1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN CHUYÊN đề văn học PHƯƠNG PHÁP PHÂN tâm học TRONG NGHIÊN cứu văn học, SAU đại học

19 45 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 67,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tâm học du nhập vào Việt Nam, ngay từ đầu đã chứng tỏ sức năng động của nó. Trong lĩnh vực sáng tác, các nhà văn đã có ý thức vận dụng Phân tâm học trong tác phẩm của mình. Và đặc biệt, từ 1975 đến 2005, các nhà văn Việt Nam đặc biệt là các nhà văn trẻ đã có ý thức vận dụng những yếu tố tích cực của Phân tâm học (từ S.Freud đến C.G.Jung...) như là một thủ pháp nghệ thuật độc đáo để xây dựng tác phẩm. Phải nói rằng, ở giai đoạn này, việc vận dụng Phân tâm học của các nhà văn đã nhuần nhuyễn hơn, đa dạng hơn; có biến hoá, tích hợp và sáng tạo mới trên cơ sở nền tảng của lý thuyết Phân tâm học. Tác phẩm của họ thực sự đem lại hiệu quả nghệ thuật mới mẻ và độc sáng. Tiêu biểu cho giai đoạn này là Nguyễn Huy Thiệp, Xuân Thiều, Chu Lai, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập, Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phạm Hoa, Tạ Duy Anh, Nguyễn Đình Chính, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà...Sự xuất hiện của những cây bút này đã góp phần đưa tiến trình đổi mới văn học tiến tới chỗ cao trào, tạo nên một bước ngoặt trong sự phát triển của văn học dân tộc. Có thể nói, chúng ta đang sống trong thời đại của sự phát triển khoa học công nghệ, ở đó mỗi con người là những ẩn số kì diệu mà các ngành khoa học đang chạy đua để tìm lời giải đáp. Còn bản thân mỗi người thì luôn sống thực với chính mình cùng với tất cả những đam mê, những ham muốn rạo rực và những khát vọng điên cuồng... Nhưng rồi trên quá trình hoạn lộ của mình, nhiều lúc ta băn khoăn không hiểu bởi từ đây ta có những hành vi sai lạc, hay những điều xảy ra mà ta không thể nào lí giải nổi, rồi những giấc mơ và những ham muốn tính dục... Để giúp con người tìm ra lời giải đáp, Phân tâm học của S.Freud đã ra đời và nghiên cứu về con người.

Trang 1

PHÒNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ SAU ĐẠI HỌC



Bài tiểu luận chuyên đề

“Phương pháp luận nghiên cứu văn học”

ĐỀ TÀI:

PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÂM HỌC TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC

Chuyên ngành Văn học Việt Nam

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 02/2012

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

DẪN NHẬP 3

1 Lí do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Cấu trúc của đề tài 5

NỘI DUNG 7

1 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÂM HỌC TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC 7

2 VIỆC ÁP DỤNG HỌC THUYẾT S FREUD Ở VIỆT NAM (TRONG NGHIÊN CỨU) 11

3 HƯỚNG TIẾP CẬN TỪ PHÂN TÂM HỌC TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975 13

KẾT LUẬN 19

TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

Trang 3

DẪN NHẬP

1 Lí do chọn đề tài

Phân tâm học du nhập vào Việt Nam, ngay từ đầu đã chứng tỏ sức năng động của

nó Trong lĩnh vực sáng tác, các nhà văn đã có ý thức vận dụng Phân tâm học trong tác phẩm của mình

Và đặc biệt, từ 1975 đến 2005, các nhà văn Việt Nam - đặc biệt là các nhà văn trẻ

- đã có ý thức vận dụng những yếu tố tích cực của Phân tâm học (từ S.Freud đến C.G.Jung ) như là một thủ pháp nghệ thuật độc đáo để xây dựng tác phẩm Phải nói rằng, ở giai đoạn này, việc vận dụng Phân tâm học của các nhà văn đã nhuần nhuyễn hơn,

đa dạng hơn; có biến hoá, tích hợp và sáng tạo mới trên cơ sở nền tảng của lý thuyết Phân tâm học Tác phẩm của họ thực sự đem lại hiệu quả nghệ thuật mới mẻ và độc sáng Tiêu biểu cho giai đoạn này là Nguyễn Huy Thiệp, Xuân Thiều, Chu Lai, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập, Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phạm Hoa, Tạ Duy Anh, Nguyễn Đình Chính, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà Sự xuất hiện của những cây bút này đã góp phần đưa tiến trình đổi mới văn học tiến tới chỗ cao trào, tạo nên một bước ngoặt trong sự phát triển của văn học dân tộc

Có thể nói, chúng ta đang sống trong thời đại của sự phát triển khoa học công nghệ, ở đó mỗi con người là những ẩn số kì diệu mà các ngành khoa học đang chạy đua để tìm lời giải đáp Còn bản thân mỗi người thì luôn sống thực với chính mình cùng với tất cả những đam mê, những ham muốn rạo rực và những khát vọng điên cuồng Nhưng rồi trên quá trình hoạn lộ của mình, nhiều lúc ta băn khoăn không hiểu bởi từ đây ta có những hành vi sai lạc, hay những điều xảy ra mà ta không thể nào lí giải nổi, rồi những giấc mơ và những ham muốn tính dục Để giúp con người tìm ra lời giải đáp, Phân tâm học của S.Freud đã ra đời và nghiên cứu về con người

Người viết chọn đề tài “Phương pháp phân tâm học trong nghiên cứu văn

học”nhằm giúp người đọc có được một cái nhìn toàn diện về phương pháp phân tâm học

cũng như sự vận dụng phương pháp này trong nghiên cứu, sáng tác văn học ở Việt Nam

Trang 4

Và cũng từ những vấn đề trên, giúp người đọc nhận ra phương pháp phê bình Phân tâm học sẽ tạo ra một cách nhìn khác, làm phong phú hơn và có thể tạo ra một cách nhìn về những vấn đề hay hiện tượng văn học đã quen thuộc với văn học Việt Nam Đặc biệt là hướng tiếp cận phân tâm học trong một số sáng tác sau 1975, sẽ giúp người đọc thấy được những đổi mới về mặt nội dung cũng như những cách tân về mặt nghệ thuật trong các sáng tác của các tác giả đương thời

2 Lịch sử vấn đề

Phân tâm học là một nghành khoa học có ảnh hưởng rất lớn trên rất nhiều các lĩnh vực trong đời sống của con người, trong đó có lĩnh vực tiếp nhận và sáng tạo văn học Từ khi ra đời cho đến nay Phân tâm học đã khẳng định được vị trí của mình

Ở Việt Nam, Phân tâm học đã được ứng dụng vào lĩnh vực sáng tác văn học ngay

từ rất sớm Tiêu biểu là Vũ Trọng Phụng với các tác phẩm như: Số đỏ, Làm đĩ, Giông

tố Điều đó chứng tỏ rằng các nhà văn ở mỗi một chặng đường văn học luôn có ý thức

vận dụng sáng tạo những yếu tố, nội dung tích cực của Phân tâm học vào trong sáng tác của mình dưới nhiều khía cạnh khác nhau nhằm chuyển tải ý đồ sáng tạo và tưởng của nhà văn Ở đó từ góc nhìn tâm lí có pha chút yếu tố sex, các nhà văn cố gắng thể hiện chiều sâu những ẩn ức, khát khao và những xung động tính dục để lí giải đời sống tâm lí của con người hiện đại một cách có cơ sở nhất Nhiều tác giả giới thiệu chủ nghĩa Freud cũng như vận dụng vào phê bình sáng tác Các tác giả và các công trình tiêu biểu như

Nguyễn Hảo Hải (Người đàn ông có nhiều ảnh hưởng đến văn chương: Sigmun

Freud), Phạm Minh Lăng (Sigmun và Phân tâm học),Nguyễn Ngọc Bích (Tâm lí học nhân cách), đặc biệt là Đỗ Lai Thúy với các công trình biên soạn: Phân tâm học và văn hóa tâm linh, Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật, Phân tâm học và tình yêu Góp

phần và khẳng địnhvị thế của mình vào dòng chảy này là nhà nữ nghiên cứu trẻ Trần

Thanh Hà với công trình Học thuyết S.Freud và sự thể hiện của nó trong văn học Việt.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp phân tâm học trong nghiên cứu văn học, việc áp dụng phương pháp này trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam và trong các sáng tác của các nhà văn giai đoạn sau 1975

Trang 5

- Phạm vi nghiên cứu: Truyện ngắn Việt Nam sau 1975

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, người nghiên cứu đã vận dụng những phương pháp sau:

- Phương pháp Phâm tâm học

- Phương pháp Tâm lí học

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp so sánh

5 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mục lục, Dẫn nhập, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung đề tài được triển khai trong ba mục nhỏ:

- PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÂM HỌC TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC

- VIỆC ÁP DỤNG HỌC THUYẾT S FREUD Ở VIỆT NAM (TRONG NGHIÊN CỨU)

- HƯỚNG TIẾP CẬN TỪ PHÂN TÂM HỌC TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975

Trang 6

NỘI DUNG

1 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÂM HỌC TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC

Giáo sư Lê Huy Bắc cho rằng: “Phân tâm học kể từ lúc Sigmund Freud (1856 – 1939) sáng lập đến nay đã tác động đến nhiều mặt trong đời sống con người Nhiều ý

kiến cho rằng với lí thuyết của mình, Freud đã “làm thay đổi trật tự của vũ trụ” Bản thân

Freud, vốn là người khiêm tốn, lúc sống không hề nhận lời ca ngợi ấy Nhưng rõ ràng kể

từ sau Freud, nhiều quan niệm về cuộc sống cũng như bản chất của con người bị đảo lộn ghê gớm Người ta không thể không nhắc tới ông với tư cách là nhà pháp sư tài ba về thế giới tinh thần của con người Không ít ý kiến so sánh những gì Freud làm được cho đời sống tinh thần của nhân loại với những gì Carl Marx làm được cho đời sống vật chất của con người”

Đến nay chẳng còn ai phủ nhận các khám phá của Freud và môn đệ của ông về thế giới vô thức và tiềm thức của con người.Việc vận dụng lí thuyết đó trong nghiên cứu văn học cũng mang lại những kết quả đáng khích lệ

Sigmund Freud (1856 – 1939), cha đẻ của phân tâm học, là một bác sĩ thần kinh

sinh ra và lớn lên ở Viên, thủ đô nước Áo, 1 trung tâm văn hóa lớn của Tây Âu cuối thế

kỉ XIX, đầu thế kỉ XX Lúc này, thành phố Viên rất căng thẳng do vấp phải 1 xã hội quan phương Thanh giáo và bảo thủ làm nảy sinh thói giả dối và nạn cùng khổ về ức chế tình dục do đó, Viên rất nhạy cảm với các chứng bệnh nhiễu tâm và là 1 địa bàn khảo sát lý tưởng của phân tâm học

Tình trạng ấy của thành Viên, cộng thêm với hoàn cảnh gia đình (con vợ ba của 1 thương gia Do Thái) và thực tế đau đớn nhục nhã của chủ nghĩa bài Do Thái lúc bấy giờ

đã có vai trò quan trọng trong việc kiến tạo tư duy của Freud

Freud là người sáng lập ra một phương pháp chữa bệnh tâm lí mới và là người khởi xướng cho một xu hướng đặc biệt trong văn hóa đương thời: tâm phân học ứng dụng, tức là sử dụng các thành tựu y học vào trong các lĩnh vực khác, cụ thể là để giải thích các hiện tượng xã hội Freud chính là người đã khởi xướng ra việc nghiên cứu tâm phân học đối với một số hiện tượng tinh thần: tôn giáo, nghệ thuật, đạo đức Chẳng hạn,

Trang 7

Freud cho rằng những bài học tôn giáo không phải là kết quả của tư duy mà chỉ là những

ảo vọng cổ xưa của loài người đối với việc tự bảo vệ trước sự thô bạo của thiên nhiên và của cuộc sống xã hội Trạng thái sinh tồn của con người nguyên thủy cũng giống như trạng thái của trẻ em Trẻ em có một người bảo vệ là một người cha đáng sợ nhưng cũng đáng yêu Các vị thần linh của các tôn giáo đa thần chính là đại hiện cho hình ảnh người cha của trẻ thơ, có sứ mạng bảo vệ con người chống lại những thế lực độc ác của thiên nhiên và đền bù cho những điều bất công xã hội Cùng với sự phát triển của khoa học thì những chức năng của tôn giáo cũng bị thu hẹp lại dần cho đến khi những ảo vọng nói trên mất hẳn Mặc dù chưa phải là hoàn hảo, nhưng cách giải thích này cũng có một ý nghĩa tham khảo đáng xem xét

Trong lĩnh vực lí giải hiện tượng văn học và nghệ thuật, Freud cũng có một mối quan tâm đặc biệt Theo Freud, ở đây xuất hiện cái vô thức trong sự va chạm với cái ý thức, mơ mộng có quan hệ mật thiết với huyền thoại, với văn học và nghệ thuật Từ đó Freud sử dụng phương pháp lí giải giấc mơ để lí giải tác phẩm văn học Cũng như việc lí giải giấc mơ, trong lí giải văn học, việc khám phá ra điều bí ẩn, theo Freud, cần phải tiến tới tìm ra được ý nghĩa của nó, tiến tới cái nội dung cội nguồn đích thực đã được ghi nhận

từ thời ấu thơ và giờ đây đang bị bóp méo trong văn bản văn học Có điều Freud quan niệm cái nội dung cội nguồn này bao giờ cũng mang bản chất tính dục Và vì việc lí giải tác phẩm văn học chỉ là việc xây dựng nên ý nghĩa của kinh nghiệm ấu thơ cho nên việc phân tích văn học sẽ là một công trình nghiên cứu tiểu sử nhà văn

Freud đã lấy khái niệm “dục năng”, “dục tính” hay “tính dục” [tiếng Anh – Pháp:

“libido”] làm khái niệm trung tâm cho lí thuyết tâm phân học của mình Cơ sở lí thuyết của phân tâm học của ông được dựa trên quan niệm về khả năng chi phối của dục năng Theo ông, cá nhân mỗi con người đều có những bản năng tính dục từ thời ấu thơ Cùng với thời gian, những bản năng đó bị dồn nén vào tầng vô thức; khi con người lớn lên, các

ẩn ức vô thức thỉnh thoảng lại tái hiện trong những giấc mơ và trong những hành vi ứng

xử của cá nhân; và đối với các nhà văn, chúng được thể hiện thành các hình tượng văn học trong tác phẩm của anh Tức là, giống như đối với một cơn lũ, nếu ta bịt chặt ở cửa này thì nó sẽ phải tìm cách thoát ra ở cách khác, những ức chế về tính dục không được

Trang 8

thỏa mãn tất yếu cũng sẽ phải được tiết (hay thăng hoa) thành những biểu hiện khác, mà đối tượng trong sáng tác văn học Xem thế thì ta thấy Freud đã coi nguồn gốc của hoạt động sáng tạo văn học nghệ thuật về cơ bản chính là những ức chế về bản năng tính dục, tức là sự tích tụ thế năng tính dục Và ông coi những người mất khả năng hoặc những người quá thỏa mãn về phương diện tính dục sẽ là những người không thành đạt trong sáng tạo nghệ thuật bởi vì những người này sẽ không bao giờ có được thế năng tính dục

tích tụ Ông viết:“Nghệ thuật đạt tới sự hòa giải theo một con đường độc đáo…Bị thúc

đẩy bởi những thèm khát ghê gớm, nghệ sĩ muốn danh giá, thanh thế, của cải, vinh quang và tình yêu của đàn bà, nhưng anh ta không có đủ phương tiện để thỏa mãn những dục vọng này Vì vậy, như những người bất mãn, anh ta rời bỏ thực tế để về với trí tưởng tượng phóng túng, chuyển toàn bộ dục năng và hào hứng của mình vào những hình ảnh

mà anh ta ham muốn”.

Và theo Freud, nhiệm vụ của các nhà phê bình phân tâm học là phải lí giải tác phẩm văn học bằng các xung đột tâm lí vô thức của con người (mà đại diện là tác giả) hoặc tái tạo lại đời sống tâm hồn của tác giả thông qua những điều phát tiết (thăng hoa)

vô thức trong tác phẩm của anh ta

Để thực hiện nhiệm vụ trên Freud mặc nhiên lấy những ước vọng về tính dục theo bản năng của con người làm tiêu chí để soi vào các hình tượng nhân vật và vào các tình huống câu chuyện nhằm lí giải tác phẩm Điển hình cho cách làm đó là quan niệm của Freud về “mặc cảm Ơđipe”, tức là mặc cảm về tội giết cha lấy mẹ, một mặc cảm có mặt trong phần lớn các tác phẩm văn học – nghệ thuật Ông dùng khái niệm “tính dục” để lí giải hành động của nhân vật Ơđipe trong thần thoại Hi Lạp Ông cho rằng Ơđipe, cũng giống như bất cứ một người đàn ông nào, đã có sẵn trong vô thức cái ham muốn tính dục

từ thời ấu thơ đối với chính mẹ mình Sau đó ông lại dùng mặc cảm này để lí giải thái độ

và hành động của Hamlet trong vở kịch cùng tên thời phục hưng Shakespeare Ông cho rằng sở dĩ hoàng tử Hamlet luôn chần chừ trong việc trả thù cho cha vì trong thâm tâm, chàng nhận thấy bản thân chàng cũng chẳng hơn gì kẻ đã giết cha chàng để chiếm đoạt

mẹ chàng.Đây đúng là một nhận xét độc đáo nhưng cũng rất phiến diện và cực đoan

Trang 9

Mặc dù có một số luận điểm độc đáo, nhưng lí thuyết của Freud không thể tránh khỏi nhiều nghi vấn Nghi vấn thứ nhất là nghi vấn về cái quan niệm coi mơ mộng và sáng tác nghệ thuật là giống nhau, coi sự tham gia của ý thức vào trong quá trình sáng tác

là không cốt yếu bên cạnh vai trò cốt yếu của cái vô thức Điều này chỉ có thể được coi là không chính xác Nghi vấn thứ hai là phương pháp tâm phân học kiểu Freud có phải là một phương pháp toàn diện hay không hay chỉ mang tính cục bộ, phụ trợ? Về điểm này, nhiều người cho rằng với tư cách là phương pháp nghiên cứu, lí thuyết tâm phân học nghệ thuật không có khả năng tìm ra được giá trị thẩm mĩ và không có đủ thẩm quyền để phát biểu về giá trị nghệ thuật của một sáng tác Nhưng ngược lại với tư cách là một phương pháp phụ trợ, có thể sử dụng được trong một số trường hợp, thì nó có thể có đóng góp quan trọng cho việc tìm hiểu cái thông điệp của một số tác phẩm nhưng phải xuất phát từ tiểu sử của người nghệ sĩ chứ không phải là nhằm vào việc tìm hiểu tiểu sử xuất phát từ tác phẩm, với điều kiện là nó phải được tách ra khỏi tâm phân học chữa bệnh và phải được đưa vào một phạm vi quan niệm mĩ học xác định Đặc biệt nó phải từ bỏ quan điểm tuyệt đối hóa bản năng tính dục, mà phải chú ý đến tính lịch sử - xã hội của đối tượng nghiên cứu

Đến C.G.Jung, ông vẫn giữ khái niệm “vô thức” làm khái niệm trung tâm cho tâm

lí học của ông, nhưng ông phản đối kịch liệt cái yếu tố tính dục trong quan niệm của Freud, để rồi ông thay cái vô thức cá nhân của Freud bằng “vô thức tập thể” trong lí thuyết tâm lí học của mình Theo ông, bên dưới cái vô thức tập thể giống với lớp vô thức tương đương của mọi người khác.Và những kí ức của chủng loại đã được lưu giữ trong lớp vô thức này.Đến một lúc nào đó chúng được thể hiện thành các hình tượng và những hình tượng này giống nhau, vì chúng đều xuất phát từ những cảm xúc giống nhau ẩn chứa trong vô thức của mỗi người trong một cộng đồng người Năm 1922, Jung đã nói rằng các hình tượng nguyên thủy trong vô thức tập thể “là bản tổng kết đã được công thức hóa của khối kinh nghiệm điển hình to lớn của vô số các thế hệ tổ tiên: do đó có thể nói là vết tích tâm lí của vô số cảm xúc cùng một kiểu Chúng phản ánh khá trung thành hàng triệu các cảm xúc cá nhân, do đó đã đưa lại hình ảnh thống nhất của đời sống tâm lí, hình ảnh này được phân tích và phóng chiểu lên nhiều gương mặt khác nhau nơi diêm phủ trong

Trang 10

huyền thoại Những hình tượng giống nhau đó sẽ làm thành các “cổ mẫu” cho văn học nghệ thuật, đặc biệt là cho thần thoại Cổ mẫu chính là khối năng lượng nguyên thủy tích lũy lâu đời của con người

Và quá trình sáng tạo nghệ thuật, theo Jung, chính là quá trình tạo sức sống cho cổ mẫu trong vô thức, là thể hiện nó thành các hình tượng nghệ thuật, bởi vì theo ông, nghệ thuật có liên quan chặt chẽ đến quá trình biểu hiện tâm lí

Quan niệm của Jung đã dẫn đến một trào lưu phê bình “cổ mẫu thần thoại” hay còn được gọi là “phê bình huyền thoại”, rất được thịnh hành ở phương Tây nửa cuối thế

kỉ XX Từ các biểu hiện nghệ thuật trong thần thoại, các nhà nghiên cứu đã truy nguyên để tạo dựng các mô hình nguyên thủy của thần thoại và các mô đó thể hiện cụ thể thành cách biểu tượng, môtip Sau đó phê bình huyền thoại được mở rộng cho cả việc nghiên cứu văn học nói chung Nó chủ trương đi tìm nguyên mẫi cho các hình tượng, môtíp trong văn học hiện đại ở các cổ mẫu thần thoại và nói rộng ra là các cổ mẫu trong văn hóa Những hiện tượng và môtip lặp đi lặp lại trong văn học hiện đại sẽ được giải thích là những biểu hiện, những “bản dịch” của các cổ mẫu có từ thời xa xưa đã tồn tại từ thế hệ này sang thế hệ khác trong vô thức tập thể của loài người mà các nhà văn là người đại diện Vì thế phê bình cổ mẫu đã có một đóng góp quan trọng không chỉ cho việc nghiên cứu các môtíp trong thần thoại, mà còn cho cả việc nghiên cứu môtíp trong văn học cổ cũng như trong văn học hiện đại của nhân loại

2 VIỆC ÁP DỤNG HỌC THUYẾT S FREUD Ở VIỆT NAM (TRONG NGHIÊN CỨU)

Ở Việt Nam từ năm 1936, Trương Tửu và Nguyễn Văn Hanh đã áp dụng lý thuyết

của Freud để giải thích hiện tượng Hồ Xuân Hương Bài Cái ám ảnh của Hồ Xuân

Hương đăng trên tờ “Tiến hóa” của Trương Tửu và Hồ Xuân Hương: Tác phẩm, thân thế và văn tài của Nguyễn Văn Hanh đã đối chiếu cuộc đời đầy bất trắc của nữ sỹ với thơ

bà để phân tích tâm trạng ẩn ức, dồn nén thể hiện trong thơ Đến năm 1940, trong Kinh

thi Việt Nam, Trương Tửu đã dùng lý thuyết của Freud phân tích mảng ca dao dâm tục và

thơ Hồ Xuân Hương Năm 1942, Trương Tửu cũng áp dụng Freud để phân tích tâm lý Nguyễn Du và Thúy Kiều

Ngày đăng: 02/09/2021, 20:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w