Trong đó, hoạt động dẫn vốn của thị trường tài chính được thể hiện bằng cách người cần vốn và người có vốn trao đổi trực tiếp với nhau: những người cần vốn bán ra thị trường các công cụ
Trang 1Lời mở đầu
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất tới cô giáo – ThS Vũ Thị Nhài đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong thời gian thực hiện bài tiểu luận này
Em cũng xin gửi lời biết ơn đến toàn thể các thầy cô giáo Trường Học viện Chính sách và Phát triển, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa Tài chính- Đầu tư đã truyền đạt những kiến thức quý báu là nền tảng giúp em thực hiện bài tiểu luận này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên Hoàng Văn Hiển
Trang 2Mục lục
Contents
CHƯƠNG I: 4
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 4
1 Khái niệm về thị trường tài chính 4
2 Chức năng của thị trường tài chính 4
3 Vai trò của thị trường tài chính 5
4 Phân loại thị trường tài chính 7
4.1 Dựa vào cách thức huy động vốn trên thị trường tài chính trên cơ sở sử dụng các công cụ tài chính 7
4.2 Dựa vào việc mua bán chứng khoán lần đầu chứng khoán mới và mua bán chứng khoán sau khi phát hành lần đầu 8
4.3 Căn cứ vào bản chất, chức năng và phương thức hoạt động của các chủ thể tài chính và các công cụ tài chính giao dịch trên đó, hệ thống tài chính 8
CHƯƠNG II: 9
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 9
1 Quá trình hình thành và phát triển thị trường tài chính ở Việt Nam 9
2 Thực trạng thị trường tài chính Việt Nam trong thời gian qua 10
2.1 Thực trạng thị trường tài chính Việt Nam năm 2019 10
2.2 Thực trạng thị trường tài chính Việt Nam trong thời gian đại dịch COVID-19 năm 2020 12
3 Đánh giá thị trường tài chính Việt Nam 14
3.1 Đánh giá về kết quả thị trường tài chính Việt Nam thời gian qua 14
3.2 Những hạn chế của thị trường tài chính Việt Nam trong thời gian qua 15
3.3 Nguyên nhân của sự hạn chế thị trường tài chính Việt Nam thời gian qua 16
CHƯƠNG III: 17
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM 17
Trang 31 Định hướng phát triển thị trường tài chính Việt nam trong
giai đoạn 2021 – 2030 17
2 Giải pháp 20
3 Kết Luận 20
Trang 4CHƯƠNG I:
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH.
1. Khái niệm về thị trường tài chính.
Thị trường tài chính là bộ phận dẫn vốn trực tiếp, thực hiện chức năng truyền dẫn vốn giữa các tụ điểm vốn trong hệ thống tài chính Trong đó, hoạt động dẫn vốn của thị trường tài chính được thể hiện bằng cách người cần vốn và người có vốn trao đổi trực tiếp với nhau: những người cần vốn bán ra thị trường các công cụ nợ, các cổ phiếu hoặc thông qua các công cụ tài chính khác còn những người cần vốn sẽ mua các công cụ nợ, các cổ phiếu hay các công cụ tài chính đó
2. Chức năng của thị trường tài chính.
Chức năng đầu tiên, cũng là chức năng quan trọng nhất của thị trường tài chính là khơi thông các nguồn vốn và dẫn vốn để đáp ứng các nhu cầu của nền kinh tế xã hội Để thực hiện được chức năng này, thị trường phải tạo
ra các kênh huy động vốn từ nơi thừa, như: cá nhân, hộ gia đình, các đơn vị kinh tế, tổ chức đoàn thể xã hội, Chính phủ, … ở trong và ngoài nước để chuyển sang các nhà đầu tư thiếu vốn, như: các đơn vị kinh tế, Chính phủ, cá nhân, hộ gia đình, …
Chức năng thứ hai của thị trường tài chính là kích thích tiết kiệm và đầu
tư Thị trường tạo ra sân chơi, để những người có tiền nhàn rỗi có cơ hội đầu
tư như nhau và được tự do tham gia vào thị trường để tìm kiếm những nơi đầu tư có suất sinh lợi cao nhất, tạo thành thói quen tích lũy tiền tệ một cách thường xuyên hơn, là một nguồn đầu vào không thể thiếu của thị trường Nếu thị trường không kích thích được người dân tích lũy và tham gia vào thị trường như là một kênh dẫn vốn cho nền kinh tế thì thị trường đó sẽ không thể hoạt động tốt Đồng thời, nhà đầu tư trên thị trường khi tìm kiếm nguồn vốn tài trợ cho các hoạt động đầu tư phải nhận thức được việc sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất, có hiệu suất sử dụng đồng vốn cao nhất để bảo toàn vốn, sinh lời và tích lũy Chính vì vậy, thị trường tài chính có chức năng nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động của toàn bộ nền kinh tế, kích thích
Trang 5đổi mới, áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến để tăng hiệu quả đầu
tư, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội
Chức năng thứ ba của thị trường tài chính là làm gia tăng tính thanh khoản cho các tài sản tài chính Tính thanh khoản là tính chất dễ dàng chuyển hóa các tài sản tài chính thành tiền mặt và được thực hiện ở thị trường thứ cấp, là thị trường mua bán, giao dịch cổ phiếu và các giấy tờ có giá đã phát hành trên thị trường sơ cấp Tính thanh khoản ở thị trường tài chính càng cao thì càng thu hút nhiều chủ thể tham gia vào thị trường và giúp chủ sở hữu các tài sản tài chính dễ dàng chuyển đổi danh mục đầu tư theo yêu cầu Do đó, mỗi thị trường khác nhau có tính thanh khoản khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển các định chế tài chính của thị trường
ấy Nếu các cơ chế của thị trường thông thoáng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các công cụ tài chính lưu thông thông suốt Ngoài ra, thị trường tài chính còn
có chức năng định giá tài sản tài chính, phân phối vốn trên thị trường theo tín hiệu của thị trường
Tùy thuộc vào các chức năng khác nhau của thị trường cũng như các tiêu chí phân loại khác nhau, thị trường tài chính cũng có nhiều cách phân loại khác nhau Nhưng tựu trung lại, thị trường tài chính thường có ba cách phân loại cơ bản: theo thời hạn, tính chất luân chuyển vốn và theo cơ cấu của thị trường
3. Vai trò của thị trường tài chính.
Vai trò đầu tiên: và cũng là quan trọng nhất của thị trường tài chính là
kênh dẫn vốn từ người tiết kiệm đến người kinh doanh, giúp cho việc chuyển vốn từ người không có cơ hội đầu tư sinh lời đến những người có cơ hội đầu tư sinh lời
Để thực hiện được vai trò này, thị trường phải tạo ra các kênh huy động vốn từ nơi thừa, như: cá nhân, hộ gia đình, các đơn vị kinh tế, tổ chức đoàn thể xã hội, Chính phủ, … ở trong và ngoài nước để chuyển sang các nhà đầu tư thiếu vốn, như: các đơn vị kinh tế, Chính phủ, cá nhân, hộ gia đình… bằng hình thức tài trợ trực tiếp hoặc tài trợ gián tiếp:
Tài trợ trực tiếp:
Người cần vốn phát hành các loại CK lần đầu ( CK khởi thủy) để huy động nguồn vốn nhàn rỗi của người có vốn nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động của mình Ở đây, quan hệ giữa người có vốn và người cần vốn không phải qua bất kì trung gian nào, nguồn tài chính vận động thẳng từ người thừa vốn đến người thiếu vốn trong khi CK vận động theo chiều ngược lại Do đó mà vốn được lưu chuyển nhanh chóng hơn nhiều so với thông qua các tổ chức tài chính trung gian, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của các chủ thể
Tài trợ gián tiếp:
Trang 6Các trung gian tài chính phát hành CK thứ cấp để huy động các nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi của những người có vốn, sau đó mới dùng số tiền này mua lại CK khởi thủy của những người thiếu vốn Ở đây, nguồn tài chính không vận động thẳng từ người thừa vốn sang người thiếu vốn mà phải qua các trung gian nhất định
Vai trò thứ hai: Thị trường tài chính thúc đẩy nâng cao việc sử dụng vốn có
hiệu quả hơn, không chỉ đối với người có tiền đầu tư mà còn cả với người vay tiền để đầu tư
Người cho vay sẽ có lãi thông qua lãi suất cho vay Người đi vay vốn phải tính toán sử dụng vốn vay đó hiệu quả nhất do họ phải hoàn trả cả vốn lẫn lãi cho người cho vay đồng thời phải tạo thu nhập và tích lũy cho chính bản thân mình, bên cạnh đó người cho vay cũng phải cân nhắc, lựa chọn dự án hoạt động hiệu quả cao, an toàn, ít rủi ro với khả năng sinh lãi cao nhất trước khi đầu tư vào đó Chính cái sân chơi với đích đén là đầu tư và tiết kiệm để sinh lời và tích lũy mà TTTC tạo ra, đã kích thích các nhà đầu tư tích cực tính toán trong kinh doanh vì mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận
Với sự linh hoạt của thị trường tài chính, người có tiền nhàn rỗi có nhiều
cơ hội để lựa chọn hình thức và thời điểm đầu tư thích hợp hơn, như: dễ dàng bán các CK đã mua để rút vốn và thực hiện đầu tư vào các CK khác, tức là, có thể lưu chuyển vốn từ nơi kinh doanh kém hiệu quả sang nơi kinh doanh có hiệu quả, tạo ra sự luân chuyển vốn một cách linh hoạt trong nền kinh tế
Vai trò thứ ba:
Thị trường tài chính được hình thành tùy thuộc vào điều kiện chính trị kinh tế -xã hội của mỗi nước nên có những đặc thù riêng ở thị trường của mỗi nước Tuy nhiên, ngày nay với tốc độ tự do hóa toàn cầu, không một thị trường nào có thể phát triển riêng lẻ mà phải có mối liên hệ lẫn nhau Điều đó được thể hiện bằng việc mức độ tự do hóa thị trường tài chính trong nước và mức độ hội nhập vào nền kinh tế thế giới Vì thế mà hiện nay ở hầu hết các nước trên thế giới đều tiến hành cải cách tài chính tiền tệ theo xu hướng tự do hóa tài chính Việc hình thành và phát triển thị trường tài chính của mỗi quốc gia sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho quá trình hội nhập của mỗi quốc gia, mở ra khả năng to lớn cho sự hợp tác và phát triển TTTC sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư mua, bán CK mà không cần phải qua các thủ tục phức tạp và không cần số vốn lớn như các hình thức đầu tư trực tiếp Như vậy TTTC bổ sung thêm hình thức đầu
tư của nước ngoài vào trong nước, tận dụng được nguồn vốn của nước ngoài, cung cấp cho sự phát triển kinh tế xã hội trong nước
Vai trò thứ tư
Trang 7TTTC đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách tài chính – tiền tệ của Nhà nước trong việc điều hoà các hoạt động kinh tế - xã hội
Bằng việc sử dụng các công cụ của TTTC cùng với cơ chế hoạt động của thị trường, Nhà nước có thể thực thi có hiệu quả các chính sách tài chính và tiền tệ như:
Thông qua thực hiện chính sách thị trường mở bằng việc mua, bán chứng khoán của Chính phủ, thay đổi tỉ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu của các NHTM, Nhà nước có thể thực hiện việc điều hành lưu thông tiền tệ
TTTC là nơi Nhà Nước tiến hành vay nợ dân chúng một cách dễ dàng nhất Điều này sẽ giúp Nhà nước giải quyết bội chi NSNN, mà không phải phát hành tiền, từ đó ngăn chặn lạm phát, kiềm chế lạm phát giúp thực hiện cả chính sách tài chính và tiền tệ
4. Phân loại thị trường tài chính.
Dựa vào các tiêu thức khác nhau ta có thể phân loại thị trường tài chính như sau:
4.1 Dựa vào cách thức huy động vốn trên thị trường tài chính trên cơ sở sử dụng các công cụ tài chính
Thị trường nợ.
Trang 8- Công cụ ngắn hạn: Là công cụ nợ có thời gian đáo hạn từ 1 năm trở xuống
- Công cụ nợ trung hạn: là công cụ nợ có thời gian đáo hạn từ 1 năm tới 10 năm
- Công cụ nợ dài hạn: là công cụ nợ có thời gian đáo hạn trên 10 năm
Thị trường cổ phần.
Thị trường cổ phần là thị trường trong đó người cần vốn huy động vốn bằng cách phát hành các cổ phiếu Các cổ phiếu này là quyền được chia phần trên lãi ròng và tài sản của các công ty phát hành cổ phiếu
4.2 Dựa vào việc mua bán chứng khoán lần đầu chứng khoán mới và mua bán chứng khoán sau khi phát hành lần đầu
- Thị trường cấp 1 thị trường sơ cấp: Là thị trường tài chính trong đó những phát hành mới của chứng khoán được tổ chức phát hành bán cho người mua đầu tiên
- Thị trường cấp 2 thị trường thứ cấp: Là thị trường tài chính nơi diễn ra các hoạt động mua bán lại các chứng khoán được phát hành trên thị trường cấp 1
4.3 Căn cứ vào bản chất, chức năng và phương thức hoạt động của các chủ thể tài chính và các công cụ tài chính giao dịch trên đó, hệ thống tài chính.
- Thị trường tiền tệ: Thị trường tiền tệ là thị trường phát hành và mua bán lại các công cụ tài chính ngắn hạn, thông thường dưới 1 năm như tín phiếu kho bạc, khoản vay ngắn hạn giữa các ngân hàng, thoả thuận mua lại, chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu ,
- Thị trường hối đoái: Tương tự như thị trường tiền tệ, thị trường hối đoái
là nơi giao dịch các công cụ tài chính tương đối ngắn hạn, nhưng chúng được định giá bằng các loại đồng tiền khác nhau, và ở thị trường hối đoái cũng chỉ có các giao dịch giữa các đồng tiền khác nhau mới được thực hiện
- Thị trường vốn: Thị trường vốn là thị trường phát hành và mua bán lại các công cụ tài chính có kỳ hạn trên 1 năm hay chính là nơi giải quyết quan hệ cung-cầu về vốn dài hạn
Trang 9CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM THỜI
GIAN QUA.
1 Quá trình hình thành và phát triển thị trường tài chính ở Việt Nam.
Thị trường tài chính là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường, sự xuất hiện và tồn tại của thị trường này xuất phát từ yêu cầu khách quan của việc giải quyết mẫu thuận giữa nhu cầu và khả năng cung ứng vốn lớn trong nền kinh tế Việt Nam đang phát triển Trong nền kinh tế luôn tồn tại hai trạng thái trái ngược nhau giữa một bên là nhu cầu và một bên là khả năng về vốn Mâu thuẫn này ban đầu được giải quyết thông qua hoạt động của ngân hàng với vai trò trung gian trong quan hệ vay mượn giữa người có vốn và người cần vốn Khi kinh tế hàng hóa phát triển cao, nhiều hình thức huy động vốn mới linh hoạt hơn nảy sinh và phát triển, góp phần tốt hơn vào việc giải quyết cân đối giữa cung và cầu về các nguồn lực tài chính trong xã hội, làm xuất hiện các công cụ huy động vốn như trái phiếu, cổ phiếu của các doanh nghiệp, trái phiếu của chính phủ - Đó là những loại giấy tờ có giá trị, gọi chung là các loại chứng khoán Và từ đó xuất hiện nhu cầu mua bán, chuyển nhượng giữa các chủ sở hữu khác nhau các loại chứng khoán Điều này làm xuất hiện một loại thị trường để cân đối cung cầu về vốn trong nền kinh tế là thị trường tài chính Việt Nam
Do đó, cơ sở khách quan cho quá trình hình thành của thị trường tài chính là
sự giải quyết mẫu thuẫn giữa cung và cầu về vốn trong nền kinh tế Việt Nam thông qua các công cụ tài chính đặc biệt là các loại chứng khoán, làm nảy sinh nhu cầu mua bán, chuyển nhượng chứng khoán giữa các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế Chính sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và tiền tệ mà đỉnh cao của nó là kinh tế thị trường làm nảy sinh một loại thị trường mới là thị trường tài chính
Thị trường tài chính hình thành và phát triển gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã làm xuất hiện những chủ thể cần nguồn tài chính và những người có khả năng cung ứng nguồn tài chính Khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì các hoạt động về phát hành và mua bán lại các chứng khoán cũng phát triển, hình thành một thị
Trang 10trường riêng nhằm làm cho cung cầu nguồn tài chính gặp nhau dễ dàng và thuận lợi hơn, đó là thị trường tài chính
Những điều kiện để hình thành thị trường tài chính:
Nền kinh tế hàng hóa phát triển, tiền tệ ổn định, với mức độ lạm phát có thể kiểm soát được
Các công cụ của thị trường tài chính phải đa dạng tạo ra các phương tiện chuyển giao quyền sử dụng các nguồn tài chính
Hình thành và phát triển hệ thống các trung gian tài chính
Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức quản lý nhà nước để giám sát sự hoạt động của thị trường tài chính
Phải tạo cơ sở vật chất kỹ thuật và hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho hoạt động của thị trường tài chính
Cần có đội ngũ các nhà kinh doanh, các nhà quản lý am hiểu thị trường tài chính và phải có đông đảo các nhà đầu tư có kiến thức, dám mạo hiểm trước những rủi ro có thể xảy ra
2 Thực trạng thị trường tài chính Việt Nam trong thời gian qua.
Về kinh tế vĩ mô năm 2019, GDP đã xác lập năm thứ 2 liên tiếp tăng trên 7%
kể từ 2011, với mức tăng 7,02% Lạm phát thấp, kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 500 tỷ USD, doanh nghiệp thành lập mới đạt mức kỷ lục với 138.100 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới kèm tổng số vốn hơn 1,73 triệu tỷ đồng Số lượng doanh nghiệp và vốn mới lần lượt tăng 5,2% và 17,1% so với năm 2018 Ước tính đến cuối năm 2019, cả nước có trên 760.000 doanh nghiệp đang hoạt động so với mục tiêu một triệu doanh nghiệp vào cuối năm 2020 Để khuyến khích sự ra đời và phát triển của các DN mới, Bộ Tài chính đã trình Quốc hội xem xét miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 2 năm liên tục kể từ khi có thu nhập chịu thuế đối với doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ được thành lập mới từ hộ kinh doanh (1) Trong 3 thị trường chính của nền kinh tế gồm: thị trường lao động, thị trường hàng hóa, và TTTC thì riêng TTTC đã có tiềm năng khá lớn, chiếm tới 323% GDP Với quy mô này, TTTC năm 2019 đã phát huy được năng lực phát triển tích cực hơn các năm trước, đóng góp quan trọng trong phát triển nền kinh tế đất nước Trong đó chính sách tiền tệ và chính sách tài