Tân kỳ là huyện miền núi phía Tây của tỉnh Nghệ An, vốn là vùng đấtgiàu tài nguyên, có tiềm năng phát triển Kinh tế, nhân dân Tân kỳ chịu khó, cần cù, dũng cảm song đây là vùng đất có kh
Trang 1A dÉn luËn 1.Lí do chọn đề tài
Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước thắng lợi (30/04/1975) đã mở ra kỉnguyên mới cho lịch sử dân tộc ta đưa cả nước cùng tiến lên xây dựng chủ nghĩa
xã hội 10 năm (1975 - 1985) đầu cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội với nhữngkhó khăn trắc trở và 15 năm đổi mới (1986 - 2000) đã đưa đất nước từ vũng bùnchiến tranh khắc nghiệt thành điểm sáng của khu vực Đông Nam Á và thế giớihiện đại Công cuộc mở cửa đã đưa Việt nam hoà nhập mạnh mẽ vào nền Kinh
tế thế giới, đưa tiếng nói của Việt nam ngày càng có trọng lượng, đưa hình ảnh 1Việt nam hoà bình thân thiện đến với thế giới bạn bè khắp năm châu Và để cómột Việt nam ngày càng to đẹp và đàng hoàng hơn, mỗi tỉnh thành quận huyệnthôn xã cũng phải phấn đấu hết mình cho mục tiêu đúng đắn đó Phấn đấu xấydựng Tổ quốc giàu đẹp sánh ngang với các cường quốc năm châu cũng chính làxây dựng cho mỗi chúng ta niềm tự hào về những thành quả to lớn về Dân tộcmình_Tổ quốc Việt nam Xã hội chủ nghĩa
Tổng kết 15 năm xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn đổi mới,cách làm tư duy mới, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX(2001) đã đánh giánhững thành tự và hạn chế của 15 năm đổi mới, của 25 năm cả nước đi lên xâydựng chủ nghĩa xã hội Và đề ra chiến lược cho đất nước trong thời kỳ đẩy mạnhCông nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cáchhợp lý đưa đất nước tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc vào Thiên niên kỷ mới
Tân kỳ là huyện miền núi phía Tây của tỉnh Nghệ An, vốn là vùng đấtgiàu tài nguyên, có tiềm năng phát triển Kinh tế, nhân dân Tân kỳ chịu khó, cần
cù, dũng cảm song đây là vùng đất có khí hậu khắc nghiệt, thiên tai thườngxuyên xảy ra, giao thông vận tải yếu kém, trình độ dân trí chưa cao, trình độquản lý xã hội của đội ngũ cán bộ Tân kỳ chưa đáp ứng được yêu cầu cua cáchmạng
Trang 2Cùng với cả nước, Đảng bộ nhân dân huyện Tân kỳ quyết tâm thực hiệnthắng lợi công cuộc đổi mới làm thay da đổi thịt trên quê hương Sau 15 năm đổimới (1986 – 2000), Tân kỳ đã cơ bản thoát khỏi tình trạng khủng hoảng Kinh tế
- xã hội Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVII (2000) đã đề ra chương trình pháttriển kinh tế - xã hội cho huyện, đưa nền Kinh tế huyện chuyển dịch hợp lý phùhợp với kinh tế đất nước, đưa huyện thoát nghèo vươn lên trong tỉnh cũng như
cả nước, ổn định chính trị huyện đảm bảo anh ninh quốc phòng cho huyện Đạihội đã đề ra chiến lược phát triển toàn diện cho huyện trong 10 năm (2000-2010) Trong 10 năm qua, hình ảnh một Tân kỳ heo hút, mịt mù…đã dần dần tanbiến thay vào đó là hình ảnh quê hương Tân Kỳ nhộn nhịp, khá thuận tiện tronggiao lưu kinh tế - văn hoá – xã hội; với những công trình mang nhiều giá trị vănhoá và lịch sử (KMO trên đường mòm Hồ Chí Minh_di tích lịch sử được xếphạng cấp Quốc gia )
Để góp phần khẳng định đường lối đẩy mạnh Công nghiệp hóa - Hiện đạihóa trong giai đoạn mới của Đảng đề ra tại Đại hội IX (2001) là đúng đắn hợplòng dân, hợp xu thế chung của thời đại cũng như quá trình Tân kỳ vận dụngsáng tạo hợp lý vào điều kiện của địa phương, tôi chọn đề tài "Đảng bộ Tân Kỳlãnh đạo phát triển Kinh tế 10 năm đầu Thế kỷ XXI (2000 - 2010)” làm bài Tiểuluận
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề
"Đảng bộ Tân Kỳ lãnh đạo phát triển Kinh tế 10 năm đầu Thế kỷ XXI(2000 - 2010)” là vấn đề hoàn toàn mới mẻ, các sự kiện đang trong quá trìnhdiễn biến, chưa có 1 công trình chuyên sâu nào đề cập đến Hầu hết các tài liệunằm ở dạng Báo cáo Chính trị thường niên của Đảng bộ huyện, Báo cáo Tổngkết đánh giá của Tỉnh và các Bộ ngành
Trang 33.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề “Đảng bộ Tân kỳ lãnh đạo Phát triển Kinh tế 10 nămđầu Thế kỷ XXI (2000 - 2010)” nhằm tổng kết đánh giá những thành tựu và hạnchế, rút ra những bài học kinh nghiệp trong 10 năm vừa qua (2000 - 2010)
Tiểu luận đề cập đến những điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xãhội cho công cuộc phát triển kinh tế của huyện nhà Nêu bật những thành tựucủa huyện đặc biệt trên lĩnh Kinh tế của huyện trong suốt 10 năm qua (2000 -2010), bên cạnh đó là những mặt hạn chế, những tồn tại cần được khắc phụctrong thời gian tới
4.Nguồn tài liệu,phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu vần đề "Đảng bộ Tân Kỳ lãnh đạo phát triển Kinh tế 10năm đầu Thế kỷ XXI (2000 - 2010)” tôi tập trung nghiên cứu ở 1 số nguồn tàiliệu sau:
- Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt nam ( Đại hội IX và X ), cuốn
“Lịch sử Đảng bộ huyện Tân kỳ tập 1”, “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nghệ An tập 2”,các Báo cáo chính trị của UBND huyện 6 tháng, hàng năm ( từ 2000 đến 2009
và báo cáo dự thảo năm 2010)
-Tài liệu thông qua quá trình đi thực tế tại địa phương, qua tiếp cận cácbác đã và đang công tác tại địa phương
Để hoàn thành bài tiểu luận, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:Phương pháp lịch sử, phương pháp lo gíc, phương pháp thống kê, so sánh, đốichiếu…kết hợp tư liệu thành văn và tư liệu thực tế để xử lý các số liệu trong cácbáo cáo chính trị của huyện uỷ, hội đồng nhân dân
5.Bố cục bài Tiểu luận
Ngoài phần Dẫn luận, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung tiểu luận gồm
2 chương được trình bày như sau:
Chương I: Khái quát đặc điểm tự nhiên và lịch sử xã hội của huyện Tân
Kỳ
1.1 Đặc điểm tự nhiên
Trang 41.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Chương II: Đảng bộ Tân Kỳ lãnh đạo Phát triển Kinh tế 10 năm đầu Thế
kỷ XXI
(2000 – 2010)
2.1 Giai đoạn 2000-2005
2.1.1 Chủ trương của Đảng bộ huyện Tân kỳ
2.1.2 Những thành tựu và hạn chế của kinh tế Tân kỳ từ 2000-2005
Trang 5B.N ội dung Chương I:
Khái quát đặc điểm tự nhiên và lịch sử xã hội
huyện tân kỳ 1.1 Đặc điểm tự nhiờn
Tõn Kỳ là huyện miền nỳi của tỉnh Nghệ An, cỏch thành phố Vinh khoảng
90 km về phớa Tõy Bắc theo đường bộ và cú toạ độ địa lý như sau:
- Từ 180 58' 30'' đến 190 32' 30'' Vĩ độ Bắc
- Từ 1050 02' 00'' đến 1050 14' 30'' Kinh độ Đụng
Ranh giới của huyện được xỏc định như sau:
- Phớa Bắc giỏp huyện Nghĩa Đàn và huyện Quỳ Hợp
- Phớa Đụng, Đụng Nam giỏp huyện Yờn Thành và huyện Đụ Lương
- Phớa Tõy, Tõy Nam giỏp huyện Anh Sơn
Ngày 19.04.1963, huyện Tõn Kỳ mới cú tờn trờn bản đồ Tổ quốc, nhưngtrờn mảnh đất Tõn Kỳ từ buổi bỡnh minh của lịch sử đó cú con người sinh sống.Nhiều thời kỳ lịch sử đó đi qua và để lại nhiều dấu ấn tại mảnh đất này Trongtiến trỡnh phỏt triển của lịch sử dõn tộc, cựng với sự thay đổi tổ chức hành chớnhcảu cả nước trong cỏc thời kỳ, Tõn kỳ cũng cú nhiều thay đổi về địa giới và tờngọi Ngày xưa, Tõn Kỳ thuộc đất Hàm Hoan, thời Đường đụ hộ thuộc đất HoanChõu Đầu thế kỷ X với chiến thắng Bạch Đằng (938), nước ta bước vào thời kỳđộc lập tự chủ lõu dài Nhà Ngụ, Đinh, Tiền Lờ, Lý và đến nhà Trần đều bỏ hẳnchế độ quận, huyện rồi chia thành cỏc đạo, lộ, phủ, chõu Năm Quang Thỏi thứ10(1397) nhà Trần đổi chõu Nghệ An thành trấn Vọng Giang, đến đời Hồ đổithành Phủ Linh Nguyờn Phủ Linh Nguyờn gồm cỏc huyện Phự Dung, QuỳnhLõm, Thiệu Động kể cả vựng Quỳ Chõu cũ Tõn Kỳ là vựng đất của huyệnQuỳnh Lõm và Thiệu Động
Khi mới thành lập - năm 1963, huyện Tõn Kỳ cú 13 xó, trong đú cú 10 xócủa huyện Nghĩa Đàn tỏch ra, 02 xó thuộc huyện Anh Sơn, 01 xó thuộc huyện
Trang 6Yên Thành Do hoàn cảnh địa hình phức tạp, nên các xã của huyện Tân Kỳ dầnđược tách ra thành các xã nhỏ cho phù hợp với địa bàn Đến nay Tân Kỳ có 21
xã và 1 Thị trấn
Tân Kỳ có vùng đất đồi núi ba gian, phong phú về chủng loại đất, chủ yếu
là nhóm đất Feralit đỏ vàng vùng đồi núi thấp (chiếm 67,1% tổng diện tích), đấtFeralit đỏ vàng vùng đồi núi cao (chiếm 6,7% tổng diện tích), đất phù sa tậptrung chủ yếu dọc theo 2 bên bờ Sông Con (chiếm 18,45% tổng diên tích), nhómđất đen chiếm khoảng 5%, phần còn lại là các loại đất khác Nhìn chung các loạiđất hiện có của huyện tương đối đảm bảo độ phì, có điều kiện thuận lợi để pháttriển các loại cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày
và cây lương thực
Địa hình Tân Kỳ thấp dần về phía Tây Nam, theo hướng chảy của sôngCon Nếu nhìn bao quát cả 4 phía, ta thấy Tân kỳ như hình một lòng chảo, đượcbao bọc bởi núi đồi nhấp nhô nằm lên tiếp khắp địa bàn huyện
Tân Kỳ chỉ có một dòng sông duy nhất chảy qua là sông Con nhưng mứcnước giữa các mùa chảy qua sông Con lại có sự chênh lệch lớn, mùa mưa nướcdâng cao gây ảnh hưởng không nhỏ đến mùa màng cảu các xã ven sông Khesuối ở đây phân bố tương đối dày nhưng đọ dốc cao, không thuận lợi cho phục
vụ sản xuất
Khí hậu Tân kỳ rất phức tạp, nhiệt độ trung bình hàng năm của huyệnkhoảng 25 - 30 độ C, thấp hơn các vùng trung du và đòng bằng trong tỉnh.Lượng mưa trung bình hàng năm là 1525mm Sự thay đổi khí hậu giữa các mùarất rõ rệt Các tháng 4, 5, 6 thường có gió mùa Tây Nam làm cho khí hậu khônóng, gây nên tình trạng hạn hán nghiêm trọng, nhiệt độ có ngày lên đến 42 độ
C Trong các tháng 11, 12 còn xuất hiện hiện tượng sương muối, gây ảnh hưởngtương đối lớn dến sự sinh trưởng của cây trồng và vật nuôi Sự thay đổi khí hậu
đó có những thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nhưng cũng đặt ra yêu cầu cấpbách trong việc khắc phục thiên tai
Trang 7Do đặc trưng về mặt địa hình, mạng lưới giao thông vận tải ở Tân Kỳchưa đảm bảo yêu cầu của việc phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội Các tuyếngiao thông chủ yếu của huyện là Quốc lộ 15A, 15B nối liền Tân Kỳ với cáchuyện khác như Nghĩa Đàn, Đô Lương Ở trung tâm huyện có tuyến đường 71 -tức đường mòn Hồ Chí Minh kéo dài 21km sang huyện Anh Sơn… Trong nhữngnăm gần đây, hệ thống đường liên thôn, liên xã có mở rộng song do địa hình đilại phức tạp nên giao thông vẫn gặp rất nhiều khó khăn Mặt khác, hệ thống giaothông được xây dựng từ lâu ngày càng xuống cấp nghiêm trọng, chưa sửa chữanên ảnh hưởng đển rất lớn đến việc đi lại của nhân dân và việc giao lưu kinh tếvăn hóa xã hội.
Từ những trên ta thấy, điều kiện tự nhiên đã có sự tác động không nhỏ đếnquá trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện Tân Kỳ Đó là khó khăn về hệthống giao thông, sự phức tạp về địa hình, khắc nghiệt về khí hậu Song Tân Kỳvẫn có những thuận lợi nhất định như: đất đai, khoáng vật, nguồn lao động dồidào nhiều vùng chưa khai thác hết Tất cả những lợi thế này sẽ phát huy đượchết tác dụng nếu như các cấp chính quyền và nhân dân Tân Kỳ biết khai thác vàthức dậy tiềm năng vốn có trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
1.2 Đặc điểm lịch sử - xã hội
Tân Kỳ là huyện được thành lập muộn so với các huyện khác trong tỉnhNghệ An Ngày đầu thành lập, dân số huyện chỉ có 18 nghìn người chủ yếu làcác đồng bào Thanh – Thái - Thổ và đồng bào Kinh di cư từ miền xuôi lên định
cư làm ăn nơi đây Đầu những năm 60, thực hiện chủ trương khai thác và pháttriển miền núi do Đảng phát động, nhân dân ở một số khu vực trong tỉnh vàngoài tỉnh đã đến Tân Kỳ xây dựng vùng kinh tế mới, do đó dân số Tân Kỳ tăngnhanh và thành phần cư dân ngày càng đa dạng Cho đến năm 2000 dân số củaTân Kỳ đã lên tới 126.790 người, trong đó dân tộc ít người chiếm ¼ dân số
Nhân dân Tân Kỳ rất cần cù siêng năng, hiếu học và sáng tạo Tinh thầnđoàn kết cộng đồng làng xã rất caotrong quá trình chinh phục thiên nhiên, cùng
Trang 8nhau đóng góp sức lực và trí tuệ của mình vào việc khai khẩn, xây dựng và bảo
vệ quê hương
Trên mảnh đất Tân Kỳ, từ buổi bình minh của lịch sử đã xuất hiện conngười sinh sống, còn lưu lại rất nhiều dấu vết trên mảnh đất này Trong tiến trìnhphát triển của lịch sử dân tộc, nhân dân Tân Kỳ đã góp phần vào công cuộcchống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc Đầu thế kỷ XV, khi quân Minh sang xâmlược nước ta, trước ách đô hộ tàn bạo của giặc Minh, nhiều cuộc đấu tranh củanhân dân ta đã nổ ra Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi đứng đầu.Ngay từ những ngày đầu dựng cờ khởi nghĩa, Lê Lợi đã đưa quân vào Nghệ An
để xây dựng căn cứ, nhân dân Nghệ An nói chung và nhân dân Tân Kỳ nói riêng
đã hết lòng ủng hộ nghĩa quân thiết lập hành dinh tạm thời trên đất Tân Kỳ đểchuẩn bị lực lượng cho cuộc khởi nghĩa Những cái tên như: bãi Tập mã, bãi LơiLơi, đồng Voi, núi Đồn, khe Mài…vẫn còn lưu giữ đến ngày nay những thángngày hào hùng của nghĩa quân Lam sơn xưa trong lòng người Tân Kỳ
Vào thế kỷ XVIII, chế đọ phong kiến Việt nam suy vong, thoái trào phongtrào khởi nghĩa nông dân nổi lên rầm rộ khắp nơi Nhân dân Tân Kỳ đã dựng cờkhởi nghĩa dưới cờ của tướng Lê Duy Mật (1738 - 1769) là sự kiện có quy môrộng lớn, vừa có thời gian lâu dài Bùng nổ ở Tây Bắc, nghĩa quân của ông đãkéo đến Thanh – Nghệ - Tĩnh Trong 31 năm bền bỉ chiến đấu có tới 18 năm(1751 - 1769) Lê Duy Mật đã biến vùng Tân Kỳ và cả miền núi Trấn Ninh(Lào), Phủ Quỳ, Tương Dương thành một căn cứ khá vững chắc để duy trì cuộcđấu tranh lâu dài
Nhân dân Tân Kỳ tích cực tham gia phong trào chống thực dân Pháp từnhững ngày đầu chúng đạt chân vào xâm lược đất nước ta Một số làng như:làng Sen, làng Sẻ (nay là xã Nghĩa Đồng) vùng lên kháng chiến với tinh thần,khí thế chuẩn bị chong Pháp rất cao Nhân dân tập trung rất đông dước ngọn cờcủa chí sĩ yêu nước Nguyễn Xuân Ôn chống Pháp Mặc dù thất bại, tinh thần bấtkhuất , ý chỉ chiến đấu đến cùng để khôi phục giang sơn của nhân dân Tân Kỳcòn lưu mãi trên những trang sử hào hùng và được con cháu phát huy mạnh mẽ
Trang 9trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ở thời đại HồChí Minh.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt nam, nhân dân Tân Kỳ cùng cảnước đã làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám thắng lợi vĩ đại, khai sinh ra nướcViệt nam Dân chủ Cộng hoà (1945) Hoà bình đến với nhân dân Việt nam khôngbao lâu thì thực dân Pháp tiếp tục quay lại xâm lược nước ta lần nữa Cùng với
cả nước, nhân dân Tân Kỳ đã chiến đấu hy sinh hết mình cho nên độc lập dântộc Với tinh thần “Không có gì quý hơn Độc lập – Tự do” nhân dân ta đã lầnlượt đánh bại các kẻ thù hung hăng nhất của thời đại giành lại nền độc lập cho
Tổ quốc thân yêu 30 năm chiến tranh cách mạng, nhân dân Tân Kỳ không 1phút ngưng nghỉ luôn sẵn sàng chiến dấu khi kẻ thù tới, khi Tổ quốc cần Nhândân Tân Kỳ đã chi viện đắc lực cho các chiến dịch như Thượng Lào, Điện BiênPhủ chi viện cho miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, hăng hái tăng gia sảnxuất góp phần xây dựng miền Bắc XHCN vững mạnh, đánh trả những cuộc tấncông của kẻ thù khi chúng xâm phạm quê hương Nhân dân Tân Kỳ đã đượcnhận Huân chương chiến công hạng nhất (1967) cho những thành tích trongnhững ngày tháng chống chiến tranh phá hoại của địch Ngày 01.01.1967, đồngchí thiếu tá Đặng Văn Đài người Thị trấn Lạt đã được Chính phủ tặng danh hiệu
“Anh hùng quân đội nhân dân Việt nam” Tất cả những cống hiến của họ đã trởthành truyền thống và niềm tự hào của nhân dân Tân Kỳ hôm nay
Đất nước được thông nhất, cả nước đi lên CNXH , nhân dân Tân Kỳ tiếptục phát huy những truyền thống vốn có của mình trong phát triển Kinh tế xâydựng quê hương đất nước Trải qua quá trình dài từ sau ngày thống nhất đấtnước đến quá trình Đổi mới, Kinh tế Tân Kỳ đã từng bước thay da đổi thịt Vốnvới nền Kinh tế nghèo nàn, lạc hậu chịu ảnh hưởng nặng của chiến tranh songTân Kỳ có tài nguyên rừng phong phú và đa dạng, là nơi sản sinh và lưu giữnhiều ngành nghề truyền thống như: đan lát, chạm khắc, dệt thổ cẩm, nghềmộc đặc biệt là nghề làm ngói gạch ở làng Cừa, đây là mặt hàng có uy tín vớiphạm vi lưu chuyển trong và ngoài tỉnh 15 năm thực hiện Đổi mới trong phát
Trang 10triển Kinh tế (1986-2000) kinh tế Tân Kỳ đã có bước phát triển mới, huyện dầnthoát khỏi huyện nghèo, chuyển dịch dần nên kinh tế cho phù hợp với nền Kinh
tế của tỉnh cũng như cả nước Từ năm 2000 đến nay, Đảng bộ huyện tiếp tụclãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội IX (2001) của Đảng,Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVI (2000) đó là đưa đất nước Tiếnnhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc vào Thiên niên kỷ mới, đẩy mạnh Côngnghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nước
Trang 11
Bản đồ địa hình huyện Tân Kỳ
Trang 12Chương II:
đảng bộ huyện tân kỳ lãnh đạo phát triển kinh tế 10
năm đầu thế kỷxxi (2000 – 2010)
2.1 Giai đoạn 2000 - 2005
2.1.1 Chủ trương của Đảng bộ huyện Tõn kỳ
Trong hai ngày 9 và 10/12/2000, Đại hội đại biểu huyện Tõn Kỳ lần thứXVII đó được tiến hành Dự Đại hội cú 159 đại biểu thay mặt cho 4256 đảngviờn trong toàn Đảng bộ Đại hội đó đỏnh giỏ toàn diện cỏc lĩnh vực hoạt độngcủa Đảng bộ trong nhiệm kỳ 1996-2000, trờn cơ sở đú vạch ra phương hướng,mục tiờu chung cho nhiệm kỳ 2001-2005 là: "Xõy dựng Đảng, xõy dựng chớnhquyền Đẩy mạnh phỏt triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoỏ và cụngnghiệp hoỏ-hiện đại hoỏ, giảm dần tỷ trọng nụng-lõm nghiệp, tăng tỷ trọng cụngnghiệp, xõy dựng và dịch vụ trong nền kinh tế thực hiện "dõn giàu, nước mạnh,
xó hội cụng bằng dõn chủ văn minh"
Đại hội đó quyết định những chỉ tiờu cơ bản tới năm 2005:
- Tốc độ phỏt triểnkinh tế bỡnh quõn hằng năm thời kỡ 2001-2005 từ 12%-14%
- Tổng thu ngõn sỏch năm 2005trờn địa bàn từ 5-6 tỉ đồng
- Tạo việc làm mới cho 3500-4000 người
- Xoỏ hộ đúi,giảm hộ nghốo xuống 25%
Đõy là giai đoạn mà Đảng bộ và nhõn dõn huyện Tõn Kỳ cú những chủtrương, biện phỏp tớch cực nhằm đảy mạnh hơn nữa phỏt triến nền kinh tế Được
sự quan tõm,giỳp đỡ bằng nhiều chương trỡn dự ỏncủa Trung ương, của tỉnh nhất
là trong việc đầu tư kết cấu hạ tầng.Vận dụng tốt việc thực hiện nghị quyết, chủtrương của cấp trờn nhất là cơ chế hớnh sỏch phỏt triển của tỉnh vào huyện Cụngtỏc chuẩn bị đầu tư và thu hỳt đầu tư cú nhiều chuyển biến tớch cực và hiệu quảhơn Vỡ vậy mà trong giai đoạn 2001-2005 đó đạt được nhiều thành tựu to lớn
Trang 132.1.2 Những thành tựu và hạn chế của kinh tế Tân kỳ từ 2000-2005
2.1.2.1 Thành tựu
+ Trong công nghiệp:
Với phương châm đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất, tích cực áp dụngkhoa học kĩ thuật vào sản xuất như công nghệ về giống, phân bón, phòng trừ sâubệnh; cải tiến công cụ lao động , tăng cường đưa về cơ khí hoá, điện khí hoá vàsản xuất Tiếp tục đầu tư xây dựng, nâng cấp cái tạo hệ thống hồ đập, trạm bơm,hoàn thiện hệ thống kênh mương Đảm bảo nước tưới thường xuyên nước tướicho cây lương thực, đầu tư tưới tiêu cho cây công nghiệp, cây ăn quả Nâng caochất lương hoạt động của hệ thống dịch vụ cây trồng: dịch vụ giống, phân bón,thuốc trừ sâu, làm tốt công tác bảo vệ thực vật, thực hiện tốt công tác phòngchống thiên tai Theo đó, tốc độ tăng trướng bình quân đạt 12,6% Tổng giá trịsản xuất năm 2005 ước tăng 80,6% so với năm 2000
Trồng trọt năm 2005 diện tích gieo trồng đạt 22722 ha tăng 38,6% so vớinăm 2000 Trong đó diện tích cây công nghiệp 6400 ha tăng 33,8%, cây thựcphẩm 1702 ha tăng 38,8% Về năng suất, các loại cây trồng đạt khá cao: lúa 40tạ\ha tăng lên 49 tạ\ha, ngô từ21,8 tạ\ha tăng lên40 tạ\ha, lạc từ 9,6 tạ\ha lên 16tạ\ha, mía tăng từ 528 tạ\ha(2000) lên 568 tạ\ha(2005)
Chăn nuôi phát triển rất khá, nhờ vào việc đẩy mạnh áp dụng kĩ thuậtchăm sóc mới, giống mới và không ngừng cải tạo hệ thống chuồng trại nhằmthực hiện các chương trình sinh hoá đàn bò, nạc hoá đàn lợn Tính đến năm 2005đàn trâu có 34150 con (tăng 159% so với năm 2000), đàn bò 2230 con tăng68,6% so với năm 2000, trong đó bò lai sin là 4000 con, đàn lợn có 71500 contăng 59% so với năm 2000
+Trong lâm nghiệp:
Thực hiện việc đẩy mạnh xã hội hoá nghề rừng, khuyến khích các thànhphần kinh tế tham gia phát triển nghề rừng Kiểm tra và rà soát đất lâm nghiệp,
bổ sung quy hoạch trồng rừng, thực hiện tốt công tác quản lí đất lâm nghiệp,công tác giao đất, giao rừng, có chính sách hỗ trợ đầu tư ban đầu nhất là đối với
Trang 14trồng và chăm sóc rừng nguyên liệu Theo đó bình quân hằng năm trồng trên
800 ha đưa tổng diện tích rừng trông lên 4055,4ha trong đó rừng phòng hộ 1157
ha, rừng sản xuất 2978 ha Công tác khoanh nuôi bảo vệ rừng thực hiện tốt: diệntích khoanh nuôi bảo vệ rừng tới năm 2005 là 17879 ha, độ che phủ rừng năm
2005 là 24,64%
+Thuỷ sản:
Là một vùng mà có địa hình chủ yếu được bao bọc bởi đồi núi nên ở đây
có thể ngăn được những con đập tương đối lớn Nhờ vào quy hoạch, cải tạonâng cấp của địa phương mà hồ đập ở đây vừa đảm bảo được lượng nước tướiphục vụ sản xuất nông nghệp vừa tăng diện tích nuôi trồng thuỷ sản Được tăngcường công tác đào tạo kỹ thuật chăn nuôi, công tác cung ứng giống chú ý vàđặc biệt là thức ăn được cung cấp đầy đủ nên ngành đã đạt được những thànhtựu đáng kể Tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân hàng năm đạt 11% Tổng giátrị sản xuất ngành thuỷ sản năm 2005 ước tính đạt 10400 triệu đồng, tăng 68,2 %
so với năm 2000 Diện tích nuôi trồng cũng tăng mạnh, tăng 56% (2005) so vớinăm 2000 Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản năm 2005 ước đạt 1080 tấn, tăng 41%
so với năm 2000
+ Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản:
Về công nghiệp: Bước vào thế kỷ XXI, cả nước đang tích cực tập trungđầu tư và giành những ưu đãi cho nghành Do quá trình hợp tác đầu tư rộng rãivới nước ngoài nên công nghiệp Việt Nam từng bước được cải thiện và pháttriển, phấn đấu đến năm 2020 trở thành một nước công nghiệp
Thực hiện và chấp hành những nghị quyết của TW và chủ trương của tỉnhNghệ An, huyện Tân Kỳ đã tạo mọi điều kiện cho phát triển công nghiệp: đảmbảo vùng nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm, cho các đơn vị như: Nhà máy đườngSông Con, nhà máy phân vi sinh hoạt động tốt và nâng cao công suất chất lượngsản phẩm Khuyến khích đầu tư nâng cấp cải tạo các dây truyền sản xuất sảnphẩm phụ như : Cồn, bia, phân vi sinh Thu hút đầu tư xây dựng nhà máy khaithắc đá Granit ở Đồng Văn, Tân xuân Ngoài ra, vấn đề củng cố và mở rộng