1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ tỉnh hà tây lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo

43 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 508,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, Đảng bộ tỉnh Hà Tây đã lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo đạt nhiều thành tựu, song bên cạnh đó cũng còn tồn tại nhiều khuyết điểm, yếu kém cần tiếp tục khắc phụ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH

TRỊ

——————————————

HOÀNG TRƯỜNG GIANG

XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2006

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS, TS Đoàn Ngọc Hải

Các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận văn đều trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày tháng năm 2009.

Tác giả luận văn

Hoàng Trường Giang

Trang 3

MỤC LỤC

Mở đầu

1

Chương 1 Yêu cầu khách quan và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo từ năm 1996 đến năm 2006

1.1 Yêu cầu khách quan thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở Tỉnh Hà Tây từ năm 1996 đến năm 2006

8

1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Tây tác động đến thực hiện xoá đói, giảm nghèo ở Tỉnh

8

1.1.2 Thực trạng đói, nghèo ở Hà Tây trước năm 1996 và yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước 13

1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo từ năm 1996 đến năm 2006

21

1.2.1 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về xóa đói, giảm nghèo 21

1.2.2 Đảng bộ tỉnh Hà Tây vận dụng chủ trương của Đảng vào việc lãnh đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo trên địa bàn tỉnh từ năm 1996 đến năm 2006 26

Chương 2 Đảng bộ tỉnh Hà Tây chỉ đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo từ năm 1996 đến năm 2006

34

2.1 Ưu tiên đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đối với các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao và vùng đồng bào thiểu số

34

2.2 Dạy nghề gắn với tạo việc làm cho người lao động, đào tạo cán bộ làm công tác xóa đói, giảm nghèo

42

2.3 Thực hiện các chính sách hỗ trợ đối với người nghèo 49

2.4 Phát huy vai trò của các đoàn thể nhân dân trong công tác xoá đói, giảm nghèo

61

Chương 3 Kết quả và một số kinh nghiệm rút ra từ quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo xoá đói, giảm nghèo từ năm 1996 đến năm 2006

67

Trang 4

3.1 Thành tựu, hạn chế và nguyên nhân

67

3.1.1 Thành tựu và nguyên nhân

67

3.1.2 Hạn chế và nguyên nhân

79

3.2 Một số kinh nghiệm chủ yếu rút ra từ quá trình Đảng bộ Tỉnh Hà Tây lãnh đạo công tác xoá đói, giảm nghèo 83

3.2.1 Tăng cường công tác giáo dục chính trị - tư tưởng, không ngừng nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân về xoá đói, giảm nghèo

83

3.2.2 Kinh nghiệm về lồng ghép các dự án, chương trình, chính sách cùng lúc giải quyết nhiều vấn đề

84

3.2.3 Kinh nghiệm về phát huy sức mạnh tổng hợp thực hiện xóa đói, giảm nghèo

86

3.2.4 Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác xóa đói, giảm nghèo

87

3.2.5 Kinh nghiệm về tăng cường vai trò và hiệu lực lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Tây đối với công tác xoá đói, giảm nghèo 89

Kết luận

91

Danh mục tài liệu tham khảo

93

Phụ lục

99

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đói nghèo hiện đang là vấn đề xã hội bức xúc của tất cả các quốc gia trên thế giới và cũng là vấn đề đang được các chính phủ, các nhà lãnh đạo, các tổ chức quốc tế quan tâm Năm 1995, Đại hội đồng Liên hợp quốc tuyên

bố 10 năm 1997- 2006 là Thập niên chống đói nghèo Tháng 9 năm 2000, trong buổi bình minh của thiên niên kỷ mới, tại trụ sở Liên hợp quốc, 190 vị đứng đầu các quốc gia trên thế giới đã long trọng cam kết thực hiện Tuyên bố Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc mà mục tiêu số 1 trong tổng số 12 mục tiêu là: Xoá bỏ tình trạng nghèo cùng cực của loài người, giảm một nửa tỉ lệ người dân thiếu đói, có mức thu nhập dưới 1 USD/1 ngày trong giai đoạn từ 1990 đến 2015

Chính phủ Việt Nam coi vấn đề xoá đói, giảm nghèo là một trong những mục tiêu xuyên xuốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Ngay từ những ngày đầu khi Việt Nam vừa giành được độc lập, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời (3-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã xác định đất nước phải đối phó với 3 loại "giặc"- giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, trong đó Người đặt lên hàng đầu là "giặc đói" Hiện nay, khi đất nước đang bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH thì quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là song song với tăng trưởng kinh tế phải tập trung chú trọng cho giảm nghèo, coi xoá đói, giảm nghèo là nhân tố có ý nghĩa chính trị - kinh tế - xã hội hàng đầu để đi đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, là một trong những yếu tố cơ bản để bảo đảm tăng trưởng kinh tế bền vững Do vậy, năm 1998 Chính phủ đã phê chuẩn một Chương trình xoá đói, giảm nghèo với tư cách là "Chương trình mục tiêu Quốc gia"

Trong quá trình thực hiện Chương trình xóa đói, giảm nghèo toàn Đảng, toàn dân Việt Nam ở khắp mọi miền của đất nước đã và đang ra sức

Trang 6

phấn đấu để đạt những mục tiêu đặt ra trong từng giai đoạn Xoá đói, giảm nghèo đã trở thành phong trào cách mạng ở các tỉnh, thành phố trong cả nước

- một Chương trình mục tiêu Quốc gia Trong cuộc đấu tranh đó, quần chúng

đã, đang tạo ra nhiều mô hình xoá đói, giảm nghèo, cũng như các điển hình xoá đói, giảm nghèo thành công, có hiệu quả và được nhân rộng

Hà Tây là một tỉnh thuộc khu vực đồng bằng Bắc bộ với dân số khoảng 2,5 triệu người, có địa bàn khá phức tạp, có nhiều thuận lợi, song cũng có nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội Trong những năm qua, Đảng

bộ tỉnh Hà Tây đã lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo đạt nhiều thành tựu, song bên cạnh đó cũng còn tồn tại nhiều khuyết điểm, yếu kém cần tiếp tục khắc phục để công tác xóa đói, giảm nghèo đạt hiệu quả cao và bền vững hơn

Nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo giai đoạn 1996 - 2006, ngoài việc khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng bộ tỉnh Hà Tây, đề tài còn đánh giá những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân, tổng kết những kinh nghiệm để vận dụng vào giai đoạn mới

Với ý nghĩa đó, tôi lựa chọn đề tài "Đảng bộ Tỉnh Hà Tây lãnh đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo từ năm 1996 đến năm 2006" làm luận văn

thạc sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Đói nghèo và xoá đói, giảm nghèo ở nước ta là vấn đề được nhiều cơ quan, các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Tiêu biểu

là các nhóm công trình sau

Nhóm 1, Các chuyên luận, chuyên khảo đã in thành sách viết về vấn đề

xoá đói, giảm nghèo ở nước ta được phát hành như: Các tác giả Trần Đình

Hoan, Nguyễn Thị Hằng, Bùi Trọng Thanh, "Vấn đề xoá đói, giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay", Nxb Bộ LĐTB&XH, Hà Nội 1997, trình bày

thực trạng đói nghèo ở nông thôn Việt Nam và những vấn đề cần được giải

Trang 7

Bộ LĐTB&XH, Hà Nội 1993, khái quát thực trạng đói nghèo ở nước ta và

những nguyên nhân của thực trạng đó; Nguyễn Văn Tiêm, "Giàu nghèo ở nông thôn hiện nay", Nxb Nông nghiệp, 1993, nhìn nhận khái quát tình trạng

phân hoá giàu nghèo trong nông thôn Việt Nam…

Nhóm 2, Các bài báo khoa học viết về công tác xoá đói, giảm nghèo đăng trên các báo, tạp chí như: Tác giả Nhật Tân với bài "Việc xoá đói, giảm nghèo ở Hưng Hà", Tạp chí Cộng sản số 12 năm 1993; Bạch Đình Ninh với bài viết "Đói nghèo ở Miền núi Nghệ An- Nguyên nhân và biện pháp khắc phục" đăng trên Tạp chí Cộng sản số 10 năm 1999; Nguyễn Thị Hằng, "Tiếp tục đổi mới và thực hiện tốt công tác đền ơn đáp nghĩa trong thời kỳ đổi mới", Tạp chí Cộng sản số 597, tháng 8 năm 2000; Bùi Minh Đạo, "Giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay", Tạp chí Cộng sản số 677, tháng 5 năm 2003; Tạ Trung, "Xoá đói, giảm nghèo và việc làm - vấn đề có giá trị nhân văn sâu sắc"…

Nhóm 3, Những luận văn, luận án của học viên cao học, nghiên cứu

sinh lấy xoá đói, giảm nghèo làm đề tài nghiên cứu dưới các góc độ, phương diện khác nhau như: Trần Đình Đàn - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí

Minh, Luận án tiến sĩ kinh tế năm 2001, "Những giải pháp kinh tế xã hội chủ yếu nhằm xoá đói, giảm nghèo ở Hà Tĩnh"; Nguyễn Trọng Xuân - Học viện chính trị quân sự, Luận án tiến sĩ kinh tế năm 2004, "Quân đội tham gia xoá đói, giảm nghèo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay"; Đào Tấn Nguyên - Học viện Ngân hàng, Luận án tiến sĩ kinh tế năm 2004, "Giải pháp tín dụng góp phần thực hiện xoá đói, giảm nghèo của ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam"; Nguyễn Thị Thuận - Đại học Kinh tế quốc dân, Luận án tiến sĩ kinh tế năm 2004, "Vận dụng lý thuyết giới trong xoá đói, giảm nghèo ở một

số tỉnh Miền Trung"; Đỗ Thị Diệu - Đại học Lâm nghiệp, Luận văn Thạc sỹ lịch sử năm 2007, “Đảng bộ Thái Bình lãnh đạo thực hiện công tác xoá đói, giảm nghèo trong những năm 1991-2005”…

Trang 8

Nhóm 4, các đề tài, hội thảo khoa học đề cập đến vấn đề đói nghèo và

công tác xoá đói, giảm nghèo cũng được tiến hành trên cả nước: Năm 1999,

Bộ LĐTB&XH tiến hành Hội thảo với chủ đề "Những giải pháp tăng cường nguồn lực thực hiện mục tiêu xoá đói, giảm nghèo"; Tại Hà Nội, ngày 15- 16/2/2000, Bộ LĐTB&XH tổ chức cuộc Toạ đàm về Chuẩn nghèo đói ở Việt Nam; Năm 1998, Hội thảo khoa học đề tài KHXH.03.08, "Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá và những biến đổi xã hội nông thôn- những định hướng chính sách"; Chu Hữu Quý, Bùi Ngọc Thanh, Chương trình khoa học cấp Nhà nước KX.08.04, "Các chính sách xã hội nông thôn (1991- 1995)"; Đỗ Nguyên Phương, đề tài KX.07.05 cấp Nhà nước "Về sự phân tầng xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay"…

Trên địa bàn Hà Tây, các cơ quan như: Ban chỉ đạo xoá đói giảm nghèo tỉnh và các huyện thị, Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Cục thống kê tỉnh, Hội đồng nhân dân, Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh, Mặt trận Tổ quốc tỉnh…

đã tiến hành tổng kết, đánh giá kết quả xóa đói, giảm nghèo ở địa phương

Có thể khẳng định, các nghiên cứu về nghèo đói và xoá đói, giảm nghèo ở nước ta rất phong phú, đa dạng, đề cập đến nhiều góc độ, nhiều lĩnh vực khác nhau Tuy vậy, hiện nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu sâu, toàn diện về xoá đói giảm nghèo ở Hà Tây, nhất là dưới góc

độ của khoa học Lịch sử Đảng Nhưng các công trình nghiên cứu kể trên là những tài liệu quý, tác giả có thể khai thác, vận dụng trong quá trình thực hiện luận văn của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu:

Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo từ năm 1996 đến năm 2006; Góp phần tổng kết sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Tây trong lĩnh vực xoá đói, giảm nghèo, một bộ phận chính

Trang 9

sách xã hội của Đảng, qua đó rút ra những kinh nghiệm để vận dụng vào giai đoạn cách mạng mới

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Làm rõ yêu cầu khách quan để Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo

+ Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tây vận dụng chủ trương của Đảng, Nhà nước về xoá đói, giảm nghèo, định ra chủ trương và chỉ đạo thực hiện xoá đói giảm nghèo trên địa bàn của tỉnh

+ Đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân; rút ra những kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Hà Tây để vận dụng vào giai đoạn mới đạt kết quả cao hơn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu về chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Tây thực hiện xóa đói, giảm nghèo

* Phạm vi nghiên cứu:

+ Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo, chỉ đạo của

Đảng bộ tỉnh Hà Tây về xoá đói, giảm nghèo

+ Về thời gian: Nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Tây

về xóa đói, giảm nghèo từ năm 1996 đến năm 2006

+ Về không gian: Nghiên cứu về công tác xoá đói, giảm nghèo trên địa

bàn tỉnh Hà Tây cũ

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

* Nguồn tài liệu:

Để hoàn thành luận văn này tôi đã sử dụng nguồn tư liệu chủ yếu là các tác phẩm kinh điển, Hồ Chí Minh toàn tập, các Văn kiện, Nghị quyết Đảng Cộng sản Việt Nam liên quan đến đói nghèo và thực hiện xoá đói, giảm

Trang 10

nghèo Các Văn kiện, Nghị quyết, Báo cáo của Đảng bộ Hà Tây trong thời kỳ

1996 - 2006; các báo cáo tổng kết chương trình xoá đói, giảm nghèo qua các năm của các ban, ngành và Sở Lao động Thương binh - Xã hội tỉnh Hà Tây và một số tác phẩm bài viết về Hà Tây Đây là nguồn tư liệu cơ bản để thực hiện

đề tài này và những tư liệu đó được khai thác từ nhiều nguồn khác nhau nhưng chủ yếu là tại Trung tâm Lưu trữ của Tỉnh uỷ Hà Tây, UBND tỉnh Hà Tây và các huyện, thị, Sở Văn hoá Thông tin, Sở Lao động Thương binh - xã hội tỉnh Hà Tây, Thư viện tỉnh Hà Tây…

Ngoài ra luận văn còn sử dụng các công trình khoa học, các chuyên luận, chuyên khảo, các luận văn, luận án, các bài viết của các nhà khoa học liên quan đến vấn đề đói nghèo và xoá đói, giảm nghèo…

* Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên, nhưng phương pháp chủ

yếu là: phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic,và sự kết hợp hai phương pháp đó Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu…

6 Đóng góp của luận văn

- Việc nghiên cứu đề tài trước hết nhằm hệ thống hoá chủ trương, chính sách, biện pháp của Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo, bộ phận của chính sách xã hội của Đảng

- Khẳng định sự lãnh đạo tập trung, có hiệu quả của Đảng bộ tỉnh Hà Tây trong lĩnh vực xoá đói, giảm nghèo

- Tổng kết, đúc rút những kinh nghiệm, từ quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo từ 1996 đến năm 2006 Vận dụng những kinh nghiệm đó vào giai đoạn mới

- Luận văn là nguồn tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập Lịch sử Đảng trong các học viện, các trường đại học, cao đẳng

Trang 11

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm có 3 chương, 8 tiết:

Chương 1 Yêu cầu khách quan và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà

Tây lãnh đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo từ năm 1996 đến năm 2006

Chương 2 Đảng bộ tỉnh Hà Tây chỉ đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo

từ năm 1996 đến năm 2006

Chương 3 Kết quả và một số kinh nghiệm rút ra từ quá trình Đảng bộ

tỉnh Hà Tây lãnh đạo xoá đói, giảm nghèo từ năm 1996 đến năm 2006

Trang 12

Chương 1 YÊU CẦU KHÁCH QUAN VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ TÂY LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO

* Điều kiện tự nhiên

Về vị trí địa lý, Hà Tây có tọa độ địa lý 20,31o

- 21,17o vĩ độ Bắc và 105,17o -106o kinh độ Đông, bao quanh Thành phố Hà Nội về phía Tây Nam qua các quốc lộ 1, 6, 32 Diện tích chung là 2147 km2, phía Đông giáp Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, phía Tây giáp Hòa Bình, phía Bắc giáp Phú Thọ, phía Nam giáp Hà Nam Với vị trí địa lý này, Hà Tây có được một số thuận lợi cơ bản: Nằm sát Thành phố Hà Nội, trung tâm kinh tế - chính trị, văn hóa của cả nước; Có điều kiện trao đổi, lưu thông hàng hóa với các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc, các tỉnh đồng bằng sông Hồng và các tỉnh phía Nam…

Về khí hậu, trong nền chung của khí hậu miền Bắc Việt Nam là khí

hậu nhiệt đới gió mùa ẩm Tuy nhiên, do đặc điểm địa mạo, khí hậu của Hà Tây được chia thành 3 vùng khá rõ rệt: Vùng đồng bằng, có khí hậu nóng ẩm; Vùng đồi, có nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 23,5o

C; Vùng núi Ba Vì, có khí hậu mát mẻ, nhiệt độ trung bình khoảng 18o

C Khí hậu của Hà Tây cũng được xem là một nguồn tài nguyên khi nó tạo điều kiện thuận lợi cho người dân có thể nuôi trồng được nhiều loài động - thực vật Tuy nhiên, khí hậu Hà Tây cũng chứa đựng những yếu tố hạn chế như: Vào mùa khô cây trồng thiếu

Trang 13

nước; Vào mùa mưa thường bị bão gây úng nội đồng và uy hiếp hệ thống đê sông chống lụt…

Về địa hình, Hà Tây có các kiểu địa hình cơ bản: Địa hình đồi núi, địa

hình núi và địa hình đồng bằng Do đó, Hà Tây có điều kiện thuận lợi thực hiện đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi, luân canh được nhiều vụ trong năm Song cũng có những khó khăn nhất định, đặc biệt là phải có các công trình chống úng, kết hợp với việc lựa chọn chế độ canh tác thích hợp với chế độ mưa, ngập ở những vùng úng trong đê

Về tài nguyên đất, nhìn chung đất Hà Tây có độ phì nhiêu cao, với

nhiều loại địa hình nên có thể bố trí được nhiều loại cây trồng ngắn ngày, dài ngày, cây lương thực, cây công nghiệp, đồng cỏ chăn nuôi, cây rừng đa tác dụng với các hệ thống canh tác khác nhau Song, tài nguyên đất của Hà Tây vẫn có những yếu tố hạn chế nhất định: Tầng dày của đất vùng đồi phần lớn là mỏng, có nơi còn bị đá ong hóa; mặt nước nuôi trồng thủy sản và cây dài ngày còn thấp

Về tài nguyên nước, được sông Hồng bao bọc ở phía Đông, sông Đà ở

phía Bắc, sông Đáy và các sông nội địa khác phân bố đều trong lãnh thổ với mật độ khá cao 60km/km2, với lượng nước hằng năm khoảng 180 - 200 tỷ m3

, bên cạnh đó còn có hệ thống nước ngầm dồi dào và nằm khá nông Đây được xem là nguồn tài nguyên khá dồi dào cho nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt, nếu xây dựng được hệ thống cấp nước hoàn chỉnh để lấy nước sông và giữ nước mùa mưa, cấp nước mùa khô Đi theo nguồn tài nguyên này là nguồn phù sa bồi đắp hàng trăm triệu tấn/năm

Về nguồn nhân lực, theo số liệu thống kê, năm 1993 dân số Hà Tây là

2,237 triệu người, tốc độ tăng bình quân là 2%/năm, mật độ dân số bình quân

là 992 người/km2 Về mật độ dân số, Hà Tây gấp 5,1 lần bình quân trong toàn quốc, là tỉnh đông dân thứ 7 trong cả nước Lực lượng đang ở tuổi lao động vào khoảng 1,1 triệu người, trong đó gần 80% là lao động nông nghiệp

Trang 14

Nguồn nhân lực Hà Tây có trình độ văn hoá khá (21% có trình độ văn hoá hết cấp III, 62% hết cấp II và 14% hết cấp I) [47, tr.12] Tuy nhiên, cũng dễ nhận thấy với mật độ dân số đông và tốc độ tăng dân số cao, tao ra sức ép không nhỏ trong giải quyết việc làm cũng như các vấn đề xã hội khác

Như vậy, với điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý và những nguồn tài nguyên trên địa bàn, Hà Tây có những nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, góp phần tạo những thuận lợi nhất định trong công tác xoá đói, giảm nghèo của tỉnh Song điều kiện tự nhiên của Hà Tây cũng mang lại những khó khăn nhất định trong công tác xoá đói, giảm nghèo, đặc biệt là ở các xã miền núi, vùng đồi gò và vùng

trũng trong khu vực đồng bằng

* Điều kiện kinh tế - xã hội

Về cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế- xã hội của Hà Tây

Hệ thống thuỷ lợi, trên địa bàn tỉnh đã đảm bảo tưới cho khoảng 85%

diện tích đất trồng lúa và 74% diện tích cây trồng hằng năm Tuy nhiên, về cơ bản Hà Tây vẫn thiếu các công trình lấy nước phù sa để cải tạo đồng ruộng, diện tích được tiêu cũng chưa bảo đảm cho diện tích lúa và cây trồng cạn, hệ thống trạm bơm, kênh mương do xây dựng quá lâu, thiếu vốn để duy tu, bảo dưỡng nên hiện chỉ sử dụng được khoảng 70% công suất Toàn tỉnh có 605

km đê, nhưng chưa thật vững chắc, chỉ đảm bảo an toàn ở cấp độ báo động 3

Mạng thông tin liên lạc của Hà Tây khá phát triển, đã có những tổng

đài kỹ thuật số, hầu hết các xã đã có điện thắp sáng và điện thoại, đã hình thành các dịch vụ phi điện thoại như fax, internet… Tuy nhiên, mạng lưới thông tin bưu chính của tỉnh chưa đáp ứng được nhu cầu, thiết bị còn lạc hậu; Mạng thông tin ở nông thôn còn thiếu, nhất là những vùng trọng điểm về kinh

tế, văn hoá, du lịch, phòng chống thiên tai Đặc biệt là hệ thống điện chưa

Trang 15

theo quy hoạch phát triển chiến lược của tỉnh, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của các khu công nghiệp mới xuất hiện

Về giao thông vận tải, Hà Tây có mạng lưới giao thông khá phát triển

bao gồm cả đường sắt, đường thuỷ và đường bộ Có 42,5 km đường sắt đi qua địa phận, hơn 200 km đường thuỷ được khai thác vận tải, mạng lưới đường bộ

có khoảng 3.000 km, là một trong những tỉnh có mật độ đường bộ cao nhất cả nước Tuy nhiên, vẫn còn lượng lớn của các sông nội địa chưa khai thác vận tải mà chỉ phục vụ tưới tiêu trong sản xuất, đặc biệt là hệ thống đường bộ cũng không đồng đều, là một cản trở lớn đối với phát triển kinh tế - xã hội trong nền kinh tế thị trường

Xuất phát từ điều kiện tự nhiên, Hà Tây có nhiều thuận lợi nhất định trong phát triển kinh tế - xã hội với cơ cấu ngành nghề đa dạng

Về nông - lâm nghiệp và thuỷ sản, là tỉnh nằm trong khu vực đồng bằng

sông Hồng, Hà Tây chủ yếu là một tỉnh nông nghiệp Cây lương thực chiếm

tỷ trọng cao về diện tích 90% Cây công nghiệp, cây thực phẩm, cây ăn quả chiếm tỷ trọng nhỏ cả về diện tích và giá trị sản lượng Bên cạnh ngành trồng trọt, Hà Tây còn thuận lợi trong việc phát triển chăn nuôi với nhiều loại vật nuôi như: trâu, bò, ngựa, đặc biệt, chăn nuôi lợn và vịt còn được xem là một yếu tố thâm canh và sản xuất hàng hoá, chăn nuôi các loại động vật có giá trị

cao như hươu sao, dê cũng được chú ý và phát triển Về nuôi trồng thuỷ sản,

Hà Tây có diện tích mặt nước khá lớn, song mới sử dụng ở mức thấp và nuôi

tự nhiên là phổ biến

Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, theo số liệu thống kê năm

1993 trên địa bàn Hà Tây có 15 doanh nghiệp công nghệp TW với tổng số vốn kinh doanh là 127 tỷ đồng và 6.120 lao động (chưa kể xí nghiệp quốc phòng), 32 doanh nghiệp công nghiệp địa phương với tổng số vốn 33,4 tỷ đồng và 4.703 lao động, 32 hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp đang hoạt động với 2.150 lao động, 31 doanh nghiệp công nghiệp tư nhân với tổng số vốn

Trang 16

đăng ký là 7 tỷ đồng và hơn 4.000 lao động, 6 vạn hộ gia đình cá thể sản xuất tiểu thủ công nghiệp với 162.000 lao động, trong đó có 88 làng nghề với 54 vạn hộ và 11,3 vạn lao động Đây là một trong những lợi thế của Hà Tây trong việc thực hiện xóa đói, giảm nghèo, đặc biệt là vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động để vươn lên thoát nghèo

Kinh tế du lịch, đây được xem là một thế mạnh của Hà Tây trong phát

triển kinh tế - xã hội Theo thống kê của Bộ Văn hoá - Thông tin, Hà Tây là tỉnh đứng thứ ba trong cả nước (sau Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh) về

số lượng di tích lịch sử (2.000 di tích) với mật độ cao, 14 di tích/100 km2

(cả nước là 2,2 di tích/100 km2

) Trong 2000 di tích lịch sử, co gần 400 di tích được nhà nước xếp hạng, trong đó 12 di tích đặc biệt quan trọng Tuy nhiên, hạn chế trong lĩnh vực du lịch của Hà Tây là cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu

hạ tầng còn kém, mạng lưới giao thông chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển du lịch, hệ thống khách sạn, nhà nghỉ phục vụ cho du lịch chưa tương xứng…

Về phát triển xã hội, với vị trí địa lý và những thuận lợi về điều kiện tự

nhiên, mức thu nhập và đời sống vật chất của nhân dân Hà Tây tương đối khá, nhất là ở các thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ Mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân khá cao, trên địa bàn tỉnh có 2 trường đại học, 8 trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp có 6 trường; hệ thống trường học các cấp có 760 trường, 20% dân số đang đi học các cấp Toàn tỉnh có 17 bệnh viện, trong đó bệnh viện tuyến tỉnh có 5, bệnh viện tuyến huyện có 11, 1 bệnh viện tư nhân Hằng năm đã khám bệnh cho khoảng hơn 3.000.000 lượt người [47, tr.31]

Với điều kiện kinh tế - xã hội nêu trên, Hà Tây là một tỉnh có những thuận lợi nhất định trong việc thực hiện công tác xoá đói, giảm nghèo Song bên cạnh đó Hà Tây vẫn còn có những khó khăn nhất định, đặc biệt là sự chênh lệch trong mức sống của các bộ phận dân cư, giữa các địa bàn dân cư trong các thành phố, thị xã với dân cư sống trong 9 xã miền núi, vùng đồi gò, bãi giữa sông Hồng… cũng còn rất lớn (Phụ lục 12) Đây là vấn đề đang đặt

Trang 17

ra cho sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh cũng như các cấp, các ngành có liên quan để thực hiện có hiệu quả công tác xóa đói, giảm nghèo

1.1.2 Thực trạng đói, nghèo ở Hà Tây trước năm 1996 và yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

* Thực trạng đói, nghèo ở Hà Tây trước năm 1996

Tại kỳ họp Quốc hội lần thứ 9 (khoá VIII) từ ngày 27 - 7 đến ngày 12 -

8 - 1991 đã quyết định tách tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh: Hà Tây và Hoà Bình 5 huyện: Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất, Đan Phượng, Hoài Đức và thị

xã Sơn Tây được tách khỏi Thành phố Hà Nội trở về Hà Tây Tỉnh Hà Tây được tái lập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1-10-1991

Sau ngày tái lập Hà Tây cũng có rất nhiều khó khăn, nhưng Đảng bộ và nhân dân toàn tỉnh đã đoàn kết phấn đấu, vượt qua khó khăn, từng bước giành được những thắng lợi bước đầu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội cũng như trong công tác xóa đói, giảm nghèo Thời kỳ này công tác xóa đói, giảm nghèo của Hà Tây tuy chưa được xây dựng thành chương trình cụ thể,

mà nằm trong sự chỉ đạo chung của Tỉnh ủy về phát triển kinh tế - xã hội

Trong Báo cáo Chính trị của Đại hội Đảng bộ lần thứ XI (3- 1992), đã xác định, số hộ nghèo của tỉnh còn 15% Để thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới do Đảng lãnh đạo, phấn đấu vì sự nghiệp “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”, Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XI đã đề ra 5 mục tiêu:

Một là, giải quyết tốt vấn đề lương thực… đến năm 1995 đạt 80 vạn tấn, khắc phục tình trạng đói giáp hạt Hai là, giảm tỷ lệ sinh mỗi năm xuống một phần nghìn (1‰) Ba là, xây dựng một số cơ sở hạ tầng bức thiết Bốn là, giữ vững ổn định chính trị, chống mọi biểu hiện tiêu cực Năm là, kiện toàn

và làm trong sạch bộ máy, đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ chức đảng, hiệu lực quản lý nhà nước, phát huy vài trò của các đoàn thể nhân dân

Căn cứ vào Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XI, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã đề ra những biện pháp:

Trang 18

Thứ nhất, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển sản xuất, kinh doanh Thứ hai, tăng cường đầu tư vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất và đời sống Thứ ba, gắn việc phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo Thứ tư, phát huy

vai trò và trách nhiệm của các cấp, các ngành, các đoàn thể đối với việc thực hiện phong trào xóa đói, giảm nghèo

Nhờ những việc làm tích cực trên, đến năm 1994, qua điều tra điểm của

29 xã thuộc 14 huyện, thị xã thì số hộ giàu chiếm 4,33%, số hộ khá là 41,18%, số hộ trung bình 41,96%, số hộ nghèo là 12,53% (trong đó số hộ đói

là 5,06%), thống kê 30.858 hộ là đảng viên, có 7,5% số hộ nghèo (Phụ lục 02) Trong 3 năm (1991 - 1994), ngân hàng đã cho 19 vạn lượt hộ nông dân vay 240 tỷ đồng để đẩy mạnh thâm canh, tăng năng suất, áp dụng các tiến bộ

kỹ thuật, mở mang ngành nghề, dịch vụ… các đoàn thể cũng đã vận động tương trợ, giúp đỡ nhau bằng vay vốn, vật tư không lấy lãi trị giá hàng chục tỷ đồng Số hộ nghèo đói từ 15% năm 1992, năm 1993 còn 12,53% [47, tr.37]

Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Tây lần thứ XII (4- 1996), Đảng

bộ tỉnh đã tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết đại hội nhiệm kỳ

1992 - 1995: Đã hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch 5 năm 1991 -

1995, kinh tế địa phương dần dần ổn định và có bước phát triển Trong 5 năm 1991- 1995, tổng sản phẩm trong toàn tỉnh (GDP) tăng bình quân hàng năm là 9,5% Nhịp độ tăng bình quân hàng năm về sản xuất nông nghiệp là 6% Lương thực đạt 83 vạn tấn (vượt mức đề ra là 80 vạn tấn), căn bản giải quyết được nạn thiếu ăn giáp hạt Các loại rau đậu, cây thực phẩm, cây công nghiệp đều tăng Chăn nuôi tăng bình quân hằng năm 14,8%, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp tăng từ 16% năm 1990 lên 34% năm 1995 Khai thác hơn 3.000 ha đất trống, đồi trọc để trồng chè, cây ăn quả và trồng rừng…[1, tr.373-374] Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có nhịp độ tăng bình quân hằng năm là 14,5% (mức đề ra là từ 8 - 10%) Cơ cấu kinh tế địa

Trang 19

phương có bước chuyển dịch tích cực hơn; tỷ trọng công nghiệp và xây dựng

từ 22% năm 1990 tăng lên 25% năm 1995; dịch vụ từ 21% lên 25%; nông nghiệp từ 57% xuống còn 50% Những thành quả phát triển kinh tế này có tác động trực tiếp đến vấn đề xã hội nói chung và xóa đói nghèo nói riêng

Đại hội khẳng định: Việc xóa đói, giảm nghèo được các đoàn thể, các

tổ chức xã hội động viên đông đảo nhân dân tham gia bằng nhiều việc làm thiết thực Toàn tỉnh có 38 vạn lượt hộ được vay hơn 1.700 tỷ đồng vốn của Nhà nước để sản xuất, tạo thêm việc làm cho hơn 10 vạn người Số hộ nghèo đói giảm từ 22% năm 1990 xuống 9,12% năm 1995 Đời sống đại đa số nhân dân ổn định, nhiều mặt được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người năm

1995 đạt 1,4 triệu đồng, tăng 43% so với năm 1990 Phong trào Đền ơn, đáp nghĩa với người có công được các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân quan tâm; toàn tỉnh đã xây dựng 1.000 ngôi nhà tình nghĩa, góp 2 tỷ đồng vào sổ tiết kiệm tặng các gia đình liệt sỹ, thương binh Các đoàn thể và nhân dân coi trọng đẩy mạnh các hoạt động từ thiện, giúp đỡ những người tàn tật, rủi ro giảm bớt khó khăn, đặc biệt là một số trẻ em nghèo được giúp đỡ học tập tốt [1, tr.376] Công tác y tế có tiến bộ, mạng lưới y tế cơ sở được chăm lo củng cố; toàn tỉnh có 81% số trạm y tế xã được trang bị dụng cụ y tế, 72% số trạm y tế có y sỹ sản nhi, 20,8% số trạm có bác sỹ Việc tiêm chủng cho trẻ em hàng năm đạt 95% Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng từ 50% năm 1990 giảm xuống còn 42% năm 1995… [1, tr.378]

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, Đảng bộ tỉnh cũng chỉ rõ những tồn tại, yếu kém Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm Kinh tế nông thôn

ở nhiều xã còn thuần nông, chưa có nông sản hàng hóa, công nghiệp còn nhỏ

bé, chiếm tỷ trọng thấp, công nghệ lạc hậu, chưa có loại sản phẩm có khối lượng đáng kể Dịch vụ, du lịch phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, kim ngạch xuất khẩu rất thấp Chưa tự cân đối được thu chi ngân sách Tổng

số thu trên điạ bàn mới chiếm 7% GDP và mới bảo đảm 66% nhu cầu chi

Trang 20

Việc huy động và sử dụng các nguồn vốn cho sản xuất còn nhiều hạn chế Cơ

sở hạ tầng yếu kém và xuống cấp Chưa phát huy tốt mọi nguồn lực và lợi thế của một tỉnh có đất đai và ngành nghề tương đối phong phú…

Những thành quả nêu trên của Hà Tây sau 5 năm tái lập đã đạt và vượt mức so với chỉ tiêu đặt ra, tuy nhiên so với mặt bằng chung của cả nước và đặc biệt do xuất phát điểm thấp nên trên thực tế những thành quả đó còn rất hạn chế, nó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống nhân dân và công tác xóa đói, giảm nghèo của tỉnh

* Thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt ra những yêu cầu mới về xoá đói, giảm nghèo

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6- 1996) của Đảng, kiểm điểm

10 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đã đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo những tiền đề cho sự nghiệp Công nghiệp hóa Xã hội chủ nghĩa cho phép chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Nằm trong bối cảnh chung này, sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội nói chung, đặc biệt là công tác xóa đói, giảm nghèo của

Hà Tây đang đứng trước những yêu cầu, những thách thức mới

Thứ nhất, so với mặt bằng chung của cả nước, nhiều lĩnh vực Hà Tây

còn có những yếu kém Theo Cục thống kê, GDP năm 1991, Hà Tây đạt 605,8 tỷ đồng, năm 1992 đạt 716,8 tỷ đồng, năm 1993 đạt 807,5 tỷ đồng, nhịp

độ tăng trưởng bình quân là 10%, cả nước là 7,49% Tỷ lệ huy động ngân sách từ GDP năm 1992 là 132,9 tỷ và 151,8 tỷ năm 1993, trong khi đó chi ngân sách năm 1992 là 170,3 tỷ, năm 1993 là 258,4 tỷ Ngân sách Trung ương trợ cấp thêm phần thiếu hụt là 78 tỷ năm 1992 và 106,6 tỷ năm 1993 GDP bình quân đầu người năm 1991 là 149 USD, năm 1992 là 172 USD/230 USD của cả nước, năm 1993 là 189 USD/242 USD của cả nước…[47, tr.30] Tuy kinh tế có tăng trưởng với tốc độ cao, nhưng so với bình quân của cả nước,

Trang 21

Hà Tây thấp hơn trên một số mặt chủ yếu: GDP bình quân đầu người, tỷ lệ huy động ngân sách và đặc biệt là chưa cân bằng được ngân sách

Trong khi đó, các lĩnh vực chủ yếu của một nền kinh tế, Hà Tây vẫn còn nhiều hạn chế

Trong sản xuất nông nghiệp, Hà Tây vẫn còn mang nặng tính độc canh cây lúa, đã hạn chế tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp và thu nhập của nông dân Tiềm năng của vùng đồi, vùng bãi, vụ đông trong nội đồng chưa được khai thác để tạo ra những hướng tăng trưởng mới theo hướng đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi phục vụ cho nhu cầu của khách du lịch và cho xuất khẩu, cải thiện đời sống dân cư trong khu vực này Bên cạnh đó, còn tồn tại tình trạng lãng phí tài nguyên; đất 1 vụ còn lớn (10.000 ha), diện tích mặt nước của 5 con sông và 6.000 ha ao hồ chưa được sử dụng, đất chưa có rừng và đất trống, đồi, núi trọc có khả năng sử dụng cho nông - lâm nghiệp còn 20.000 ha…

Trong lĩnh vực công nghiệp, công nghiệp Trung ương và địa phương trên địa bàn tỉnh còn quá nhỏ bé, chiếm tỷ trọng thấp trong GDP; công nghệ

và thiết bị còn lạc hậu (90% xí nghiệp có trình độ công nghệ trung bình và lạc hậu), phần lớn thiết bị đã sử dụng trên 10 năm Tiểu thủ công nghiệp có tiềm năng nhưng phát triển chưa mạnh, chưa ổn định, kỹ thuật còn lạc hậu, chưa có thị trường, vốn ít, chưa có định hướng, còn mang nặng tính tự phát… chậm hình thành các sản phẩm chủ lực theo tài nguyên và lợi thế của địa phương, ngành công nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng thiếu vốn đầu tư, công nghệ và thị trường…

Thứ hai, để thực hiện phát triển kinh tế - xã hội theo hướng CNH,

HĐH, làm cho cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tỷ trọng công nghiệp trong GDP ngày càng tăng tất yếu phải chú trọng phát triển các ngành công nghiệp, thu hút các dự án công nghiệp, xây dựng các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Điều đó dẫn tới một thực trạng là diện tích đất sản xuất trong nông nghiệp dần bị thu hẹp (Phụ lục 13), đất canh tác có xu hướng giảm

Ngày đăng: 02/09/2021, 21:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm