1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN văn học KHẢO sát truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh sau năm 1975 chiều vô danh, bến trần gian, hai người đàn bà xóm trại, chỗ dựa, những giấc mơ có thực, bướm trắng

42 90 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Sát Truyện Ngắn Viết Về Đề Tài Chiến Tranh Sau Năm 1975
Tác giả Hoàng Dân, Lưu Sơn Minh, Nguyễn Quang Thiều, Trầm Hương, Vũ Thị Hồng, Thái Bá Tân
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Văn Học
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 73,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nước ta trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ với bao đau thương, hy sinh và mất mát. Đề tài về chiến tranh là nơi đắc dụng cho những nhà văn, nhà thơ thời kỳ này trải rộng ngòi bút của mình về thời cuộc, sự anh dũng, và sự kiên cường của dân tộc, đặc biệt là hình ảnh của người lính trong kháng chiến với những khí phách anh hùng, quả cảm “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” mãi là những ngọn đuốc sáng rực trong các sáng tác văn học thuộc đề tài này. Mảng đề tài chiến tranh sau 1975 tuy không chiếm vị trí trung tâm như giai đoạn trước, nhưng song hành với những đề tài khác, nó vẫn phản ánh rõ nét quá trình chuyển biến của ý thức văn học, nhất là từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Chiến tranh đi qua nhưng đối với những người lính đã trải qua trận mạc thì âm hưởng của quá khứ vẫn dội về với bao nhiêu kỷ niệm. Sự hồi tưởng về chiến tranh rất phong phú trong truyện ngắn sau 1975, bởi bằng sự hồi tưởng, những mặt trái còn khuất lấp của chiến tranh sẽ được hiện hình rõ nét. Đó có thể là hoài niệm về một thời đã qua, là những lo toan về cuộc mưu sinh hiện tại, là sự cô đơn giữa cuộc sống bộn bề, náo nhiệt và ngay cả chính trong tâm hồn mình. Theo thời gian, những người lính dường như đã lấy lại được phần nào sự yên tĩnh trong tâm hồn. Nhưng đằng sau sự yên tĩnh đó, là những giằng xé, những trăn trở, những ám ảnh dữ dội trong hồi ức về chiến tranh. Và cũng chính những hoài niệm, ký ức âm thầm, mãnh liệt ấy đã bừng thức, mở đường cho cảm xúc tìm về với quá khứ, về một thời đau thương mà anh dũng. Trong khuôn khổ hạn hẹp và theo yêu cầu phân bố chương trình của chuyên đề, bài thuyết trình của chúng tôi sẽ khảo sát nhóm 6 truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh sau năm 1975, bao gồm các tác phẩm sau :

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 4

1 TÌNH HÌNH VĂN HỌC SAU 1975 4

2 TRUYỆN NGẮN VIẾT VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH TRƯỚC VÀ SAU 1975 8

2.1 TRUYỆN NGẮN VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH TRƯỚC 1975 (1945 – 1975).8 2.2 TRUYỆN NGẮN VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH SAU 1975 10

3 KHẢO SÁT 6 TRUYỆN NGẮN VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH SAU 1975 11

3.1 CHIỀU VÔ DANH – HOÀNG DÂN 12

3.2 BẾN TRẦN GIAN – LƯU SƠN MINH 18

3.3 HAI NGƯỜI ĐÀN BÀ XÓM TRẠI – NGUYỄN QUANG THIỀU 27

3.4 CHỔ DỰA – TRẦM HƯƠNG 31

3.5 NHỮNG GIẤC MƠ CÓ THỰC – VŨ THỊ HỒNG 36

3.6 BƯỚM TRẮNG – THÁI BÁ TÂN 40

KẾT LUẬN 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

Trang 2

MỞ ĐẦU

Nước ta trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ với bao đauthương, hy sinh và mất mát Đề tài về chiến tranh là nơi đắc dụng cho những nhà văn, nhàthơ thời kỳ này trải rộng ngòi bút của mình về thời cuộc, sự anh dũng, và sự kiên cườngcủa dân tộc, đặc biệt là hình ảnh của người lính trong kháng chiến với những khí phách

anh hùng, quả cảm “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” mãi là những ngọn đuốc sáng rực

trong các sáng tác văn học thuộc đề tài này Mảng đề tài chiến tranh sau 1975 tuy khôngchiếm vị trí trung tâm như giai đoạn trước, nhưng song hành với những đề tài khác, nóvẫn phản ánh rõ nét quá trình chuyển biến của ý thức văn học, nhất là từ khi đất nướcbước vào thời kỳ đổi mới Chiến tranh đi qua nhưng đối với những người lính đã trải quatrận mạc thì âm hưởng của quá khứ vẫn dội về với bao nhiêu kỷ niệm Sự hồi tưởng vềchiến tranh rất phong phú trong truyện ngắn sau 1975, bởi bằng sự hồi tưởng, những mặttrái còn khuất lấp của chiến tranh sẽ được hiện hình rõ nét Đó có thể là hoài niệm về mộtthời đã qua, là những lo toan về cuộc mưu sinh hiện tại, là sự cô đơn giữa cuộc sống bộn

bề, náo nhiệt và ngay cả chính trong tâm hồn mình Theo thời gian, những người línhdường như đã lấy lại được phần nào sự yên tĩnh trong tâm hồn Nhưng đằng sau sự yêntĩnh đó, là những giằng xé, những trăn trở, những ám ảnh dữ dội trong hồi ức về chiếntranh Và cũng chính những hoài niệm, ký ức âm thầm, mãnh liệt ấy đã bừng thức, mởđường cho cảm xúc tìm về với quá khứ, về một thời đau thương mà anh dũng

Trong khuôn khổ hạn hẹp và theo yêu cầu phân bố chương trình của chuyên đề, bàithuyết trình của chúng tôi sẽ khảo sát nhóm 6 truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh saunăm 1975, bao gồm các tác phẩm sau :

Chiều vô danh (Hoàng Dân)

Bến trần gian (Lưu Sơn Minh)

Hai người đàn bà xóm trại (Nguyễn Quang Thiều)

Chỗ dựa (Trầm Hương)

Những giấc mơ có thực (Vũ Thị Hồng)

Trang 3

Bướm trắng (Thái Bá Tân)

Trang 4

NỘI DUNG

1 TÌNH HÌNH VĂN HỌC SAU 1975

Đã hơn ba mươi năm từ khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóngmiền Nam của dân tộc ta kết thúc với thắng lợi hoàn toàn vào ngày 30 tháng 4 năm 1975lịch sử Đất nước, xã hội và con người Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn chồng chất

và không ít thử thách hiểm nghèo của thời hậu chiến để đứng vững và hơn thế nữa tạo nênnhững biến đối to lớn, toàn diện và sâu sắc, nhất là từ khi công cuộc đổi mới mở ra chođến nay Nền văn học như tấm gương tinh thần của cuộc sống đất nước, có chung vậnmệnh và đồng hành cùng dân tộc qua những thăng trầm của lịch sử, từ sau 1975 cũng đãphải đứng trước nhiều thách thức gay gắt và đã có những biến đổi sâu rộng trên mọi quatrình của đời sống văn học Nhìn trên đại thể thì sự vận động của văn học nước nhà có thểchia làm hai chặng tiếp nối liền mạch: 10 năm đầu là giai đoạn chuyển tiếp, tìm kiếm conđường đổi mới và từ 1986 trở đi là thời kỳ văn học đổi mới mạnh mẽ và toàn diện Mặc

dù nền văn học của thời kỳ đổi mới vẫn đang vận động và khó có thể nói trước về những

gì sẽ đến với nó, nhưng hơn 30 năm vừa đi qua cũng là một khoảng thời gian không quángắn ngủi để nhìn nhận, đánh giá những đặc điểm cơ bản của một chặng đường văn học

Trước hết, nền văn học thời kỳ này vận động theo hướng dân chủ hoá Từ sau 1975trở đi, nhất là từ giữa những năm 80 trở đi, dân chủ hoá là xu thế lớn của xã hội và trongđời sống tinh thần của con người, cũng đã trở thành xu hướng bao trùm của nền văn học.Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986) kêu gọi đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật đã tạo

cơ sở tư tưởng cho xu hướng dân chủ hoá trong văn học được khơi dòng và phát triểnmạnh mẽ Dân chủ hoá đã thấm sâu và được thể hiện ở nhiều cấp độ và bình diện của đờisống văn học Trên bình diện ý thức nghệ thuật đã có những biến đổi quan trọng theohướng dân chủ hoá của các quan niệm về vai trò, vị trí và chức năng của văn học, nhà văn

và quan niệm về hiện thực

Văn học thời nay tuy không từ bỏ vai trò vũ khí tinh thần – tư tưởng của nó,

Trang 5

nhưng nó được nhấn mạnh trước hết ở sức mạnh khám phá thực tại và thức tỉnh về ý thức

sự thật, ở vai trò dự báo, dự cảm Thêm nữa, trong xu hướng dân chủ hóa của xã hội, vănhọc còn được xem là một phương tiện cần thiết để tự biểu hiện, bao gồm cả việc phát biểu

tư tưởng, quan niệm, chính kiến của mỗi nghệ sĩ về xã hội và con người… Tương ứng vớinhững biến đổi nói trên là sự thay đổi trong quan niệm về kiểu nhà văn Nền văn học cáchmạng đã sản sinh và đào luyện nên một đội ngũ nhà văn – chiến sĩ rất đáng tự hào và cókhông ít người đã cống hiến cho cách mạng và nền văn học cách mạng không chỉ tàinăng, tâm huyết mà cả sự sống của họ Người đọc ngày hôm nay lại đòi hỏi ở mỗi nhàvăn một nhà tư tưởng, một nhà hoạt động xã hội để không chỉ soi sáng mà còn khơi gợisuy nghĩ của họ, để cùng bàn bạc, đối thoại về mọi vấn đề của cuộc sống Từ đó, mốiquan hệ giữa nhà văn và bạn đọc cũng thay đổi theo hướng dân chủ hoá để bình đẳng hơn

và người đọc thực sự được tôn trọng, được làm chủ Mặt khác, trong một nền văn họchướng tới tinh thần dân chủ, càng đòi hỏi và có thể thừa nhận tư tưởng riêng, cái nhìnriêng của mỗi người thì người viết dù rất tin và muốn bênh vực cho những tín niệm củamình cũng không thể không biết đến những tư tưởng và quan niệm khác…

Cùng với những thay đổi trong quan niệm về nhà văn thì quan niệm về hiện thựcnhư là đối tượng phản ánh, khám phá của văn học cũng được mở rộng và mang tính toàndiện Hiện thực không chỉ là hiện thực cách mạng, các biến cố lịch sử và đời sống cộngđồng Mà đó còn là hiện thực của đời sống hàng ngày, với các quan hệ thế sự vốn dĩ đađoan đa sự, phức tạp chằng chịt, đan dệt nên những mạch nổi và mạch ngầm của đời sống.Hiện thực, đó còn là đời sống cá nhân của mỗi con người với những vấn đề riêng tư, sốphận, nhân cách, với khát vọng mọi mặt, cả hạnh phúc và bi kịch Hiện thực đời sốngtrong tình toàn vẹn của nó đã mở ra những không gian vô tận cho văn học thoả sức chiếmlĩnh, khám phá, khai vỡ

Xu hướng dân chủ hoá của văn học không chỉ thể hiện ở các quan niệm nêutrên, mà đã thâm nhập và được biểu hiện ra trên nhiều bình diện của sáng tác, từ hệ đề tài,các kiểu kết cấu và môtip chủ đề, cốt truyện, nhân vật cho đến giọng điệu, ngôn ngữ Xuhướng dân chủ hoá cũng đã đưa đến sự nở rộ của các phong cách, bút pháp, bộc lộ hết

Trang 6

mình các cá tính sáng tạo của nhà văn cùng với việc ra sức tìm kiếm, thử nghiệm nhiềuhình thức và thủ pháp thể hiện mới, kể cả tiếp thu và vận dụng những yếu tố của cáctrường phái nghệ thuật hiện đại phương Tây

Ngoài ra, tinh thần nhân bản và sự thức tỉnh ý thức cá nhân là nền tảng tư tưởng vàcảm hứng chủ đạo bao trùm trong nền văn học giai đoạn này Từ sau năm 1975 khi cuộcsống dần trở lại với những quy luật bình thường của nó, con người trở về với khuôn mặtđời thường, phải đối mặt với bao nhiêu vấn đề trong một giai đoạn có nhiều biến động,đổi thay của xã hội Bối cảnh đó đã thúc đẩy sự thức tỉnh ý thức cá nhân, đòi hỏi sự quantâm đến mỗi người và từng số phận Sự thức tỉnh trở lại ý thức cá nhân đã mở ra cho vănhọc nhiều đề tài và chủ đề mới, làm thay đổi quan niệm về con người Văn học ngày càng

đi tới một quan niệm toàn vẹn và sâu sắc hơn về con người mà nền tảng triết học và hạtnhân cơ bản của quan niệm ấy là tư tưởng nhân bản Con người vừa là điểm xuất phát, làđối tượng khám phá chủ yếu, vừa là cái đích cuối cùng của văn học, đồng thời là điểmquy chiếu, là thước đo giá trị của mọi vấn đề xã hội, mọi sự kiện và biến cố lịch sử

Con người trong văn học hôm nay được nhìn ở nhiều vị thế và trong tính đa chiềucủa mọi mối quan hệ: con người xã hội, con người lịch sử, con người với gia đình, giatộc, với phong tục, với thiên nhiên, với chính mình… Con người cũng được văn họckhám phá, soi chiếu ở nhiều bình diện và nhiều tầng bậc: ý thức và vô thức, đời sống tưtưởng, tình cảm và đời sống tự nhiên, bản năng, khát vọng cao cả và dục vọng tầmthường, con người cụ thể, cá biệt và con người trong tính nhân loại phổ quát Con ngườikhông còn là nhất phiến, đơn trị mà luôn là con người đa diện, đa trị, lưỡng phân, trongcon người đan cài, chen lẫn, giao tranh bóng tối và ánh sáng, cao cả, tầm thường… Tuynhiên, một nền văn học dựa trên tinh thần nhân bản không thể đưa đến sự hoài nghi, hạthấp hay phủ nhận con người Nó phải cảm thông, thấu hiểu và nâng đỡ con người, nhưngđồng thời đòi hỏi cao ở con người và luôn chú ý thức tỉnh sự tự ý thức của con người đểhướng tới cái thiện, cái đẹp và sự hoàn thiện nhân cách

Những đặc điểm trên đã tạo nên sự phát triển sôi nổi, phong phú, đa dạng nhưngcũng phức tạp của văn học Sự đa dạng và phong phú được thể hiện trên nhiều bình diện

Trang 7

văn học: đa dạng về đề tài, phong phú về thể loại, nhiều tìm tòi về thủ pháp nghệ thuật; đadạng về phong cách và khuynh hướng thẩm mĩ Nhưng đi liền với hiện tượng này là tínhphức tạp và không ổn định Nhiều khuynh hướng tìm tòi chỉ tồn tại được một thời gian,thị hiếu quần chúng không đồng nhất và cũng luôn biến động hiện tượng này là tính phứctạp và không ổn định Nhiều khuynh hướng tìm tòi chỉ tồn tại được một thời gian, thị hiếuquần chúng không đồng nhất và cũng luôn biến động, các thể loại cũng thăng trầm trồi sụtthất thường Sự phức tạp và không ổn định này là đặc điểm tất yếu của một giai đoạn vănhọc mang tính giao thời và cũng do một nguyên nhân cơ bản khác là sự chi phối của kinh

cơ bản, có ý nghĩa sống còn của đất nước, của lịch sử, của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩaanh hùng Văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn

Chủ đề bao trùm văn học văn học giai đoạn này là ngợi ca tổ quốc, quần chúngcách mạng và những tấm gương vì nước hy sinh, kêu gọi tinh thần đoàn kết toàn dân, cổ

vũ đấu tranh Văn học gắn bó sâu sắc với kháng chiến và cách mạng; ca ngợi tinh thần

Trang 8

yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, thể hiện niềm tự hào dân tộc và niềm tinchiến thắng

Nhân vật chính tiêu biểu cho lý tưởng chung của dân tộc, gắn bó số phận mình với

số phận đất nước, thể hiện và kết tinh những phẩm chất cao đẹp của cả cộng đồng Conngười chủ yếu được khám phá ở bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, lẽ sống lớn,

tình cảm lớn Câu chuyện về cuộc đời và con đường của Tnú (Rừng xà nu- Nguyễn Trung

Thành) mang ý nghĩa tiêu biểu của người anh hùng đại diện cho số phận và con đườngcủa dân tộc Tây Nguyên trong thời đại đấu tranh giải phóng Những con người ấy đượcthể hiện trong văn học không phải chỉ với tư cách cá nhân mà họ còn đại diện cho cộngđồng

Cái đích cuối cùng của văn học vẫn là biểu dương vẻ đẹp của con người sống hết

mình cho lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH ( Nguyệt, Lãm trong Mảnh trăng cuối rừng; Sơn, Lê trong Những vùng trời khác nhau; Ngạn trong Nguồn suối… của Nguyễn Minh

Châu được xây dựng như là biểu tượng cho vẻ đẹp của con người thời đại) Họ đều lànhững con người giàu lòng yêu nước, yêu lí tưởng cách mạng Cuộc đời riêng của họ hòavào cuộc đời chung của dân tộc, những suy nghĩ riêng tư của họ cũng hướng về cái chung,

vì lợi ích của tập thể, của số đông

Tính cách nhân vật nhất quán được khai thác chủ yếu ở khía cạnh tích cực Thiên

về hành động của nhân vật hơn là mô tả nội tâm

Số phận nhân vật thường trải qua những biến cố bất lợi ban đầu nhưng kết thúccuối cùng đều thắng lợi hoặc tạo ra một niềm tin lạc quan về sự chiến thắng Đó là cảmhứng lãng mạn tích cực, cảm hứng lãng mạn cách mạng Nó giúp con người ta vượt lêntrên cuộc sống gian khổ và ác liệt mà hướng về tương lai chiến thắng, về cuộc sống hạnhphúc và xây dựng XHCN sau chiến tranh

Điểm nhìn trần thuật thường là ngôi thứ ba, mang tính khách quan Điểm nhìn này phùhợp với thời đại mọi người đều không có thời gian dành cho cuộc sống riêng tư, chonhững suy nghĩ trong nội tâm mình Tất cả đều bị cuốn vào dòng thác lũ của kháng chiến,

Trang 9

cách mạng Họ được mô tả trên trang giấy qua cái nhìn ngưỡng mộ của nàh văn nên lờivăn thường mang giọng điệu ngợi ca, trang trọng, hào hùng.

Kết cấu của truyện đơn tuyến là chủ yếu, theo trình tự thời gian diễn ra của sự việc

“Văn học sử thi” 1945 – 1975 là một hiện tượng độc đáo có tính chất lịch sử Nó

nối tiếp dòng văn học yêu nước từ bài thơ Thần của Lý Thường Kiệt, Bình Ngô đại cáo

của Nguyễn Trãi và nhất là thơ văn cách mạng đầu thế kỉ Có thể nói mỗi khi có cuộcchiến đấu bảo vệ Tổ quốc, giải phóng nhân dân, đất nước thì “văn học sử thi” lại xuấthiện như một biểu hiện thẩm mĩ của ý thức dân tộc và cộng đồng

2.2 TRUYỆN NGẮN VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH SAU 1975

Chiến tranh đã kết thúc, song đề tài chiến tranh vẫn là nguồn cảm hứng của nhiềuthế hệ cầm bút sau 1975 Tuy nhiên, cùng với sự đổi thay của đời sống xã hội, truyệnngắn viết về đề tài chiến tranh cũng có nhiều sự thay đổi đáng chú ý

Ở 10 năm đầu sau chiến tranh (1975 – 1985), hình ảnh người lính với những trang

sử hào hùng trong cuộc chiến vừa qua quay trở về trong những trang viết hôm nay Đã

có một độ lùi nhất định về thời gian, truyện ngắn về đề tài chiến tranh thể hiện sự suyngẫm sâu sắc của từng nhà văn trong sự cảm nhận, lý giải vẻ đẹp, sự hi sinh cao thượngcủa những người lính Hôm qua, họ đã không tiếc tính mạng, tuổi thanh xuân vì đấtnước; hôm nay họ lại lặng lẽ chấp nhận sự thiệt thòi, thua thiệt để mang lại hạnh phúctrọn vẹn cho những người thân yêu

Ở những năm sau đó (1986 đến nay), truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh thể hiệnnhững con người sống trong hiện tại mà vẫn bị ám ảnh bởi kí ức chiến tranh Không chỉ

là những người lính, mà còn có những người mẹ, người vợ, người yêu mòn mỏi, lặngthầm một nỗi chờ mong; có những mất mát, tổn thương cả về thể xác và tâm hồn không

gì bù đắp nổi,… Truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh giai đoạn này phản ánh rõ những

dư âm của chiến tranh trên khắp mọi miền Tổ quốc, đem đến cho bạn đọc hôm nay cáinhìn thấu hiểu về chiến tranh, về cái giá của cuộc sống yên bình mà chúng ta đang có

Trang 10

Chiến tranh càng lùi xa, văn học càng “nhận thức sâu sắc những giá trị tinh thần, tình cảm ở một thời con người biết xả thân vì nghĩa lớn, dám quên mình vì mọi người” [45,

7] Từ đó, định hướng mỗi người phải sống làm sao cho xứng đáng với những hi sinh tolớn mà cha anh đã trải qua ấy

Để thể hiện được muôn mặt đó của chiến tranh, truyện ngắn về đề tài chiến tranhsau 1975 có nhiều thay đổi về nghệ thuật, thể hiện rõ trong các yếu tố: điểm nhìn trầnthuật có sự chuyển đổi từ ngôi thứ ba sang ngôi thứ nhất mang đậm cá tính sáng tạo củanhà văn; thế giới nhân vật đa dạng, nhân vật đa diện; sử dụng nhiều yếu tố kì ảo trongsáng tạo nghệ thuật; kết cấu tác phẩm mở, có sự đan xen thời gian của các dòng ý thức,

… Những chiêm nghiệm sâu sắc, khám phá chiến tranh trong nhiều mặt của nó, cộnghưởng với sự đổi mới về nghệ thuật đã mang lại cho truyện ngắn về chiến tranh sau

1975 một bộ mặt mới, nhiều thành tựu

3 KHẢO SÁT 6 TRUYỆN NGẮN VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH SAU 1975

Trong quá trình khảo sát 6 tác phẩm đã nêu, chúng tôi nhận thấy chiến tranh đượcthể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau Đó không chỉ là một thời hào hùng của dân tộc, đócòn là nỗi đau để lại Đó không chỉ là những suy ngẫm của những người đã trải qua chiếntranh, bị mất mát bởi chiến tranh; mà còn là chiêm nghiệm của những người hôm nay vềchiến tranh Từ đó, có cái nhìn khác về cuộc sống hậu chiến và có cách sống ý nghĩa hơn

Và quan trọng nhất là làm cách nào để vượt qua, vợi bớt những đau thương ấy để sốngcho hiện tại và tương lai? Tình yêu thương, sự đồng cảm hay điều gì khác nữa? Tất cảnhững trăn trở ấy dần dần hé lộ qua những tác phẩm nằm trong giới hạn khảo sát của bàithuyết trình Để tìm hiểu từng tác phẩm, chúng tôi bắt đầu từ chủ đề đến các yếu tố nghệthuật trong sự soi chiếu lẫn nhau để thấy được nét tương đồng cũng như khác biệt của mỗitác phẩm

Trang 11

3.1 CHIỀU VÔ DANH – HOÀNG DÂN

Chiều vô danh (Hoàng Dân) là một tác phẩm thể hiện con người sống sót bước ra

từ chiến tranh mang theo những ám ảnh, mất mát từ thể chất đến tinh thần Người chiến sĩ

ấy may mắn sống sót trở về, có một cuộc sống bình dị và yên ấm, nhưng chỉ riêng anhmới biết được rằng, từ cái buổi chiều ấy – một buổi chiều vô danh – tâm hồn anh đã bị tổnthương sâu sắc trước sự mất mác, khóc liệt của chiến tranh, trước tình đồng đội và nhữngcái chết trẻ anh dũng của đồng đội mình Anh mãi mãi bị ám ảnh và đau khổ bởi nhữnghồi ức về chiến tranh của mình

Nhan đề Chiều vô danh cũng góp phần biểu đạt hình ảnh con người hậu chiến qua

nhân vật “tôi” (Nghĩa thư sinh) “Chiều vô danh” là buổi chiều có thực trong cuộc kháng

chiến của nước ta – buổi chiều ngày 29/04/1975 – buổi chiều trước ngày chiến thắng huyhoàng Lấy bối cảnh đó và đặt tên nhan đề như vậy, tác giả đã cho ta thấy một sự thực đaulòng: những chiến công trước đó có thể được ghi nhận, biểu dương; nhưng trong buổichiều này, khi mà chỉ ngay sáng mai thôi, cờ hoa chiến thắng rợp đường thì có lẽ sự ngấtngây của niềm vui sướng sẽ làm người ta quên đi mất thời khắc đau thương của chiều

hôm qua Và những người lính ngã xuống trong buổi chiều vô danh ấy cũng không được nhiều người nhớ đến trong khúc ca khải hoàn Họ vô danh và chỉ được nhớ tới trong nỗi

ám ảnh về chiến tranh của người còn sống – Nghĩa

Tác phẩm là cái nhìn trực diện về chiến tranh qua nhân vật tôi – người có mặt trongbuổi chiều trước ngày khải hoàn và may mắn sống sót trở về.Cuộc sống hậu chiến của anh

có thể nói là khá đầy đủ: vợ đảm, con ngoan, gia đình không khó khăn (qua cung cáchsinh hoạt gia đình) nhưng Nghĩa không mấy khi yên ổn Chỉ từ một tình huống rất bìnhthường trong cuộc sống: Nghĩa nhìn thấy đàn kiến đen bu vào mâm cơm trong gia đình.Nhưng lũ kiến đen bé xíu ấy lại là nỗi ám ảnh của anh trong quá khứ, từ đó, những hồi ứcđau thương tìm về không sao ngăn cản được Nghĩa bước vào trận chiến với tất cả ý chí,

sự vô tư quên mình vì lý tưởng Và khi trở về, sống sót sau chiến tranh, những tưởng anh

sẽ có một cuộc sống yên ổn, hạnh phúc Nhưng những hình ảnh đạn bom, những cái chết

của đồng đội cứ dày vò anh không dứt: “Tiếng bom nổ Tiếng đạn rít Tiếng gào thét của

Trang 12

những người đã chết Một mớ âm thanh ầm ầm náo động trong tâm tưởng tôi” Về với

thời bình, anh như người mộng du Nhìn lũ kiến đen bò vào mâm cơm, bao nhiêu kí ứcđau đớn về cái chết của những người đồng đội làm anh nôn nao, ớn lạnh, có cảm giác đànkiến đang nhe răng gặm sồn sột trong óc anh Đó là cái chết của người bạn thân "Thời

râu” bị đám kiến đen bu lại gặm nhấm những phần thi thể còn lại: “tôi dừng lại trước một đám kiến đen lổm ngổm, xúm xít Tôi vội ngồi xuống, dán mặt vào cát Không có gì cả Đàn kiến đang kiếm ăn trên một vũng máu tím bầm đầy cỏ rác và bụi bậm Tôi thất vọng đứng dậy đảo mắt nhìn đám kiến đen đang tầng tầng lớp lớp bu quanh một miếng mồi Một miếng mồi tua tủa râu đen” Đó là cái chết của Bình “máu và óc trắng phun ra xối xả”, là Hào bị trúng đạn “ngã ngửa”, là Ngọ toàn thân “rừng rực như một bó đuốc Bó đuốc khét lẹt…”, là Thắng “lạnh ngắt, cứng đờ”, là Lân, Hùng, Phòng, Khương, là các chiến sĩ xe tăng vô danh “tự đến, tự đi, tự bắn chào vĩnh biệt và tự mai táng cho mình” Hồi ức về những cái chết cứ trở đi trở lại trong tâm trí nhân vật “Tôi”, có thể nói Chiều vô danh “đầy rẫy tử thi”, những cái chết này gắn liền với những ý nghĩa sâu sắc: hoặc là sự

mất mát, chết chóc bởi chiến tranh hoặc là tình người - sự yêu thương, hy sinh cho nhau.Những cái chết của đồng đội anh là thể hiện sự yêu thương, đức hy sinh, sự cao thượng

“mình chết thì bạn sống” để che chở, bảo vệ cho đồng đội sống sót (như Thời, Vũ).

Nhưng, với vị trí của một người được sống khi những người khác đã ngã xuống, Nghĩaluôn bị dày vò, day dứt về những cái chết của đồng đội, vì cái may mắn sống sót củamình

Đó là những tổn thương sâu sắc trong tâm hồn của người lính– họ dường nhưkhông còn là chính họ nữa, chiến tranh đã vĩnh viễn lấy đi của họ sự bình yên, thanh thản

Với “Nghĩa thư sinh trói gà không chặt”, được sống sót là mang món nợ lớn với người đã khuất thế nên anh lúc nào cũng day dứt, dằn vặt: “Tôi còn sống, sống ngơ ngác giữa bãi chiến trường ngổn ngang bao nhiêu đồng đội đời đời im lặng! Tại sao kẻ may lại là tôi? Nếu tất cả những kẻ hay do dự và sĩ diện hảo như tôi đều sống sót cả thì cuộc đời sẽ đơn điệu biết bao? Và cuộc chọn lọc sinh tồn nghiệt ngã của tạo hóa mới vô duyên làm sao?”

Gánh nặng của những kỉ niệm đau đớn, những ám ảnh khôn nguôi của quá khứ chạm đến

Trang 13

tận cùng đau khổ và cao cả trong chiến tranh, “tôi” ngày ngày vật lộn, tự vấn với nó để

giác ngộ chân lí “Con người sao mà bé bỏng? Và tôi ngậm ngùi hiểu ra rằng, khi buông

vũ khí, tôi mới là kẻ đáng thương đến chừng nào?”

Hình tượng con người tự vấn là một hình tượng phổ biến trong văn học thời kỳ đồimới từ sau 1975 Nó phản ánh sự thay đổi trong quan niệm về hiện thực và quan niệm vềcon người trong ý thức văn học đương thời Với loại hình tượng này, người kể có thể đisâu vào thể hiện đời sống tinh thần phong phú, phức tạp của con người, qua đó, tạo đượccái nhìn mang vẻ đẹp nhân văn về cuộc sống, về con người Trong truyện ngắn này, cùngvới việc thể hiện suy nghĩ, tình cảm của mình, người kể chuyện xưng “tôi” đã cho ngườiđọc thấy một hình ảnh của người lính trong chiến tranh Họ đâu chỉ là những con ngườicủa hành động, của đấu tranh, họ còn là những con người nhạy cảm, có những lúc hoangmang, có cả những lúc tuyệt vọng với chính mình, với chiến tranh Phải nhìn hình tượngngười lính cụ Hồ ở phương diện này mới thấy hết chất nhân văn trong con người họ, mớithấu hiểu hết những mất mát, khổ đau mà chiến tranh đã mang đến cho bao người, mớithấm thía giá trị của cuộc sống thanh bình của hiện tại

Kết thúc tác phẩm bằng cách mở như vậy, Hoàng Dân giúp ta có một cái nhìn sâusắc về thân phận con người trải qua trận mạc Đằng sau những chiến công, niềm vui chiếnthắng là những đớn đau, mất mát, tổn thương mãi mãi “rỉ máu” không nguôi về mặt tinhthần Đó là sự trăn trở, dằn vặt trước những món nợ của chiến tranh, về số phận ngườilính trong và sau chiến tranh

Chiều vô danh được tái hiện bởi người kể chuyện xưng “tôi”, đồng thời cũng là

một nhân vật trong tác phẩm – nhân vật Nghĩa Sau những ngày tháng gian khổ, ác liệtnhưng đầy khí thế cách mạng với nhiều kỉ niệm đẹp về tình đồng chí, đồng đội, anh maymắn sống sót sau chiến tranh, nhưng vẫn mang nặng trong lòng những ám ảnh từ cuộcchiến đã qua Điều đó thôi thúc anh kể lại câu chuyện về mình, về những người bạn chiếnđấu của mình Kết cấu truyện theo dòng ý thức khiến câu chuyện được kể lại theo dònghồi tưởng của nhân vật một cách liền mạch , hợp lý và có sự đan xen giữa quá khứ và hiện

Trang 14

tại, giữa sự kiện và suy ngẫm Điều đó giúp chủ đề của câu chuyện thể hiện rõ hơn, giúpnhân vật Nghĩa phát huy hết khả năng của vai trò người kể chuyện, đào sâu thế gới nộitâm nhân vật, mang đến cái nhìn cụ thể và đau đớn về sự khốc liệt của chiến tranh qua cáinhìn của người đã trực tiếp trải qua nó.

Trong truyện ngắn, điểm nhìn trần thuật của người kể chuyện thường có sự biếnđổi linh hoạt Khi thì người kể hướng cái nhìn khách quan vào những sự kiện, những nhânvật bên ngoài, khi lại hướng vào bên trong nội tâm để bộc lộ những cảm xúc về chiếntranh, về đời sống, về đồng đội Bằng cái nhìn khách quan, người kể chuyện xưng “tôi” đãtái hiện lại trước mắt người đọc một mảng hiện thực chiến tranh với hình ảnh nhữngngười lính trẻ đầy nhiệt huyết, dũng cảm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Họ sống giankhổ với những cuộc hành quân liên miên, bị những cơn đói ngủ hành hạ, chịu đựng nhữngtrận đánh ác liệt của kẻ thù Nhưng sức trẻ, niềm tin, sự lạc quan và tinh thần đồng đội ở

họ đã giúp họ vượt qua biết bao gian nan, nguy hiểm của cuộc chiến Tiêu biểu cho hìnhảnh những người lính ấy là Thời, một anh chàng Hà Nội có sức khỏe phi thường, ngangtàng, nhưng biết sống chan hòa, thân ái và dám hy sinh vì đồng đội Người kể chuyệnxưng “tôi” đã dành nhiều chi tiết đặc tả nhân vật này từ ngoại hình, tính cách, lối ứng xử,tình cảm dành cho đồng đội, đặc biệt là hình ảnh hy sinh quên mình đầy khốc liệt củangười lính trẻ Bằng cách đó, nhân vật “tôi” thể hiện niềm cảm phục, yêu thương chânthành với người bạn đã mất, đồng thời xây dựng được một hình tượng người lính giảiphóng có chiều sâu Bởi hình tượng này không chỉ được xây dựng bằng những chi tiếtmiêu tả diện mạo, các mối quan hệ bên ngoài, mà còn được xây dựng bằng những chi tiếtthể hiện đời sống nội tâm phong phú bên trong:

“Nghe Thời khấn khứa, tôi chạnh lòng Khóe mắt cay cay Vũ cũng xúc động lắm Hắn dụi nhanh mắt vào cánh tay áo Còn Thời khấn khứa xong thì ngồi xổm, bần thần Bộ râu bê bết cát ướt của hắn như dài ra Tua tủa, rung rung Lát sau, hắn chỉ tay xuống hố, giọng khàn đực: - Phải mai táng theo nghi lễ nhà binh!”

“Tôi ôm lấy Thời, âm thầm gạt nước mắt Những sợi râu xuyên qua áo lính, mơn man trên da thịt tôi buồn buồn, nao nao Mắt tôi nhòe nhoẹt, cay xít Thời buông tôi Đôi

Trang 15

mắt hắn đỏ ngầu, nhưng không phải màu đỏ của cơn đói ngủ hôm nào Hình như hắn cũng khóc? Theo cách của hắn Những mao mạch trong mắt hắn vỡ ra thành nước mắt”.

Cũng với cái nhìn khách quan, người kể chuyện xưng “tôi” mở rộng góc nhìn trầnthuật của mình ra không gian rộng lớn của cuộc chiến Đó là một cuộc chiến ác liệt,khủng khiếp với những cái chết liên tiếp diễn ra trước mắt anh Đó là sự hy sinh của Bình,của Hào, của Thắng, của Thời, của Vũ, của Ngọ - những đồng đội thân yêu của anh.Người kể đã miêu tả sự ra đi của họ với cảm xúc bàng hoàng, đau đớn nhưng cũng đầycảm phục Họ đều là những người lính còn rất trẻ Họ cũng sợ cái chết Nhưng khi đốidiện với hiểm nguy, đối diện với cái chết, họ vẫn chọn cách xông lên quyết tử để bảo vệđồng đội, để hoàn thành sứ mệnh của mình Cái chết của họ là những cái chết tàn khốcnhưng anh hùng

Ở nhiều tình huống truyện, người kể chuyện xưng “tôi” còn hướng vào bên trongnội tâm của mình để tự vấn, để suy tư về bản thân, về sự tồn vong của kiếp người, vềchiến tranh:

“Chao ôi, những ngày thiếu đói triền miên của cuộc đời sinh viên, những cơn nguy khốn cùng cực giữa vòng vây kẻ thù, những lời khen chê vô bổ, những soi mói đố kỵ tầm thường của người đời… Tất cả phỏng có nghĩa lý gì khi chỉ lát nữa thôi, có thể sẽ vùi sâu dưới cát?”.

“Tôi còn sống? Sống ngơ ngác giữa bãi chiến trường ngổn ngang bao nhiêu đồng đội đời đời im lặng! Tại sao kẻ may lại là tôi? Nếu tất cả những kẻ hay do dự và sĩ diện hão như tôi đều sống sót cả thì cuộc đời sẽ đơn điệu biết bao? Và cuộc chọn lọc sinh tồn nghiệt ngã của tạo hóa mới vô duyên làm sao? Ờ, tại sao kẻ thù lại bắn tồi đến thế? Tôi cũng xông lên, cũng phơi mình lù lù trên bãi trống kia mà! Sao tôi không dính một viên đạn? (…) Chiến tranh đến thì long trời lở đất mà ra đi thì lặng ngắt như thế này ư?”.

“Và con người sao mà bé bỏng? Và tôi ngậm ngùi hiểu ra rằng, khi buông vũ khí, tôi mới là kẻ đáng thương đến chừng nào?”.

Trong tác phẩm, điểm nhìn trần thuật của người kể cũng thường xuyên trượt trênnhững chiều không gian, thời gian khác nhau Đó là thời gian trần thuật đan xen những sự

Trang 16

kiện của quá khứ và hiện tại Đó là sự thay đổi không gian nghệ thuật từ quang cảnh chiếntrường rộng lớn, đến những cánh rừng già âm u, những căn hầm trú ẩn, đến ngôi nhà nhỏcủa nhân vật “tôi” Ở đây, hiện tại là cái nền đưa “tôi’ về với quá khứ mang đầy dấu ấncủa tình đồng đội, của tinh thần anh hùng cách mạng, của những mất mát đau thương và

cả những ám ảnh rợn người về sự tàn khốc Hiện tại cũng là cái nền để tô đậm quá khứ,đối sánh với quá khứ để nhân vật “tôi” có thể bộc lộ sâu sắc những suy nghĩ, tình cảm,suy tư của bản thân mình về những kỷ niệm chiến tranh, về nhân sinh Qua đó, khắc họanên bức tranh đời sống rộng lớn mang dấu ấn chủ quan của người kể chuyện xưng “tôi”

3.2 BẾN TRẦN GIAN – LƯU SƠN MINH

Bến trần gian đưa ra một vấn đề quan trọng là những người bị mất mát trong chiến tranh

phải biết cố gắng vượt qua quá khứ đau buồn, nhìn về tương lai mà sống tiếp chứ khôngthể đắm chìm trong nỗi đau đã qua được Vượt qua chứ không có nghĩa là lãng quên,tưởng nhớ chứ không có nghĩa là quên đi hiện tại

Trong Bến trần gian, Lăng - nhân vật người lính hóa thân vào một bóng ma tìm

đường trở về với quê hương – nơi đó có mẹ anh vẫn đêm ngày ngóng đợi, có Thùy tuy đãyên bề gia thất nhưng mãi mãi con tim hướng về anh Trong chiến tranh, thân xác anh bỏ

lại chiến trường và sau chiến tranh mấy chục năm, linh hồn anh “vẫn luẩn quẩn ở trong rừng cho tới một hôm, trong cuộc viễn du vô định, anh gặp một cụ già râu tóc bạc phơ Ông bảo: Lại đây con, ta biết con langg thang đã lâu lắm rồi Ta cho con cái lá này con hãy gài vào vành tai Cái lá sẽ giữ cho linh hồn con không tan ra khi quay về chốn cũ Từ giờ con sẽ bay được…” Nhân vật Lăng làm ta liên tưởng đến những nhân vật bất hạnh

trong những câu chuyện cổ tích thường được những ông tiên, ông bụt râu tóc bạc phơhiện lên giúp đỡ Lăng không ý thức được là mình đã chết, anh chỉ cảm nhận được nỗinhớ nhung của mình không nguôi hướng về quê hương, người thân và về người yêu.Chính vì vậy, dù đã thành người cõi âm nhưng anh vẫn không thể yên nghỉ, siêu thoát,thậm chí anh dưởng như không nhận ra rằng mình đã chết (sợ cậu chuyện hồn ma gốc đa,

Trang 17

thấy Thùy chèo đò trong đêm thì sợ hãi vì ngỡ là ma) Anh phải lần tìm về nơi ấy dù khitrở về anh không nhận ra Thùy – cô người yêu năm xưa, người anh nhớ nhất đó là mẹ

anh: “lập cập chống gậy quay về Cái dáng đi quen thuộc của những người quanh năm còng lưng vì hạt lúa Bao nhiêu mùa lúa còng xuống vì thóc thì dáng người cùng còng xuống bao nhiêu” Chỉ khi gặp và nói chuyện với mẹ, Lăng mới biết mình đã chết và nhớ

ra cô lái đò là Thùy Dù rất nhớ nhung và yêu thương con nhưng bà cụ Lăng vẫn phải cắn

răng xua đuổi con với một quyết tâm ghê ghớm “Lăng, quay về xứ của con đi Con không được ở lại để làm hại người sống” Nhìn từ góc độ phân tâm học, linh hồn được hiểu theo nhiều cách Jung cho rằng tâm hồn con người “luôn luôn tự thân là một cái gì đó vừa trần thế vừa siêu nhiên” Quan hệ giữa Lăng, mẹ mình và Thùy không đơn thuần chỉ là tình

mẫu tử thiêng liêng, tình yêu, tình xóm làng thân thuộc mà đó còn là biểu hiện của sự giaocảm giữa người sống và người chết, giữa cõi âm và cõi dương thiêng liêng, huyền diệu.Chính tâm thức này là niềm tin, nghị lực cho những người ở lại “bến trần gian” tiếp tụcxây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn, cũng như linh hồn người ra đi được thanh thản, siêuthoát Chiến tranh đã cướp đi cuộc sống quý giá của Lăng, cướp đi đứa con trai duy nhấtcủa bà cụ Lăng, cướp đi mối tình đẹp đẽ giữa Lăng và Thùy Dẫu vậy, bà cụ Lăng vàThùy vẫn phải gượng dậy, sống tiếp và sống tốt hơn Tác phẩm đưa ra một vấn đề quantrọng là những người bị mất mát trong chiến tranh phải biết cố gắng vượt qua quá khứ đaubuồn, nhìn về tương lai mà sống tiếp chứ không thể đắm chìm trong nỗi đau đã qua được.Vượt qua chứ không có nghĩa là lãng quên, tưởng nhớ chứ không có nghĩa là quên đi hiệntại

Chủ đề đó cũng thể hiện rõ qua nhan đề và đề từ của tác phẩm

Nhan đề Bến trần gian là nhan đề giàu sức gợi buộc sự liên tưởng và ý nghĩ phải

mở rộng đến những biên giới xa lạ Tại sao lại là Bến trần gian mà không phải là Bến sông? Đó vừa là không gian thực tại hiện hữu gắn bó với các nhân vật trong truyện, vừa

là nơi giao nhau của các cõi: cõi người (ở bên này bến sông) và cõi ma của Lăng (ở bênkia bến sông) Đó là cái bến trần gian cuối cùng mà Lăng phải đi qua để trở về với thếgiới của anh Nó còn là bến của trần gian – nơi mà những linh hồn như Lăng không thể

Trang 18

nào neo đậu lại được Chỉ có Thùy, có bà cụ Lăng – những con người mới có thể neo lại

và chấp nhận, chịu đựng sự nổi nênh cùng dòng sông

Trong 6 tác phẩm thì đây là truyện ngắn duy nhất xuất hiện lời đề từ Đề từ là mộtcâu trong Truyện Kiều nói lên nỗi đau của nàng Kiều trước lời đề nghị tái hợp của KimTrọng:

Dở dang nào có ra gì

Đã tu tu trót qua thì thì thôi

Cuộc đời kiều đã dở dang, đâu còn gì để trao gửi cho chàng Kim nữa mà tái hợp

Mà cũng tái hợp để làm gì khi chàng Kim và Thúy Vân đã vui vầy tổ ấm, nếu có lại thêmmột sự dở dang cho cả ba người mà thôi Nhận thức rõ điều ấy, Kiều đã nói lên nỗi lòngmình qua câu thơ ngắn ngủi Hai câu thơ chứa đựng cả nỗi đau đớn lòng, cả sự hi sinh caothượng, cả tấm chân tình Kiều dành cho Kim Trọng, và báo hiệu cả quãng đời vò võ, côđơn Dùng câu thơ này làm đề từ, Lưu Sơn Minh đã thành công trong việc biểu đạt phầnnào ý nghĩa sâu xa của tác phẩm Lời đề từ có liên quan đến hầu hết các nhân vật trong tácphẩm

Với Lăng: sự ở lại của Lăng chỉ là sự dở dang với cả Lăng và Thùy khi Thùy đãyên bề gia thất Đã không còn có thể ở bên nhau thì cách tốt nhất là Lăng hãy ra đi, đểThùy được sống yên bình Với Thùy cũng vậy Thùy đã lỡ làng, đau khổ bởi Lăng; và cô

sẽ còn mãi đau khổ nếu không biết dứt lòng khỏi những ám ảnh của quá khứ để vun đắpcho hiện tại Và chồng Thùy – người đàn ông nóng nảy nhưng cũng biết lẽ phải ấy cũngđừng nên giẫm đạp lên sự lỡ làng của Thùy mà hãy giúp cô vượt qua nỗi đau, một khi đãmuốn cùng nhau xây dựng mái ấm gia đình Bà cụ Lăng là người hiểu rõ nhất điều ấy,hiểu rằng chuyện của Thùy và con trai bà chỉ là quá khứ nhỡ nhàng, nên bà ra sức khuyêncan Thùy và đuổi linh hồn con đi dù lòng đầy đau xót Như vậy, soi sáng lời đề từ quatoàn bộ thiên truyện, ta thấy được thông điệp của tác giả: quá khứ đáng trân trọng nhưngcần phải để nó trôi qua cho cuộc sống được tiếp tục Đừng để ám ảnh quá khứ trở thànhgánh nặng thế hệ mai sau khiến cho “con người vừa mới sinh ra đã đủ tuổi già để chết”

như lời văn của Nguyễn Bình Phương trong Những đứa trẻ chết già.

Trang 19

Tác phẩm được xây dựng theo lối kết cấu đồng hiện về thời gian, những sự việccùng thời điểm được thể hiện song song, mang đến cái nhìn khái quát hơn cho người đọc.Cùng lúc với Thùy đau khổ chèo đò như người mộng du là Lăng gọi đò với bao hồi hộp

và sợ hãi, cùng lúc với việc Thùy ngã vào lòng bà cụ Lăng mà khóc nức nở là Lăng ngồichôn chân trên đò không sao lên bờ được… Ngoài ra, những sự kiện ở quá khứ và hiện tạicũng thường được trần thuật đan xen lẫn nhau Việc thể hiện song song các hành động vàsuy nghĩ của nhân vật trong cùng một khoảng thời gian tạo nên sự đối thoại, đối sánh giữacác ý thức với nhau Điều đó tạo nên chiều sâu cho việc thể hiện đời sống tâm linh củacác nhân vật Người kể không cần thiết phải dùng nhiều từ ngữ miêu tả, không cần trầnthuật chi tiết những biểu hiện cảm xúc của nhân vật, nhân vật cũng không cần phải tự thểhiện mình quá nhiều Chính sự soi chiếu lẫn nhau giữa các ý thức đã thể hiện thật đầy đủ,hàm súc và thật lay động những nhớ mong tha thiết, những nỗi đau dồn nén trong lòngngười Và chỉ trong những khoảnh khắc cùng đồng hiện bên nhau qua những chi tiết đặc

tả, tất cả như hòa lẫn, như vỡ òa, chan chứa Đồng thời, nó cũng giúp thể hiện sâu sắchơn đời sống nội tâm của các nhân vật khi thể hiện suy nghĩ, tâm trạng của các nhân vậttrong cùng một khoảng thời gian (Thời điểm Lăng chuẩn bị sang sông, bà Lăng đang lụicụi bước ra vườn nhớ lại đêm trước ngày Lăng đi bộ đội, Thùy đang ngồi khóc bên kiasông nhớ Lăng và nhớ lại việc bị chồng đánh  Thùy lấy thuyền chèo qua sông, Lăng sốtruột chờ đò  Thuyền của Thùy cập bến, Lăng lên thuyền, bà cụ Lăng gọi Thùy quay về,Thùy lặng lẽ rút hương đốt cho Lăng  Thùy quay thuyền về, bà cụ Lăng đón Thùy và áingại cho hoàn cảnh của cô, Lăng ngỡ ngàng nhận ra mẹ mình…)

Ở truyện này, ta thấy xuất hiện một dạng thức rất quen thuộc của yếu tố kỳ ảo: sựhiện hồn của người chết Đó không chỉ là sự hiện hồn của Lăng mà còn là câu chuyện magọi đò ám ảnh suốt tuổi thơ Lăng đến tận bây giờ mà bà đã kể Lăng xuất hiện trong tác

phẩm không phải là người mà chỉ là một bóng ma “bóng anh trôi nhè nhẹ ven sông”,

“Lăng bay vụt lên bờ, anh chơi vơi trên những đám cỏ đầm đìa ánh trăng” Từ việc miêu

tả Lăng chỉ là một linh hồn, tác giả đã kéo theo hàng loạt các chi tiết có tính chất huyền ảotrong tác phẩm Như sự gặp gỡ của Lăng với ông lão râu tóc bạc phơ và được ông cho

Trang 20

chiếc lá có tác dụng giữ cho linh hồn anh không bị tan ra, có thể trở về quê nhà sau mấychục năm loanh quanh trong rừng Ông lão làm ta liên tưởng tới các ông Tiên, ông Bụttrong truyện cổ hay tới các đạo sĩ tiêu diêu có sự tương thông kì bí với cõi âm, với hồn

ma Nếu không có ông lão ấy thì Lăng vẫn chỉ lang thang ở trong rừng, còn bây giờ anh

có thể “trôi qua những con sông và núi đồi” trở về quê hương Nhưng kì lạ thay, anh có thể qua rất nhiều con sông khác nhưng “đến con sông này thì anh không vượt qua được nữa” dù đó là khúc sông quen thuộc trước nhà “Phải có một con đò để đón anh qua sông” Qua được con sông là anh sẽ trở về với u, với Thùy Tại sao lại có điều kì lạ ấy?

Tại sao anh lại không thể qua khúc sông quê nhà? Có điều gì đã níu anh lại? Lăng phảidừng lại để được Thùy chở qua sông lần cuối, để vô tình chứng kiến cảnh Thùy buôngxuôi đời mình, mặc cho dòng nước cuốn đi; chứng kiến Thùy khóc không thành tiếng, đầy

ấm ức và tổn thương; để thấy nỗi khổ đau, dằn vặt trong cuộc sống hiện tại của cô Vàchính điều đó đã giữ Lăng lại, vì Lăng hiểu rằng nếu mình cứ nấn ná mãi ở trần gian thìLăng cũng chỉ như những con ma đã ám những cô gái trong câu chuyện khi xưa của bàlàm Thùy không thể nào có được hạnh phúc Cả nén hương Thùy đốt cũng giữ Lăng lại.Nhưng không phải khói của hương ma đã giữ Lăng lại như Lăng nghĩ mà chính vì nénhương ấy là Thùy nhớ Lăng, vì Lăng mà đốt đã giữ Lăng lại Trước nỗi khổ đau, lòng yêuthương của Thùy, Lăng không thể nào lên bờ để gặp Thùy được nữa, Lăng không thể làmThùy khổ thêm nữa Trong tác phẩm, còn xuất hiện hình ảnh chiếc lá – một chi tiết kỳ ảo

có nhiều ý nghĩa Chiếc lá màu xanh giữ cho linh hồn Lăng không bị tan ra, để anh có thểtrở về quê nhà Màu xanh là màu của sự sống và ở đây, nó cũng giữ cho Lăng “sống” theo

ý nghĩa: linh hồn Lăng có thể tồn tại bên cạnh người thân yêu Nếu trong chiến tranh,Lăng đã không tiếc tuổi thanh xuân tươi non của mình để hi sinh vì nghĩa lớn, thì bây giờLăng lại từ bỏ “sự sống” một lần nữa, hi sinh hạnh phúc được gặp lại người yêu bằng

hành động “gỡ chiếc lá ra khỏi vành tai” để linh hồn tan vào hư vô; trả lại yên bình cho

cuộc sống của Thùy, bà cụ Lăng và dân làng dù Lăng đã chờ đợi ngày gặp lại đến mấychục năm Qua những chi tiết kỳ ảo ấy, ta thấy chiến tranh dù được nhìn nhận ở mặt đauthương, mất mát nhưng Lăng vẫn hiện lên là một người lính thực thụ Cả lúc sống cũng

Trang 21

như khi đã khuất, mọi việc anh làm đều sáng ngời lòng yêu thương cuộc sống, con người

Liên quan đến sự xuất hiện kì ảo của bóng ma Lăng còn có Thùy và bà cụ Lăng.Lăng gọi đò lúc Thùy đang đi tìm lại thời con gái đắm say, hạnh phúc trong sự buôngxuôi, phó mặc cho dòng sông đưa đẩy Thùy không nhìn thấy bóng hồn Lăng, do đó, níuThùy lại cuộc sống không phải là Lăng mà là năm đứa con thơ dại, là bà cụ Lăng và cả

“anh ấy” (chồng của Thùy) - cách nói ngập ngừng tế nhị của Thùy như thấy mình có lỗivới Lăng, sợ làm tổn thương Lăng Chứng tỏ Thùy vẫn còn rất yêu thương Lăng nhưngchị vẫn phải tiếp tục cuộc sống, vẫn phải vì những người còn sống mà cố gắng chèochống con đò đời chị cập bến như chị đã gượng cầm mái chèo trở về với cuộc sống đaukhổ của mình Bà cụ Lăng cũng thế Bà thương Lăng, thương Thùy bằng cả trái tim nồngnàn nhân hậu Lăng và Thùy cùng đi trên một con đò chỉ có hai người nhưng Thùy khôngthấy Lăng, không nghe được Lăng nói mà chỉ bà cụ Lăng mới thấy Lăng? Phải chăng đó

là dụng ý của tác giả? Thùy đang đau khổ, muốn buông xuôi cuộc đời nếu Thùy nhìn thấyLăng, thấy nỗi khắc khoải mấy chục năm của anh hẳn chị sẽ không kiềm lòng được,không nghĩ được cho những người còn sống Chỉ có bà cụ Lăng, với sự sáng suốt và sâusắc của người đã đi gần hết cuộc đời mới hiểu rằng Lăng ở lại chỉ gây nên nỗi sợ hãi,khiếp đảm cho mọi người Và bà cũng hiểu rằng Thùy không nên và không thể buông bỏđàn con thơ dại Bà thương con nhưng cũng thương Thùy, thương dân làng Bà hiểu người

ta không chỉ sống vì mình, vì những toan tính cho riêng mình mà phải nghĩ đến ngườikhác, hi sinh vì người khác Hình ảnh năm đứa con của Thùy được nhắc đi nhắc lại trongsuy nghĩ của Thùy và lời nói của bà cụ Lăng Đó là hình ảnh của thế hệ tương lai, sauchiến tranh Qua đó, thể hiện ẩn ý của nhà văn: thế hệ cha anh hi sinh không chỉ tínhmạng mà còn cả hạnh phúc của mình để giữ gìn non sông và cả tương lai tươi sáng chothế hệ mai sau Ở cả Lăng, Thùy và bà cụ Lăng, tình thương yêu là thứ ánh sáng lung linh,chói ngời lên trên sự đau thương, mất mát của chiến tranh

Cả ba nhân vật đều là những con người bước ra từ chiến tranh Người thì ra đi mãimãi, người thì ở lại với biết bao nhớ thương, day dứt Lăng đã đi xa từ lâu, nhưng tìnhcảm của Thùy dành cho anh chưa bao giờ nguôi ngoai Những lúc đau khổ và bế tắc trong

Ngày đăng: 02/09/2021, 21:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Alain Gheerbrant, Jean Chevalier (1997), Dịch giả: Lưu Huy Khánh, Nguyễn Xuân Giao, Phạm Vinh Cư, Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, NXB Đà Nẵng Khác
2. Bùi Việt Tháng (2000), Truyện ngắn: Những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội Khác
3. Nguyễn Văn Kha (2006), Đổi mới quan niệm về con người trong truyện Việt Nam 1975 – 2000, NXB Đại học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh Khác
4. Nguyễn Văn Long (2003), Văn học Việt Nam trong thời đại mới (từ sau Cách Mạng tháng Tám 1945), NXB Giáo Dục Khác
5. Nguyễn Văn Long, Nhã Lâm Thìn (đồng chủ biên) (2006), Văn học Việt Nam sau 1975 – Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, NXB Giáo Dục Khác
6. Trần Đình Sử tuyển tập, tập 2: Những công trình lý luận và phê bình văn học (2005), Nguyễn Đăng Điệp tuyển chọn, NXB Giáo Dục Khác
7. Hoàng Thị Văn, Đặc trưng nghệ thuật truyện ngắn sau 1975, luận án tiến sĩ, ĐH Sư Phạm TP.HCM Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w