Thơ văn yêu nước Nguyễn Trãi ? Giới thiệu sơ lược về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Trãi Vị trí của Nguyễn Trãi trong Văn học trung đại Việt Nam (ở luận điểm này, chú trọng về vị trí của ông trong sự phát triển tư tưởng yêu nước từ Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ đến Bình ngô đại cáo. Nội dung thơ văn yêu nước của Nguyễn Trãi: o Yêu thiên nhiên: yêu những cảnh sắc đẹp đẽ của dân tộc, yêu những vật dung dị, nhỏ bé. o Tự hào dân tộc: tự hào về những chiến công hiển hách của dân tộc, nền văn hiến lâu đời o Căm thù giặc và quyết tâm đánh giặc cứu nước o Tư tưởng nhân nghĩa: thương dân + lấy dân làm gốc (phân tích rõ, làm nổi bật tư tưởng lấy dân làm gốc của Nguyễn Trãi o Ý chí hòa bình, không hiếu chiến.
Trang 1ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT ÔN THI TỐT NGHIỆP VĂN HỌC VIỆT NAM
CÂU 1: Thơ văn yêu nước Nguyễn Trãi ?
- Giới thiệu sơ lược về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Trãi
- Vị trí của Nguyễn Trãi trong Văn học trung đại Việt Nam (ở luận điểm này, chútrọng về vị trí của ông trong sự phát triển tư tưởng yêu nước từ Nam quốc sơn hà,Hịch tướng sĩ đến Bình ngô đại cáo
- Nội dung thơ văn yêu nước của Nguyễn Trãi:
o Yêu thiên nhiên: yêu những cảnh sắc đẹp đẽ của dân tộc, yêu những vật dung
dị, nhỏ bé
o Tự hào dân tộc: tự hào về những chiến công hiển hách của dân tộc, nền vănhiến lâu đời
o Căm thù giặc và quyết tâm đánh giặc cứu nước
o Tư tưởng nhân nghĩa: thương dân + lấy dân làm gốc (phân tích rõ, làm nổi bật
tư tưởng lấy dân làm gốc của Nguyễn Trãi
o Ý chí hòa bình, không hiếu chiến
- Kết luận
(Câu này ta và trang soạn chung Ta có tìm thêm một số tài liệu tham khảo về Nguyễn Trãi,
ta thấy rất hay Ta để ở phần tài liệu tham khảo ấy)
CÂU 2: Giá trị nhân đạo trong văn học trung đại (nói chung) Những vấn đề chủ yếu của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học trung đại giai đoạn thế kỉ 18- 19?
Giá trị nhân đạo trong văn học trung đại Việt Nam (nói chung)
- Định nghĩa chủ nghĩa nhân đạo là gì?
“Chủ nghĩa nhân đạo là tòan bộ quan điểm đạo đức và chính trị, bắt nguồn không phải từcái gì siêu nhiên, kì ảo, từ những nguyên lý ngoài đời của nhân lọai mà từ con người tồn tạithực tế trên mặt đất với những khả năng, nhu cầu của mình Những khái niệm, nhu cầu ấyđòi hỏi phải được phát triển đầy đủ, phải được thỏa mãn” (Mác)
- Giá trị nhân đạo được hình thành và biểu hiện từ rất sớm trong xã hội và văn học Đó lànhững năm tháng nước ta đương đầu với biết bao thế lực xâm lăng, đó là những truyềnthuyết, cổ tích trong văn học dân gian Đến thời kì văn học viết, chủ nghĩa nhân đạo đã tiếnmột bước xa Trong nền văn học trung đại, chủ nghĩa nhân đạo được biểu hiện thông qua 2chặng đường chính:
Trang 2+ Chặng 1 (từ thế kỉ X – thế kỉ XV)
Trong buổi đầu của thời kì độc lập, vận mệnh dân tộc vẫn luôn bị đe dọa Toàn dânphải luôn đấu tranh để chống ngoại xâm, cho nên chủ nghĩa nhân đạo trong giai đoạn nàygắn liền với chủ nghĩa yêu nước, nhân đạo có nghĩa là yêu nước thương dân
Trong văn học, mà ở đây là văn học Lý – Trần, chủ nghĩa nhân đạo là sự thể hiệnniềm tin tưởng ở phẩm chất và khả năng của dân tộc đây chính là lòng yêu nước
Dân tộc Đại Việt, trải qua 215 năm xây dựng và chiến đấu trong đời Lý, đã phát huy nhữngtruyền thống của hàng ngàn năm lịch sử trước kia, tạo lập thêm những truyền thống mới vàngày càng lớn mạnh hơn Sang đời Trần, dân tộc ta đã chiến thắng một cách oanh liệt quânxâm lược Nguyên Mông vào các năm 1258, 1285, 1287
Văn học Lý Trần là một nền văn học đậm đà tinh thần dân tộc và chất nhân văn.Trong thơ văn đó là những con người sống hết kích thước cuộc sống, có niềm tin mạnh mẽvào bản thân và sức mạnh của dân tộc Đó là những con người có ý chí và bản lĩnh mạnh
mẽ, có trí tuệ sâu sắc và tình cảm dạt dào Ý chí và bản lĩnh giúp họ đứng vững hiên ngang,chiến thắng mọi thế lực đàn áp, giúp tự khẳng định mình, độc lập, tự do giữa đất trời, ngangtầm với tự nhiên vũ trụ Thơ văn khẳng định giá trị con người, vai trò của nhân dân và do đó
mà có ý nghĩa nhân đạo chủ nghĩa sâu sắc Chủ nghĩa nhân đạo ấy gắn liền với chủ nghĩayêu nước, bởi vì khi khẳng định giá trị của con người trong việc bảo vệ và xây dựng tổ quốcthì các tác giả cũng đồng tình thể hiện niềm tin tưởng ở phẩm chất và khả năng của dân tộc.Dẫn chứng minh họa:
* Thuật hoài (Phạm Ngũ Lão)
“Múa giáo non sông trải mấy thu
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâuCông danh nam tử còn vương nợLuống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”
Con người kì vĩ: tư thế hiên ngang, tầm vóc vũ trụ “múa giáo non sông” khí thế hùngdũng, mạnh mẽ của ba quân “khí mạnh nuốt trôi trâu”, tình cảm mãnh liệt, thiết tha vươn tớitầm cao của con người khổng lồ trong lịch sử, nam nhi chưa trả xong “nợ” công danh,
“thẹn” nghe chuyện Vũ Hầu
* Thơ văn Nguyễn Trãi:
Trang 3Nguyễn Trãi gắn liền với nước Yêu nước phải đi đôi với thương dân, cứu nước trước hết làcứu dân khỏi ách áp bức ngọai bang “Trừ bạo, yêu dân” là lý tưởng theo đuổi cả cuộc đờicủa Nguyễn Trãi.
Nguyễn Trãi thấy khả năng to lớn của nhân dân
“Lật thuyền mới biết sức dân mạnh”
Họ là sức mạnh vạn năng có thể thay đổi thời thế Bên cạnh lòng yêu, ông còn có sự trântrọng nhân dân đúng mức: sách lược phát huy sức mạnh nhân dân, dựa vào dân đánh giặc,giữ nước, xây dựng đất nước, lấy nguyện vọng nhân dân là gốc
Tư tưởng hòa bình
Thương mạng sống của quân giặc, sức lực của quân dân mình, cốt giữ nước thanh bình,không thích chiến tranh
“Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức”
Cuối thế kỉ 14, khi triều đại Phong kiến bắt đầu suy vi, tư tưởng nhân đạo đã lộ rõqua tấm lòng ưu ái của các nhà nho đối với hoàn cảnh lầm than của nhân dân
+ Chặng 2: từ thế kỉ XVI – đến thế kỉ XIX: chủ nghĩa nhân đạo có những biểu hiệnxoay quanh vấn đề vận mệnh nhân dân
Văn học đứng về phía nhân dân chống lại phong kiến và nho giáo
Trang 4 Văn học khẳng định sự tồn tại của con người với giá trị và quyền sống chính đáng.Khẳng định đời sống trần tục với thế giới nội tâm phong phú, phức tạp của con người.
Vd: Hoàng lê nhất thống chí, Cung oán ngâm khúc, Truyện Kiều, các truyện nômkhuyết danh, Truyền kì mạn lục
*Dẫn chứng: Truyền kì mạn lục
Hoàn cảnh lịch sử: xã hội phong kiến đang trên đà suy thoái: từ đầu thế kỉ XVI, trong nội bộgiai cấp phong kiến có sự tranh giành, thoán đoạt và xung đột giữa các phe phái Lớn nhất làchiến tranh Nam – Bắc triều, giữa Đàng trong và Đàng ngoài, Mạc cướp ngôi nhà Lê(1527)
sự tranh chấp, nạn cát cứ, nội chiến dẫn đến hao người tốn của, nhân dân chịu cảnh lầmthan, bần cùng, chết chóc
Giá trị nhân đạo:
Vạch trần và tố cáo bản chất xấu xa, đầy tội các của giai cấp thống trị và nói lên quan điểmthân dân của tác giả
Ví dụ: “Truyện bữa tiệc đêm ở Đà Giang” ,qua câu chuyện, tác giả kịch liệt đả kích hànhđộng bạo ngược của Trần Phế Đế “lẩn quẩn ở công việc săn bắn”, “đương mùa hạ mà giởnhững công việc khổ dân không phải thời, giầy trên lúa để thỏa cái ham thích săn bắn”.Truyện nàng Túy Tiêu: tên quan trị quốc họ Thân là kẻ tham lam không đáy, nhũng nhiễu,hiếp ức dân làng Dựa vào thế lực, tiền tài hắn cướp nàng Túy Tiêu hay đó là hình ảnh củatên Lý Hữu Chi “làm những việc trái phép, dựa vào lũ trộm cướp như tâm phúc…thích sắcđẹp, ham tiền tài, tham lam không chán, dâm cuồng chém giết không kiêng dè gì cả”
Dân phải vất vả phục dịch cho hắn “dân trong vùng phục dịch nhọc nhằn, anh nghỉ thì em
đi, chồng về thì vợ đối, ai nấy đều vai sưng, tay rách, rất là khổ sở”
Đề cập đến tình yêu đôi lứa và phản ánh khát vọng hạnh phúc của con người – cá nhân.Tình yêu ở đây là tình yêu tự do nảy sinh từ sự rung động của trái tim đôi bên, vượt ra ngoàikhuôn khổ phong kiến và đạo đức Nho giáo Tác giả đã nói khá trọn vẹn, sâu sắc tiếng nóitâm tình riêng tư của tuổi trẻ đương thời, phản ánh một nhu cầu tình cảm bức thiết, đòi hỏiphải được giải phóng khỏi lễ giáo khắc nghiệt Trong những chuyện tình ấy, nhân vật nữthường đóng vai trò trung tâm Họ đều chịu chung số phận đắng cay, bất hạnh
Ví dụ: Truyện Người con gái Nam Xương (Vũ Thị Thiết)
*Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn) Giá trị nhân đạo của tác phẩm thể hiện qua ý thức hạnhphúc, tuổi trẻ của nhân vật
Trang 5Tuổi trẻ: Nhân vật (người chinh phụ) ý thức được vị trí, giá trị của tuổi trẻ trong đời mỗingười Tuổi trẻ là điểm bắt đầu của mỗi người, là lúc mà người ta sống trong hạnh phúc,tình yêu Vậy mà vì chiến tranh (chiến tranh phi nghĩa) chồng nàng phải xông pha nơi trậnmạc với hi vọng trở về quá đỗi mong manh Tuổi trẻ của chàng và nàng đã phí hoài và đờinàng như thế là thôi Thời gian sẽ in những vết hằn trên mối tình chờ đợi, làm già cỗi tráitim khao khát hạnh phúc yêu thương Càng tưởng tượng, suy nghĩ, nàng càng nghĩ đến tuổitrẻ của chồng và mình:
“Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụChàng há từng là lũ vương tôn”
Tại sao phải làm chinh phụ giữa lúc tuổi còn đang niên thiếu và chàng không phải là hạnggiang hồ lãng tử như lũ vương tôn thì sao lại có sự xa cách Trong khi đó thời gian qua maurồi một lúc nào đó:
“Nghĩ mệnh bạc, tiếc niên hoaGái tơ mấy chốc xả ra nạ dòng”
Không phải trong một đọan mà hầu như rải khắp tác phẩm vấn đề tuổi trẻ được tác giả chú ýnhấn mạnh Ai không khỏi xúc động khi nghe người chinh phụ ước ao, cầu xin:
“Thiếp xin chàng chớ bạc đầuThiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung”
Nhưng đó là điều vô vọng, không thể được Phải có một cái nhìn thật sáng suốt, một tấmlòng nhân đạo thật sâu xa, tác giả mới có thể viết nên những lời thơ chứa chan tình ngườinhư vậy
Nhớ thương, đợi chờ, lo âu, người chinh phụ luôn sống trong sự khắc khỏai, âu sầu, buồn
bã, tuyệt vọng Mặc dù nàng có khi được gặp chàng trong mộng, được thỏa vơi đi phần nàotrong lòng thế nhưng hơn ai hết nàng hiểu rõ “Tình trong giấc mộng muôn vàn cũngkhông” Đó là sự bế tắc, khủng hoảng trong lòng người chinh phụ lúc này Hạnh phúc đốivới nàng chỉ là một khỏang không vô tận, trống rỗng Dẫu biết hạnh phúc là một điều xa vờivới nàng lúc này thế nhưng khi đứng trước một khung cảnh hữu tình lòng nàng vẫn khôngthôi khát khao hạnh phúc lứa đôi:
“Lá màn lay ngọn gió xuyênBóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèmHoa giải nguyệt nguyệt in một tấmNguyệt lồng hoa hoa nguyệt trùng phùng”
Trang 6Đây là cách chinh phụ tự vẽ ra hạnh phúc bằng ảo giác rồi cũng chính nàng phải đón nhậnđau đớn bằng thực tế phũ phàng:
“Trên hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau”
Những vấn đề chủ yếu của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học trung đại Việt Nam thế kỉ 18 –19:
*Nói sơ qua về hoàn cảnh lịch sử giai đoạn nửa đầu 18, nửa cuối 19 Đây là thời kì rối ren
có những diễn biến quan trọng trong lịch sử nước ta Thời đại nông dân khởi nghĩa và chiếntranh đàn áp của chính quyền Lê, Trịnh
* Những biểu hiện của chủ nghĩ nhân đạo trong giai đoạn này là:
- Phê phán những thế lực phong kiến chà đạp con người:
+ Vua, chúa, quan lại cảnh thối nát của triều đình phong kiến
Vd: Cung oán ngâm, Truyện Kiều, Phạm Công Cúc Hoa
+ Tố cáo thế lực đồng tiền
Vd: Truyện Kiều, các tác phẩm khác của Nguyễn Du
+ Cuộc sống khốn khổ, ngột ngạt của nhân dân
Ký: hoàng lê nhất thống chí, tang thương ngẫu lục
Thơ chữ Hán: Bùi Huy Bích, Phạm Quý Thích
Thơ chữ Nôm: Nguyễn Du, Cao Bá Quát
+ Lễ giáo phong kiến, những thế lực vô hình như sợi dây ràng buộc con người vàokhuôn phép nhất định, trói buộc những ước mơ, nhưng khát vọng cá nhân của con người
Lễ giáo phong kiến như “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, “tam tòng, tứđức”…trói buộc người phụ nữ
Chế độ cung nữ: Cung oán ngâm
Chế độ đa thê phá vỡ hạnh phúc của con người: thơ Hồ Xuân Hương
- Đề cao con người:
+ Đấu tranh để được tự do yêu thương, thể hiện tiếng nói ước mơ, khát vọng vượt rakhỏi lễ giáo phong kiến
Đấu tranh cho hạnh phúc cá nhân
Đấu tranh cho tình yêu
Khát vọng công lý ở đời: Từ Hải
Trang 7+ Sự xuất hiện hình ảnh người phụ nữ với những vẻ đẹp tài hoa, qua đó cho thấy sựtrân trọng giá trị con người của các tác giả (phần này trùng với câu 3 cho nên taokhông ghi kĩ ra đây Học câu 3 cho kĩ rồi chọn lọc ý đưa vào phần này sau nha)
Vẻ đẹp ngoại hình, tài năng
*Thơ ca Hồ Xuân Hương:
Đòi phải giải phóng tình cảm, tự do yêu thương hưởng hạnh phúc lứa đôi một cách trần tục.Phản kháng lại những tín điều trái lẽ tự nhiên của lễ giáo phong kiến
Dám công khai chủ động mời gọi tình yêu:
“Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôiNày của Xuân Hương mới quyệt rồi
Có phải duyên nhau thì thắm lạiĐừng xanh như lá, bạc như vôi”
Chống lại chế độ đa thê
“Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng”
Bênh vực cảm thông với sự dở dang của người phụ nữ:
“Không chồng mà chửa mới ngoan
Có chồng mà chửa thế gian sự thường”
Giá trị nhân đạo trong thơ Hồ Xuân Hương là một tình cảm yêu đời thiết tha, hồn nhiên
và mộc mạc Nhà thơ lớn tiếng đòi cho con người phải có một cuộc sống đầy đủ, phải đượchưởng tất cả lạc thú của tình yêu, phải tôn trọng phụ nữ và đấu tranh chống lại những gìphản tự nhiên, giả dối, bất công trong xã hội
*Truyện Kiều – Nguyễn Du:
“Truyện Kiều” bài ca về tình yêu tự do và ước mơ công lý
Tình yêu tự do: tình yêu Kiều – Kim
vượt lên trên những quy tắc lễ giáo về quyền định đọat của cha mẹ, sự cách biệt nam nữ
để nâng niu những biểu hiện tình yêu trong trắng, chân thành Nguyễn Du ca ngợi tinh thần
Trang 8chủ động của nàng Kiều “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” khi đến với Kim Trọng.Còn Kim Trọng luôn yêu thươn Thúy Kiều, loan “treo ấn từ quan” để đi tìm người yêu Nhưvậy tình yêu ở đây vượt lên trên quyền chức, hôn nhân, sự sống.
Ước mơ công lý: hình tượng nhân vật Từ Hải
qua nhân vật này Nguyễn Du gửi gắm ước mơ làm chủ cuộc đời, trả ân báo óan, khinh bỉnhững “phường giá áo túi cơm” vào luồn ra cúi trong xã hội bất công, tù túng
“Chọc trời khuấy nước mặc dầuDọc ngang nào biết trên đầu có ai”
Truyện Kiều – tiếng khóc cho số phận con người:
- Khóc cho tình yêu trong trắng chân thành bị tan vỡ Tình yêu Kiều, tình yêu mặn nồng,đắng cay của Kiều – Thúc Sinh, tình bi kể của Kim – Từ Hải
- Khóc cho tình mẫu tử, cốt nhục lìa tan 15 năm
- Khóc cho nhân phẩm, thân xác bị chà đạp
Kiều bị mua bán như một món hàng
“Đắn đo cân sắc cân tài
Ép cung cầm nguyệt, thử tài quạt thơ”
“Truyện Kiều” – bản cáo trạng đanh thép đối với các thế lực đế tôn
Quan lại: ích kỷ, tham lam, tàn nhẫn, coi rẻ sinh mạng và phẩm giá con người
Quan 300 lạng: “ có 300 lạng việc này mới xong”
Quan xử kiện Thúy Kiều – Thúc Sinh: xử kiện tùy tiện
Quan Hồ Tôn Hiến: kẻ lừa đảo, đê hèn
Đồng tiền: tha hóa con người: Sở Khanh, Mã Giám Sinh, Tú Bà
Trang 9yêu thương con người đói khổ, lầm than chung chung trong thơ Nguyễn Trãi hay con ngườiđầy bản lĩnh, mạnh mẽ trong văn học Lý Trần mà là những con người với những hoàn cảnh
cụ thể, đáng thương khác nhau
Đó là tiếng nói của tình yêu lứa đôi, hạnh phúc vợ chồng, là giá trị đích thực của con ngườiđược trân trọng, là ước mơ hưởng thụ những hạnh phúc, khát khao trần tục Đó còn là cáitôi, là tiếng nói đòi giải phóng cá nhân cũng như đả kích, chống lại những thế lực đen tốiđang, đã cướp mất đi quyền được sống, được hạnh phúc của con người Cùng với chủ nghĩayêu nước, chủ nghĩa nhân đạo là một sợi chỉ đỏ xuyên suốt văn học Việt Nam
Còn đây là phần chị Hà đánh máy, nói về giá trị nhân đạo trong văn học thế kỉ 18, 19 Phầnnày cũng hay, nên tham khảo Câu này mày nói làm kĩ mà…hehehe Cũng có thể lấy phầnnày làm dẫn chứng cho câu 3
1 Đề cao, trân trọng giá trị con người
a Vẻ đẹp ngọai hình
Người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non”
vẻ đẹp khỏe mạnh, tròn đầy, căng tràn sức sống
Nàng Kiều trong “Thúy Kiều” của Nguyễn Du
“Làn thu thủy nét xuân sơnHoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanhMột hai nghiêng nước nghiêng thànhSắc đành đòi một tài đành họa hai”
Vẻ đẹp theo kiểu lý tưởng, ước lệ trong sự đối sánh với thiên nhiên Nhằm làm nổi bật vẻđẹp hòan hảo, tòan bích
b Tài năng hơn người
Người cung nữ trong “Cung óan ngâm khúc”
“Câu cẩm tú đàn anh họ lýNét đan thanh bậc chị chàng Vương”
“Cờ tiến, rượu thành ai đangLưu linh, Đế Thích là làng tri âm”
thơ ca là đàn anh Lý Bạch, nét vẽ bậc chị Vương Duy, tài cờ rượu ngang thì là kẻ tri âmvới Lưu Linh, Đế Thích
Trang 10Thúy Kiều trong “Truyện Kiều”
“Thông minh vốn sẵn tính trờiPha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâmCung thương, làu bậc ngũ âmNghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương”
trong xã hội phong kiến, người phụ nữ không cần gì hơn là tứ đức, tam tong, còn tài tríthì dành cho nam nhân Vậy mà Nguyễn Du lại miêu tả Thúy Kiều với nhiều tài năng, tưchất thong minh vượt trội: thơ, họa, nhạc, đàn
c Khẳng định vẻ đẹp tâm hồn
Sự chung thủy, sắt son:
Người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương
“Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son”
vượt lên hòan cảnh, người phụ nữ ở đây vẫn kiên định “tấm lòng son”, sự thủy chung,son sắt
Người chinh phụ trong “Chinh phụ ngâm”
Người chinh phụ chung thủy đợi chồng, dù điều nàng mong đợi thật mong manh Không chỉmột lòng đợi chồng, nàng còn thay chồng hiếu thảo mẹ già, dạy con thơ:
“Ngọt bùi thiếp đã hiếu namDạy con đèn sách thiếp làm phụ thân”
Nàng Ngọc Hoa trong truyện “Phạm Tải Ngọc Hoa”, khi Trang Vương cho quân lính đếnbắt nàng về làm vợ Ngọc Hoa đã dứt khóat cự tuyệt
“Dù vua xử ức má hồngThời tôi tự vẫn khỏi lòng bội phu”
Giàu lòng hi sinh, ý thức
Kiều bán mình chuộc cha:
Kiều nhận thức một cách sâu sắc việc bán mình của nàng là việc bất đắc dĩ, là một việckhông ai muốn xảy ra thế nhưng:
“Thà rằng liều một thân conHoa dù rã cánh, lá còn xanh cây”
Nàng thấu hiểu nỗi khổ của cha, bán mình, hi sinh mối tình tuyệt đẹp, mối tình đầu lưuluyến của Kiều với Kim Trọng
Trang 11Lo sợ Kim Trọng, nàng trao duyên cho em.
Khi tiếp khách ở lầu xanh
“Khi tỉnh rượu, lúc tàn canhGiật mình, mình lại thương mình xót xa”
sự giật mình ở đây là ý thức, là phẩm chất cao đẹp của Kiều, khi nàng ý thức được mìnhtrong quá khứ và hiện tại để thấy được cuộc sống tủi hổ thực tại mà đau lòng chất nhânvăn
Khi sống với Thúc Sinh
ý thức vị trí của mình là phận lẽ mọn khuyên Thúc Sinh về thưa cùng Họan Thư
Từ chối chăn gối cùng Kim Trọng
Kiều ý thức mình lúc này, là 1 tấm thân tàn, không xứng đáng cùng Kim Trọng, cùngtình yêu của chàng Nàng không muốn đem quá khứ tủi hổ của mình làm vấy vào hạnh phúccủa Kim Trọng sự hi sinh, ý thức cao cả
“Người yêu ta xấu với nàngYêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau”
2 Bày tỏ yêu thương, cảm thong với những con người bất hạnh
- Người dân đói khổ, chịu nạn binh đao”
Tuy hình ảnh người dân lao động ít được chú ý đề cập nhưng qua một số tác phẩm cũng đủcho ta thấy rằng: cuộc sống của họ là vô cùng khổ sở
Người phụ nữ:
+ Tình yêu tan vỡ, hạnh phúc không vẹn tòan
Tình yêu: Thúy Kiều – Kim Trọng
Hạnh phúc: Chinh phụ ngâm
Hạnh phúc nhỏ nhoi, mong manh của Thúy Kiều – Thúc Sinh Bị giađình Họan Thư vùi dập không thương tiếc, Thúy Kiều – Từ Hải phải trả một giá đắt làsinh mạng của Từ Hải và nỗi ê chề của Thúy Kiều
Trang 12Từ thân phận của những nhân vật trên đây cho ta thấy được số phận hẩm hiu, cay đắng củangười phụ nữ xưa Viết, tạo nên những nhân vật như thế thể hiện sự cảm thong, đồngcảm sâu sắc của tác giả.
+ Người phụ nữ như một món hàng, bị trao đổi, buôn bán, hành hạ không thương tiếc cảtinh thần lẫn thể xác
Thúy Kiều bị Mã Giám Sinh mua, Thúc Sinh chuộc nàng ra khỏi lầu xanh lầuxanh
Bị Tú Bà, Họan Thư, quan lại đánh đập, hành hạ dã man
Kiều là một người rất ý thức, có giá trị nhân phẩm cao, song trong một xã hội như thếthì nhân phẩm của nàng bị chà đạp, nhục mạ Vì ý thức bản thân nàng khuyên ThúcSinh về thưa với Họan Thư để rồi bị biến thành nô tì, bị hành hạ nửa khóc, nửa cườikhi giáp mặt cùng Thúc Sinh trong khi thân phận con ở - chủ gia
“Rõ ràng thật lứa đôi ta
Làm cho con ở, chúa nhà đôi nơi”
3 Tiếng nói ước mơ, khát vọng
Tình yêu vượt lễ giáo phong kiến
+ Tình yêu Kim Trọng – Thúy Kiều
+ Tình yêu trong truyện Nôm
Nàng Ngọc Hoa, con gái một “tướng công quan đại phú gia”, yêu Phạm Tải là một hàn sĩnhỡ thời phải đi ăn xin để đi học Nàng Phương Hoa, con gái quan Thượng thư Bộ Hộ yêuCảnh Yên Cô gái trong truyện Lý Công là 1 công chúa lại yêu say đắm một chàng trai:
“Ăn mày đèn sách gian truant
Khắp chốn xa gần ai thấy cũng thương”
Xây dựng những mối tình như vậy là một cách tác giả truyện Nôm phủ định quan niệm hônnhân phong kiến, bắt buộc trai gái lấy nhau trước hết phải tương xứng về gia sản và đẳngcấp vượt khuôn khổ phong kiến
+ Đấu tranh cho hạnh phúc cá nhân
Hồ Xuân Hương
“Tài tử văn nhân ai đó tá
Thân này đâu đã chịu già hom!”
+ Khát vọng công lý ở đời: nhân vật Từ Hải
Trang 13CÂU 3: Hình ảnh người phụ nữ trong văn học giai đoạn thế kỉ 18 -19 ? Câu này dễ ợt,
không cần soạn mi cũng làm được Thầy Lực có cho mình thi câu này rồi đó phải khôngNhím? Cố gắng nghe!
- Lời dẫn: (có thể nêu hoàn cảnh lịch sử của giai đoạn này)
Hoàn cảnh lịch sử giai đoạn nửa đầu 18, nửa cuối 19 Đây là thời kì rối ren có những diễnbiến quan trọng trong lịch sử nước ta Thời đại nông dân khởi nghĩa và chiến tranh đàn ápcủa chính quyền Lê, Trịnh
- Hình ảnh người phụ nữ được thể hiện ở những nội dung chính sau:
+ Họ là những con người có nhan sắc đẹp đẽ:
Vd: người cung nữ trong Cung oán ngâm; nàng Kiều; người phụ nữ trong thơ HồXuân Hương, các nhân vật trong truyện thơ Nôm như: Ngọc Hoa, công chú con vuaBảo Vương, Thị Kính
+ Không chỉ có sắc đẹp, mỗi người phụ nữ đều có những tài năng riêng:
Vd: người cung nữ, Kiều, Ngọc Hoa, người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương
+ Tốt nết, giàu đức hy sinh (những phẩm chất cao đẹp)
Vd: Kiều, nàng chinh phụ, truyện thơ Nôm
+ Cuộc sống nhiều đau khổ, bất hạnh, “bạc mệnh”
Vd: người cung nữ, Kiều, người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương, nàng chinh phụ + Nhưng từ những nghiệt ngã của cuộc đời, họ luôn biết mơ ước, luôn giữ được bảnlĩnh và phẩm chất tốt đẹp:
Vd: thơ Hồ Xuân Hương, nàng Kiều…
Sau đây là phần phân tích cụ thể:
* Họ là những người phụ nữ có nhan sắc đẹp đẽ:
- nàng cung nữ:
“Trộm nhớ thuở gây hình tạo hóa
Vẻ phù dung một đóa vẻ hoa tươiChồi thược dược mơ màng thụy vũĐóa hải đường thức ngủ xuân tiêuCành hoa xuân chum chím chàoGió đông thổi đã cợt đào ghẹo mai”
(Cung oán ngâm)
Trang 14Cũng là những hình ảnh ước lệ, cũng là cách miêu tả so sánh vẻ đẹp con người với thiênnhiên nhưng Kiều của Nguyễn Du vẫn có vẻ đẹp riêng không lẫn với ai.
“Làn thu thủy nét xuân sơnHoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”
Hồ Xuân Hương lại không chỉ miêu tả vẻ đẹp trẻ trung mà còn ca ngợi sự trong trắng củacác cô gái:
“Chị cũng xinh mà em cũng xinhĐôi lứa như in tờ giấy trắngNghìn năm còn mãi cái xuân xanh…” (Tranh tố nữ)Hay
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn”
Các nhân vật nữ trong truyện thơ Nôm cũng xinh đẹp không kém:
- Ngọc Hoa trong “Phạm Tải – Ngọc Hoa”: “Má đào mặt ngọc tóc mây rà rà”
- Công chúa con vua Bảo Vương (truyện Lí Công):
“Tuổi xuân vừa mới lên mườiHây hây ngọc đúc tựa người thần tiên”
- Thị Kính (Quan âm thị Kính): “Đượm nhuần sắc nước dịu dàng nét hoa”
* Tài năng:
- Cung nữ:
“Cầm đếm nguyệt phỏng tầm Tư MãSáo lần thu lạ gã Tiêu Lang”
- Thúy Kiều của Nguyễn Du cũng không phải chỉ có vẻ đẹp ngọai hình mà
“Sắc đành đòi một tài đành họa haiThông minh vốn sẵn tính trờiPha nghề thi họa đủ mùi ca ngâmCung thương làu bậc ngũ âmNghề riêng ăn đứt Hồ Cầm một trương”
- Phương Hoa trong truyện Nôm cùng tên thì thay chồng đi thi ở triều đình và đậu vào hàngtiến sĩ
- Thơ Hồ Xuân Hương: Đề đền Sầm Nghi Đống “Ghé mắt…há bấy nhiêu”
* Tốt nết, giàu đức hi sinh:
- Kiều bán mình chuộc cha:
Trang 15“Lòng tỏ dù chẳng dứt tìnhGió mưa âu hẳn tan tành nước nonThà rằng liều một thân conHoa dù rã cánh, lá còn xanh cây”
- Người chinh phụ ở nhà nuôi mẹ già con dại:
“Ngọt bùi thiếp đã hiếu namDạy con đèn sách thiếp là phụ thân”
- Những nhân vật nữ trong truyện thơ Nôm như Cúc Hoa (Trong Phạm Công Cúc Hoa;Tống Trân – Cúc Hoa), Ngọc Hoa (trong Phạm Tải – Ngọc Hoa) đều là những người congái tốt đẹp, nhân ái, biết giúp đỡ người nghèo Khi Phạm Công, Phạm Tải, Tống Trân đưa
mẹ đi ăn mày, Cúc Hoa, Ngọc Hoa không hề khinh ghét mà còn cho gạo rồi đem lòng yêuthương
“Cúc Hoa nghe thỏang vào taiRồi chân sẽ ngó song mai thử nhìnThấy người nét mặt hiền lànhĐộng lòng mới trở gót sen vào nhàLấy một đấu gạo đem raGọi là cứu giúp cho nhà bồ côi”
(Tống Trân – Cúc Hoa)
“Phạm Công đút cơm mẹ giàNàng đi chẳng tới đứng xa trông chờCúc Hoa nước mắt hai hàngMai kia tôi chịu lấy chàng Phạm Công”
(Phạm Công – Cúc Hoa)
- Tài sắc, tốt nết là vậy nhưng số phận họ luôn gặp nhiều bất hạnh
* Bất hạnh
- Chinh phu:
Vì đấu tranh mà đôi lứa phải chia lìa:
“Khách phong lưu đương chừng niênSánh nhau cùng dan díu chữ duyên
Nỡ nào đôi lứa thiếu niên
Trang 16Quan san để cách hàn huyên bao …”
- Người chinh phụ ở nhà nhớ mong quay quắt:
“Lòng này gửi gió Đông có tiệnNghìn vàng xin gửi đến non YênNon Yên dù chẳng tới miềnNhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trờiTrời thăm thẳm xa vời khôn thấuNỗi nhớ chàng đau đáu nào xong”
Lo lắng cho chinh phu:
“Chàng từ đi vào nơi gió cátĐêm trăng này nghỉ mắt phươn nao?
Xưa nay chiến địa dường baoNội không muôn dặm xiết bao dãi dầu”
Nỗi lo lắng, nhớ thương làm xáo trộn cuộc sống, nàng không còn niềm vui trong cuộc sống:
“Đâu xiết kể muôn sầu nghìn não
Từ nữ công phụ xảo đều nguôiBiếng cầm kim biếng đưa thoiOanh đôi thẹn dệt bướm đôi ngại thùa”
Tuổi xuân và nhan sắc tàn phai theo thời gian:
“Thoi đưa ngày tháng ruổi mauNgười đời thấm thóat qua màu xuân xanh”
- Cung nữ:
Cô đơn vì bị bỏ quên trong cung cấm, nhận thứ tình cảm nhỏ bé bị chia năm xẻ bảy:
“Một mình đứng tủi ngồi sầu
Đã than với nguyệt lại rầu với hoaBuồn mọi nỗi lòng đà khắc khỏaiNgán trăm chiều bước lại ngẩn ngơ”
Thời gian tàn phá tuổi trẻ và nhan sắc – những thứ quan trọng nhất của nàng
“Hòang hôn thôi lại hôn hoàngNguyệt hoa thôi lại thêm buồn nguyệt hoa”
- Truyện thơ Nôm:
Trang 17Công chúa con vua Bảo Vương (truyện Lí Công) vì để cho Lí Công ở trong cung nên bịchính cha mình trị tội bắt đi đày Đến nước Hung Nô, vua Hung Nô thấy nàng xinh đẹpmuốn cưới nàng nhưng nàng không đồng ý: bị cắt mũi, xẻo tai, chặt tay chân.
Quan âm Thị Kính hai lần bị oan: một lần bị nghi giết chồng, lần khác bị nghi là làm thịMầu có thai
Nàng Xuân Nương (Lâm Sanh – Xuân Nương) bị mẹ chồng hành hạ đến chết vì nàng không
“Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Kẻ đắp chăn bong kẻ lạnh lùngNăm thì mười họa chăng hay chớMột thóang đôi lần có cũng không” (Lấy chồng chung)
- Truyện Kiều: (nàng Kiều)
Xã hội kim tiền không có công lí nàng phải bán mình chuộc cha, gác lại hạnh phúc riêng vớiKim Trọng
Tài sắc của nàng bị ngả giá như một món hàng:
“Cò kè bớt một thêm haiGiờ lâu ngả giá vàng ngòai bốn trăm”
Số phận đưa đẩy, nàng bị Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Tú Bà, Hồ Tôn Hiến hãm hại Cuộcđời nàng bị đẩy đến nỗi: “Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần” và cuối cùng nàng phải tự tửnhưng may mắn thóat chết
Đoàn tụ với gia đình nàng cũng không thể hưởng trọn hạnh phúc
Tài sắc của người phụ nữ không được coi trọng thậm chí tài sắc ấy còn khiến số phận họ dễ
đi đến chỗ bi kịch hơn “hồng nhan bạc mệnh”
góp tiếng nói tố cáo xã hội
Trang 18*Tuy bạc mệnh nhưng họ luôn biết ước mơ, luôn giữ được bản lĩnh và những phẩm chất tốtđẹp
- Chinh phụ: Ước mơ hạnh phúc lứa đôi rất chính đáng, rất thực tế
Quan niệm rất hiện đại:
“Đành muôn kiếp chữ tình là vậyTheo kiếp này hơn thấy kiếp sauThiếp xin chàng chớ bạc đầuThiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung”
Ước mơ ngày đòan tụ:
“Sẽ rót vơi lần lần từng chén
Sẽ ca dần ren rén từng thiênLiên ngâm đối ẩm đòi phenCùng nhau lại kế mối duyên đến già”
Truyện Phạm Tải – Ngọc Hoa: Ngọc Hoa khi bị Trang vương đòi cưới làm vợ đã nói:
“Tôi đà một kiếp cùng chàng
Nỡ nào phụ nghĩa tào khang cho đành”
Rồi nàng không khéo lấy cớ xin về quê ba năm thọ tang chồng sau đó sẽ lên hầu hạ Trangvương Hết ba năm nàng tự tử để chung thủy với chồng
Truyện Tống Trân – Cúc Hoa: Tống Trân theo lệnh vua đi sứ Trung Quốc mười năm, đượcbảy năm cha Cúc Hoa bắt nàng về tái giá Nàng thưa với cha rằng:
“Lấy chồng cơm tấm vải dầySống thời chăn gối, thác rày thủy chung”
Trang 19- Thơ Hồ Xuân Hương
Người phụ nữ dù: “Bảy nổi ba chìm với nước non”
Song luôn ý thức: “Mà em vẫn giữ tấm lòng son” (Bánh trôi nước)
- nàng Kiều:
Khi biết bị bán vào lầu xanh nàng thà tự tử chứ không chịu tiếp khách
“Thôi thì thôi có tiếc gìSẵn dao tay áo tức thì giở ra”
Luôn nhớ thương Kim Trọng:
“Nhớ lời nguyện ước ba sinh
Xa xôi ai có thấu tình chăng ai?”
Ý thức rõ sự ê chề của bản thân
“Khi tỉnh rượu lúc tàn canhGiật mình, mình lại thương mình xót xa”
Luôn tìm cách trốn khỏi lầu xanh: theo Sở Khanh, Thúc Sinh, Từ Hải và cuối cùng là chết
đi để khỏi phải quay lại lầu xanh
Sự trầm luân của cuộc đời khiến nàng nhận rõ bạn, rõ thù và có cách đối xử phù hơp báo
ân báo óan
“Nàng rằng: nhờ cậy uy linhHãy xin báo đáp ân tình cho phuBáo ân rồi sẽ báo thù”
Ngày đoàn tụ, nàng đổi tình yêu với Kim Trọng thành tình bạn vì ý thức giữ gìn sự thanhcao của tình yêu ban đầu, giữ gìn sự trinh bạch còn lại của mình : “Chữ trinh còn một chútnày”
Kết luận: người phụ nữ trong văn học thế kỉ XVIII – XIX là những người đẹp người, đẹp
nết lại giỏi giang nhưng số phận gặp nhiều bất hạnh như lời Nguyễn Du (đau đớn thay phậnđàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung) Trong sự khắc nghiệt của số phận họ vẫn caoquý và đẹp đẽ
CÂU 4: Sự phát triển tư tưởng yêu nước từ văn học trung đại đến văn học hiện đại Việt Nam?
Lời dẫn
Trang 20Có thể nói đặc điểm cơ bản của lịch sử tư tưởng một dân tộc thường phản ánh đặc điểm cơbản của lịch sử chính trị dân tộc ấy Đặc điểm cơ bản của lịch sử dân tộc Việt Nam là cuộcđấu tranh gần như liên tục và luôn luôn quyết liệt để giành lấy độc lập và bảo vệ độc lập.Cho nên tư tưởng yêu nước có thể được xem là sợ chỉ đỏ xuyên suốt qua các giai đọan lịch
sử tư tưởng Việt Nam
Yêu nước là một tình cảm phổ biến của mọi người có Tổ Quốc Từ tình cảm tự nhiên ấy,yêu nước có thể phát triển lên thành tư tưởng rồi hệ thống tư tưởng, chủ nghĩa yêu nước Nó
có nhiều biểu hiện cụ thể: yêu nước là yêu đất nước, yêu lịch sử dân tộc, quá khứ, hiện tại
và tương lai, yêu giống nòi và ở nước ta là yêu nhân dân, thương dân Yêu nước là thươngyêu và căm thù, chiến đấu và hi sinh, tin tưởng và lạc quan Yêu nước chân chính cũng làtinh thần quốc tế chân chính Yêu nước là truyền thống nhưng cũng là hiện tại Yêu nước cótính giai cấp và có tính thời đại Phát triển cao nó thành chủ nghĩa anh hùng
Văn học yêu nước chống ngọai xâm là một dòng văn học đặc biệt trong lịch sử văn học ViệtNam Có có truyền thống rất lâu đời và chiếm một địa vị cao quý trong văn học Khôngnhững nó tiêu biểu về mặt tư tưởng cho tinh thần dân tộc cao cả mà về mặt nghệ thuật nócũng cung cấp cho văn học nhiều áng thơ văn kiệt tác Trong lịch sử văn học Việt Nam từvăn học trung đại đến văn học hiện đại, sử phát triển của tư tưởng yêu nước được thể hiệnrất rõ trong nhiều tác phẩm văn chương tiêu biểu Nó có tác dụng lớn lao trong việc giáodục, động viên lòng yêu nước, chí quật cường Nó cũng có một ảnh hưởng nhất định đối vớicác dòng văn học khác trong sự phát triển của văn học nói chung ở từng giai đoạn
Nguồn gốc của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
Ở Việt Nam, tư tưởng yêu nước xuất hiện rất sớm, ăn sâu vào lòng người và phát triển caolên Nguyên nhân lịch sử là do nước ta xuất hiện cũng rất sớm, từ thời cổ đại và lịch sử nước
ta trong đại thể là “một chuỗi dài những cuộc chiến đấu chống sự xâm lăng của những nướclớn mạnh hơn ta gấp mấy chục lần” Nước Văn Lang do 15 bộ tự nguyện hợp nhất và tồn tạilâu dài, ổn định ở địa bàn mình trên dưới 2000 năm, có nền văn hóa rực rỡ so với thời bấygiờ, nên tình cảm, tư tưởng gắn bó với quê hương, với nòi giống đã sớm nảy sinh và trởthành sâu đậm trong lòng từng thành viên cộng đồng Ngọai xâm đến rất sớm và liên tục.Thời vua Hùng bao nhiêu cuộc xâm lược lớn nhỏ đều bị ta đánh bại Mười một thể kỉ mấtnước cũng có hàng trăm cuộc khởi nghĩa Chín thế kỉ độc lập phải đương đầu với bảy cuộcxâm lược lớn của bọn bành trướng Tống, Nguyên, Minh, Thanh Thời cận đại, hiện đại phải
đọ sức với bọn đế quốc đầu sỏ giàu mạnh: Pháp, Nhật, Mỹ và nay còn phải chống lũ bành
Trang 21trướng phương Bắc Đương đầu, đọ sức cực kì gian khổ nhưng đều chiến thắng vẻ vang.Lấy gì làm sức mạnh, nếu không là huy động sức lực tòan dân, vật chất và tinh thần, màtrong tinh thần thì tư tưởng yêu nước là lớn nhất Thực tế tư tưởng ấy đã được nhận thức từrất sớm Hình tượng ông Dóng là sự lớn lên của nhân dân để ngang với nhiệm vụ chốnggiặc muôn vàn khó khăn Ông Dóng đánh giặc là cùng tòan dân đánh giặc Đánh giặc làđánh với tất cả nhữg gì mình có trên đất nước mình, cây tre cũng giết được giặc Làm xongnhiệm vụ cứu nước, ông Dóng bay lên trời, đi vào cõi lặng im không đòi hỏi gì – đó chính
là biểu tượng của người dân, là tòan dân của cộng đồng
Quá trình tiến lên của chủ nghĩa yêu nước cũng là quá trình tiến lên của văn học Nói sáthơn, văn học phát triển trong sự thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước ngày càng phát triển Từnhững áng văn, thơ đầu tiên của thời kỳ trung đại như Nam Quốc Sơn Hà, Hịch tướng sĩ…
Nó đã phản ánh tư tưởng yêu nước của người dân ta Đến Bình Ngô đại cáo, hơn một thế kỉsau là một nhận thức cao hơn nữa về tư tưởng yêu nước của người dân Đại Việt vì đã thấy
nó hun đúc sâu sắc trong hàng ngũ lao động, hàng ngũ manh lê, từng lớp đông đảo đượcchiến tranh nhân dân giải phóng khỏi chế độ điền trang Bốn thế kỉ sau, nhà thơ nhân dân
mù mắt nhưng sáng lòng Đồ Chiểu lại đẩy xa thêm nhận thức ấy và nhìn rõ hẳn ra: ngườiyêu nước sâu xa nhất lại là người nông dân Và khi bác Hồ nói: “Không có gì quý hơn độclập tự do” là căn cứ vào lòng nồng nàn yêu nước của người dân ta Cũng tư tưởng yêu nướcnhưng thời sau cao hơn, sâu hơn thời trứơc tận đến tư tưởng yêu nước xã hội chủ nghĩa ngàynay
Tư tưởng yêu nước trải qua một quá trình phát triển rất lâu dài:
- Văn học Lý – Trần
+ Yêu nước = ca tụng đất nước tươi đẹp, tự hào và yêu mến đất Việt
+ Ý thức yêu nước = ý thức tự cường dân tộc
Khẳng định quyền dân tộc, xây dựng 1 quốc gia phong kiến vững chắc
Tư tưởng yêu nước luôn gắn liền với tư tưởng trung quân
Vd: Nam quốc sơn hà với yếu tố thần quyền
+ Tư tưởng yêu nước còn gắn liền với tư tưởng trung nghĩa, với tinh thần bảo vệ đấtnước chống xâm lược
Vd: Hịch tướng sĩ
+ Cuối giai đoạn này cũng xuất hiện hình ảnh nhân dân trong tư tưởng yêu nướcVd: các tác phẩm của Nguyễn Phi Khanh, Chu Đường Anh
Trang 22+ Tư tưởng yêu nước còn gắn liền với những người anh hùng.
- Văn học giai đoạn XIV – XVIII: chủ yếu qua Bình Ngô đại cáo, có sự so sánh đốichiếu với giai đoạn trước để làm rõ những điểm mới trong tư tưởng yêu nước ở giaiđoạn này
+ Yêu nước là tự hào về dân tộc, vạch trần tội ác của giặc
+ Yêu nước là thương dân, tư tưởng lấy dân làm gốc (lúc này, tư tưởng yêu nước đãsoi sáng cách nhìn về nhân dân)
- Từ khi thực dân Pháp xâm lược đến Cách Mạng Tháng 8: tiêu biểu là Nguyễn ĐìnhChiểu
+ Yêu nước là tố cáo tội ác của giặc, phê phán
+ Quan điểm mới về nhân dân: đề cao người nông dân Ông là người đầu tiên đưahình ảnh người nông dân vào trong trang viết, phát hiện sức mạnh tiềm ẩn của ngườinông dân “lần đầu tiên, hình ảnh người nông dân đi vào thơ Đồ Chiểu…)
+ Tư tưởng yêu nước là ca ngợi những tên tuổi anh hùng: Trương Đinh, một số bàivăn tế khác…
- Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh: yêu nước gắn liền với tư tưởng mới: yêu nước làphải tìm con đường cứu nước ở nước ngoài Nhưng do chưa chuẩn bị kĩ cũng nhưchưa nhìn nhận thấu đáo nên chưa tìm ra con đường đi đúng đắn (Xuất dương lưubiệt)
- Tư tưởng yêu nước phát triển đầy đủ trong các sáng tác của Tố Hữu, Chế Lan Viên,Sóng Hồng mà đỉnh cao là Hồ Chí Minh (phân tích kĩ tư tưởng yêu nước trong thơvăn Hồ Chí Minh (yêu nước gắn liền với đấu tranh giải phóng dân tộc)
Sau đây là phần phân tích:
* Nam quốc sơn hà
Một đêm trên phòng tuyến sông Như Nguyệt, từ một ngôi đền linh thiêng vọng lên tiếngngâm văn dội của phúc thần:
Nam quốc sơn hà, nam đế cưTiệt nhiên định phận tại thiên thưNhư hà nghịch lỗ lai xâm phạmNhữ đẵng hành khan thủ bại hư
Nghe tiếng của thần, quân Việt phấn dũng, quân Tống vỡ mật
Trang 23Câu chuyện nhuộm màu thần bí nhưng trong đó lại có cái lõi ý nghĩa truyền thống rõ rang,
đó là truyền thống chống xâm lăng, truyền thống yêu nước, bất khuất Đó là một sức mạnh
vĩ đại, mỗi khi đánh giặc ngọai xâm thì chẳng những người sống vùng lên mà dường nhưcác thế hệ đã nằm dưới đất cũng đứng dậy tiếp sức Cho nên, nếu trong bài Nam Quốc Sơn
Hà tư tưởng yêu nước biểu lộ dưới màu sắc thần linh, điều ấy thực không giảm chút nào giátrị của nội dung ý nghĩa áng văn, mà trái lại còn tăng thêm tác dụng cổ vũ, cảm hóa của nó
“Nam quốc sơn hà, nam đế cư” Thời này và còn khá lâu về sau, tiêu biểu cho nước là vua,
là hòang đế Như vậy, đã xuất hiện và phát triển tư tưởng yêu nước có trước tư tưởng trungquân Người Việt Nam dưới thời Bắc thuộc không có vua để mà thờ nhưng vẫn yêu nướcthiết tha, vẫn đấu tranh mạnh mẽ cho độc lập dân tộc Mãi đến khi dân tộc được độc lập, khinhà vua cũng là vị anh hùng cứu nước (Ngô Quyền, Lê Hòan) khi dòng vua vị trị vì lâu dài(nhà Lý) thì tư tưởng trung quân mới nảy nở và phá triển làm hình thức biểu hiện cho tưtưởng yêu nước vốn có trước Tuy vậy, câu “Núi sông nước Nam thì vua Nam chiếm lãnh”còn có ý nghĩa rộng rãi và chủ yếu là “đất nước Nam thì người Nam làm chủ” “Tuyệt nhiênđịnh phận tại thiên thư” – cương giới nước Nam rõ ràng đã được ghi trong sách trời Câuthơ vừa có sắc thái mê tín, định mệnh song vừa có ý nghĩa là nước Nam dĩ nhiên phải tựchủ, nước Nam phải chiến thắng, không sức mạnh nào chiếm nổi, khi giặc đến xâm phạmthì nhất định chúng sẽ chuốc lấy thất bại Đó là lòng tin sắt đá vào sự thắng lợi, vào ngàymai của dân tộc và đất nước
*Hịch tướng sĩ:
Đặc điểm thần quyền trong tư tưởng yêu nước mà chúng ta nhận thấy ở bài Nam Quốc Sơn
Hà sẽ không còn thấy trong bài Hịch tướng sĩ nhưng từ bài Nam Quốc Sơn Hà đến bài HịchTướng Sĩ thì đặc điểm trung quân trong tư tưởng yêu nước hãy còn và có những nét đậmhơn
Nếu đối tượng của Lý Thường Kiệt là tòan quân thì đối tượng của Trần Quốc Tuấn là tướng
sĩ Hịch Tướng Sĩ có thể xem như một bài trường thiên đại luận, cấu tạo rất logic, vừa đánhvào tâm hồn, vừa đánh vào lí trí có tính chất tiêu biểu gần như sự tòan diện cho tinh thầndân tộc, yêu nước của phong kiến quý tộc đang cầm quyền
Ở đây ưu điểm nổi bật nhất là sự quan tâm của Trần Quốc Tuấn đối với vấn đề tư tưởng,trước hết là tư tưởng của chiến sĩ Tòan bộ bài hịch nhằm đả phá tư tưởng cầu an, sợ địch,nhằm bồi dưỡng tư tưởng anh hùng, trung quân Hịch tướng sĩ mở đầu bằng việc nêu caotinh thần trung nghĩa của tướng sĩ Thời này biểu hiện chủ yếu của tư tưởng yêu nước là tư
Trang 24tưởng trung nghĩa Nói một cách khác, ở đây trung nghĩa là hình thức biểu hiện của tư tưởngyêu nước nhưng trung nghĩa dầu được xem là cao quý đến đâu vẫn hẹp và nông hơn tưtưởng yêu nước.
Bài hịch nhằm xây dựng sự thống nhấ ý chí và quyền lợi của vua chúa và tướng sĩ sao chotrên dưới một lòng, quyết tâm diệt giặc ngọai xâm đó là một ưu điểm lớn, một thành côngrực rỡ nhưng không có một câu nào nói về quyền lợi chung của dân tộc của nhân dân Nhưvậy chỗ trống lớn nhất trong bài Hịch tướng sĩ vẫn là sự vắng mặt của dân khiến cho lítưởng cứu nước của các tướng sĩ thời Trần có phần kém sáng tỏ, hào khí Đông A rực rỡ thậtnhưng hãy có có mấy điểm mờ
*Bình ngô đại cáo
Đến Bình Ngô Đại Cáo tư tưởng yêu nước Việt Nam đạt trình độ cao hơn là trong Hịchtướng sĩ – đây là đỉnh cao nhất từ trước đến đó Bình Ngô Đại Cáo được đánh giá là “thiên
cổ hùng văn” chẵng những văn hay mà còn vì ý lớn Ý có lớn thì văn mới hay huống chiBình Ngô Đại Cáo thực sự là bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc Việt Nam vừa chấm dứtthắng lợi một cuộc chiến tranh giải phóng dài 20 năm, tiêu diệt quân Minh xâm lược
Trong số những đặc điểm phát triển mới của tư tưởng yêu nước, ở đây trước hết phải kểquan niệm “nước nhà’ Trong bài của Lý Thường Kiệt chỉ nói “sơn hà”,”định phận” chưathấy cho chữ “nước” một nội dung dung nào ngòai chữ “đế” Trong bài của Trần Quốc Tuấn
có nói đến vua chúa, triều đình, tông miếu, thái ấp, tướng sĩ và bổng lộc của họ, nội dungchữ ‘nước’ hãy còn nghèo nàn Phải đến Nguyễn Trãi, đến “Bình Ngô Đại Cáo” thì quanniệm về nước nhà mới phong phú, vừa dựa trên những yếu tố về lịch sử và địa lý, nghãi là 1quan niệm thật sự có căn cứ khoa học chẳng những thóat li hẳn quan niệm có màu sắc thần
bí mà cũng vượt quá xa quan niệm thô thiển hẹp hòi về quyền lợi của giai cấp quý tộc bénhỏ:
Như nước Đại Việt ta từ trướcVốn xưng nền văn hiến đã lâu yếu tố văn hóa, tinh thầnNúi sông bờ cõi đã chia yếu tố địa lý, lãnh thổPhong tục Bắc Nam cũng khác yếu tố dân tộc, tâm lí dân tộc
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập yếu tố lịch sửCùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương
Tuy mạnh, yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có
Trang 25Khác với bài Hịch tướng sĩ, Bình Ngô Đại Cáo đề cao lịch sử dân tộc, truyền thống dân tộc.Nếu như Trần Quốc Tuấn chỉ dùng điển tích Bắc Sử thì ở đây Nguyễn Trãi đã dùng quốc sử
để cổ vũ, phát huy tự hào dân tộc – đó là một bước tiến của tư tưởng yêu nước Hẳn không
có sự kiện Bắc sử nào có thể làm người Việt Nam rung động bằng sự kiện lịch sử dân tộcmình
Bước tiến lớn nhất của tư tưởng yêu nước trong Bình Ngô Đại Cáo chẳng những dân xuấthiện mà xuất hiện cả nhân dân lao động, từ ngữ lịch sử lúc đó gọi là “manh lệ”, và quầnchúng thường gọi là “dân đỏ con đen” Vạch mặt bọn cướp nước và bán nước, Nguyễn Trãicông kích chúng đã cư xử tàn bạo với người dân lao khổ
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tànVùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Và khi phải tập hợp lực lượng để mưu đồ đại nghĩa cứu nước thì trước hết phải nhờ sức của ai? Bình Ngô Đại Cáo trả lời:
“Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới”
Bình Ngô Đại Cáo ghi công cứu nước cho hạng dân “manh lệ” chứ không phải chỉ biết đếntướng sĩ, lúc đánh giặc là nhờ nhân dân, khi kết thúc chiến tranh cũng là vì nhân dân:
“Họ tham sống sợ chết, mà hòa hiếu thật lòng
Ta lấy tòan dân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.”
Câu đầu bài Bình Ngô Đại Cáo đã nêu: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Như vậy với Nguyễn Trãi, yêu nước là thương dân, để cứu nước phải dựa vào dân và cứunước trước hết là để cứu dân Dân trở thành một bộ phận quan trọng của nội dung khái niệmnước nhà Tư tưởng yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XV đã đạt đến mức cao vọt đó
Trong Bình Ngô Đại Cáo cũng như những tác phẩm khác của Nguyễn Trãi, tư tưởng nhânnghĩa được nêu cao làm lí khởi nguyên và nơi kết thúc của hành động yêu nước, ở đây nhânnghĩa đã thay cho trung nghĩa mà làm hình thức biểu hiện của tư tưởng yêu nước
Thông thường, yêu nước mình dễ bị chuyển thành ghét nước người, thù hằn với nước đixâm lược Những tư tưởng yêu nước Việt Nam được Lê Lợi và Nguyễn Trãi đại diện là một
tư tưởng không xuyên tạc bởi tinh thần vũ dũng hẹp hòi Ông cha ta yêu nước mãnh liệt màđồng thời lại nhân đạo vô cùng “ thần vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếusinh” Tha chết cho quân địch không phải là bởi lòng nhân đạo viễn vông mà chính để “bảotòan nước ta trên hết”, cho “nhân dân an sinh”, nghĩa là lòng nhân trên cơ sở của tư tưởngyêu nước
Trang 26Như vậy, chủ nghĩa yêu nước trong thời kỳ này là chủ nghĩa yêu nước của thời phong kiến,phần lớn là của thời phong kiến thinh Nó không khỏi có hạn chế nhưng vẫn đậm đà tínhnhân dân và dân tộc.
* Thơ văn yêu nước Nguyễn Đình Chiểu
Từ thực dân Pháp xâm lược đến cách mạng tháng Tám rồi đến nay, tư tưởng yêu nước đã cónhững bước phát triển vượt bậc, biểu lộ rõ nhất trong thơ văn yêu nước của một nhà văn mùmắt nhưng sáng lòng – Đồ Chiểu Trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, ông vẫn đề cao tưtưởng nhân nghĩa nhưng điều đặc biệt tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu đã đưanhà thơ về với người dân và ông đã trở thành một người ca ngợi đầy nhiệt tình sự nghiệpchiến đấu của người dân, của dân tộc
Thơ văn yêu nước là đỉnh cao trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu trong đó nổi bật nhất
là quan điểm nhân dân và quan điểm dân tộc của nhà thơ
Trong Bình Ngô Đại Cáo và những tác phẩm khác, nhân dân mặc dù có vai trò rất quantrọng nhưng giai cấp phong kiến vẫn là giai cấp lãnh đạo cuộc chiến đấu Nhưng trong giaiđọan này, giai cấp phong kiến lụn bại không những không lãnh đạo người dân kháng chiếnchống giặc mà thực tế còn làm tay sai cho giặc Nhân dân yêu nước phải tự động đứng lên
vũ trang chiến đấu Trong thơ văn yêu nước, Nguyễn Đình Chiểu lần đầu tiên người nôngdân đi vào văn học một cách cụ thể với tư thế người anh hùng chống xâm lược Đó là cốnghiến xuất sắc của nhà thơ với lịch sử Con người tự ý thức trong giai đọan văn học trước đãbắt đầu chớm nở đó là con người tự ý thức về cá nhân mình, còn tư ý thức về nghĩa vụ củamình đối với đất nước, đối với dân tộc thì đến giai đọan này, với Nguyễn Đình Chiểu,dường như lần đầu tiên mới xuất hiện Đáng chú ý là nó xuất hiện ở hình tượng người nôngdân đánh giặc:
Nào đợi ai đói, ai bắt phen này xin ra sức đoạn kình
Chẳng thèm chốn ngược, trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ
Ngòai hình tượng người nông dân đánh giặc, Nguyễn Đình Chiểu còn viết về những lãnh tụnghĩa quân nổi tiếng như Trương Định, Phan Tòng – nhà thơ ghi lại lòng thương tiếc củangười dân đông đảo đang chiến đấu đối với các lãnh tụ nghĩa quân Điều đó chứng tỏNguyễn Đình Chiểu có một tầm nhìn mới về mối quan hệ mới giữa lãnh tụ và quần chúng
mà các thủ lĩnh phong kiến ngày xưa không có được Nhà thơ chưa thóat khỏi tư tưởngtrung quân ái quốc, ông vẫn còn gắn liền vua với nước nhưng ông đã khẳng định dứt khóat
Trang 27đi với người dân chống giặc cứu nước là đúng, mặc dù điều đó trái với lệnh vua và triềuđình.
‘Bởi lòng chúng chẳng nghe thiên tử chiếu, đón ngăn mấy dặm mã tiền, theo bụng dân phảichịu tướng quân phù, gánh vác một vai khổn ngọai”
Một quan niệm về anh hùng như vậy, thực sự đã khác xa quan niệm anh hùng phong kiến và
có cái gì gần gũi với quan niệm anh hùng mới của chúng ta ngày nay
Trong thơ văn yêu nước, tư tưởng nhân nghĩa kết hợp với tư tưởng yêu nước, chuyển hóathành tư tưởng yêu nước làa đỉnh cao nhất trong tư tưởng của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu
đã sáng tạo được những tác phẩm xứng đáng nhất của mình Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ CầnGiuộc xứng đáng được đặt ngang hàng với Hịch Tướng Sĩ và Bình Ngô Đại Cáo – là nhữngáng văn chương hay vào bậc nhất của lịch sử văn học dân tộc
*Thơ văn yêu nước Hồ Chí Minh
Song song với lịch sử phát triển của dân tộc tư tưởng yêu nước ngày càng được mở rộng vàphát triển lên một tầm cao mới mà đỉnh cao của nó là những vần thơ đầy chất thép của vĩlãnh tụ vĩ đại – chủ tịch Hồ Chí Minh
Trong những áng văn thơ của Người “Không có gì quý hơn độc lập tự do” là tư tưởng lớn
và cảm hứng chủ đạo quán xuyến trong hầu hết tác phẩm của Hồ chủ tịch Với Bác yêunước là phải đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc và hạnh phúc của người dân: “Tự docho đồng bào tôi, độc lập cho tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là nhữngđiều tôi hiểu”
Chủ nghĩa yêu nước anh hùng trong thơ Hồ Chí Minh tiếp tục truyền thống thơ ca yêu nướccủa đất nước từ hàng ngàn năm lịch sử Thơ người là bông hoa thắm đỏ, là đỉnh cao của thơ
ca yêu nước và cách mạng của giai cấp vô sản ở cả thời kì trước và sau cách mạng Chủnghĩa yêu nước và anh hùng trong thơ Hồ Chí Minh được bộ lộ dưới nhiều nội dung và sắcthái phong phú Đó là những vần thơ tâm huyết canh cánh ngày đêm một lòng với đất nước,những vần thơ hùng tráng nói lên khí thế anh hùng và sức mạnh của dân tộc, những vần thơkêu gọi, động viên mọi người trong nhiệm vụ như lời hiệu triệu và mệnh lệnh chiến đấu Dùlời thơ viết ra trong ngục tù hoặc giữa không khí khẩn trương của những ngày chiến dịch,hoặc trong cảm hứng tươi đẹp của một ngày xuân, thơ Hồ Chí Minh là chất thép chiến đấu,
là chất ngọc quý của tâm hồn trong sáng và niềm tin sắt son vào thắng lợi của dân tộc
Trang 28Thơ ca yêu nước của Hồ Chí Minh từ những năm 20 đầu thế kỉ vẫn còn mang theo bao nỗiniềm của người chiến sĩ cách mạng với dân với nước: Trong những năm tháng phải xa đấtnước, Người lúc nào cũng suy nghĩ và hướng lòng mình về tổ quốc.
Cảnh khuya như vẽ, Người chưa ngủChưa ngủ vì lo nỗi nước nhàTrong hòan cảnh lao lung trên đất nước người, Hồ Chí Minh luôn khẳng định vị trí và tư thếcũa người chiến sĩ cách mạng – người chiến sĩ cách mạng là người có ý thức sâu sắc về vậnmệnh tổ quốc Ta luôn bắt gặp trong thơ Hồ Chí Minh cốt cách ung dung của người chiến sĩcách mạng vượt lên mọi thử thách khó khăn và cao hơn là tư thế của người đại biểu của dântộc trên đất nước người:
Ta là đại biểu dân Việt NamTìm đến Trung Hoa để hội đàm
Ai ngờ đất này gây sóng gióPhải làm “khách quý” tại nhà giam
Trong cảm hứng lớn “Không có gì quý hơn độc lập tự do” Hồ Chí Minh luôn khao khátvươn tới ý chí đấu tranh cho tự do
Tinh thần ở ngòai laoMuốn nên sự nghiệp lớnTinh thần phải càng caoBài thơ hiện lên như một phương châm lớn của hành động, đó là ý chí và tinh thần tự do củangười chiến sĩ cộng sản – những phẩm chất tinh thần không thể có được ở những chiến sĩ vànhân vật anh hùng thuộc hệ tư tưởng của các giai cấp phong kiến và tư sản Trong thơ văn
Hồ Chí Minh tư tưởng yêu nước vẫn là sự kế thừa của tư tưởng nhân nghĩa thế nhưng khôngchỉ đơn thuần chỉ là thương dân mà quan trọng hơn phải làm cho nhân dân được tự do, ấm
no, hạnh phúc Đó là bước phát triển mới trong tư tưởng yêu nước ở giai đọan này
Trên đời nghìn vạn điều cay đắngCay đắng chi bằng mất tự doMất tự do là mất tất cả Từ những nỗi đau khổ chất chứa trong những kiếp người cùng khổcủa năm châu bốn biển, từ nỗi nhục mất nước, từ những đòan người rách rưới, xô đẩy nhautrên con tàu biệt xứ ra đi không biết ngày về Hồ Chí Minh nghĩ đến ý nghĩa của tự do – đó
là lẽ sống cao quý nhất đối với một dân tộc và riêng đối với mỗi cuộc đời “Chúng ta thà hi
Trang 29sinh tất cả chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” Ý thức tự do đượcbiểu hiện trong tư thế của những con người đã làm chủ vận mệnh mình, đang chiến đấu vàchiến thắng với cảm hứng tràn đầy của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong sản xuất vàchiến đấu.
Như vậy, cùng với sự phát triển của lịch sử dân tộc, tư tưởng yêu nước cũng có những bướcphát triển rõ nét từ văn học trung đại cho đến văn học hiện đại Việt Nam Văn thơ yêu nước
là một bộ phận quan trọng có giá trị lớn trong tòan bộ lịch sử văn học dân tộc Nó chứađựng tinh thần dân tộc, nêu cao những đức tính quý báu của các anh hùng liệt sĩ – nhữngngười có lòng yêu nước căm thù giặc một cách sâu sắc luôn luôn vì nước quên mình, sẵnsàng xả thân vì tổ quốc Tư tưởng yêu nước ở mỗi giai đọan thể hiện rõ nét đặc điểm lịch sửcủa giai đọan đó Mặc dù có sự khác nhau ở mỗi thời kì nhưng tựu trung lại nó vẫn là sứcmạnh để nhân dân ta chiến đấu và chiến thắng, là kim chỉ nam dẫn đường cho nhân dân, dântộc Việt Nam đi đến thắng lợi, giành được độc lập tự do, ấm no và hạnh phúc
(Câu này cần làm rõ sự phát triển của chủ nghĩa yêu nước trong văn học Việt Nam từ thời Văn học trung đại đến văn học hiện đại tức là ở mỗi giai đoạn, cần làm rõ điểm mới của chủ nghĩa yêu nước)
CÂU 5: Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1945 đã phát triển theo hướng hiện đại hóa Nguyên nhân và những nội dung cơ bản của sự hiện đại hóa đó So sánh để tìm ra sự khác biệt qua nền văn học đã được hiện đại hóa với nền văn học trung đại trước đó?
Nguyên nhân và nội dung cơ bản của sự hiện đại hóa:
- Dẫn nhập
- Nguyên nhân của sự hiện đại hóa
- Những nội dung cơ bản của sự hiện đại hóa:
+ Giải thích hiện đại hóa là gì?
+ Nội dung của hiện đại hóa:
Giai đoạn 1 (đầu XX – 1920)Giai đoạn 2 (1920 – 1939) chú ý bổ sung trong sgk hiện hànhGiai đoạn 3 (1930 – 1945)
So sánh để tìm ra sự khác biệt giữa nền văn học đã hiện đại hóa và Văn học trung đại
Kẻ bảng so sánh,(xem lại phần của thầy Thi đó….)
Bài làm nè:
Trang 30- Dẫn nhập
- Nguyên nhân văn học Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại hóa
1 Kinh tế - cơ cấu xã hội thay đổi:
Năm 1858, thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược nước ta Sau gần nửa thế kỉbình định quân sự, đến khoảng đầu thế kỉ XX, chúng mới thực sự khai thác thuộc địa vềkinh tế Sau hai cuộc khai thác thuộc địa (lần thứ nhất từ năm 1897 – 1914, lần thứ hai từ
1919 – 1929), cơ cấu xã hội Việt Nam có những biến đổi sâu sắc Một số thành phố côngnghiệp ra đời, đô thị, thị trấn mọc lên nhiều nơi Những giai cấp, tầng lớp xã hội mới xuấthiện: tư sản, tiểu tư sản (viên chức, học sinh, những người buôn bán, sản xuất nhỏ…), côngdân, dân nghèo thành thị…xuất hiện ngày càng đông đảo Một lớp công chúng có đời sốngtinh tầhn và thị hiếu mới đã hình thành, đòi hỏi một thứ văn chương mới
2 Văn hóa
Trong sự thay đổi chung của xã hội, văn hóa Việt Nam thời kỳ này cũng có sự thay đổi Từđầu thế kỉ XX, văn hóa Việt Nam dần dần thoát khỏi ảnh hưởng của phong kiến TrungQuốc, tiếp xúc với văn hóa phương Tây mà chủ yếu là văn hóa Pháp Đây là thời kì “mưa
Âu, gió Mĩ”, “Á – Âu xáo trộn”, cũ và mới giao tranh Chịu ảnh hưởng của văn hóa phươngTây ở cả hai chiều tiến bộ và lạc hậu, nền văn hóa Việt Nam thời kì này đã chuyển biến theohướng hiện đại, từng bước lấn át nền văn hóa cổ truyền phong kiến có bề dày hàng nghìnnăm Một cuộc vận động văn hóa đã được dấy lên, chống lại lễ giáo phong kiến hủ lậu, đòigiải phóng cá nhân
Đến đầu thế kỉ XX, chữ quốc ngữ đã thay thế chữ Hán, chữ Nôm trong nhiều lĩnh vực, từhành chính công vụ tới văn chương nghệ thuật Chữ quốc ngữ được phổ biến rộng rãi đã tạođiều kiện thuận lợi cho công chúng tiếp xúc với sách báo Nhu cầu văn hóa, làm cho nghề
in, nghề xuất bản, nghề làm báo theo kĩ thuật hiện đại phát triển khá mạnh Viết văn cũngtrở thành một nghề kiếm sống tuy rất khó khăn và vất vả Phong trào dịch thuật phát triển,tầng lớp trí thức “Tây học” thay thế lớp trí thức Nho học, đóng vai trò trung tâm trong đờisống văn hóa thời kì này
Tất cả những nhân tố trên đã tạo nên những điều kiện cho sự hình thành nền văn học ViệtNam hiện đại và làm cho nền văn học nước nhà phát triển mạnh mẽ theo hướng hiện đạihóa
- Những nội dung cơ bản của sự hiện đại hóa đó
Hiện đại hóa là gì?
Trang 31Hiện đại hóa được hiểu là quá trình làm cho văn học thoát ra khỏi hệ thống thi pháp văn họctrung đại và đổi mới theo hình thức của văn học phương tây, có thể hội nhập với nền vănhọc hiện đại trên thế giới.
Nội dung hiện đại hóa
Quá trình hiện đại hóa của văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám
1945 đã diễn ra qua ba giai đoạn
a Giai đoạn 1: (Từ đầu thế kỷ XX đến khoảng 1920)
Đây là giai đọan chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho công cuộc hiện đại hóa Việt Nam:Chữ quốc ngữ được phổ biến ngày càng rộng rãi Cùng với báo chí, phong trào dịch thuật
mà chủ yếu là dịch tiểu thuyết cổ điển, “Tân thư’ Trung Quốc, tiểu thuyết Pháp, có tác độngkhá quan trọng tới việc hình thành và phát triển nền văn xuôi quốc ngữ
Từ cuối thế kỉ 19, ở Nam kỳ đã xuất hiện một số sáng tác văn xuôi viết bằng chữ quốc ngữ
Ví dụ: truyện ngắn “Thầy La-za-rô Phiền” (Nguyễn Trọng Quản), được xem là một trongnhững tác phẩm mở đầu cho truyện ngắn hiện đại Việt Nam Đến những năm đầu thế kỷ
XX, nhiều tác phẩm chữ quốc ngữ ra đời Tuy nhiên, phần lớn truyện ngắn, tiểu thuyết viếttheo lối mới ở giai đoạn này còn vụng về, non nớt
Thành tựu chủ yếu của văn học giai đọan này là thơ văn của các chiến sĩ cách mạng: PhanBội Châu, Nguyễn Thượng Hiền, Ngô Đức Kế Mặc dù đã có những đổi mới rõ nét về nộidung, nhưng thể loại, ngôn ngữ, văn tự và thi pháp vẫn thuộc phạm trù văn học trung đại
b Giai đọan 2: (khoảng từ năm 1920 – 1930)
Quá trình hiện đại hóa của văn học đến giai đọan này đã đạt những thành tựu đáng kể Tuynhiên, nhiều yếu tố của văn học trung đại vẫn còn tồn tại ở nội dung và hình thức
Nhiều tác phẩm có giá trị xuất hiện Đó là tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, Hòang NgọcPhách, truyện ngắn của Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Thơ Tản Đà, kịch của Vũ ĐìnhLong, Vi Huyền Đắc…
Song song với quá trình hiện đại hóa của văn học trong nước, truyện kí của Nguyễn ÁiQuốc bằng tiếng Pháp có tính chiến đấu cao và bút pháp hiện đại, điêu luyện
Ở hai giai đoạn đầu này, đặc biệt ở giai đoạn 1, văn học còn bị nhiều ràng buộc, níu kéocủa cái cũ, tạo nên tính giao thời của văn học
c Giai đoạn 3: (khoảng từ 1930 – 1945)
Đến giai đọan này, nền văn học nước nhà đã hòan tất quá trình hiện đại hóa với nhiều cuộccách tân sâu sắc trên mọi thể lọai, đặc biệt là tiểu thuyết, truyện ngắn và thơ
Trang 32Truyện ngắn, tiểu thuyết: được viết theo lối mới, khác xa với cách viết trong văn học cổ, từcách xây dựng nhân vật đến nghệ thuật kể chuyện và ngôn ngữ nghệ thuật.
Thơ ca: đổi mới sâu sắc với phong trào thơ mới “một cuộc cách mạng trong thi ca” trên cảphương diện nghệ thuật lẫn nội dung
Kịch, phóng sự, phê bình văn học: rất phát triển
Hiện đại hóa diễn ra trên mọi mặt của họat động văn học, làm biến đổi toàn diện và sâusắc diện mạo nền văn học Việt Nam, làm cho nền văn học nước nhà thực sự hiện đại, có thểhội nhập vào nền văn học thế giới
- So sánh để tìm ra sự khác biệt giữa nền văn học đã hiện đại hóa với nền văn học trung đại
* Tác giả:
- Lực lượng sáng tác: nhà nho (làm quan, ở
ẩn, tài tử, thầy đồ) thơ dĩ ngôn chí, văn dĩ
tải đạo tác phẩm ít
Đội ngũ nhà văn nhiều tác phẩm nhiều
- Hệ tư tưởng: Nho – Phật – Đạo, tư tưởng
yêu nước + nhân đạo
- (Nho) + tư sản + vô sản – tư tưởng yêu nước – nhân đạo gắn với cách mạng dân tộc
- Trình độ học vấn: rất cần sử dụng
những điển cố, điển tích, thi pháp, thi liệu,
văn liệu từ văn học Trung Quốc + Ấn Độ
hàm súc Người đọc phải có trình độ cao mới
hiểu hết được
- Chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây: Pháp, Hi Lạp, Anh, Nga…Người đọc muốn hiểu cũng không cần trình độ tương đương người viết
* Tác phẩm:
- Chữ viết: Hán, Nôm độc giả ít Chữ quốc ngữ (dễ học, dễ đọc) độc giả
nhiều
- Phương tiện phổ biến: chép tay, học thuộc
lòng, in thạch bản, truyền miệng hiện
tượng tam sao thất bản
- Thi pháp: điển cố, điển tích, tính quý tộc,
cao nhã, hàm súc, ước lệ tượng trưng
mang nét quy phạm, sự miêu tả hạn chế, mơ
* Thể lọai: - Nhiều thể lọai cũ mất đi, chỉ còn thơ nhưng
Trang 33+ Thơ, phú
+ Văn học chức năng: gắn với nhiệm vụ của
nó, có thể gọi là văn học hình thức
Hành chính: cáo, chế, chiếu, biểu
Lễ nghi tôn giáo: kệ
Tang lễ: văn tế (còn được dùng cho người
sống có công lao: “Vãn sinh” – Huỳnh Thúc
Kháng tế Phan Bội Châu, “Văn tế sống vợ”
– Trần Tú Xương)
Kinh nghĩa (bài giải thích một câu nào đó
trong sách họ đã học)
Văn sách: bài thi đình trong đó người làm
phải dẫn tình hình chính trị, xã hội thời bấy
giờ
văn chương được hiểu theo nghĩa rất
rộng Theo các nhà lí luận thì “văn” là vẻ
đẹp (hình thức) còn “chương” là vẻ sáng
(nội dung)
Thời trung đại, văn học chức năng + kinh
nghĩa, văn sách chiếm vị trí hang đầu, còn
tiểu thuyết không được xếp lọai
Phan Bội Châu được xem là một nhà văn lớn
của dân tộc với “Việt Nam vong quốc sử” và
“Phan Bội Châu niên biểu” được xem là tác
phẩm văn học có tính trữ tình + tính hình
tượng
“Hòang Lê nhất thống chí” vừa có tính văn
học vừa có tính lịch sử văn sử bất phân
“Đạo đức kinh” (Lão Tử), “Nam Hoa kinh”
(Trang Tử), đây là hai tác phẩm triết học
cũng là hai tác phẩm văn học văn triết bất
- Có sự xuất hiện của nhiều thể lọai mới, càng ngày càng giống bộ mặt thể lọai văn học thế giới:
+ Tiểu thuyết+ Dịch thuật+ Phóng sự+ Nghiên cứu phê bình+ Kịch, cải lương+ Báo chí (Gia Định báo, Lục tỉnh tân văn, Nông cổ mín đàm, Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, Trung Bắc tân văn, An Nam tạp chí)
Trang 34 hiện tượng “văn-sử-triết” bất phân vì hai
lý do: khái niệm văn chương được hiểu theo
nghĩa rất rộng, trình độ tư duy khoa học
chưa phát triển cao nen chưa phân biệt, tách
bạch đúng
* Công chúng văn học
+ Ít bởi vì phải có một trình độ văn hóa nào
đó mới thưởng thức được tác phẩm
+ Người đọc quyết định sự thành bại của tác
Đà – Hoài Thanh) Giải thích, chứng minh
- Lời dẫn vào câu nói của Hoài Thanh
- Bối cảnh xã hội giao thời (1900-1930)
- Giới thiệu sơ lược về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Tản Đà
- Giải thích câu nói của Hoài Thanh: người của 2 thế kỉ là người như thế nào?tại saoHoài Thanh lại cho Tản Đả là người của hai thế kỉ (câu hỏi này nói sơ qua nếu không
Trang 35những khâu trung gian chuyển tiếp bao hàm trong một phạm trù kép tạm gọi là Văn học cậnđại diễn ra trong khoảng những năm đầu XX (1900 -1930) với diện mạo một giai đoạn vănhọc giao thời Nền văn học giao thời với những đặc điểm, tính chất riêng đòi hỏi cho mìnhmôt đội ngũ nhà văn “vững tay lái”, gánh vác trách nhiệm “chuyển giao thời đại” Các nhànghệ sĩ ngôn từ bằng tài năng, bằng sự nhạy bén, bằng nhiều con đường khác nhau cùng san
sẻ trách nhiệm đó, góp phần vào quá trình đổi mới văn học Và Tản Đà xuất hiện để trởthành con người thời đại tiêu biểu cho bước ngoặt phát triển của lịch sử văn học VN mà nhưHoài Thanh đã nhận xét: “anh chị em ở đây, tuy người sau kẻ trước, nhưng ai nấy đều là conđầu lòng của thế kỉ XX Trên hội Tao Đàn, chỉ tiên sinh là người của hai thế kỉ” (Cungchiêu hồn Tản Đà)
Đầu thế kỉ XX, đất nước Việt Nam bước vào thời kì chia cắt thành 3 kì: Bắc kỳ,trung kỳ và nam kỳ theo các chính sách đô hộ khác nhau: thuộc trị - tự trị - bảo hộ Nhưng
về thực chất, cả 3 kì đều chịu sự thống trị của Pháp Hai cuộc khai thác thuộc địa của Phápđưa đến hậu quả là xã hội VN bị bần cùng hóa cao độ Tình hình kinh tế phức tạp kéo theo
sự biến đổi sâu sắc trong cơ cấu xã hội VN: các giai cấp cũ (địa chủ phong kiến, nông dân)
bị phân hóa mạnh mẽ; các giai cấp tầng lớp mới hình thành: tư sản (tư sản mại bản, tư sảndân tộc) công nhân, tiểu tư sản Mỗi giai cấp, tầng lớp có địa vị và quyền lợi khác nhau nêncũng có những thái độ chính trị khác nhau Về văn hóa, thực dân Pháp thi hành nhiều biệnpháp để tranh thủ tầng lớp trí thức phong kiến thấm nhuần Nho học bằng cách sử dụngnhững thủ đoạn chinh phục khéo léo để có thể đánh lừa những người yêu nước, làm cho họsẵn sàng chấp nhận chế độ bảo hộ với niềm tin thành thật rằng đó là cần thiết và có lợi chodân tộc Thêm vào đó, xung đột cũ – mới diễn ra gay gắt khi hai nền văn hóa Đông – Tâygiao nhau Trong thời đại “chữ nghĩa Tây Tàu”, “gió Âu mưa Á” này, những cái mới củanền văn minh tư sản phương Tây thâm nhập từng ngõ ngách nhỏ nhất của đời sống ở 1 xãhội pk nông nghiệp chịu ảnh hưởng của văn hóa TH hằng bao thế kỷ Ý thức hệ tư sản hìnhthành, mâu thuẫn với ý thức hệ phong kiến Chữ Hán và văn chương cử tử chấm dứt, chữNôm cũng ít được sử dung Đây là thời kì chữ quốc ngữ xác lập vị trí chủ đạo và chữ Nhohàng nghìn năm tồn tại ở đất nước này đang bị dồn đẩy vào bước đường tàn mạt Rõ ràng
“làn sóng văn minh học thuật Âu Tây ầm ầm tràn vào mảnh đất Đông Dương theo tiếngsúng xâm lược của thực dân Pháp làm lay chuyển tới gốc những giá trị cổ truyền, nhữngchiếc rễ của cái cây Khổng học già cỗi đã bắt sâu vào cuộc sống VN hàng bao thế kỷ”.Những biến đổi lớn lao trong đời sống xã hội đem lại cho văn học những vấn đề, đề tài mới
Trang 36và một loạt những thay đôit trong quan niệm văn học, hệ thống thể loại, quan niệm thẩmmỹ Nền văn học mới có tác giả, tác phẩm, công chúng mới, có các phương tiên, phươngthức truyền bá mới (nhà in, nhà xuất bản) Nếu ở chế độ pk, nước ta không có báo chí thìđến giai đoạn này, sách vở và báo chí chữ quốc ngữ ra đời ngày một nhiều hơn, ngày càng
có uy vọng lớn hơn Những “lục tỉnh tân văn” ở trong Nam, “đông dương tạp chí” và nhất là
“nam phong tạp chí” ở ngoài Bắc “thật sự đã mở ra những miền đất hứa khá hấp dẫn chonhững ai muốn được đua tài trên trường văn trận bút” Về thể loại, văn thơ phú lục theotruyền thống văn học phương đông ngự trị nhiều thế kỷ trên văn đàn đến nay suy vong vàđược thay thế bằng thơ, kịch, tiểu thuyết, những thể loại theo truyền thống văn học phươngTây Có thể nói, xã hội Việt Nam trong ba mươi năm đầu của XX đã có những thay đổi lớnlao với một tốc độ nhanh chóng Tất cả những biến đổi về kinh tế, xã hội, văn hóa đều cóảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển của 1 nền văn học mới, nền văn họcmang tính giáo thời Và nó cũng không loại trừ khả năng sản sinh ra những tài năng lớn.Một trong số đó, chính là Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu – tác giả được coi như bản lề nốitiếp giữa hai thời đại thi ca
Tản Đà xuất thân trong một gia đình thuộc dòng dõi quý tộc phong kiến có nhiềungười đỗ đạt và làm quan to nhưng đến cha ông, gia đình bắt đầu suy tàn Cuộc đời của Tản
Đà ba chìm bảy nổi, rày đây mai đó Ông sinh ra và sống trọn vẹn trong thời kỳ đen tối của
xã hội thực dân pk Thêm vào đó, gia đình cũng có cảnh ngộ riêng: cha mất khi ông lên ba.Một năm sau, mẹ trở lại chốn Bình Khang – nơi mà một thời bà đã nổi danh tài sắc, thế làtình mẫu tử bị chia lìa từ đó Ông về sống cùng người anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn TáiTích Ngay từ nhỏ, Tản Đà đã được dạy dỗ theo con đường “văn chương cử nghiệp” Ôngrất sùng bái đạo học Khổng – Mạnh và nuôi mộng nối gót cha anh trên con đường khoahoạn Nhưng dường như ông không bén duyên với con đường thi cử khi mấy lần thi là mấylần thất bại Sau khi người anh cả từ trần, gia đình Tản Đà trở nên túng quẫn “Không làmquan, cũng không muốn làm thấy, Nguyễn Khấc Hiếu mạnh dạn bước hẳn vào một nghềnghiệp mới: làm văn” Những năm tháng lăn lộn với cuộc đời, những trải nghiệm của bảnthân trong công tác làm báo hay là cảm quan nhạy bén vốn có của một tài năng lớn đã khiếncho bút lực của Tản Đà dường như không ngừng nghỉ So với các tác giả đương thời nhưPhan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Huỳnh Thúc Kháng, Tản Đà làngười sáng tác lâu năm nhất Ổng để lại một sự nghiệp văn chương khá đồ sộ với đóng góp
Trang 37ở nhiều lĩnh vực từ thơ ca, văn xuôi đến dịch thuật, báo chí Ngoài ra, ông còn viết tuồnghát, khảo cứu lịch sử, khảo cứu, bình luận văn học.
Trở lại lời đánh giá của Hoài Thanh về Tàn Đà, rõ ràng đó không phải là lời nói đến tuổi đờicủa Tản Đà vắt ngang qua hai thế kỉ mà muốn nhấn mạnh đến sự nghiệp văn chương củaông Thơ ca Tản Đà đã thổi một cơn gió lạ vào văn đàn buổi giao thời, tạo nên một cuộchành trình văn học đầy sáng tạo “Trên hội Tao Đàn, chỉ tiên sinh là người của hai thế kỷ” –trong những áng thơ ca của buổi giao thời này, chỉ riêng Tản Đà là gạch nối cho hai chặngđường văn học Việt Nam Đọc thơ Tản Đà, người ta bắt gặp những nét rất cổ kính, truyềnthống nối tiếp từ những thành tựu của văn học trung đại Bên cạnh đó, lạo có cái gì mềmdẻo, phóng khoáng riêng rất gần với thơ Mới sau này Nói cách khác, tính chất “hai thế kỷ”
là nói đến tính giao thời, quá độ trong thơ Tản Đà Sự giao thời ấy t hực chất là sự tiếp nối,phát huy thơ trung đại và mở đường cho thơ mới xét về cả nội dung và nghệ thuật Tản Đàvới tài văn làm trẻ lại những hình thức cổ truyền và đủ siên năng đi tìm những hình thứcmới đã làm hoàn thành một cuộc bàn giao tốt đẹp Xuân Diệu đã từng nói về Tản Đà nhưthế này: “Từ xưa, hồn thơ Việt nam tù túng trong khuôn khổ của lễ nghi, đạo đức Tản Đàtiên sinh sinh vào hồi giao thời, lúc thơ cổ tàn và thơ kim đang phôi thai Tản Đà bắt đầu ca
lê những điệu mới, đầy rẫy hồn thơ” Ta hãy xem những điệu hồn cổ - kim ấy đã được Tản
Đà cất lên như thế nào qua chính những đặc điểm trong thơ của ông:
Thơ Tản Đà là sự tiếp nối của những đề tài, chủ đề của thơ ca cổ Thời kì văn họctrung đại trước Tản Đà có thể thấy nổi bật những đề tài như: yêu nước, vận mệnh nhândân Tuy nhiên, bên cạnh những chủ đề lớn bao trùm ấy là những chủ đề nhỏ, có tính chấttruyền thống Trong thơ Tản Đà cũng có 1 số chủ đề truyền thống ấy như hành lạc, say,ngông, thiên nhiên
Trong văn học cổ điển phong kiến Việt Nam, tư tưởng hành lạc là 1 nội dung quantrọng và là một biểu hiện nhân sinh quan, một cách sống của đẳng cấp nho sĩ Hưởng lạc cónghĩa là tận hưởng những lạc thú của nhân sinh, của khoái lạc ở đời Hoàn cảnh xã hội ViệtNam lúc bấy giờ đã làm nẩy sinh những cá tính độc đáo Cuộc đời mới bày ra những hìnhthái khác lạ mà con người pk không chấp nhận nổi, ko có sức đuổi kịp, cho nên trong bộphận các nhà Nho có sự phân chia: nhà nho hành đạo, nhà nho ẩn dật, nhà nho tài tử Vớiquan niệm nhà nho tài tử, họ coi tài và tình chứ không phải đạo đức làm nên giá trị conngười Họ chủ trương “nhân sinh thích chí”, bàn chuyện hành lạc Trong thơ xưa thường bắt
Trang 38gặp tư tưởng vui nhạc hưởng lạc của ng kẻ sĩ Họ lấy thơ túi, rượu bầu, cuộc cờ, cung đànlàm thú tiêu khiển:
Khi chén rượu, khi cuộc cờ
Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên” (truyện kiều – Nguyễn Du)
Trong thơ Nguyễn Công Trứ, đề tài nhàn lạc trở thành một chủ đề chính, một triết lý nhânsinh và chiếm số lượng khá lớn Ông kêu gọi mọi người hãy hưởng thụ và cho rằng:
Cuộc hành lạc bao nhiêu là lãi bấy
Nếu không chơi thiệt ấy ai bù (chơi xuân, kẻo hết xuân đi)
Cũng thuộc đẳng cấp nho sĩ và nhà nho tài tử như Nguyễn Công Trứ, Tản Đà cũng khôngthể không mang nhân sinh quan của đẳng cấp mình Cao Bá Quát nhìn hoa mà cảm khái
“hoa lạc, hoa khai, xuân khứ dã”, Nguyễn Khắc Hiếu nhìn hoa mà thấy thời gian trôi quamau, thấy những biến thiên vần chuyển của sự sống để tới tư tưởng hưởng thụ:
Hoa hỡi, hoa hỡi
Khi hoa nụ
Lúc hoa cười
Trời còn cho sống chỉ ăn chơi (hoa rụng)
Tản Đà cũng hô hào hưởng lạc và đến với chủ nghĩa hưởng lạc Thế nhưng, so với quanniệm hành lạc “cầm kì thi tửu” của cổ nhân, lối ăn chơi của Tản Đà có những nét riêng.Trước hết ông coi ăn chơi là thứ chủ nghĩa, một thú ăn chơi
Thú ăn chơi cũng gọi rằng
Mà xem chửa dễ ai bằng thế gian (thú ăn chơi)
Nhưng chơi ở đây là chơi vì sự nghiệp, chơi có lí tưởng
Người đời ai có chơi như tớ
Chơi cứ bằng văn mãi chửa thôi (còn chơi)
Như vậy, sang tác văn chương cũng là một thú chơi của TĐ Đối với TĐ, văn chương là đứacon tinh thần của ng nghệ sĩ, là 1 cách bộc lộ cá tính độc đáo của ông, là phương tiện để ônggiải buồn Vậy, thú ăn chơi của TĐ gồm có những gì? Ông ca ngợi tình yêu, ham đi đây đó
để thưởng thức cảnh đẹp của quê hương đất nước, mê rượu, thích ăn ngon Ông đã làm mộtchuyến đi chơi lên thiên đình, hội ngộ với Tây Thi, chiêu quân, gạ cưới hằng nga, ngắmdương quý phi múa Cũng như các nhà nho ẩn dật, TĐ đi thăm thú nhiều nơi, ông lên HòaBình rồi tới chùa Hương Tích Ông ghé trại Hàng Hoa để giãi buồn:
Có dịp đi chơi buồn giãi buồn
Trang 39Trưa lên hóng mát ngồi ngâm nga (chơi trại hàng hoa)
Ông vui cùng cảnh cầu hàm rồng:
Lại vui cùng núi cùng sông
Người xưa cảnh cũ tương phùng còn lâu (nhớ cảnh cầu hàm rồng)
Ông còn miêu tả cả cảnh sắc, phong vị, sản vật của quê hương đất nước:
Hà tươi cửa biển Tu Ran
Long Xuyên chén mắm, Nghệ An chén cà
Sài Gòn nhớ vị cá tra
Cái xe song mã, ché trà Nhất Thiên
Đa tình con mắt Phú Yên
Hữu tình rau bí ông Quyền Thuận An
Như vậy, thú ăn chơi cảu TĐ thật độc đáo, ông trân trọng và thưởng thức những thú vui vậtchất và tinh thần để làm cho cuộc đời tươi đẹp hơn TĐ cho rằng: “đã làm trai thì phải ănchơi cho đủ mùi, đã làm văn thì phải viết cho đủ lối”
Hưởng lạc của TĐ khác biệt hẳn so với các nhà thơ trước của ông Sống trong xã hội
tư sản, ông thiên về tận hưởng mọi thú vui vật chất tinh thần, tận hưởng những khoái cảm.Tuy nhiên, hưởng lạc cảu TĐ vẫn mang bóng dáng của những cái gì thuộc nền nếp, đạo lí
pk chứ không đến mức sa vào trụy lạc, nhục cảm chủ nghĩa, hủy hoại thể xác và tinh thầnnhư 1 số nhà thơ mới giai đoạn sau này (Vũ hoàng chương, đinh hùng) Hưởng lạc của TĐ
là biết sống một cách có nghệ thuật, đem lại cho cuộc sống 1 giá trị thẩm mĩ
Trong sự hưởng lạc của TĐ thì thú vui cao nhất, lí tưởng nhất là rượu rượu – đó làngười bạn thân thiết của nhà thơ Thi nhân xưa mượn rượu để tiêu sầu, để say quên mình,quên đời Lý Bạch tự nhận:
Ba trăm sáu chục ngày trời
Ngày ngày say bét như đời con nê”
Nguyễn Khuyến thì khẳng đinh đơn giản: “dư tính tố thị tửu “ (tính ta vốn thích rượu) vàngang nhiên chụp tấm ảnh tay nâng chén rượu Còn TĐ thì khẳng định dứt khoát:
Trời đất sinh ra rượu với thơ
Không thơ, không rượu sống như thừa (ngày xuân thơ rượu)
Là một nhà nho, lại là một nhà thơ, TĐ là người có tài tin tưởng ở tài năng của mình nhưngtài năng của ông lại ko đc trọng dụng Muốn thi đỗ ra làm quan nhưng ko đc Muốn làmvăn, viết báo mong “tô bồi lại bức dư đồ” thì lại bị Phạm Quỳnh công kích, muốn đem thi
Trang 40văn ra bán ở chợ đời thì “văn chương hạ giới rẻ như bèo”, rốt cuộc rồi thì nghèo vẫn cứnghèo Vì vậy, TĐ mượn rượu để tiêu sầu, rượu cũng trở thành một cái thú riêng của nhàthơ Khi say rượu cũng là lúc thi hứng thêm nồng:
Rượu say thơ lại khơi nguồn
Nên thơ rượu cũng thêm ngon giọng tình
Rượu thơ mình lại với mình
Khi say quên cả cái hình phù dung (thơ rượu)
Nếu Lý Bạch đã tự nhận say suốt 360 ngày, thì TĐ cho rằng cả đời người một trăm nămkhông mấy lúc say cho nên khi được say thì say khướt, say mãi, say không biết gì nữa, sayđến điên Cái say của TĐ mang màu sắc triết lí Cái say của ông là say ngông, say ngangtàng
Trăm năm thơ túi rượu vò
Ngàn năm thi sĩ tửu đồ là ai? (thơ rượu)
TĐ tự nhận mình là tửu đồ và cho rằng mình sẽ là một “thi sĩ tửu đò” nổi tiếng Dù cuộc đờichỉ ngắn ngủi một trăm năm uống rượu ngâm thơ coi rượu thơ là bầu bạn nhưng tên tuổi sẽtrường tồn cùng năm tháng Một câu hỏi tu từ nhằm khẳng định giá trị bản than, đủ thấy TĐ
ý thức rất cao về mình Có thể nói cái say trong thơ TĐ được thể hiện hết sức phong phú,lắm màu nhiều vẻ Ông say để quên đi nỗi buồn, say để vần thơ chắp cánh, say để trở thànhthánh hiền, say để chứng tỏ bản chất ngang tang nhưng cũng có lúc TĐ say vì thời thế:Thương ai cho bận lòng đây
Cho vơi hũ rượu cho đầy túi thơ
Cảnh đời gió gió mưa mưa
Buồn trông ta phải say sưa đỡ buồn (thơ rượu)
Rõ ràng, khi say tầm tư tưởng vươn cao hơn, mở rộng tâm sự với thế thái nhân tình Cuộcđời bao nhiêu trái ngang khiến cho nhà thơ càng nhìn càng thấy buồn, và say như là phươngthức để quên đi trần gian lắm truân chuyên
Những hưởng lạc, những say cốt yếu chỉ để biểu hiện cái ngông trong bản chất conngười TĐ Ngông – là những hành động khác đời gây nên sự chú ý của số đông, nhữnghành động thường mang tính chất ngang tàng, phóng túng đùa cợt Nó vừa mang tính hàikịch, vừa mang tính bi kịch, nó là sự phủ đinh thực tại, chỉ trích thực tại bằng giễu cợt vàkhinh thường Ngông – là một cách sống, một cách để vượt ra ngoài khuôn khổ của xã hộiđương thời, trở thành một thách thức với xã hội đó Ngông – là một hoạt động tư tưởng: tư