễu trung ương năm 2020
t quả bảng 2.2: Trong số 80 NB nghiên cứu tuổi khởi phát thấp nhất là 6 tuổi, cao nhất là 70 tuổi (Trang 25)
Bảng 2.5. Phân bố người bệnh theo nghề nghiệp (n=80) - Chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa cấp i  thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại bệnh viện da liễu trung ương năm 2020
Bảng 2.5. Phân bố người bệnh theo nghề nghiệp (n=80) (Trang 26)
Theo kết quả bảng 2.5: Tỷ lệ NB làm lao động chân tay chiếm tỷ lệ cao nhất 43,75%, NB là hưu trí, lao động trí óc, học sinh-sinh viên chiếm tỷ lệ lần lượt là 22,5%,  18,75%, 15% - Chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa cấp i  thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại bệnh viện da liễu trung ương năm 2020
heo kết quả bảng 2.5: Tỷ lệ NB làm lao động chân tay chiếm tỷ lệ cao nhất 43,75%, NB là hưu trí, lao động trí óc, học sinh-sinh viên chiếm tỷ lệ lần lượt là 22,5%, 18,75%, 15% (Trang 26)
Kết quả bảng 2.7: Kiến thức về bệnh vảy nến người bệnh có được từ nhân viên y tế chiếm tỷ lệ cao nhất 52,5% - Chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa cấp i  thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại bệnh viện da liễu trung ương năm 2020
t quả bảng 2.7: Kiến thức về bệnh vảy nến người bệnh có được từ nhân viên y tế chiếm tỷ lệ cao nhất 52,5% (Trang 27)
Bảng 2.8. Biện pháp người bệnh đã điều trị trước khi điều trị tại Bệnh viện da liễu Trung ương (n=80)  - Chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa cấp i  thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại bệnh viện da liễu trung ương năm 2020
Bảng 2.8. Biện pháp người bệnh đã điều trị trước khi điều trị tại Bệnh viện da liễu Trung ương (n=80) (Trang 27)
Bảng 2.10.Thay đổi kiến thức của NB về mức độ phổ biến bệnh (n=80)       Thời điểm  - Chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa cấp i  thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại bệnh viện da liễu trung ương năm 2020
Bảng 2.10. Thay đổi kiến thức của NB về mức độ phổ biến bệnh (n=80) Thời điểm (Trang 28)
Kết quả bảng 2.10: Chỉ có 56,25% NB trước khi được tư vấn thấy rằng bệnh này là phổ biến, nhưng sau khi được tư vấn, con số này đã tăng lên trên 87,5% - Chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa cấp i  thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại bệnh viện da liễu trung ương năm 2020
t quả bảng 2.10: Chỉ có 56,25% NB trước khi được tư vấn thấy rằng bệnh này là phổ biến, nhưng sau khi được tư vấn, con số này đã tăng lên trên 87,5% (Trang 28)
Bảng 2.12. Thay đổi kiến thức của NB về đặc điểm của bệnh (n=80)             Thời điểm  - Chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa cấp i  thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại bệnh viện da liễu trung ương năm 2020
Bảng 2.12. Thay đổi kiến thức của NB về đặc điểm của bệnh (n=80) Thời điểm (Trang 29)
Kết quả bảng 2.12: Đa phần nhận thức đúng về đặc điểm của bệnh đều tăng lên, tuy nhiên số người bệnh nghĩ rằng bệnh đã có thuốc điều trị khỏi vẫn không thay đổi - Chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa cấp i  thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại bệnh viện da liễu trung ương năm 2020
t quả bảng 2.12: Đa phần nhận thức đúng về đặc điểm của bệnh đều tăng lên, tuy nhiên số người bệnh nghĩ rằng bệnh đã có thuốc điều trị khỏi vẫn không thay đổi (Trang 29)
Kết quả bảng 2.14: Đa phần trước tư vấn NB chọn dùng thuốc theo đơn (85%), sau tư vấn, tăng lên 97,5%, tỉ lệ NB dùng thuốc không thường xuyên giảm 10 lần - Chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa cấp i  thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại bệnh viện da liễu trung ương năm 2020
t quả bảng 2.14: Đa phần trước tư vấn NB chọn dùng thuốc theo đơn (85%), sau tư vấn, tăng lên 97,5%, tỉ lệ NB dùng thuốc không thường xuyên giảm 10 lần (Trang 30)
Bảng 2.14. Thay đổi kiến thức của NB về cách dùng thuốc điều trị duy trì (n=80)  Thời điểm  - Chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa cấp i  thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại bệnh viện da liễu trung ương năm 2020
Bảng 2.14. Thay đổi kiến thức của NB về cách dùng thuốc điều trị duy trì (n=80) Thời điểm (Trang 30)
Bảng 2.16. Thay đổi thực hành của NB trong chế độ ăn uống,sinh hoạt (n=80) Thời điểm  - Chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa cấp i  thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại bệnh viện da liễu trung ương năm 2020
Bảng 2.16. Thay đổi thực hành của NB trong chế độ ăn uống,sinh hoạt (n=80) Thời điểm (Trang 31)
Kết quả bảng 2.16: Hành vi khônguống rượu và dùng các chất kích thích, ăn uống điều độ để tránh tăng cân và hạn chế các loại thức ăn gây bênh, làm bệnh nặng lên, tái  phát đều tăng lên - Chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa cấp i  thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại bệnh viện da liễu trung ương năm 2020
t quả bảng 2.16: Hành vi khônguống rượu và dùng các chất kích thích, ăn uống điều độ để tránh tăng cân và hạn chế các loại thức ăn gây bênh, làm bệnh nặng lên, tái phát đều tăng lên (Trang 31)
Kết quả bảng 2.18: Hành vi tắm hàng ngày, nhẹ nhàng, tránh gãi, chấn thương da tránh tổn thương da và thoa kem làm ẩm thường xuyên đều giảm - Chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa cấp i  thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại bệnh viện da liễu trung ương năm 2020
t quả bảng 2.18: Hành vi tắm hàng ngày, nhẹ nhàng, tránh gãi, chấn thương da tránh tổn thương da và thoa kem làm ẩm thường xuyên đều giảm (Trang 32)
Bảng 2.18. Thay đổi thực hành của NB trong chăm sóc da (n=80)                                Thời điểm  - Chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa cấp i  thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại bệnh viện da liễu trung ương năm 2020
Bảng 2.18. Thay đổi thực hành của NB trong chăm sóc da (n=80) Thời điểm (Trang 32)
Kết quả bảng 2.20: Trước tư vấn, hành vi tránh căng thẳng, nhiễm khuẩn và hạn chế chấn thương, tổn thương da chiếm tỉ lệ cao nhất (theo thứ tự là 68,75% và 76,25%);  sau tư vấn tỉ lệ chọn của các hành vi này đều tăng lên nhưng thứ tự vẫn không thay đổi - Chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa cấp i  thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại bệnh viện da liễu trung ương năm 2020
t quả bảng 2.20: Trước tư vấn, hành vi tránh căng thẳng, nhiễm khuẩn và hạn chế chấn thương, tổn thương da chiếm tỉ lệ cao nhất (theo thứ tự là 68,75% và 76,25%); sau tư vấn tỉ lệ chọn của các hành vi này đều tăng lên nhưng thứ tự vẫn không thay đổi (Trang 33)
Kết quả bảng 2.22: Hành vi khám theo lịch hẹn tăng từ 77,5% lên 93,7%; các hành vi khác: Chỉ khi bệnh nặng lên mới khám, tự mua thuốc về nhà dùng, không tái  khám đều giảm. - Chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa cấp i  thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại bệnh viện da liễu trung ương năm 2020
t quả bảng 2.22: Hành vi khám theo lịch hẹn tăng từ 77,5% lên 93,7%; các hành vi khác: Chỉ khi bệnh nặng lên mới khám, tự mua thuốc về nhà dùng, không tái khám đều giảm (Trang 34)
Bảng 2.22. Thay đổi thực hành của NB về việc tái khám (n=80)                                   Thời điểm  - Chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa cấp i  thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại bệnh viện da liễu trung ương năm 2020
Bảng 2.22. Thay đổi thực hành của NB về việc tái khám (n=80) Thời điểm (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w