1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa cấp i nhận xét công tác tư vấn về nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới cho phụ nữ mang thai đến khám tại khoa khám bệnh theo yêu cầu bệnh viện phụ sản trung ương

37 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 500,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH --- ---LÊ THỊ LINH NHẬN XÉT CÔNG TÁC TƯ VẤN VỀ NHIỄM KHUẨN ĐƯỜNG SINH DỤC DƯỚI CHO PHỤ NỮ MANG THAI ĐẾN KHÁM TẠI KHOA KHÁM BỆNH THEO YÊU CẦ

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

-

-LÊ THỊ LINH

NHẬN XÉT CÔNG TÁC TƯ VẤN VỀ NHIỄM KHUẨN ĐƯỜNG SINH DỤC DƯỚI CHO PHỤ NỮ MANG THAI ĐẾN KHÁM TẠI KHOA KHÁM BỆNH THEO YÊU CẦU

BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP CHUYÊN KHOA 1 – KHÓA 7

NAM ĐỊNH - 2020

Trang 2

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

-

-LÊ THỊ LINH

NHẬN XÉT CÔNG TÁC TƯ VẤN VỀ NHIỄM KHUẨN ĐƯỜNG SINH DỤC DƯỚI CHO PHỤ NỮ MANG THAI ĐẾN KHÁM TẠI KHOA KHÁM BỆNH THEO YÊU CẦU

BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG

Chuyên ngành :Điều dưỡng sản phụ khoa BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN PGS.TS LÊ THANH TÙNG

NAM ĐỊNH - 2020

Trang 3

i

LỜI CẢM ƠN

Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện chuyên đề tốt nghiệp, em đã nhận được nhiều sự giúp đỡ tại điều kiện của tập thể cá nhân, các nhà khoa học, gia đình và bạn bè Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc em xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới : Đảng ủy, Ban giám hiệu, Phòng quản lý đào tạo sau đại học và các khoa phòng khác của Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã tạo điều kiện tốt nhất để

em học tập và hoàn thành khóa luận chuyên đề tốt nghiệp của mình

PGS TS Lê Thanh Tùng đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn và động viên cũng như tạo mọi điều kiện cho em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp

Để hoàn thành chuyên đề này còn có sự giúp đỡ tận tình của Ban Giám Đốc, Khoa Khám bệnh theo yêu cầu Bệnh viện Phụ sản Trung ương đã tạo điều kiện cho

em trong suốt quá trình thu thập thông tin để hoàn thiện chuyên đề đúng thời hạn Với thời gian thực hiện chuyên đề gần 3 tháng qua, bước đầu đi vào hoàn thiện Em đã nhận được ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn cùng lớp, em đã học thêm được nhiều kinh nghiệm và đã hoàn thành tốt bài báo cáo chuyên đề tốt nghiệp

Trang 4

ii

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC HÌNH iv

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3

1.1 Cơ sở lý luận 3

1.1.1 Tổng quan tài liệu 3

1.2 Cơ sở thực tiễn 11

1.2.1 Tình hình nghiên cứu các căn nguyên của bệnh viêm đường sinh dục dưới ở Việt Nam và trên thế giới 11

1.2.2 Tình hình GDSK trên thế giới và tại Việt Nam 14

Chương 2: MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 18

2.1.Thực trạng công tác GDSK 18

2.1.1 Quá trình tư vấn về cơ bản đã tuân theo nguyên tắc 19

2.1.2 Quá trình GDSS đảm bảo chất lượng và đạt được những yêu cầu 19

2.1.3 Tư vấn giáo dục sức khỏe 20

Chương 3: BÀN LUẬN 23

3.1 Các ưu nhược điểm 23

3.1.1 Ưu điểm 23

3.1.2 Nhược điểm 23

3.1.3 Nguyên nhân 24

3.2 Đề xuất một số giải pháp 25

3.2.1 Cơ sở vật chất và nhân sự 25

3.2.2 Quá trình GDSK cần trú trọng các nội dung cơ bản sau: 25

KẾT LUẬN 27 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

BV PSTW : Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương

BVBMTSS : Bệnh viện Bà Mẹ Trẻ Sơ Sinh

NKLTQĐTD : Nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục

Trang 6

iv

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Cấu tạo giải phẫu và sinh lý bộ phận sinh dục nữ 3Hình ảnh 2.1 Góc tư vấn trong phòng khám 20Hình ảnh 2.2 Bàn khám phụ khoa tại khoa khám bệnh theo yêu cầu BVPSTW 20Hình ảnh 2.3 Tư vấn GDSK cho thai phụ 3 tháng đầu mắc viêm đường sinh dục 22

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm nhiễm đường sinh dục dưới là một bệnh phụ khoa thường gặp tuy không ảnh hưởng đến tính mạng nhưng dễ chuyển sang mạn tính do các triệu chứng nghèo nàn Nó là nỗi lo của hầu hết các chị em phụ nữ , ngoài vấn đề đau rát

và khó chịu do bệnh cấp tính gây nên người phụ nữ còn phải chịu đựng sự suy giảm sức khỏe và những di chứng do viêm đường sinh dục như : Viêm tiểu khung, chửa ngoài tử cung, ung thư cổ tử cung, sảy thai ….Viêm nhiễm đường sinh dục dưới nếu không được phát hiện và điều trị sớm sẽ ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt và khả năng lao động của người phụ nữ Theo Quỹ Dân Số Liên Hợp Quốc mỗi năm toàn cầu có khoảng 340 triệu trường hợp mắc viêm sinh dục mới ước tính nhiễm mới tăng hơn 1 triệu người/ năm, có nghĩa là cứ 7 người ở độ tuổi sinh đẻ thì có hơn 1 người bị nhiễm

Nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới là tình trạng viêm nhiễm các bộ phận của

cơ quan sinh dục nằm ngoài phúc mạc bao gồm: Âm hộ, Âm đạo và Cổ tử cung có thể do vi khuẩn, ký sinh trùng nấm hoặc virus gây nên, triệu chứng chủ yếu là ra dịch âm đạo, ngứa đôi khi gây mỏi lưng, rối loạn kinh nguyệt và có thể gây viêm tiểu khung [2]

Tại Việt Nam một trong những thách thức không nhỏ của chiến lược chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS) là tình trạng viêm sinh dục còn khá phổ biến Theo nghiên cứu trên 960 phụ nữ đến khám phụ khoa tại Bệnh Viện Phụ Sản Trung Ương cho thấy 798 người mắc bệnh viêm sinh dục chiếm tỉ lệ 83.1% [22]

Ngày nay cùng với sự giao lưu quốc tế, sự phát của nhiều mối quan hệ xã hội dẫn đến các bệnh xã hội trong dân chúng ngày càng gia tăng, nhất là các bệnh lây truyền theo đường tình dục Do đó hiểu biết về các bệnh lây truyền theo đường tình dục để tìm biện pháp ngăn chặn và phòng chống là điều hết sức cần thiết Đặc biệt đối với phụ nữ mang thai việc tư vấn về NKĐSD dưới sẽ giúp người phụ nữ tăng thêm kiến thức và thực hành để phòng và phát hiện sớm bệnh lý này, từ đó sẽ giúp cho việc giảm tỷ lệ mắc bệnh cũng như giúp cho người phụ nữ mang thai một cách

an toàn hơn

Trang 8

Với lý do trên, trong báo cáo chuyên đề: “Nhận xét công tác tư vấn về nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới cho phụ nữ mang thai đến khám tại khoa Khám bệnh theo yêu cầu Bệnh Viện Phụ Sản Trung Ương” hướng tới tìm hiểu những nguyên nhân cũng như ưu điểm và nhược điểm ảnh hưởng đến công tác tư vấn, giáo dục sức khỏe của điều dưỡng, hộ sinh tại khoa Khám bệnh – Bệnh viện Phụ Sản Trung ương nhằm mục tiêu:

1 Mô tả công tác tư vấn và giáo dục sức khỏe của điều dưỡng, hộ sinh cho phụ nữ mang thai mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới

2 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác tư vấn và giáo dục sức khỏe của điều dưỡng, hộ sinh cho phụ nữ mang thai mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới

Trang 9

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận:

1.1.1 Tổng quan tài liệu

1.1.1.1 Đặc điểm giải phẫu và sinh lý học âm hộ, âm đạo và cổ tử cung

Hình 1.1: Cấu tạo giải phẫu và sinh lý bộ phận sinh dục nữ

* Giải phẫu:

Âm hộ: gồm hai môi lớn, hai môi nhỏ, âm vật, màng trinh, lỗ âm đạo và lỗ niệu đạo Hai bên âm hộ có tuyến Bartholin và hai bên lỗ niệu đạo có tuyến Skene, các tuyến này tiết ra chất dịch giúp cho âm đạo khỏi khô

Âm đạo: Là phần cuối cùng đường sinh sản và là nơi dẫn kinh nguyệt từ buồng tử cung ra ngoài, cấu tạo là một khoang ảo nối âm hộ đến cổ tử cung Thành trước âm đạo dài 6-8 cm, thành sau âm đạo dài 7-10 cm Âm đạo bám vào cổ tử cung theo một vòng và tạo ra các cùng đồ trước, sau và bên Thành âm đạo gồm 3

Trang 10

lớp: biểu mô niên mạc âm đạo, lớp cơ và mô đệm Niêm mạc âm đạo có nhiều nếp gấp ngang, chịu ảnh hưởng của các nội tiết tố

Cổ tử cung: Có hình ống dài 2.5-3 cm, rộng 2 cm nối thông âm đạo với buồng

tử cung được giới hạn bới hai lỗ, lỗ trong và lỗ ngoài tử cung Dịch nhầy từ cổ tử cung kiềm tính, lượng dịch nhiều lên trong thời kỳ phóng noãn [7]

* Đặc điểm sinh lý của âm đạo:

Dịch tiết âm đạo bao gồm những thành phần khác nhau: chất tiết từ tuyến Bartholin, tuyến Skene, tuyến cổ tử cung và các chất tiết từ niêm mạc tử cung, vòi trứng, dịch thấm âm đạo, các tế bào bong của niêm mạc âm đạo và một số loại vi khuẩn, đặc biệt là trực khuẩn Lactobacilli Dịch tiết sinh lý không gây các triệu chứng ngứa, có mùi hôi và đau khi giao hợp [2]

Độ PH của âm đạo bình thường từ 3.5 – 4.5, được duy trì nhờ trực khuẩn Lactobacilli kỵ khí có sẵn trong âm đạo Trực khuẩn này sử dụng Glycogen từ tế bào biểu mô của âm đạo để sinh ra acid lactic khiến môi trường âm đạo có tính acid Lượng estrogen càng cao thì âm đạo nhiều glycogen Vì vậy niêm mạc âm đạo có khả năng tự bảo vệ để chống lại vi khuẩn Ở những phụ nữ có kinh nguyệt, bình thường pH âm đạo trong ngày phóng noãn là 4,2 còn pH âm đạo trước và sau khi hành kinh từ 4.8-5.2 Trong những ngày hành kinh, âm đạo có pH là 5,4 [3],[7],[13]

Hệ vi sinh vật của âm đạo :có nhiều loại vi sinh vật tạo hệ sinh thái bình thường của âm đạo, thường có từ 5 đến 10 loài tồn tại ở trạng thái cân bằng động, nhưng trực khuẩn gram (+) Lactobacilli chiếm ưu thế từ 50-88%

Dịch âm đạo ở phụ nữ bình thường có thể có những vi sinh vật sau:

Trực khuẩn gram (+), cầu khuẩn gram (+), trực khuẩn gram (-), vi khuẩn kị khí Lactobacilli có vai trò duy trì tính acid của âm đạo và ức chế sự phát triển của

vi khuẩn khác Lactobacilli còn sinh H2O2 – halide – Peroxydase [17], [18]

Sự phong phú của hệ vi sinh vật duy trì một tác động qua lại, ức chế sự phát triển của vi khuẩn có khả năng gây bệnh.Khi sự cân bằng trên bị phá vỡ sẽ dẫn đến tình trạng viêm âm đạo, dịch âm đạo có nhiều tế bào bạch cầu, các vi khuẩn, ký sinh trùng gây bệnh Có thể do các vi sinh vật sống cộng sinh bình thường trong âm

Trang 11

đạo phát triển mạnh đủ để trở thành gây bệnh và các vi sinh vật không thuộc hệ sinh vật bình thường lây từ bên ngoài do quan hệ tình dục

Một số yếu tố thuận lợi gây mất cân bằng hệ sinh thái của âm đạo:

- Những người mang thai: Biểu mô âm đạo giải phóng ra nhiều glycogen, cùng với trực khuẩn Lactobacilli làm pH âm đạo acid hơn thuận lợi cho nấm phát triển

- Điều trị kháng sinh, nhất là kháng sinh phổ rộng sẽ gây loạn khuẩn âm đạo

- Điều trị Corticoid làm giảm sức đề kháng của cơ thể

- Bệnh nhân tiểu đường không được kiểm soát tốt, lao, ung thư, các bệnh lây truyền qua đường tình dục cũng tạo điều kiện cho vi khuẩn có lợi gây bệnh

- Thụt rửa âm đạo

Các can thiệp không đảm bảo vô khuẩn như thủ thuật sản khoa, nạo hút thai, đặt vòng tránh thai làm phá vỡ hàng rào bảo vệ âm đạo gây viêm âm đạo

1.1.1.2 Các hình thái lâm sàng của viêm nhiễm đường sinh dục dưới

* Dịch âm đạo

Bình thường trong âm đạo có một ít dịch trắng trong, đó là chất nhầy do các tuyến cổ tử cung tiết ra và các tế bào biểu mô ở niêm mạc âm đạo bị bong.Trong những trường hợp sinh lý, chất nhầy này không đủ chảy ra ngoài tới mức người phụ

nữ phải khó chịu Khi các chất nhầy trên chảy ra ngoài nhiều hoặc có màu, có mùi đặc biệt gây khó chịu gọi là dịch âm đạo [2], [7]

Dịch âm đạo chia làm ba loại:

- Dịch âm đạo trong: là loại dịch trong và dính như long trắng trứng, có khi loãng như nước Xét nghiệm không thấy vi khuẩn và bạch cầu đa nhân, chỉ thấy trực khuẩn Lactobacilli và tế bào biểu mô âm đạo bong ra Dịch âm đạo này do sự tăng tiết của niêm mạc tử cung, của ống cổ tử cung gặp ở một số tổn thương thực thể như u xơ tử cung, polyp cổ tử cung, lộ tuyến cổ tử cung

- Dịch âm đạo đặc, trắng: là loại dịch đặc có màu trắng, kết dính như bột, thường đọng ở các túi cùng Xét nghiệm thường thấy có nấm Candida

- Dịch âm đạo xanh, vàng, có bọt: là loại dịch đục, loãng, có màu vàng hoặc xanh, thường có bọt và mùi hôi, phủ khắp cổ tử cung và cung đồ Xét nghiệm thường gặp loại tạp trùng gây bệnh hoặc thấy trùng roi âm đạo

* Viêm âm hộ

Trang 12

- Âm hộ viêm đỏ, ngứa, xung huyết, phù nề, loét hoặc vết trắng âm hộ

- Có thể thấy mủ vàng xanh chảy ra từ các lỗ của tuyến Skene, tuyến Bartholin

Các nguyên nhân gây viêm âm hộ là do vi khuẩn từ đường tiêu hóa, tiết niệu lan sang như: Ecoli, liên cầu, tụ cầu hoặc do vi khuẩn lậu [2], [4]

* Viêm âm đạo

Thường gặp viêm âm đạo do nấm Candida albicans, còn lại là các chủng nấm như: C.tropicalis, C.turolopsis, C.glabrata, C.krusei [16], [37]

Biểu hiện lâm sàng ngứa âm hộ, âm đạo ở mức độ khác nhau, ra dịch âm đạo như bột có thể đái khó hoặc đái buốt Đôi khi bệnh nhân có cảm giác rát bỏng hoặc đau khi giao hợp

Khám thấy âm hộ, âm đạo viêm đỏ, dịch âm đạo bột trắng như váng sữa Cổ

tử cung có thể bình thường hoặc viêm đỏ, bắt màu lugol 3% nhạt [3]

Bệnh nhân thường ngứa, ra dịch âm đạo hôi, khó chịu, giao hợp đau Khám thấy âm hộ viêm đỏ, dịch âm đạo trắng loãng, màu xanh vàng, có bọt, kém bắt màu lugol tạo nên hình ảnh sao đêm khi soi cổ tử cung

 Viêm âm đạo do Gardnerella vaginalis

Bệnh nhân thường đến khám vì ra dịch âm đạo hôi, tanh, màu trắng hoặc xám.Khám lâm sang thấy niêm mạc âm đạo không viêm đỏ rõ và không có triệu chứng viêm tấy [3], [7]

Chẩn đoán: Theo tiêu chuẩn của Amsel, dựa trên ít nhất 4 trong 5 dấu hiệu sau:

- Dịch âm đạo trắng xám đồng nhất dính vào thành âm đạo

- Mật độ vi khuẩn trong soi tươi (++), (+++)

- pH âm đạo > 4.5

- Test Sniff có mùi cá ươn

- Clue cells chiếm hơn 20% tế bào biểu mô của âm đạo bong ra Clue cells là hình ảnh các trực khuẩn Gram (-) nhỏ bám lên bề mặt hoặc bám xung quanh tế bào biểu mô âm đạo

Trang 13

Viêm âm đạo do vi khuẩn gây mất thăng bằng hệ vi khuẩn chí trong âm đạo Một số vi khuẩn do liên cầu, tụ cầu, E.coli, Klebsiella…

Triệu chứng ra dịch âm đạo ngứa, khám thấy âm đạo viêm đỏ, viêm lộ tuyến

cổ tử cung, có khi rớm máu

* Viêm cổ tử cung

Ra dịch âm đạo là dấu hiệu cơ năng hay gặp

Viêm cấp: Cổ tử cung viêm đỏ, phù nề, thường kết hợp với viêm âm đạo, chất nhầy cổ tử cung đục, có thể như mủ

Viêm mãn: Tổn thương khư trú quanh lỗ ngoài cổ tử cung, thường kèm theo

lộ tuyến cổ tử cung

Đa số bệnh nhân không có biểu hiện lâm sàng, chỉ khoảng 1/3 các trường hợp

có triệu chứng lâm sàng

Biểu hiện lâm sàng:

- Dịch âm đạo trắng vàng hay xanh từ lỗ trong cổ tử cung chảy ra

- Cổ tử cung hé, có thể chảy máu khi lấy bệnh phẩm

 Viêm cổ tử cung do lậu

Bệnh nhân thường đến với triệu chứng đái buốt, dắt, ra dịch âm đạo như mủ, đau khi sinh hoạt tình dục Có thể gặp bệnh cảnh cấp tính như viêm tuyến Bartholin, viêm cổ tử cung Khám thấy âm đạo và cổ tử cung đỏ, rất đau nhưng cũng có những trường hợp viêm mãn tính do lậu vì vậy các triệu chứng lâm sàng không rầm rộ, ra dịch âm đạo như mủ hoặc ít chất nhầy

1.1.1.3 Một số yếu tố liên quan tới viêm nhiễm đường sinh dục dưới

* Sự hiểu biết về bệnh nhiễm trùng đường sinh dục dưới

Theo Phạm Văn Hiển, Nguyễn Duy Hưng và cộng sự tỷ lệ phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ biết về các bệnh nhiễm trùng đường sinh dục rất thấp, chiếm 55,1% khi nghiên cứu trên 1999 phụ nữ ở 5 tỉnh Lâm Đồng, Đồng Tháp, Nam Định, Thái Nguyên, Hải Phòng Trong số những người biết các triệu chứng của bệnh nhiễm trùng đường sinh dục, tỷ lệ phụ nữ biết triệu chứng ra khí hư là cao nhất 90.4%, sau đó đến ngứa là 62% và giảm dần cho các triệu chứng ra máu bất thường, đái buốt đái dắt…Còn sự hiểu biết về đường lây truyền của bệnh này ở những người phụ nữ được

Trang 14

điều tra là rất thấp.Chỉ có 4% số phụ nữ trả lời rằng bệnh có lây truyền qua đường tình dục, 1,9% cho rằng sử dụng bao cao su có thể phòng tránh được bệnh và 38,2% trả lời bệnh có thể do thiếu vệ sinh cá nhân và dung nước bẩn Tuy nhiên 70,4% phụ nự được hỏi hiểu biết mức độ nguy hiểm của viêm đường sinh dục dưới [9]

* Thói quen vệ sinh phụ nữ

Thói quen vệ sinh phụ nữ cũng ảnh hưởng đến bệnh nhiễm trùng đường sinh dục dưới

Nguyễn Thị Ngọc Khanh cho thấy nhóm thai phụ có thói quen làm vệ sinh phụ nữ bằng cách ngâm mình trong chậu nước có nguy cơ nhiễm nấm Candida cao gấp 1.84 lần so với nhóm làm vệ sinh dưới vòi nước chảy Số lần thay băng vệ sinh hằng ngày trong kỳ kinh nguyệt có liên quan với viêm âm đạo Thay băng vệ sinh dưới 3 lần trong ngày có nguy cơ viêm âm đạo gấp 2.5 lần trở lên Về thói quên vệ sinh trước khi sinh hoạt tình dục, tác giả cũng cho biết nguy cơ viêm âm đạo ở nhóm thai phụ có chồng không vệ sinh trước và sau giao hợp cao gấp 1.43 lần so với nhóm giữ vệ sinh [16]

Theo Nguyễn Thị Thời Loạn cho thấy bệnh nhân có thói quen rửa sâu vào âm đạo có nguy cơ nhiễm Gardnerella gấp 7,42 lần ở người không có thói quen đó [17] Các tác giả nước ngoài như Cotrell, Tallahassee ở Mỹ cho thấy ở phụ nữ có thói quen thụt rửa âm đạo bằng vòi hoa sen, nguy cơ viêm nhiễm đường sinh dục dưới tăng [25]

Khi nghiên cứu ở 602 thai phụ, Nguyễn Thị Ngọc Khanh cho biết tiền sử nạo, hút thai và sảy thai có liên quan đến viêm lộ tuyến cổ tử cung Nguy cơ viêm lộ tuyến cổ tử cung ở nhóm thai phụ có tiền sử nạo, hút thai sớm và sảy thai cao gấp 1.44 lần so với không có tiền sử này [16]

Trang 15

* Nguồn nước sinh hoạt và nhà tắm

Theo Nguyễn Thị Ngọc Khanh không có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm thai phụ sử dụng nước máy hoặc nước giếng đối với nhiễm trùng đường sinh dục [16]

Khi nghiên cứu tại một số tỉnh Nguyễn Duy Hưng và cộng sự cho thấy phụ nữ dung nước sông và hồ có tỷ lệ nhiễm trùng đường sinh dục cao hơn so với dùng nước giếng [9]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Khanh cho thấy nhóm thấy nhóm thai phụ

có nhà tắm đơn sơ có nguy cơ viêm âm đạo cao gấp 1,98 lần so với nhóm thai phụ

có nhà tắm sạch, kín đáo, thuận lợi và có nước sạch

Theo Vương Tiến Hòa khi nghiên cứu ở phụ nữ đã có chồng tại khu công nghiệp Thượng Đình và xã Định Công, huyện Thanh Trì cho thấy 39% phụ nữ không có nhà tắm bị viêm đường sinh dục dưới trong khi đó chỉ có 20% phụ nữ có nhà tắm bị viêm nhiễm [10]

* Liên quan với các biện pháp tránh thai

Theo Nguyễn Thị Ngọc Khanh, khi nghiên cứu ở 602 phụ nữ có thai cho thấy đặt dụng cụ tử cung chỉ có liên quan đến nhiễm Bacterial vaginosis, không thấy mối liên quan này đối với tình trạng nhiễm các tác nhân gây bệnh khác như nấm Candida và Chlamydia Tác giả cũng không tìm thấy mối liên quan giữa thuốc tránh thai với nhiễm trùng đường sinh dục [16]

* Liên quan giữa nghề nghiệp và trình độ học vấn với viêm nhiễm đường sinh dục dưới

Theo Đỗ Thi Hằng nghiên cứu 707 bệnh nhân đến khám tại Viện Gia Liễu Trung ương (2003) cho thấy, đối tượng là cán bộ nhiễm nấm âm đạo chiếm tỷ lệ 45,7%, cao hơn các nghề khác.Theo tác giả nhóm cán bộ công nhân viên bao gồm công chức, viên chức làm việc văn phòng, hành chính là một nhóm lớn, vì vậy có

sự tập trung nhiều ở nhóm này Mặt khác họ hiểu biết về các bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhận biết các triệu chứng để đi khám Do đó tỷ lệ nhiễm nấm ở cán

bộ chiếm tỷ lệ cao [8]

Theo Nguyễn Thị Thanh Huyền (2000) nghiên cứu trên bệnh nhân có hội chứng tiết dịch đường sinh dục dưới cho thấy bệnh nhân có bậc trung học cơ sở

Trang 16

chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp đến là trung học phổ thông Đối tượng của tác giả là những người có hội chứng tiết dịch đường sinh dục dưới, có thể bao gồm cả tiếp viên nhà hàng hoặc gái mại dâm nên trình độ học vấn không cao [15]

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Quý và cộng sự (1999) tại thành phố Huế về bệnh lây truyền qua đường tình dục ở các phòng khám sản phụ khoa khu vưc II- Thành phố Huế thấy bệnh nhân có trình độ học vấn trung học phổ thông chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp đến trình độ đại học [21]

Vương Tiến Hòa, Trần Danh Cường, Nguyễn Hữu Cần và cộng sự khi nghiên cứu “Bước đầu đánh giá tác động ô nhiễm môi trường tới bệnh viêm sinh dục dưới

ở phụ nữ có chồng tại 3 huyện Thanh Trì Hà Nội ”cho biết trình độ học vấn không

có ảnh hưởng rõ ràng đến tỷ lệ mắc bệnh[11]

1.1.1.4 Các kỹ năng tư vấn GDSK Cơ bản

* Kỹ năng tiếp đón

- Chào hỏi khách hàng và tự giới thiệu tạo sự thân mật

- Tiếp xúc bằng cả đối thoại lẫn cử chỉ (vui vẻ, chăm chú, sẵn lòng)

- Kiên trì nếu khách hàng có thắc mắc, do dự, khóc lóc hoặc bực tức

* Kỹ năng giao tiếp

- Theo dõi câu chuyện của khách hàng bằng các điệu bộ phù hợp như tiếp xúc bằng ánh mắt, gật đầu…

- Cán bộ tư vấn quan sát phản ứng của khách hàng Tìm hiểu lý do gây nên thái độ của khách hàng đối với vấn đề của mình ( như lúng túng , lo lắng, tức giận, tuyệt vong…)

- Kể cho khách hàng nghe một vài trường hợp thực tế để tạo cơ hội cho họ nói

- Có kỹ năng sử dụng các phương tiện thông tin, giáo dục truyền thông

Trang 17

* Kỹ năng giải quyết vấn đề

- Giúp khách hàng xem xét từng giải pháp và quyết định áp dụng giải pháp phù hợp nhất, nhưng không áp đặt khách hàng phải theo ý kiến của mình

- Đảm bảo với khách hàng rằng họ luôn được hỗ trợ khi tìm và thực hiện giải pháp

- Đôi khi cán bộ tư vấn cần giúp khách hàng có được những kỹ năng mới như

kỹ năng trao đổi về tình dục an toàn

- Ngoài các kỹ năng trên người tư vấn cần có kiến thức đầy đủ, sâu rộng về bệnh viêm sinh dục dưới…

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tình hình nghiên cứu các căn nguyên của bệnh viêm đường sinh dục dưới

ở Việt Nam và trên thế giới

1.2.1.1 Candida spp

Theo Dương Thị Cương, Trần Thị Phương Mai và cộng sự tỷ lệ nhiễm nấm ở

363 phụ nữ đến khám tại phòng khám Viện BVBMTSS năm 1994 là 22.3%[5] Theo Phạm Văn Hiển, Nguyễn Duy Hưng và cộng sự tỷ lệ nhiễm nấm là 17.4% khi nghiên cứu trên 1991 phụ nữ ở tỉnh Đồng Tháp, Nam Định, Lâm Đồng, Thái Nguyên và Hải Phòng[9]

Nguyễn Thị Thanh Huyền trong một nghiên cứu về hội chứng tiết dịch đường sinh dục dưới ở phụ nữ khám tại Viện Da Liễu Trung Ương (2001- 2002) cho thấy

tỷ lệ nhiễm nấm C.albicans là 46%, C.glabrata là 22%, C.tropicalis là 16%, C.krusei 4%, C.stellatoide là 4%, C.gullemondii 2%, C.geotrichum 2%, không phân loại 4%[15]

Ở Mỹ viêm âm đạo do nấm là loại viêm âm đạo phổ biến thứ hai, sau Gardnerella vaginalis 75% phụ nữ có một lần mắc candida trong đời 40- 45%

Trang 18

trong số này mắc lần hai còn 5% phát triển thành nhiễm nấm mãn Ở Bắc Âu tỷ lệ viêm âm đạo do nấm dao động từ 10- 30% [32]

Theo Darce Bello nghiên cứu ở 106 phụ nữ viêm âm đạo ở nicaragua năm

2000 cho thấy tỷ lệ nhiễm nấm là 41% [26]

Nhiều nghiên cứu về dịch tễ cho thấy rằng: Candida là nguyên nhân chính của hội chứng tiết dịch đường sinh dục dưới Ngày nay nhiễm Candida âm đạo đang ngày càng tăng, có nhiều bệnh nhân bị tái nhiễm vài lần Mỗi năm có khi bị 4 – 5 đợt nhiễm bệnh Ngoài những yếu tố thuận lợi như có thai, đái tháo đường, uống thuốc tránh thai…cũng có giả thiết cho rằng có thể do thiếu hụt rõ rệt kháng thể IgG kéo dài gây nên nhiễm nấm trầm trọng [29], [33]

1.2.1.2 Trichomonas vaginal

Hàng năm trên thế giới có 180 triệu người nhiễm Trichomonas, ở Mỹ có 2.5 – 3 triệu người mắc mỗi năm Trichomonas vaginal đã được biết đến là một tác nhân gây bệnh qua đường sinh dục, gây viêm âm đạo và cổ tử cung, ngoài ra còn gây dọa đẻ non, sảy thai, vỡ ối sớm ở phụ nữ có thai Tỷ lệ nhiễm Trichomanas là 2- 25% ở phụ

nữ không có triệu chứng, 20 -50 % ở phụ nữ đến khám tại các phòng khám phụ khoa

và bệnh lây truyền qua đường tình dục, không dùng biện pháp tránh thai có màng ngăn được coi là yếu tố nguy cơ lây nhiễm Trichomonas [28], [36], [38]

Theo Dương Thi Cương, Trần Thị Phương Mai và cộng sự, tỷ lệ nhiễm Trichomonas là 3.3% khi nghiên cứu 363 phụ nữ khám phụ khoa tại Viện BVBMTSS từ tháng 3-5/1994 [5]

Theo Phan Thị Kim Anh và cộng sự nghiên cứu 4982 phụ nữ khám phụ khoa tại Viện BVBMTSS năm 1996- 1997, tỷ lệ nhiễm Trichomonas vaginalis là 5.66% [1] Theo Mbizvo EM, tỷ lệ nhiễm Trichomonas khi nghiên cứu ở 393 phụ nữ từ

15 -49 tuổi ở Zimbabua năm 2000 là 15.4% [34]

Còn tác giả Balaka và Agbere cho biết tỷ lệ này là 10.6% khi nghiên cứu ở

306 phụ nữ có thai ở quý 3 [23]

1.2.1.3 Gardnerella vaginalis

Theo Trần Phương Mai và cộng sự tỷ lệ viêm âm đạo do Gardnerella vaginalis trên bệnh nhân đến khám tại Viên BVBMTSS là 3.8% [6]

Ngày đăng: 03/09/2021, 10:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w