1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tác động của đô thị hóa trong lĩnh vực xã hội ở bình dương những vấn đề thực tiễn

134 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác Động Đô Thị Hóa Trong Lĩnh Vực Xã Hội Ở Bình Dương
Tác giả PGS.TS. Trần Thị Kim Xuyến, ThS. Lê Anh Vũ, ThS. Nguyễn Thị Hồng Thắm, ThS. Mạnh Lê Thị Tuấn, ThS. Phương Hải
Người hướng dẫn PGS.TS. Tôn Nữ Quỳnh Trân
Trường học Trường Đại Học Thủ Dầu Một
Chuyên ngành Nghiên Cứu Đô Thị
Thể loại Báo Cáo Tổng Kết
Năm xuất bản 2019
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 489,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC BẢNGBảng 1 Diện tích, dân số trung bình và mật độ dân số các thành phố, thị xã thuộc mẫu nghiên cứu 2016 Bảng 4 Số cơ sở y tế của tỉnh Bình Dương năm 2016 - phân theo thành phần

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT ' x

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU ĐÔ THỊ VÀ PHÁT TRIỂN

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG

TÁC ĐỘNG ĐÔ THỊ HÓA TRONG LĨNH VựC

XÃ HỘI Ở BÌNH DƯƠNG

Mã số: 04 Thuộc chương trình nghiên cứu: 20 năm đô thị hóa

Bình Dương - Những vấn đề thực tiễn

Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Trần Thị Kim Xuyến

Bình Dương, tháng 12/2019

Trang 2

'TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU ĐÔ THỊ VÀ PHÁT TRIỂN

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG

TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA TRONG LĨNH VựC

XÃ HỘI Ở BÌNH DƯƠNG

Mã số: 04 Thuộc chương trình nghiên cứu: 20 năm đô thị hóa

Trang 3

1 ThS Lê Anh Vũ

2 ThS Nguyễn Thị Hồng Thắm

3 ThS Lê Thị Phương Hải

4 ThS Đỗ Mạnh Tuấn

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v

MỤC LỤC BIỂU ĐỒ vi

MỤC LỤC BẢNG vii

A MỞ ĐẦU viii

1 Tổng quan nghiên cứu 1

1.2 Những vấn đề về mức sống và chất lượng cuộc sống (CLCS) 3

1.3 Những vấn đề về phúc lợi xã hội và an sinh xã hội 9

1.4 Những nghiên cứu về các nhóm cư dân bị tác động bởi quá trình đô thị hóa 16

2 Tính cấp thiết của đề tài 19

3 Mục tiêu 21

4 Cách tiếp cận 21

4.1 Nhóm khái niệm liên quan tới lối sống 22

4.2 Nhóm khái niệm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội và bảo trợ xã hội 26

4.3 Nhóm khái niệm đô thị hóa và tác động của độ thị hóa 29

5 Phương pháp nghiên cứu 33

5.1 Phương pháp phân tích tư liệu sẵn có 34

5.2 Phương pháp điều tra bằng bản hỏi 34

6 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 35

7 Nội dung nghiên cứu 35

B NỘI DUNG 37

CHƯƠNG I: BỐI CẢNH KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH BÌNH DƯƠNG, ĐỊA BÀN VÀ MẪU NGHIÊN CỨU 37

1 Bối cảnh 20 năm phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương 37

1.1 Điều kiện tự nhiên và những biến chuyển kinh tế- xã hội trong 20 năm tại tỉnh Bình Dương 37

1.2 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và mẫu nghiên cứu 45

1.2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 45

1.2.2 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 48

Trang 5

CHƯƠNG II :SỰ TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA TỚI KINH TẾ VÀ

ĐỜI SỐNG XÃ HỘI CỦA CƯ DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG 51

1 Tác động xã hội của quá trình đô thị hóa về phương diện phúc lợi xã hội và an sinh xã hội 5 1 1.1 Chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội của nhà nước Việt Nam 5 1 1.2 Quan điểm về chính sách xã hội, an sinh và phúc lợi xã hội của Đảng ủy và chính quyền Bình Dương 52

1.3 Sự thụ hưởng thành quả của việc thực thi các chính sách về phúc lợi xã hội và an sinh xã hội của cư dân tỉnh Bình Dương 54

2 Tác động xã hội về mức sống và chất lượng sống của cư dân Bình Dương 64

2.1 Sự thay đổi về mức sống dân cư 64

2.2 An sinh xã hội trong lĩnh vực giảm nghèo 66

3 Tác động xã hội về cơ cấu việc làm và nội dung lao động 68

4 Sự động tới các sinh hoạt vật chất trong đời sống hàng ngày 73

4.1 Nhà ở và đồ dùng lâu bền 73

4.2 Cơ cấu chi tiêu cho sinh hoạt hàng ngày 76

4.3 Hoạt động tiêu dùng phục vụ đời sống hàng ngày 79

5 Sự tác động xã hội đến các hìnhthức sinh hoạt văn hóa- tinh thần 8 1 6 Sự tác động xã hội về mạng lướixã hội và hỗ trợ xã hội 89

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97

1 Kết luận 97

2 Kiến nghị 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt

Thuật ngữ Tiếng Việt

Sở LĐTB&XH Sở Lao động thương binh và xã hội

Trang 7

MỤC LỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1 Cơ cấu tổng sản phẩm (GDP) trong các ngành

Biểu đồ 2 Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên tại tỉnh

Bình Dương từ 2011-2016

44Biểu đồ 3 Cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế của tỉnh

Bình Dương năm 1997 và 2015

44

Biểu đồ 4 Dân số trung bình tại thị xã: Thủ dầu Một; Bến

cát; Tân Uyên; Dĩ An và Thuận An

48

Biểu đồ 10 Số lượng các trường mầm non từ 2011 đến 2017 55Biểu đồ 11 Thu nhập bình quân đầu người/tháng của các hộ

Biểu đồ 12 Thu nhập bìnnh quân đầu người của các hộ trong

tỉnh Bình Dương tính theo 5 nhóm thu nhập 66Biểu đồ 13 Tỷ lệ hộ đủ chi tiêu ở thời điểm hiện tại và 10

Biểu đồ 16 Loại hình cơ sở làm việc của người trả lời 72

Biểu đồ 19 Kiểu nhà dự kiến sẽ sở hữu nếu có điều kiện 75Biểu đồ 20 Nơi mua sắm thực phẩm và đồ dùng của các hộ

Trang 8

MỤC LỤC BẢNG

Bảng 1 Diện tích, dân số trung bình và mật độ dân số

các thành phố, thị xã thuộc mẫu nghiên cứu (2016)

Bảng 4 Số cơ sở y tế của tỉnh Bình Dương năm 2016 -

phân theo thành phần kinh tế

59

Bảng 6 Một số chỉ số chăm sóc sức khỏe ở tỉnh Bình

Bảng 7 Đánh giá của người dân về chất lượng phục vụ

Bảng 9 Sự sở hữu đồ dùng lâu bền của các hộ dân tỉnh

Bình Dương

76Bảng 10 Tỷ lệ hộ sử dụng điện, nước sinh hoạt và hố xí

hợp vệ sinh

76

Bảng 11 Mức tiêu dùng một số mặt hàng thiết yếu (bình

Bảng 12 Mức tiêu thụ rượu bia và các loại nước uống

khác tính theo các nhóm thu nhập

79

Bảng 13 Các hoạt động trong thời gian rảnh rỗi của

Bảng 14 Mức độ sử dụng các phương tiện truyền thông

đại chúng

87

Trang 9

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

Đơn vị: Trung tâm Nghiên cứu Đô thị và Phát triển

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Thông tin chung

- Tên đề tài: Tác dộng của đô thị hóa trong lĩnh vực xã hội ở Bình Dương

- Mã số: 04

- Chủ nhiệm: PGS.TS Trần Thị Kim Xuyến

- Đơn vị chủ trì: Trung tâm Nghiên cứu Đô thị và Phát triển

- Thời gian thực hiện: Từ tháng 8 năm 2016 đến tháng 8 năm 2017

2 Mục tiêu

Cuộc khảo sát về sự tác động về mặt xã hội của quá trình đô thị hóa đến lối sống,chất lượng sống và con người Bình Dương được thực hiện nhằm hiểu rõ hơn những đặctrưng trong lối sống và nếp nghĩ của người dân thông qua các dạng hoạt động sống,những vấn đề về phúc lợi và an sinh xã hội, cũng như nhu cầu của họ trong quá trình đôthị hóa, góp phần đưa khía cạnh xã hội - nhân văn vào phát triển và quả lý đô thị, chỉ ranhững hình thức hội nhập cộng đồng và các đóng góp của cộng đồng vào quá trình quyhoạch và hay cải tạo đô thị

3 Tính mới và sáng tạo

Đề tài dựa trên sự tổng hợp các quan điểm nghiên cứu về lối sống, chất lượngsống trong bối cảnh đô thị hóa ở Bình Dương Khi thực hiện đề tài này, các tác giả đã kếthợp với tiếp cận phân tích chính sách nhằm đánh giá hiệu quả của các chính sách xã hội

đã thực hiện ở Bình Dương nhằm đảm bảo phúc lợi và an sinh xã hội cho người dân.Chính vì vậy các kết quả không chỉ dừng lại ở các chỉ số, mà còn thể hiện sự đánh giá củangười dân về các chính sách đó

Các kết quả nghiên cứu không trùng lặp với các nghiên cứu trước đó

4 Kết quả nghiên cứu

Từ cuộc khảo sát, một số phát hiện của đề tài được tóm tắt như sau:

1 Kết quả phân tích chính sách các các văn bản nghị quyết và các kế hoạch kinhtế- xã hội của các giai đoạn kế hoạch 5 năm do Tỉnh ủy, UBND, HĐND tỉnh Bình Dương

ban hành cho thấy các kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội luôn hướng tới mục tiêu “Bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân; tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội” Trong các văn bản, thuật ngữ “chính sách

xã hội” và “an sinh xã hội” thường được sử dụng theo nghĩa rộng, tức là đề cập tới nhữngyếu tố nhằm đảm bảo cho cuộc sống của người dân được đầy đủ, no ấm, thực hiện tốtcông tác xóa đói giảm nghèo cũng như những người có công được hưởng các chính sách

hỗ trợ từ phía nhà nước và cộng đồng Các mục tiêu đặt ra trong chủ trương và chính sáchcủa tỉnh Bình Dương luôn đặt ra các tiêu chí cụ thể Chẳng hạn các tiêu chí của từng lĩnh

Trang 10

vực như: giáo dục, y tế, nhà ở, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, các chính sách trợ giúp xãhội (hỗ trợ những tầng lớp nghèo và khó khăn ) và các chính sách cứu trợ xã hội (cứu trợthiên tai, dịch bệnh )

2 Theo chủ trương của đảng và Chính phủ, Bình Dương coi việc đảm bảo phúclợi xã hội và an sinh xã hội là nghĩa vụ của toàn bộ các hệ thống xã hội, vì vậy các chínhsách của tỉnh đề ra luôn có xu hướng khuyến khích các thành phần kinh tế và các tổ chức

xã hội cùng tham gia cung ứng các thiết chế và các dịch vụ nhằm nâng cao phúc lợi chongười dân Chính chủ trương này và cách quản lý điều tiết của tỉnh mà tình Bình Dương

là một trong những địa phương có nhiều cơ sở y tế, nhà trẻ mẫu giáo, trường học các cấp,

hệ thống giao thông và hệ thống nhà ở xã hội so với các tỉnh ở Nam Bộ nói riêng và trêntoàn quốc, nói chung

3 Đánh giá hiệu quả của việc thực thi chính sách phúc lợi xã hội cũng là mộttrong những yếu tố xác định được sự tác động về mặt xã hội của quá trình phát triền đôthị ở Bình Dương Những kết quả đánh giá từ thực tế cho thấy:

- Về lĩnh vực giáo dục, với chủ trương đa dạng hóa các thành phần kinh tế trongphát triển kinh tế và xã hội, tỉnh đã khuyến khích các tổ chức ngoài nhà nước và tư nhân,

kể cả các cơ sở có yếu tố nước ngoài thành lập các trường mầm non, các trường học cáccấp nhằm phục vụ việc chăm sóc, nuôi dạy và gáo dục trẻ em ngay khi còn nhỏ để ngườilao động yên tâm làm việc Đồng thời, các trường đại học, cao đẳng trung học chuyênnghiệp cũng phát triển nhanh về qui mô, công tác hướng nghiệp, phân luồng học sinh tiếptục thực hiện hiệu quả Chính quyền tỉnh Bình Dương luôn coi vấn đề đào tạo kiến thức

và tay nghề cho người lao động là yếu tố quan trọng trong các chính sách kinh tế- xã hội

Sự gia tăng các trường mầm non và các trường phổ thông, đặc biệt là số lượng trường lớpngoài công lập không chỉ cho thấy nhu cầu về dịch vụ phúc lợi xã hội tăng cao, mà còncho thấy quan điểm và chính sách của chính quyền cũng như khả năng huy động cácnguồn lực của tỉnh Tuy nhiên, cần lưu ý về sự mất cân đối về số lượng trường học ở cácđịa bàn của tỉnh Thành phố Thủ Dầu Một và Tân An là nơi tập trung nhiều trường họchơn Ở các địa phương khác như Bến Cát, Tân Uyên số lượng trường và các lớp học vẫncòn hạn chế so với cơ cấu và mật độ dân cư hiện tại, nhưng trong tương lai, những địabàn này cũng sẽ trở nên các trung tâm công nghiệp, mật độ dân cư sẽ lại càng đông hơn,các địa phương này sẽ cần tính tới việc phát triển thêm trường và các phòng học để đónđầu những con em của các lực lượng lao động tại chỗ và từ các nơi khác tới

- Về lĩnh vực y tế, với chủ trương xã hội hóa y tế và dịch vụ chăm sóc sức khỏecho người dân, Bình Dương đã phát triển hệ thống y tế khá mạnh Toàn tỉnh đã có 23bệnh viện, trong đó có 12 bệnh viện của nhà nước, 10 bệnh viện ngoài nhà nước và 1bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó là hàng chục trạm y tế và hàng trămphòng khám bệnh Số bác sĩ bình quân trên một vạn dân và số giường bệnh bình quân

Trang 11

trên một vạn dân từ ngày càng tăng Các chỉ số về sức khỏe trẻ em càng ngày càng tốthơn Tuy nhiên, số lượng bệnh viện và phòng khám có chất lượng cũng chủ yếu tập trung

ở Thủ Dầu Một (8 bệnh viện) và Thuận An (5 bệnh viện), các địa phương khác, mỗi nơichỉ có hai bệnh viện

- Về lĩnh vực nhà ở, các địa bàn tập trung đông công nhân ở trọ từ trước đến nay

là huyện Dĩ An, Thuận An, thị xã Thủ Dầu Một và gần đây là các huyện Bến Cát, TânUyên Tuy nhiên, số nhà trọ vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu của lực lương lao động nhập

cư Hiểu rõ tình hình, chính quyền tỉnh Bình Dương đã ban hành một số chính sáchkhuyến khích các doanh nghiệp và người dân xây dựng nhà ở cho thuê Các chính sách vềnhà ở cho người nghèo ở Bình Dương là điểm sáng trên cả nước, được các tỉnh thànhtrong cả nước muốn học tập, tuy nhiên nhu cầu sở hữu nhà ở của người có thu nhập thấpvẫn còn đưa được đáp ứng hoàn toàn Ở nhiều quốc gia, người lao động có thu nhập thấpthường có xu hướng thuê nhà để ở, nhưng ở Việt nam, tâm lý “an cư mới lạc nghiệp” đãkhiến cho nhiều người vẫn có nhu cầu sở hữu một căn nhà, dù rất nhỏ Đây cũng chính làthách thức lớn đối với chính quyền tỉnh Bình Dương, khi tỉnh nhà đang cố gắng phấn đấutrở thành đô thị trực thuộc Trung ương trước năm 2020

- Về lĩnh vực bảo hiểm xã hội, mặc dù các quan điểm quản lý và chính sách củachính quyền tình đã thể hiện sự nỗ lực trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội cho ngườidân, tuy nhiên, các nhóm dân cư không hoàn toàn giống nhau về mức sống, về cơ hội.Những người lao động trong các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài và các doanh nghiệpnhà nước được ký hợp đồng làm việc và đóng bảo hiểm xã hội, nhưng một số nhómngười lao động nhập cư làm cho các doanh nghiệp nhỏ hay tổ chức tư nhân thường khôngđược giới chủ thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ này, dẫn tới thiệt thòi cho người lao động.Bên cạnh đó, nhận thức của một số lao động, nhất là lao động nhập cư còn hạn chế nênchưa hiểu rõ về quyền lợi của mình để đấu tranh với giới chủ

- Về mặt an sinh xã hội, những lĩnh vực ưu tiên phát triển là các chương trìnhmục tiêu quốc gia về về xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, phụng dưỡng Mẹ ViệtNam Anh hùng, xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, chương trình bảo trợ bệnhnhân nghèo; chăm lo cho công nhân, người lao động Bên cạnh đó, xây dựng nhà ở xã hội

là một trong những chương trình an sinh xã hội giúp người có thu nhập thấp, công nhân

có thể sở hữu nhà ở để “an cư lạc nghiệp” Việc thực hiện những chính sách liên quan tớigiáo dục và đào tạo và y tế, chăm sóc sức khỏe cho người dân đã thu được nhiều kết quảtốt đẹp Mặc dù vậy những người nhập cư là một trong những nhóm dễ bị tổn thương vẫnchưa được quan tâm thỏa đáng, do không có hộ khẩu nên trên thực tế, số người được tiếpcận với các chính sách này vẫn còn hạn chế

4 Bình Dương là một trong những địa phương có tốc độ phát triển đô thị hóanhanh ở Việt Nam Với mục tiêu xây dựng Bình Dương trở thành đô thị loại I, thành phố

Trang 12

trực thuộc trung ương trước năm 2020, địa bàn phân bố dân số đô thị của Bình Dươngkhông ngừng được mở rộng Từ chỗ chủ yếu tập trung ở Thủ Dầu Một, trong hơn mộtthập niên gần đây, dưới tác động quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, dân số đô thịBình Dương tăng trưởng theo hai phương thức: dày đặc hóa ở khu vực các huyện, thị phíaNam và lan dần đến khu vực các huyện phía Bắc Tuy nhiên, sự phân bố khu vực côngnghiệp hóa và đô thị hóa lại không đồng đều dẫn tới sự mất cân đối trong cơ cấu dân sốnông thôn và đô thị Ở phía Nam của tỉnh, tập trung nhiều khu công nghiệp thường có dân

số đô thị đông, mật độ dân cư dày Trong khi đó, khu vực phía Bắc của tỉnh chưa có nhiềukhu công nghiệp nên việc phân bố lực lượng lao động trong lĩnh vực công nghiệp và dịch

- Kết quả phân tích cơ cấu việc làm của người lao động phản ánh đúng với một

cơ cơ cấu các ngành sản xuất của tỉnh Sự chuyển dịch đang đi theo hướng giảm tỷ lệ cácngành nghề nông nghiệp, tăng dần sản xuất công nghiệp với trình độ cao và phát triềnmạnh mẽ lĩnh vực dịch vụ Tuy nhiên, nếu xét theo trình độ chuyên môn, thì những ngườitham gia vào các công việc sản xuất hiện tại lại có tỷ lệ người không có tay nghề khá cao.Nhóm người lao động có tay nghề cao thường là những người làm công chức, chủ doanhnghiệp hay cơ sở sản xuất Nhóm này chỉ chiếm 1/5 trên toàn mẫu khảo sát Khắc phụctình trạng đó, hiện nay, chính quyền tỉnh Bình Dương đã có rất nhiều chính sách để thuhút những người có trình độ chuyên môn cao về làm việc và có chính sách khuyến khíchngười dân của mình tham gia vào các trường đào tạo nghề, trường cao đẳng và đại học.Nhiều sinh viên, sau khi tốt nghiệp đã được ưu tiên nhận vào hệ thống hành chánh và các

cơ quan, xí nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh

- Với các loại hình công việc và nơi làm việc đa dạng, người lao động BìnhDương có thu nhập bình quân trong một tháng khá khác biệt Nhóm có thu nhập thấp nhất(từ 5 triệu trở xuống) lại là nhóm đông nhất Nhóm có thu nhập khá hơn (từ trên 5 triệuđến 10 triệu) chiếm 1/3 Nhóm thu nhập từ 10-15 triệu và từ 15 triệu trở lên chiếm 2/10nhóm khảo sát So với thu nhập của người lao động các tỉnh, tỷ lệ này cao hơn nhiều

Trang 13

6 Những kết quả đánh giá tác động xã hội về mức sống và chất lượng sống của

cư dân Bình Dương phản ánh một số đặc trưng sau:

- Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo chủ trương của chính quyền cấp tỉnh đã tácđộng khá mạnh mẽ tới cơ cấu lao động trong các ngành nghề Cùng với sự chuyển đổinghề nghiệp, cách thức lao động sản xuất, thu nhập, mức sống và chất lượng sống của cácnhóm dân cư cũng thay đổi; tiếp theo đó là sự thay đổi về cách sinh hoạt vật chất và tinhthần cũng như các hoạt động cộng đồng của họ Kết quả nghiên cứu cho thấy, BìnhDương là tỉnh có mức sống dân cư cao so với cả nước và so với khu vực Nam Bộ Đồngthời, mức sống của người dân tính theo thu nhập bình quân đầu người/tháng ngày càngtăng theo các năm Tuy nhiên, cần lưu ý là khoảng chênh lệch giữa các nhóm thu nhập ởnông thôn và thành thị là khá lớn và mức thu nhập bình quân đầu người chung của thống

kê toàn tỉnh càng cao thì khoảng cách thu nhập giữa người dân nông thôn và đô thị cànglớn Bên cạnh đó, sự gia tăng thu nhập trong tiến trình phát triển của Bình Dương khôngnhững rất khác biệt giữa nhóm cư dân đô thị và nông thôn, mà còn thể hiện sự phân hóagiàu nghèo trong xã hội Chính vì mức sống không giống nhau, dẫn đến các cơ hội tiếpcận với dịch vụ phúc lợi xã hội cũng không như nhau, vì vậy các chính sách phúc lợi xãhội và an sinh cũng như hỗ trợ xã hội của tỉnh cần được quan tâm kể cả về phương diệnchính sách lẫn hệ thống thực thi chính sách của tỉnh Đây cũng là quy luật chung của pháttriển đô thị, nhưng chính quyền cần nắm được để đưa ra các chính sách phúc lợi và ansinh xã hội cho hợp lý với từng nhóm xã hội

- Cùng với việc nâng cao mức sống cho người dân nói chung, tỉnh Bình Dương

đã là địa phương đi đầu trong số các tình xóa nghèo theo tiêu chuẩn quốc gia Từ năm

2010 đến nay, Bình Dương cơ bản không còn hộ nghèo theo tiêu chí Trung ương TỉnhBình Dương cũng là một trong các tỉnh, thành sớm nâng mức chuẩn nghèo cao hơn so vớichuẩn nghèo do Chính phủ quy định Mặc dù vậy, các tiêu chí để đánh giá ngưỡng nghèovẫn còn thiên về đánh giá nghèo theo thu nhập Trong tương lai cần nghiên cứu và ápdụng cách tính chuẩn nghèo đa chiều để phù hợp với cách tính chuẩn nghèo Quốc tế và cóhiệu quả hơn cho người nghèo

7 Những biểu hiện tác động của quá trình đô thị hóa lên lối sinh hoạt vật chất của

cư dân Bình Dương:

- Quá trình đô thị hóa ở Bình Dương ảnh hưởng khá nhiều tới mô hình nhà ở củangười dân, theo đó các loại nhà truyền thống như nhà chữ đinh, nhà chữ nhị, nhà ba gianhai chái, đang dần hiếm đi, thay vào đó là loại hình nhà ống, nhà mái bằng Đối vớinhưng gia đình khá giả, nhà villa là một lựa chọn ưu tiên Trong tương lai, loại hình nhàống sẽ được người dân lựa chọn nhiều hơn so với các loại hình nhà ở khác, đồng thời, dốivới những người khá giả, nhà villa là loại hình lựa chọn nhiều hơn

- Hầu hết các hộ gia đình ở Bình Dương đều có đủ điện và nước sạch phục vụ

Trang 14

sinh hoạt Về cơ bản, các trang thiết bị phục vụ cho sinh hoạt được trang bị khá đầy đủ.

- Nếp sinh hoạt trong ẩm thực và trong cơ cấu tiêu dùng lương thực- thực phẩmcủa người dân Bình Dương có xu hướng đa dạng hóa, khác hẳn với cách tiêu dùng truyềnthống là chỉ tập trung vào gạo và thịt Sự phong phú trong tiêu dùng lương thực và thựcphẩm có mối liên hệ với sự gia tăng mức sống dân cư, nó phản ánh một trong những đặcđiểm trong sinh hoạt ẩm thực của người Bình Dương Bên cạnh đó, theo thời gian, mứctiêu thụ bia rượu và các loại nước uống công nghiệp khác cũng tăng theo Càng khá giả,các hộ gia đình càng có xu hướng tiêu thụ nhiều bia rượu và các thứ nước giải khát đóngchai khác Nét sinh hoạt này là đặc trưng của lối sống đô thị, nhưng nay cũng đã lan tỏasang cả khu vực nông thôn

- Để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, người Bình Dương thường tìm tới các cửahàng bán lẻ và siêu thị, còn khi mua lương thực - thực phẩm, họ vẫn chọn chợ là chính, íthơn là siêu thị, các cửa hàng bán lẻ, thậm chí có thể cả ở vỉa hè, dù không thường lắm

8 Từ những kết quả nghiên cứu về các hoạt động văn hóa tình thần, có thể rút ravài điểm sau:

- Trong các dạng hoạt động văn hóa tinh thần của cư dân Bình Dương, coi tivi vàlên mạng internet là hai hình thức giải trí và cũng là hai phương tiện truyền thông đạichúng được người dân thực hiện thường xuyên nhất Các dạng hoạt động này được coi làdạng họat động thụ động, trong khi đó các hoạt động mang tính tích cực hơn như chơi thểthao, đi du lịch hay ra công viên thì lại ít được người dân Bình Dương lựa chọn hơn Điềuđáng lưu ý là những người nhập cư lại tham gia các hoạt động ngoài trời như đi công viênhay du lịch nhiều hơn so với 10 năm trước và cũng nhiều hơn so với nhóm tại tại chỗ tạithời điểm khảo sát do họ tham gia các hoạt động đó tại các công ty, nơi họ làm việc

- Các chương trình truyền hình mà người dân ham thích là tin tức và phim truyện,các chương trình khác tuy có tỷ lệ quan tâm thấp hơn nhưng cũng được quan tâm là cácthể loại sân khấu và thể thao Tuy nhiên cần lưu ý là các chương trình liên quan tới việc

mở mang kiến thức khoa học kĩ thuật thì lại ít được họ quan tâm hơn

- Trong quỹ thời gian của mình, người dân đô thị phải diành quá nhiều cho hoạtđộng tạo thu nhập, thời gian ngoài giờ làm việc bị rút ngắn lại, thêm vào đó, để tiện choviệc vừa nghỉ ngơi vừa giải trí họ lại chọn các hoạt động thụ động gói gọn trong gia đình,chính vì vậy các hoạt động giao tiếp với hàng xóm, với người thân và bạn bè cũng đã bịthu hẹp lại Những người nhập cư ít có điều kiện thăm viếng người thân hơn so với ngườidân tại chỗ và so với thời gian 10 năm trước của họ Họ chỉ được về quê hương vào dịp lễTết hoặc khi có dịp đặc biệt nào đó Những mối tương giao của họ thường gắn với nhữngngười đồng hương và đồng nghiệp hơn là với hàng xóm

9 Kết quả phân tích về sự hỗ trợ xã hội trong mạng lưới xã hội của người dânBình Dương cho thấy:

Trang 15

- Hệ thống mạng lưới xã hội được xây dựng dựa trên mối quan hệ tương hỗ lànhững yếu tố giúp đỡ nhiều cho cư dân Bình Dương, đặc biệt là nhóm người nhập cư.Yếu tố quan trọng nhất chính là những người thân trong gia đình và dòng họ của họ Khigặp khó khăn về tài chính, khi ốm đau, bệnh tật hay cần chăm sóc con cái để đảm bảongày công thì gia đình- dòng họ là nơi đầu tiên người lao động nhờ đến đầu tiên Đây còn

là nơi để chia sẻ những vui buồn và áp lực của cuộc sống tạo thêm động lực về mặt tinhthần cho người lao động giữa cuộc mưu sinh

- Yếu tố quan trọng thứ hai mà người dân nhận định, đó chính là hàng xóm lánggiềng Tuy mức độ giao tiếp với hàng xóm theo thời gian có giảm đi nhưng cư dân BìnhDương vẫn coi “bán họ hàng xa, mua láng giềng gần” là phương châm sống quan trọng

do họ hiểu khi “tối lửa tắt đèn” có thể hỗ trợ lẫn nhau vì “nước xa không cứu được lửagần” Nếp sống này bắt nguồn từ xã hội nông nghiệp, nhưng cho đến ngày nay, trong bốicảnh đô thị hóa, vẫn còn nguyên giá trị Tuy nhiên, theo thời gian, sự giao tiếp với họhàng, người thân của cư dân Bình Dương, đặc biệt là người người nhập cư đã giảm đi rấtnhiều do phải sống cách biệt với mạng lưới dòng họ ở quê nhà, khiến họ khó tiếp cận vớicủa mạng lưới đó và nhận sự hỗ trợ Điều này phản ánh sự tác động của quá trình đô thịhóa ở Bình Dương lên mối quan hệ trong mạng lưới thân tộc, làm ảnh hưởng phần nào tới

sự hỗ trợ xã hội từ nguồn này

- Kết quả cũng phản ánh một điểm quan trọng khác, đó là mạng lưới xã hội củacon người trong xã hội hiện đại như tổ chức chính quyền cấp cơ sở, đoàn thể, các nhómđồng nghiệp, bạn bè tuy không phát huy vai trò một cách mạnh mẽ như yếu tố “bà condòng họ” và “người hàng xóm”, nhưng dưới tác động của đô thị hóa, chúng lại lại trở nênquan trọng hơn đối với người dân so với thời gian trước Đây chính là yếu tố cần đượckhai thác nhằm điều chỉnh các nội dung và các phương pháp hỗ trợ xã hội cho người laođộng Điều này cho thấy tầm quan trọng của quan điểm về nâng cao ý nghĩa và vai trò củacác tổ chức xã hội dân sự và nhân viên cộng tác xã hội và tác viên cộng đồng

Từ những phát hiện đã nêu, chúng tôi xin đưa ra một số khuyến nghị sau:

1 Sự tăng trưởng về kinh tế tạo ra sự thịnh vượng chung cho xã hội, mức sốngcủa người dân được nâng lên, tuy nhiên cùng với nó là nhiều hệ quả không tránh khỏi.Khoảng cách giàu nghèo trong xã hội như một chỉ báo của sự bất bình đẳng, khoảng cách

về sự thụ hưởng các phúc lợi xã hội của các nhóm cư dân khác nhau là những ví dụ điểnhình mà các nhà quản lý cần lưu ý để đưa ra các giải pháp nhằm giảm thiểu những yếu tốgây ra những hệ quả của sự phát triển

2 Mặc dù hệ thống đảm bảo phúc lợi xã hội về y tế, giáo dục và nhà ở của BìnhDương đã đạt được nhiều thành tựu, tuy nhiên sự phân bố các điều kiện vật chất và conngười của các tiểu hệ thống này vẫn chưa hoàn toàn hợp lý Các thị xã mới được hìnhthành trong tương lai sẽ là những nơi tập trung đông dân cư hơn, đặc biệt là nguồn lao

Trang 16

động nhập cư Chính vì vậy, cần có những kế hoạch đón đầu để đáp ứng nhu cầu về mọimặt nhằm đảm bảo chất lượng cuộc sống cho người lao động và gia đình họ, không chỉ vềnhà ở, giao dục y tế mà cả không gian xã hội cho các hoạt động vui chơi giải trí và sinhhoạt cộng đồng.

3 Hệ thống phúc lợi xã hội và an sinh xã hội nên dựa trên cả ba trụ cột: nhànước, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội dân sự cùng mang lưới quan hệ xã hội như giađình dòng họ, hàng xóm láng giềng, bạn bè và đồng nghiệp Vì vậy, một mặt cần có cácchính sách hỗ trợ và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chịu cung ứng và đảm bảo cácyếu tố của các tiểu hệ thống phúc lợi xã hội cho người lao động và gia đình họ Có cácbiện pháp tăng cường vai trò của các tổ chức xã hội dân sự để họ hoạt động hiệu quả hơn.Trong đó, bên cạnh việc tạo điều kiện về cơ sở vật chất và cơ chế hoạt động cho các tổchức này theo nguyên tắc tự chủ, cần xây dựng đội ngũ cộng tác viên cộng đồng và nhânviên công tác xã hội và tổ chức các lớp tập huấn nâng cao các kiến thức và kỹ năng cho

họ Cuối cùng, có các biện pháp tuyên truyền nhằm thay đổi nhận thức của người dân,nhất là người nhập cư về vai trò của hoạt động cộng đồng, nhằm tăng cường tính tích cựcchính trị- xã hội cho họ và tận dụng sự hỗ trợ xã hội của các mối quan hệ từ các hoạt độngđó

4 Về lĩnh vực bảo hiểm xã hội, các chính sách nên được quy định cụ thể hơn vớitừng nhóm đối tượng, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương Bên cạnh đó, việc kiểm tra,giám sát quá trình thực hiện trong thực tế cần được hệ thống thực thi và các nhà quản lýquan tâm hơn

5 Bên cạnh nhóm người nghèo, những nhóm yếu thế khác, những người nhập cưcần được quan tâm hơn trong tình hình hiện nay Dù lí do tới lao động và làm việc xuấtphát từ lực đẩy do thiếu công ăn việc làm ở địa phương và yếu tố gia đình của họ, nhưng

sự có mặt và công sức của họ đã góp phần không nhỏ cho việc chuyển đổi kinh tế xã hội

và tăng trưởng của Bình Dương trong nhiều năm trở lại đây Với chủ trương xã hội hóadịch vụ công, các tiểu hệ thống phúc lợi xã hội như: nhà ở, y tế, giáo dục có xu hướng tưnhân hóa các dịch vụ phúc lợi xã hội ở Bình Dương trở nên nổi trội Vấn đề ăn ở củangười nhập cư và con cái của họ thiếu hẳn sự hỗ trợ, khi mà họ phải dựa vào cơ sở vậtchất và tầng ơ sở của địa phương (bệnh viện, cơ cở giáo dục các cấp, ý tế, nhà ở v.v )khiến cho các yếu tố này trở nên quá tải Chính những điều này dẫn tới quan

Trang 17

6.điểm kỳ thị với người nhập cư, khi nghĩ rằng, ngườinhập cư là nguyên nhân làm cho khả năng tiếp cận với cácnguồn cung ứng các tiểu hệ thống phúc lợi của họ bị giảm đi.

5 Sản phẩm

Báo cáo kết quả nghiên cứu và báo cáo dữ liệu khảo sát.

6 Hiệu quả, phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và khả năng

Trang 18

INFORMATION ON RESEARCH RESULTS

1 General information

- Project title: Impact of urbanization in the social field in Binh Duong

- Code number: 04

- Coordinator: Prof.Dr Tran Thi Kim Xuyen

- Implementing institution: Center For Urban & Development Studies

- Duration: From August 2016 to August 2017

2 Objective(s)

The survey on the social impact of urbanization on the lifestyle, quality of lifeand people of Binh Duong was conducted to better understand the characteristics ofpeople's lifestyles and mindsets through types of living activities, welfare and socialsecurity issues, as well as their needs in the process of urbanization, contributing tobringing the social - human aspect into urban development and management, point outthe types of community integration and its contributions to urban planning andimprovement

3 Creativeness and innovativeness

The thesis is based on the synthesis of research perspectives on lifestyle andquality of life in the context of urbanization in Binh Duong When implementing thisproject, the authors combined with a policy analysis approach to evaluate theeffectiveness of social policies implemented in Binh Duong to ensure welfare and socialsecurity for people Therefore, the results do not just stop at indicators, but also showpeople's appreciation of those policies

The research results do not overlap with previous studies

4 Research results

From the survey, some findings of the topic are summarized as follows:

1 The results of the policy analysis of the resolutions and socio-economic plans

of the 5-year plan periods promulgated by the Provincial Party Committee, People'sCommittee and People's Council of Binh Duong province show development plans.Socio-economy always aims at "Ensuring social security, improving people's lives;strengthening national defense - security, political stability, social order and safety ” Inthe text, the terms "social policy" and "social security" are often used in a broad sense, iereferring to the factors to ensure the life of the people to be full and full Warmly, wellimplementing the work of hunger eradication and poverty reduction as well as peoplewith meritorious services are entitled to support policies from the state and community.The goals set in the policies and policies of Binh Duong province always set specificcriteria For example, the criteria of each field such as education, health, housing, socialinsurance, health insurance, social assistance policies (support for the poor and difficult

Trang 19

classes ) and social relief policies (relief of natural disasters, epidemics )

2 According to the policy of the Party and the Government, Binh Duongconsiders social security and social security to be an obligation of all social systems, sothe provincial policies are always in place to encourage economic sectors and socialorganizations to participate in the provision of institutions and services to improve thewell-being of the people It is this policy and the regulation of the province that BinhDuong province is one of the localities with many health facilities, kindergartens, schools

at all levels, transportation systems and social housing systems compared with otherprovinces in the South in particular and nationwide, in general

3 Evaluating the effectiveness of the implementation of social welfare policies isalso one of the factors determining the social impact of urban development process inBinh Duong

4 Binh Duong is one of the localities with rapid urbanization development inVietnam With the goal of building Binh Duong to become a first-class city and a citydirectly under the central government before 2020, the area of urban populationdistribution of Binh Duong is constantly expanding From being mainly concentrated inThu Dau Mot, over the past decade, under the impact of industrialization andurbanization, the urban population of Binh Duong has grown in two ways: dense in thearea Southern districts and towns and gradually spread to northern districts However,the distribution of industrialized and urbanized areas is uneven, leading to an imbalance

in the rural and urban population structure In the south of the province, many industrialzones are concentrated, with a dense urban population and dense population Meanwhile,there are not many industrial zones in the Northern region of the province, so thedistribution of labor force in industry and service sectors is not high

5 The findings on the structure of the labor force, the skill level and income ofemployees

6 The results of the social impact assessment of the living standards and quality

of life of Binh Duong residents

7 Expressions of the impact of the urbanization process on the material lifestyles

of the residents of Binh Duong:

- The process of urbanization in Binh Duong has a lot of influence on the housingmodel of the people, according to which traditional houses such as the dinh house, thesecond house, the three-winged house with two wings, are gradually becoming rare intothat is the type of tube house, flat roof For wealthy families, a villa is a preferred option

In the future, the type of tube house will be more popular than other types of housing,and at the same time, for the better-off, the villa is the more option

- Most households in Binh Duong have enough electricity and clean water fordaily life Basically, the equipment for living is quite fully equipped

Trang 20

- The way of living in food and in the structure of food and food consumption ofpeople in Binh Duong tends to diversify, different from the traditional way of consumingonly focusing on rice and meat The abundance of food and food consumption is linked

to the increase in the living standards of the population, which reflects one of thecharacteristics in the culinary activities of the Binh Duong people Besides, over time,consumption of alcohol and other industrial drinks also increased The better off, themore households tend to consume alcohol and other bottled beverages This activity ischaracteristic of urban lifestyle, but has now spread to the rural area as well

- To cater to living needs, Binh Duong people often go to retail stores andsupermarkets, and when buying food and food, they still choose the main market, lessthan supermarkets and shops retail, maybe even on the sidewalk, though not very often

8 From the results of research on mental and cultural activities, several pointscan be drawn:

- In the cultural and spiritual activities of the people of Binh Duong, watchingtelevision and internet are the two forms of entertainment and also the two most popularmeans of mass media These types of activities are considered passive activities, whilemore active activities such as playing sports, traveling or going to the park are lesschosen by the people of Binh Duong It is worth noting that immigrants are more active

in outdoor activities such as going to the park or traveling than they were 10 years agoand more than the local group at the time of their survey those activities at companieswhere they work

- The television programs that people are interested in are news and feature films,while other programs with lower interest rates are also interested in theater and sportsgenres However, it should be noted that programs related to the development ofscientific and technical knowledge are of less interest to them

- In their time fund, urban people have to move too much for income generatingactivities, the time out of working hours is shortened, in addition, to facilitate both restingand entertaining them again choose passive activities encapsulated in the family, so theactivities of communicating with neighbors, with relatives and friends have also beennarrowed Migrants are less likely to visit relatives than local residents and compared totheir previous 10 years They are only allowed to return to their homeland for Tet orwhen there are special occasions Their relationships are more often associated withfellow countrymen and colleagues than with neighbors

9 Analytical results of social support in the social network of people in BinhDuong show that:

- Social network system built on mutual relationship are factors that help a lot forBinh Duong residents, especially immigrant group The most important factor is thefamily members and their lineages When facing financial difficulties, when they are

Trang 21

sick, sick or need to take care of their children to ensure their working day, the family the lineage is the first place the employee asks for first This is also a place to share thejoys, sorrows and pressures of life, creating more spiritual motivation for workers in themidst of a living.

The second important factor that people identify, is the neighbors Although thelevel of communication with neighbors has decreased, Binh Duong residents stillconsider “selling distant relatives and buying close neighbors” an important life guidelinebecause they understand that when “dark lights turn off the lights” can support each otherbecause "the distant country cannot save the near fire" This way of life originated inagricultural society, but to this day, in the context of urbanization, still has its value.However, over time, the contact with relatives and relatives of residents of Binh Duong,especially immigrants, has been greatly reduced by living separately from the familynetwork in their homeland, making them hard to reach that network and get support Thisreflects the impact of the urbanization process in Binh Duong on the relationship in thekinship network, partly affecting the social support from this source

- The results also reflect another important point, that is, the social network ofpeople in modern society such as grassroots government organizations, unions, peergroups, friends but not promoting the role strong role as "relatives" and "neighbors", butunder the impact of urbanization, they have become more important for people thanbefore This is the factor that needs to be exploited to adjust the content and methods ofsocial support for workers This shows the importance of the viewpoint on improving themeaning and role of civil society organizations and social workers and communityworkers

From the above findings, we offer the following recommendations:

1 Economic growth creates a common prosperity for the society, people's livingstandards are raised, but with it are many inevitable consequences The gap between therich and the poor in society as an indicator of inequality, the distance about theenjoyment of social welfare of different groups of residents are typical examples thatmanagers need to pay attention to propose solutions to minimize the factors that causethe consequences of development

2 Although Binh Duong's system of social security for health, education andhousing has achieved many achievements, the distribution of physical and humanconditions of these sub-systems still not entirely reasonable Newly formed towns in thefuture will be more densely populated places, especially migrant labor Therefore, thereshould be proactive plans to meet the needs in all aspects to ensure the quality of life forworkers and their families, not only for housing, health care but also for the communalspace Meeting for recreation activities and community activities

3 The system of social welfare and social security should be based on all three

Trang 22

pillars: the state, businesses and civil society organizations carry the same social network

as their family, neighbors neighbors, friends and colleagues Therefore, on the one hand,there should be policies to support and facilitate businesses to supply and ensureelements of the social welfare sub-systems for workers and their families There aremeasures to strengthen the role of civil society organizations to make them moreeffective In particular, in addition to creating conditions for facilities and operatingmechanisms for these organizations on the principle of autonomy, it is necessary to build

a contingent of community collaborators and social and organizational workers Trainingcourses to improve their knowledge and skills Finally, there are propaganda measures tochange the perception of people, especially immigrants about the role of communityactivities, to enhance their socio-political activism and to take advantage of support.social assistance of relationships from such activities

4 Regarding social insurance, policies should be more specific for each targetgroup, especially vulnerable groups In addition, the inspection and monitoring of theimplementation process in reality need to be paid more attention by the enforcementsystem and the managers

5 In addition to the poor, other disadvantaged groups, immigrants need to bemore concerned in the current situation Although the reason for labor and employmentcomes from the impetus due to the lack of local jobs and their family factor, theirpresence and effort have contributed significantly to the economic transition Socialeconomy and growth of Binh Duong in recent years With the policy of socializing publicservices, social welfare sub-systems such as housing, health and education tend toprivatize social welfare services in Binh Duong The accommodation of migrants andtheir children lacks support, as they rely on local facilities and facilities (hospitals,educational institutions at all levels, health care, etc.) housing, etc.) make these elementsoverloaded These have led to a stigma towards immigrants, thinking that immigrants arethe cause of their reduced access to the supply of welfare sub-systems

5 Products

Report research results and report survey data

6 Efficiency, method of transferring research results and applicability

- Use as a research document, a reference for students of architecture, planning, construction, urban studies, sociology

- Information can be transferred to departments of Binh Duong province for reference on current and future urban development planning and orientations

Trang 23

A MỞ ĐẦU

1 Tổng quan nghiên cứu

Những biểu hiện của sự tác động của đô thị hóa trong lĩnh vực xã hội đếncuộc sống của người dân liên quan tới hai hướng nghiên cứu: xu hướng nghiên cứu

về lối sống và xu hướng nghiên cứu về chất lượng sống Để xác định cơ sở về lýluận cho nghiên cứu của mình, chúng tôi đã tiếp cận tới các công trình nghiên cứu

về hai lĩnh vực này

1.1 Những vấn đề về lối sống

Lối sống đô thị được nghiên cứu nhiều trong tác phẩm “Quan niệm sống và

lối sống tại môi trường đô thị” của I.T.Levưkin (1989) Tác giả và cộng sự cho

rằng, quan niệm sống và lối sống của cá nhân được coi như hiện tượng tâm lý xãhội Vì vậy nó đòi hỏi một cách tiếp cận liên ngành Trong phương pháp nghiêncứu, nó nói lên mối tương quan giữa mặt lý luận và mặt thực nghiệm Như vậyquan niệm sống và lối sống cá nhân được coi như là một phạm trù khoa học được

sử dụng để phân tích ý thức và tâm lý cá nhân Lối sống thường bị chi phối bởiquan niệm sống Còn quan niệm sống được hình thành do sự tác động của nhữngđiều kiện hoạt động sống thường ngày, điều kiện giáo dục và văn hóa Điểm nổi bậtnhất của quan niệm sống, đó là quan niệm về vị trí của mình trong gia đình, trongtập thể, trong các nhóm giao tiếp trực tiếp Quan niệm sống cá nhân phải được coinhư là sự phản ánh trong ý thức về môi trường gần nhất và việc xác định hành vitrong những tình huống cụ thể Đó chính là môi trường vi mô, nơi con người sống

và sinh hoạt

Lối sống của con người thường bị ảnh hưởng bởi môi trường sống của họ.Như vậy, về mặt lý luận, muốn làm sáng tỏ lối sống thực tế của một xã hội cần phảidựa trên quan điểm liên ngành, trong đó cần nghiên cứu những quá trình về sự tácđộng qua lại giữa những điều kiện sống và những tình huống sống có vấn đề trongcác nhóm cộng đồng, cá nhân trong hoạt động sống thựờng ngày của họ, tìm ranhững biện pháp và phương tiện giải quyết những bất cập trong đó Nhóm tác giảnày cho rằng, muốn dự báo lối sống trong xã hội đô thị, đòi hỏi phải xây dựng một

mô hình dựa trên cơ sở hệ thống các chỉ báo số lượng để phát hiện những đặc điểm

về chất Những mô hình lý luận mang tính khái niệm và thao tác đó đã tạo ra nhữngkhả năng nghiên cứu bằng thực nghiệm và dự đoán sự phát triển của lối sống trêncác cấp độ khác nhau của một xã hội Hệ thống chỉ báo đó đề cập tới nhóm các tiêu

chí về những điều kiện sống (khách quan và chủ quan) có khả năng ảnh hưởng tới

các hoạt động sống của con người và các dạng hoạt động sống cơ bản của lối sống

Trang 24

của họ Đến lượt mình, các hoạt động sống này sẽ ảnh hưởng tới nếp sinh hoạt hàngngày của họ.

Về các tài liệu nghiên cứu trong nước có liên quan đến đề tài, thời gian đầu,chủ yếu là những công trình nghiên cứu mang tính liên ngành về lối sống, văn hóa

và môi trường trong bối cảnh đô thị Về chủ đề lối sống, ngay từ những năm 80-90của thế kỷ trước, một số nghiên cứu về những điều kiện sống và những biểu hiệntrong lối sống của các nhóm cư dân độ thị tại Hà Nội đã được phản ánh trong một

số bài của tạp chí Xã hội học (Trịnh Duy Luân, Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Kim Xuyến, Chu Khắc Thuật, 1984 - 1990) Về mặt lý luận, “Lối sống trong đời sống

đô thị hiện nay” (Lê Như Hoa, 1993) là một trong những cuốn sách đề cập tới lối

sống từ những năm 90 của thế kỷ trước, có đề cập tới lối sống và nếp sống của cưdân đô thị một cách tổng hợp Sau đó, cũng đề cập tới vấn đề lối sống nhưng mởrộng thêm lĩnh vực văn hóa và môi trường, cuốn sách của viện Xã hội học do Chu

Khắc Thuật (1995) làm chủ biên với tiêu đề “Môi trường, văn hóa, xã hội, đời

sống” cũng đã được xuất bản Hai cuốn sách này đã được làm cơ sở cho những

nghiên cứu thực nghiệm về lối sống trong thời gian này

Liên quan tới lĩnh vực này, còn có những công trình đề cập đến sự giao thoagiữa văn hóa truyền thống và văn hóa đô thị và kết luận, trong phát triển luôn luôncần có một quan điểm đúng đắn để vừa gìn giữ bản sắc dân tộc vừa tạo cơ hội cho

sự xuất hiện những nhân tố tích cực mới (Nguyễn Ngọc Quang và Nguyễn Xuân

Kính, 2002) Tương tự như vậy, “Vấn đề giữ gìn văn hóa truyền thống và xây dựng

nền văn hóa hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc ở Thành phố Hồ Chí Minh” (Hoàng

Như Mai, 2001) cũng được đặt ra nhằm chỉ ra những thực trạng văn hóa đươngthời, đưa ra một số giải pháp nhằm giữ gìn văn hóa truyền thống, nhận thức và quántriệt sâu sắc quan điểm phát triển văn hóa của Đảng và Nhà nước

Xem xét sự tác động của đô thị hóa về khía cạnh xã hội không thể bỏ quanhững nghiên cứu về phúc lợi xã hội Phúc lợi xã hội được xem như là những điềukiện cho sự hình thành và phát triển lối sống đô thị nhưng chúng cũng chính là kết

quả và chịu ảnh hưởng của sự phát triển này Gần đây, đề tài nghiên cứu về “Hệ

thống phúc lợi xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh” của Trần Hữu Quang (2009) đã

góp phần cung cấp một nguồn tư liệu khá phong phú về mặt pháp lý và những điềukiện vật chất, tổ chức và cơ chế, nhằm tạo điều kiện cho người dân thực hiện nghĩa

vụ và quyền công dân của mình Những kết quả của đề tài sẽ được vận dụng và xử

lý thứ cấp, phục vụ cho việc phân tích mang tính hệ thống bối cảnh thể chế của

thành phố Bên cạnh đó, đề tài “Cư dân đô thị và không gian đô thị trong tiến trình

Trang 25

đô thị hóa ở thành phố Hồ Chí Minh: thực trạng và giải pháp” của Trần Hữu

Quang (2010b) là một trong những đề tài thực nghiệm về những vấn đề có liênquan tới đời sống và sinh hoạt của cư dân thành phố Những kết quả nghiên cứucho thấy những dữ liệu phong phú về những mảng không gian xã hội của thànhphố Tiếp theo, một cuộc nghiên cứu cơ bản mang tính hệ thống nhưng liên quanchặt chẽ với đề tài của báo cáo này, đó là cuộc khảo sát về “Cơ cấu xã hội, lối sống

và phúc lợi cư dân thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” được thực hiện tại thành phố

Hồ Chí Minh bởi Bùi Thế Cường (2012) do Sở Khoa học và Công nghệ thành phố

Hồ Chí Minh làm chủ quản Với mục đích thiết kế một hệ chỉ báo về cơ cấu phântầng xã hội, phúc lợi và lối sống, thu thập dữ liệu có hệ thống về một số đặc trưngcủa cơ cấu phân tầng xã hội, lối sống và phúc lợi của cư dân thành phố Hồ ChíMinh, đề tài đã đề xuất những kiến nghị liên quan đến cơ cấu phân tầng xã hội,phúc lợi và lối sống, phục vụ công tác quản lý phát triển của thành phố Hay nghiên

cứu “Phúc lợi xã hội: hiện trạng và mức độ tiếp cận của công nhân nhập cư trong

các khu công nghiệp tại tỉnh Bình Dương”, được thực hiện và xuất bản thành sách

bởi Nguyễn Đức Lộc (2015) là một trong những để tài đề cập tới một số khía cạnh

về chất lượng sống của nhóm người này ở Bình Dương

1.2 Những vấn đề về mức sống và chất lượng cuộc sống (CLCS)

1.2.1 Khảo sát mức sống dân cư

Trong thời gian đầu, các nhà nghiên cứu thường chỉ chú trọng tới việcnghiên cứu về mức sống, vì những nghiên cứu này mang lại những thông số rõ ràngnhất đánh giá được về số lượng về những đảm bảo vật chất cho con người Tuynhiên, càng ngày người ta càng nhận ra rằng, những chỉ báo về mức sống vẫn chưaphản ánh được hoàn toàn cuộc sống thực của các nhóm người khác nhau, rằng cónhững người sống ờ thành phố có mức cơ sở vật chất rất cao nhưng bản thân họ lạikhông được hưởng những phúc lợi chung đó, vì hoàn cảnh kinh tế riêng của họ lạirất khác biệt Mặt khác, chất lượng cuộc sống thường để cập tới các chỉ báo chungcủa xã hội, còn những nghiên cứu về mức sống, chỉ đề cập tới mức sống của hộ giađình

Những nghiên cứu về mức sống thường được nghiên cứu lặp theo từng năm

hoặc hai năm một lần Ở Việt Nam, bắt đầu từ năm 1988, Tổng cục thống kê “Các

kết quả khảo sát mức sống dân cư”, với sự tài trợ của các tổ chức Quốc tế cứ hai

năm lại tổ chức khảo sát một lần Các cuộc khảo sát này ngày càng được chi tiết vàhoàn thiện hơn theo thời gian

Đây là cuộc điều tra chọn mẫu trong chương trình điều tra thống kê quốc

Trang 26

gia Mục đích nhằm thu thập thông tin làm cơ sở tổng hợp, biên soạn các chỉ tiêuthống kê quốc gia về mức sống hộ dân cư, cung cấp thông tin thống kê cho các cấp,ngành để đánh giá tình trạng nghèo đói và phân hóa giàu nghèo của dân cư theohướng tiếp cận đa chiều, phục vụ hoạch định chính sách, kế hoạch và chương trìnhmục tiêu quốc gia nhằm nâng cao mức sống dân cư trong cả nước Bên cạnh đó, cáccuộc khảo sát về kinh tế xã hội của các tỉnh, thành cũng được thực hiện hàng năm.Các lĩnh vực được tập trung khảo sát gồm: nhân khẩu, giáo dục, y tế, lao động việclàm, thu nhập, chi tiêu, đồ dùng lâu bền, nhà ở, xóa đói giảm nghèo, ngành nghềsản xuất kinh doanh và một số chỉ tiêu khác.

Thu nhập và các tiêu chí về mức sống được tính theo phân tổ (nhóm ngũphân vị) như:

Nhóm 1: nhóm có thu nhập thấp nhấp (nhóm nghèo nhất),Nhóm 2: nhóm có thu nhập dưới trung bình,

Nhóm 3: nhóm có thu nhập trung bình,Nhóm 4: nhóm có thu nhập khá,

Nhóm 5: nhóm có thu nhập cao nhất (nhóm giàu nhất)

1.2.2 Nghiên cứu chất lượng cuộc sống

Về chất lượng cuộc sống, các nhà nghiên cứu khẳng định chất lượng cuộcsống không chỉ bao hàm sự phát triển kinh tế mà còn các phương diện khác như xãhội, tâm lý, văn hoá, chính trị và môi trường Ở Malaysia, khái niệm về chất lượngcuộc sống bao gồm những tiến bộ cá nhân, sự tiếp cận và tự do nâng cao kiến thức

và một chuẩn mực sống vượt trội so với các nhu cầu cơ bản của các cá nhân và cácnhu cầu về tâm lý nhằm đạt được một mức độ phồn vinh của xã hội tương thích vớikhát vọng của dân tộc Để lượng hoá những thay đổi của chất lượng cuốc sống,Malaysia đã xây dựng các chỉ số chất lượng cuộc sống của mình (Malaysia Quality

of Life Index, viết tắt là MQLI) Chỉ số MQLI được xây dựng trên cơ sở chọn lựa

10 lĩnh vực, chủ yếu là thu nhập và phân phối việc làm, giao thông liên lạc, sứckhoẻ, giáo dục, nhà ở, môi trường, cuộc sống gia đình, sự tham gia hoạt động của

xã hội và an toàn công cộng (Trần Văn Chiến, 2005), “Chất lượng cuộc sống và

đánh giá ở Malaixia (sic) ” CLCS là sự phản ánh, sự đáp ứng những nhu cầu xã

hội, trước hết là những nhu cầu vật chất cơ bản tối thiểu của con người Sau đó, làđiều kiện nảy sinh các nhu cầu tinh thần Mức đáp ứng đó càng cao thì CLCS càngcao Nói tới CLCS là phải nói tới sự tổng hợp của cả bốn nhân tố Thứ nhất là, nhân

tố kinh tế (GDP - tổng sản phẩm quốc nội tính theo đầu người); hai là, giáo dụcthông qua các tiêu chí về xóa nạn mù chữ và số năm học bình quân; ba là, sức khỏe

Trang 27

con người thông qua tuổi thọ bình quân và bốn là, nhân tố môi trường (bao gồm,môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường kỹ thuật) (I.T LeVư Kin,1990) Như vậy, bốn nhân tố kinh tế - giáo dục - sức khỏe - môi trường là hạt nhân

cơ bản để tạo nên CLCS của mỗi cộng đồng, quốc gia và dân tộc Mặt khác, khái

niệm CLCS còn được mở rộng hơn Nó chính là "Điều kiện sống được cung cấp đầy

đủ nhà ở, giáo dục, dịch vụ y tế, lương thực, vui chơi giải trí cho nhu cầu của con người Điều kiện này dễ làm cho con người đạt được hạnh phúc, an toàn gia đình, khỏe mạnh về vật chất và tinh thần" (I.T LeVư Kin, 1990) Trong xã hội hiện đại,

CLCS còn được gắn liền với môi trường và sự an toàn của môi trường Từ sự phântích trên tác giả rút ra một khái niệm tổng quát: chất lượng cuộc sống thể hiện ởmức sung túc về kinh tế, con người có giáo dục, sống khỏe mạnh và trường thọ,được sống trong môi trường tự nhiên, xã hội, nhân tạo an toàn, bình đẳng và đượctôn trọng

Nghiên cứu về chất lượng cuộc sống, không chỉ đưa ra các chỉ báo về mứcsống, về phúc lợi xã hội của một xã hội nào đó, mà còn quan tâm tới sự thụ hưởngcác phúc lợi đó của mỗi cá nhân và các hộ gia đình Nó cũng bao gồm các chỉ báo

về sự cảm nhận của người dân về cuộc sống của họ Khác với các chỉ báo mứcsống, nếu so sánh giữa các quốc gia, có thể không mang lại kết quả chính xác, vì cónhiều quốc gia có mức sống trung bình cao nhưng chỉ số hài lòng của các nhóm dân

cư lại không tương ứng Từ những năm 2000, nghiên cứu về chất lượng sống đãđược thực hiện không chỉ trong phạm vi của từng quốc gia, mà còn so sánh giữacác quốc gia với nhau trên phạm vi toàn cầu Tuy nhiên, các cuộc nghiên cứu cũngdựa trên nhiều quan điểm khác nhau, do vậy các chỉ báo và các tiêu chí cũng khákhác biệt

Bàn về tiêu chí đo lường chất lượng cuộc sống, căn cứ vào lý thuyết tiếp cậnkhác nhau mà mỗi nhóm nghiên cứu đưa ra các thang đo chất lượng cuộc sống khác

nhau Nhóm tác giả Jackie Brown, Ann Bowling, Terry Flynn (2004), Models of

quality of life: Taxanomy, over view and systematic review of the literature, European forum on population ageing research (tạm dịch là Một đánh giá hệ thống

và phân loại về mô hình chất lượng cuộc sống) cho rằng không có một khung lýthuyết tuyệt đối về chất lượng cuộc sống, cũng như không thể chỉ sử dụng mộtkhung lý thuyết đơn lẻ trong một cuộc điều tra Chất lượng cuộc sống được tiếp cận

ở cấp độ vĩ mô lẫn vi mô Chất lượng cuộc sống đa chiều cạnh và mỗi thành tố của

nó tác động lẫn nhau chặt chẽ Đấy cũng là một khái niệm biến hóa, là thách thứccho các nghiên cứu tương lai Từ mỗi cách tiếp cận khác nhau, chất lượng sống có

Trang 28

định nghĩa và thang đo khác nhau Tổ chức y tế thế giới (World HealthOrganization- WHO) đã đưa ra tiêu chí chất lượng cuộc sống (Quality of life-100)gồm: mức độ sảng khoái về thể chất, mức độ sảng khoái về tinh thần, mức độ sảngkhoái về xã hội Tương tự như bộ công cụ của WHO, Theo EIU (The EconomistIntelligence Unit) một tổ chức thuộc tập đoàn công ty - Liên minh các nhà kinh tế

có trụ sở tại Anh, xây dựng chất lượng cuộc sống được xác định trên các tiêu chísau: y tế, đời sống gia đình, đời sống cộng đồng, mức sống (thu nhập), ổn địnhchính trị và an ninh, khí hậu và địa lý, bảo đảm việc làm, tự do chính trị, bình đẳnggiới (The economist Intelligence Unit, 2006) Hoặc khi nhận diện chất lượng cuộcsống theo cách tiếp cận giới thì Daskalova và Nadezhda đã xem xét sự khác biệtgiới trong chất lượng sống dựa trên số liệu năm chỉ báo chất lượng cuộc sống đượcxây dựng là: (1) thời lượng nghỉ ngơi, (2) chất lượng nghỉ ngơi (ăn tối với gia đình,

đi ra ngoài với partner, đi ra ngoài với bạn bè), (3) phân công công việc trong nhà,(4) bận tâm về chăm sóc con cái, (5) chủ đề tài chính, phúc lợi xã hội (Daskalova

và Nadezhda, 2009) Cùng hướng tiếp cận giới về chủ đề chất lượng cuộc sống,nhóm nghiên cứu Oystein Gullvảg Holter (Centre for Gender Research, University

of Oslo), Helge Svare (The Work Research Institute) and Cathrine Egeland (The

Work Research Institute), (2009), Gender equality and quality of life - a Norwegian

perspective (tạm dịch là “Bình đẳng giới và chất lượng cuộc sống - quan điểm của

Na-uy”) trình bày cuộc khảo sát về tình hình bình đẳng giới ở Na-uy thông qua sosánh đo lường chất lượng cuộc sống giữa nam và nữ Theo tác giả, bình đẳng giới

và chất lượng cuộc sống có mối quan hệ chặt chẽ, đặc biệt thể hiện rõ ở phụ nữ

Năm 2010, tổ chức Nilsen đã báo cáo thường niên về chất lượng cuộc sống

của 8 thành phố Quality of life survey 2010 eight cities report (tạm dịch là Báo cáo

khảo sát chất lượng cuộc sống của 8 thành phố năm 2010) Kết quả khảo sát chongười quan tâm những thông tin toàn diện về mọi mặt đời sống của người dânNewzeland: sức khỏe, tội phạm và an toàn, mạng lưới văn hóa xã hội và cộng đồng,

cơ chế chính sách, môi trường tự nhiên và hạ tầng, giao thông công cộng, lối sống

Trong phạm vi nhỏ hơn, các khảo sát ở cấp độ thành phố cũng thể hiện quanđiểm về khái niệm chất lượng cuộc sống tốt khác nhau Khảo sát chất lượng cuộcsống của cộng đồng cư dân ở Red Hook - Brooklyn đã đưa ra các tiêu chí như anninh công cộng, mức độ hài lòng về cơ quan tư pháp hình sự, mức độ thân thiết vàhài lòng với các trung tâm tòa án Xuất phát từ tính “mở” của việc lượng giá chấtlượng cuộc sống, Tổ chức Liên Hiệp Quốc đã xây dựng chỉ số toàn cầu, giúp cácquốc gia có cơ sở đo lường và so sánh chất lượng cuộc sống với nhau Chỉ số đó

Trang 29

mang tên Chỉ số phát triển con người (Human Development Index- HDI), với cácnội dung cơ bản về tuổi thọ, giáo dục và mức sống như là một nỗ lực để nâng caocuộc sống có cho các cá nhân trong một xã hội nhất định HDI được sử dụng bởiChương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc trong Báo cáo phát triển con người củaLiên Hiệp Quốc (UNDP) Đây là một tiêu chí tổng hợp phản ánh chất lượng cuộcsống Đầu tháng 11/2011, Liên Hiệp Quốc (LHQ) công bố theo Báo cáo phát triểncon người lần thứ 21, HDI của Việt Nam xếp thứ 128 trên tổng số 187 nước vàvùng lãnh thổ và ở mức trung bình Theo tính toán của LHQ, thứ hạng này khôngthay đổi so với năm trước tuy HDI của Việt Nam tăng nhẹ từ 0,590 năm 2010 lên0,593 năm 2011 So sánh với các nước trong khu vực thì Việt Nam ở mức thấp.Thứ hạng của Việt Nam chỉ cao hơn Lào (138), Cambodia (139), Timor Leste (147)

và Myanmar (149) Những nước đứng đầu trong khu vực châu Á Thái Bình Dương

là New Zeeland xếp thứ 5, Nhật Bản: 12, Hàn Quốc: 15, Australia: 19, Singapore:

26 Như vậy, để HDI Việt Nam tăng nhanh hơn trong thời gian tới, đòi hỏi Chínhphủ cần tập trung các nỗ lực hơn nữa cho các chương trình phát triển kinh tế, giáodục, dân số, sức khỏe để nâng cao đời sống nhân dân

Năm 2006, công ty tư vấn nguồn nhân lực Mercer (Mercer Human ResourceConsulting có trụ sở tại new York - Hoa Kỳ) đã khảo sát chất lượng cuộc sống ở

215 thành phố lớn trên toàn thế giới, thành phố Hồ Chí Minh được 61,9 điểm, xếpthứ 148 (tụt 1 bậc so với năm 2005) Năm 2012, tổ chức này tiếp tục khảo sát dựatrên sự điều chỉnh bộ tiêu chí với 39 tiêu chí, được chia thành 10 nhóm như sau:(1)Nhóm về môi trường chính trị xã hội, (2) Nhóm về môi trường kinh tế, (3) Nhóm

về môi trường văn hóa xã hội, (4) Nhóm về y tế và chăm sóc sức khỏe, (5) Nhóm

về giáo dục và đào tạo, (6) Nhóm về dịch vụ công và vận chuyển, (7) Nhóm về vuichơi giải trí, (8) Nhóm về cung cấp sản phẩm tiêu dùng, (9) Nhóm về nhà, (10)Nhóm về môi trường tự nhiên Báo cáo hàng năm của Mercer cung cấp thông tinhữu ích và đưa ra những khuyến nghị giúp các quốc gia tháo gỡ khó khăn

Đối với những nghiên cứu trong nước, các công trình của các nhà nghiêncứu thường đề cập tới các chủ đề như mức sống, điều kiện sống, đời sống nóichung rất nhiều và phong phú, ở các quy mô khảo sát khác nhau Điểm chung củacác khảo sát này là hướng đến phản ánh đời sống cư dân (nông thôn/ thành thị) trênnhiều lĩnh vực cơ bản như mức sống, giáo dục, sức khỏe, việc làm, hưởng thụ chính

sách xã hội Có thể kể tên một số công trình là các báo cáo “Kết quả điều tra di cư

Việt Nam năm 2 4: Chất lượng cuộc sống của người di cư ở Việt Nam” của Tổng

cục thống kê; Báo cáo “Kết quả khảo sát mức sống dân cư năm 2 1 ” của Tổng cục

Trang 30

thống kê, NXB Thống Kê, 2011; “Khảo sát chỉ số hài lòng của người dân về dịch

vụ công năm 2 8, tại Thành phố Hồ Chí Minh” do Viện nghiên cứu Phát triển và

Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp thực hiện và các báo cáo điều tra

dân số hàng kì v.v Đặc biệt, đề tài nghiên cứu “Cơ cấu xã hội, lối sống và phúc

lợi của cư dân thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” do Viện Phát triển bền vững vùng

Nam Bộ, Bùi Thế Cường chủ nhiệm (2012), quan tâm đến việc tìm hiểu đánh giácủa người dân về sự thay đổi trong 5 năm qua đối với các vấn đề: cơ sở hạ tầng,môi trường, chăm sóc y tế, trường học và phúc lợi, môi trường xã hội Những đánhgiá về điều kiện sống gia đình (nhà ở, đồ dùng lâu bền, thu nhập, việc làm) Tác giả

so sánh các nhóm giai tầng theo các tiêu chí: nghề nghiệp, nhà ở, mức thu nhập(năm mức), đề từ đó rút ra những kết luận xác đáng

Ở Bình Dương, các công trình nghiên cứu về khoa học xã hội không nhiều,nghiên cứu về lối sống hoặc mức sống cũng còn hạn chế Những công trình nghiêncứu thường đề cập tới khía cạnh kinh tế và chủ yếu nhấn mạnh vào nhóm ngườinhập cư khi quan tâm tới vấn đề di dân Năm 2014, nghiên cứu về phúc lợi xã hộicủa nhóm công nhân ở Bình Dương với tiêu đề “Hiện trạng và mức độ tiếp cận củacông nhân nhập cư trong các khu công nghiệp tại tỉnh Bình Dương”, được thực hiện

bởi Nguyễn Đức Lộc (2015), “Phúc lợi xã hội: hiện trạng và mức độ tiếp cận của

công nhân nhập cư trong các khu công nghiệp tại tỉnh Bình Dương”, là một trong

những để tài đề cập tới một số khía cạnh về chất lượng sống của nhóm người này

Tóm lại, tổng quan tư liệu về lối sống, mức sống và chất lượng cuộc sống đãđược các nhà nghiên cứu quan tâm từ rất sớm và nghiêm túc Trên phạm vi quốc tế,

số lượng các công trình, khảo sát về chủ đề này rất nhiều và được tiếp cận từ cấp độ

vi mô đến vĩ mô, theo nhiều chiều hướng khác nhau, lồng ghép vào vấn đề chămsóc sức khỏe, đời sống tinh thần, môi trường hạ tầng, bình đẳng giới, Theo thờigian, các tiêu chí đo lường chất lượng cuộc sống thường xuyên được chỉnh sửa, bổsung cho phù hợp với bối cảnh phát triển thời đại Do vậy các chỉ tiêu “cứng” cóthể đo đếm được như mức sống, điều kiện nhà ở, điều kiện hạ tầng, chỉ số môitrường tự nhiên trong lành không còn mang tính quyết định hoàn toàn, mà thay vào

đó là các tiêu chí “mềm”, khó đo lường, đầy tính chủ quan của con người đã đượcnâng cao tầm quan trọng, chẳng hạn như các chỉ số về mức độ hạnh phúc, nhu cầuthể hiện bản thân, giá trị bản thân, v.v Sự biến chuyển về quan niệm, hướng tiếpcận và thang đo chất lượng cuộc sống này thể hiện một thực tế hiển nhiên rằng nhucầu hưởng thụ cuộc sống của con người ngày một nâng cao, từ nhu cầu vật chất đếnnhu cầu sáng tạo và phát triển đời sống tinh thần Đồng thời, từ các cách tiếp cận

Trang 31

chất lượng cuộc sống khác nhau, đã phản ánh mục đích cuối cùng của giới nghiêncứu khoa học là làm mọi cách để cuộc sống của con người ngày một tốt đẹp hơnnhư nó đang có Trong phạm vi trong nước, các công trình nghiên cứu có chủ đích

và chuyên sâu về chất lượng cuộc sống chưa nhiều, chỉ mới còn lồng ghép trongcác cuộc khảo sát quy mô lớn về dân số, di cư Hoặc chủ đề chất lượng cuộc sốngđược tiếp cận khá chi tiết theo cách tiếp cận y học, chủ yếu hướng vào các nhómđối tượng yếu thế như người cao tuổi, người có bệnh, trẻ em, ở Bình Dương chưa

có nhiều nghiên cứu mang tính tổng thể nào Đặc biệt, trong những nghiên cứu về

đô thị hay quy hoạch, khía cạnh con người còn ít được đề cập tới Nghiên cứu này,

hi vọng lấp được khoảng trống đó

Nghiên cứu về tác động xã hội tới đời sống của người dân không thể không

đề cập tới những vấn đề liên quan tới phúc lợi xã hội và an sinh xã hội

1.3 Những vấn đề về phúc lợi xã hội và an sinh xã hội

Thuật ngữ phúc lợi xã hội và an sinh xã hội được hiểu theo nhiều cách khácnhau

Do các chính sách phúc lợi xã hội và an sinh xã hội của các quốc gia trên thếgiới phụ thuộc vào chế độ xã hội và hiến pháp nên chúng được hiểu theo nhiều cáchkhác nhau Đồng thời chúng cũng thay đổi theo các thời kỳ phát triển của các quốcgia đó

Ở Anh, khái niệm “phúc lợi” (welfare) được coi là có mối liên hệ với kháiniệm “quyền công dân” (citizenship) Thomas H Marshall (1949) cho rằng: quyềnđược hưởng phúc lợi (welfare rights) là nhóm quyền thứ ba mà các thành viên của

xã hội đã giành được trong thế kỷ XX, sau nhóm các quyền dân sự và nhóm cácquyền chính trị "quyền công dân”, ông viết, bao gồm ba thành tố: quyền công dân

về mặt dân sự, về mặt chính trị, và về mặt xã hội Ông khẳng định rằng việc đượchưởng các khoản phúc lợi cần quan niệm như một quyền mang tính pháp lý, dựatrên nguyên tắc phổ quát (universality), chứ không phải dựa trên quyền ấn định củanhững cơ quan có thẩm quyền (Gordon Marshall, 1998)

Hiệp hội phúc lợi xã hội Anh khẳng định: "Phúc lợi xã hội từ trước tới naykhông phải chỉ là các hoạt động liên quan đến phúc lợi đối với người già, người tàntật, tội phạm, tức là những người cần có sự quan tâm đặc biệt Ở đây, phúc lợi xãhội được hiểu một cách rộng rãi hơn và để chỉ hoạt động này người ta đưa ra kháiniệm “socal service” (tạm dịch: dịch vụ xã hội) Như vậy, phúc lợi xã hội bao gồm

cả lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, nhà ở, hoạt động cứu trợ' " (Nguyễn Duy Dũng,

1998, tr 2)

Trang 32

Ở Nhật Bản, từ năm 1946, sau chiến tranh, Nhà nước yêu cầu mọi người dânđều phải nỗ lực thích nghi với hoàn cảnh mới, cùng nhà nước vượt qua khó khăn.Chính sách phúc lợi xã hội chính là các biện pháp nhằm giúp những người không

đủ khả năng đó có thể có được cuộc sống bình thường như những người khác.Những người không có đủ khả năng như người già, trẻ em, người tàn tật, thần kinh,

ốm đau, bệnh tật, người có thu nhập thấp v.v Vì vậy, đối với những người này,cùng với chính sách hỗ trợ về kinh tế, cần phải có chính sách phúc lợi xã hội đadạng

Nhưng đến năm 1975, Báo cáo Điều tra phúc lợi xã hội và giáo dục quốc tếlần thứ V, Nhật Bản đã ra công bố với ý nghĩa rộng hơn về phúc lợi xã hội “Phúclợi xã hội là biện pháp, thủ tục hỗ trợ một cách gián tiếp và là dịch vụ xã hội nhằmtăng cường phúc lợi cho mỗi cá nhân, với mục đích cải thiện mối quan hệ và côngviệc xã hội đối với mỗi thành viên trong xã hội Biện pháp này được tiến hành ở tất

cả mọi trình độ, cấp độ xã hội từ cá nhân, đoàn thể đến toàn xã hội Phúc lợi xã hộingoài việc đóng góp bảo đảm sức khỏe, giáo dục, còn nhằm cải thiện và nâng caođời sống, công việc cho mọi người Nó là biện pháp tổng hợp toàn diện để giải

quyết các vấn đề của cá nhân và xã hội hiện tại" (Nguyễn Thị Oanh, 2005).

Và đến năm 1979, trong “Kế hoạch bảy năm về kinh tế xã hội” năm 1979,Phúc lợi xã hội lại được định nghĩa là việc “hoàn thiện cơ sở y tế, khám chữa bệnh,xây dựng các trung tâm dành cho người già bị liệt, người thần kinh nặng với mụcđích là tạo điều kiện cho người già và người thần kinh tham gia vào đời sống xãhội, đưa ra các chính sách động viên, khuyến khích bổ sung và mở rộng dịch vụgiúp đỡ tại nhà, dịch vụ dài ngày, dịch vụ ngắn hạn, phục hồi chức năng cho người

già, người tàn tật, giáo dục và chăm sóc sức khỏe cho trẻ em” Đôi khi khái niệm

phúc lợi xã hội còn được coi như là từ đồng nghĩa với đảm bảo xã hội (Nguyễn ĐứcDũng, 2005; trích theo Nguyễn Đức Lộc, 2015)

Như vậy, khái niệm phúc lợi xã hội không phải là thuật ngữ “nhất thanh bấtbiến”, mà phụ thuộc vào tình hình thực tế của từng thời kỳ và thay đổi tùy theochính sách của chính quốc gia đó

Còn ở Mỹ, “Phúc lợi xã hội” đôi khi được coi như là “mạng lưới an sinh vàtrợ cấp xã hội” vì chúng đều đề cập tới "các chương trình trợ cấp không có đónggóp, nhắm vào đối tượng là người nghèo hoặc người dễ bị tổn thương", (Trần HữuQuang, 2009, tr 37)

Nhiều nước Xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Việt Nam thời bao cấp thườngchấp nhận quan điểm rằng: "Phúc lợi xã hội là những gì do xã hội mà trực tiếp là

Trang 33

nhà nước đưa lại Ở đây, phúc lợi xã hội thường gắn với lợi ích công cộng mà thôngqua đó người dân được hưởng thụ không phải trả tiền Ngoài phúc lợi xã hội, người

ta còn mở rộng khái niệm này dựa vào tổ chức đưa lại lợi ích người dân: phúc lợitập thể, phúc lợi công ty, phúc lợi cơ quan " Beulah Compton (1980) đề xuất địnhnghĩa: "phúc lợi xã hội là một thiết chế bao gồm các chính sách và luật lệ, đượcthực thi bởi nhà nước hay bởi các tổ chức tự nguyện, thông qua đó một mức độ tốithiểu nhất định về các dịch vụ xã hội thiết yếu (như y tế, giáo dục, nhà ở.) đượcphân phối cho các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội (những dịch vụ mà gia đình haythị trường không đáp ứng được cho họ) nhằm mục đích phòng ngừa, giảm nhẹ hoặcđóng góp vào việc giải quyết các vấn đề xã hội và cải thiện sự an sinh của cá nhân,nhóm và cộng đồng một cách trực tiếp" trích theo Nguyễn Đức Lộc (2015)

Trong những năm gần đây, cùng với các chương trình phát triển kinh tế xãhội, vấn đề phúc lợi xã hội hay an sinh xã hội của Việt Nam đã được các tổ chứcquốc tế quan tâm nhiều hơn Hàng năm, chương trình phát triển của Liên HiệpQuốc (UNDP) công bố những đánh giá về quá trình phát triển của Việt Nam Báocáo năm 2007 với tựa đề “An sinh xã hội ở Việt Nam Lũy tiến đến mức nào?” do

tác giả Evans Martin, Ian Gough, Susan Har ne (2007), “How Progressive is Social

Security in Viet Nam?” có đề cập đến những khía cạnh căn bản của an sinh xã hội

Việt Nam như: thu nhập và an sinh xã hội, nghèo và an sinh xã hội và cuối cùng lànhững tác động của hệ thống an sinh xã hội đến giáo dục, việc làm, tiền gửi tiết

kiệm Tương tự, báo cáo “Phát triển Việt Nam năm 2008” với tựa đề “Bảo trợ xã

hội” đã nêu lên những vấn đề được và chưa được của các chương trình bảo trợ xã

hội Các tác giả khẳng định, Việt Nam đang xảy ra tình trạng phân tầng xã hội phổbiến nhưng những thành tựu về tăng trưởng và giảm nghèo cũng đáng được ghinhận

Những công trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả Việt Nam cũng đượcthực hiện khá nhiều Những nghiên cứu đó đề cập tới hiện trạng hệ thống phúc lợi

xã hội ở Việt Nam và những vấn đề cần điều chỉnh cũng như những định hướngtrong tương lai Vấn đề định hướng hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội ở Việt Namtrong bối cảnh kinh tế thị trường cũng như bối cảnh hội nhập được tập trung phântích nhiều hơn Hầu hết các nghiên cứu trên đều xuất phát từ một thực tế, rằng quátrình chuyển đối từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường đã có những tácđộng rất lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội Trong một vài năm qua, tuy cónhững chuyển biến mang tính tích cực về việc thụ hưởng phúc lợi xã hội của ngườidân, nhưng vẫn cần phải có sự thay đổi trong quản lý về an sinh xã hội, vai trò của

Trang 34

các chủ thể trong việc cung cấp phúc lợi xã hội cho người dân, sự phân tầng xã hộingày một gay gắt trong việc thụ hưởng về phúc lợi xã hội.

Bên cạnh những bài viết, công trình nghiên cứu mang tính tổng quát về hiệntrạng phúc lợi xã hội của Việt Nam thì cũng xuất hiện những bài viết, công trìnhnghiên cứu về phúc lợi xã hội hay an sinh xã hội cho các đối tượng cụ thể như vấn

đề tổ chức lại hệ thống bảo đảm xã hội ở nông thôn trong quá trình đổi mới kinh tế;những vấn đề về an sinh xã hội đối với người nhập cư, với công nhân lao động Cáctác giả đã chỉ ra những rủi ro trong quá trình di cư nông thôn- thành thị, những hạnchế còn tồn tại của bảo trợ xã hội cho những người di cư trong nền kinh tế thịtrường vốn có nhiều rủi ro Họ nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa trình độ nhận thức

và tay nghề của người lao động với việc thụ hưởng an sinh xã hội việc, đến nhu cầu

về an sinh xã hội của hộ gia đình người nhập cư đến các đô thị Cuối cùng các bàiviết nhận định rằng bảo trợ xã hội là công cụ đắc lực cho người nhập cư nhưng thực

tế vẫn chưa đến được với họ (Lê Bạch Dương, Khuất Thu Hồng, (2008))

Ở thành phố Hồ Chí Minh, Trần Hữu Quang là tác giả được trích dẫn nhiều

khi xuất bản đề tài nghiên cứu cấp sở với tiêu đề “Hệ thống phúc lợi ở thành phố

Hồ Chí Minh với mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội” vào năm 2009 Trong

nghiên cứu này, một hệ thống phúc lợi xã hội đang diễn ra ở thành phố Hồ ChíMinh trong thực tế đã được đi sâu phân tích như: tiểu hệ thống y tế, giáo dục và nhà

ở của người dân thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa vềmặt thực tiễn, mà còn là gợi ý về mặt lý luận cho các nghiên cứu tiếp theo vì hệthống các tiêu chí để đo lường khá hợp lý (Trần Hữu Quang, 2009)

Ở các nước công nghiệp phát triển, hệ thống an sinh xã hội đã hình thành từcuối thế kỷ thứ XIX Điều 22 trong Hiến chương về quyền con người (năm 1948)của Liên Hiệp quốc tuyên bố: “Mỗi một người với tư cách là thành viên trong xãhội đều có quyền về an sinh xã hội” An sinh xã hội được hiểu là bao gồm bảo hiểm

xã hội, bảo hiểm y tế, trợ cấp xã hội và xóa đói giảm nghèo

An sinh xã hội là sự đảm bảo về việc làm khi người ta còn sức làm việc vàđảm bảo về lợi tức khi người ta không còn sức làm việc nữa Còn mạng lưới an sinh

xã hội thể hiện khác nhau tùy thuộc vào các quốc gia Chẳng hạn ở Mỹ vào nhữngnăm 1930 an sinh xã hội được hiểu là sự đảm bảo của xã hội nhằm bảo tồn nhâncách cùng giá trị cá nhân, đồng thời tạo lập cho con người một đời sống sung mãn

và hữu ích để phát triển con người Trong Hiến chương Đại Tây Dương, an sinh xãhội được hiểu là sự đảm bảo thực hiện quyền con người trong hòa bình, được tự dolàm ăn, cư trú, di chuyển, phát biểu chính kiến trong khuôn khổ pháp luật; được bảo

Trang 35

vệ và bình đẳng trước pháp luật; được học tập, làm việc và nghỉ ngơi, có nhà ở;được chăm sóc y tế và đảm bảo thu nhập nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếukhi bị rủi ro, thai sản hoặc tuổi già (Mạc Văn Tiến, 2005; trích theo Nguyễn ĐứcLộc, 2015).

Tổ chức Lao động Thế giới (International Labour Organization - ILO), cũngthường xuyên đưa ra và điều chỉnh các định nghĩa về an sinh xã hội qua các năm.Một định nghĩa mà các nhà nghiên cứu thường đánh giá là hợp lý về khoa học vàthực tiễn về an sinh xã hội là định nghĩa trong Công ước số 02, ra đời năm 1952,của ILO: "An sinh xã hội là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên củamình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để chống lại sự cùng quẫn vềkinh tế và xã hội dẫn đến sự chấm dứt hay giảm sút đáng kể về thu nhập do đau ốm,thai sản, tai nạn lao động, mất việc làm, mất sức lao động, tuổi già hoặc cái chết;những dịch vụ về chăm sóc y tế hay những quy định về hỗ trợ đối với những giađình có con nhỏ gặp phải khó khăn trong cuộc sống"

Như vậy an sinh xã hội hay chính xác hơn là hệ thống an sinh xã hội của cácquốc gia là sự đảm bảo cho người dân được thực hiện quyền con người Các tiêuchí mà các quốc gia châu Âu đưa ra gồm:

1 Chính sách bảo vệ người lao động (bảo vệ thời gian lao động, bảo vệngười mẹ và những người tàn tật nặng, bảo vệ tai nạn, hoạn nạn, bảo vệ khỏi bị sathải );

2 Chính sách an sinh xã hội (đảm bảo đa số người dân được hưởng lợi ích

xã hội một cách công bằng, đối phó với những hậu quả kinh tế do mất khả năng laođộng tạm thời hoặc lâu dài do tuổi tác, do thiếu việc làm, do cô quả và mồ côi, dobệnh tật, do nhu cầu cần được chăm sóc và thất nghiệp Bằng trợ cấp xã hội, hệthống an sinh xã hội cũng bảo vệ những người không có quyền được hưởng an sinh

xã hội trong trường hợp khẩn cấp);

3 Chính sách sản xuất và kinh doanh (đem lại cho người lao động cácquyền thông tin, kháng nghị, đồng tư vấn và ra quyết định liên quan đến công ănviệc làm, tiến trình lao động, thời gian lao động, các hình thức trả lương, xin việc,

Trang 36

nặng tài chính và kiến tạo những điều kiện chung có lợi cho gia đình);

Trang 37

7 Chính sách giáo dục (nhằm theo đuổi mục tiêu cân bằng những điều kiệnxuất phát về vật chất không ngang nhau, duy trì việc đào tạo nhân lực thỏa đáng);

8 Chính sách tài sản (nhằm hỗ trợ cho việc hình thành tài sản cho đông đảotầng lớp nhân dân và tạo đối trọng với sự tập trung hóa tài sản vào tay một tầng lớpdân cư nhất định);

9 Chính sách trung lưu (nhằm góp phần củng cố một số lượng đông đảonhững người hành nghề độc lập);

10 Chính sách hỗ trợ thanh thiếu niên và người cao tuổi nhằm bảo vệ cáctầng lớp xã hội đặc biệt yếu về kinh tế so với người có việc làm và bảo đảm thực thinhững nhu cầu do tuổi tác của họ

Tuy nhiên, các quan điểm của các tổ chức quốc tế nếu như giống nhau ởchỗ hướng tới quyền được an toàn, hạnh phúc của con người và quan tâm nhiều tớinhóm yếu thế hay nhóm bị rủi ro, thì lại nhận định khác nhau về vai trò của hệthống chính thức hay phi chính thức Chẳng hạn, định nghĩa của Ngân hàng Thếgiới (World Bank- WB) nhấn mạnh vai trò nhà nước trong nhiệm vụ đảm bảo ansinh xã hội, khi cho rằng "an sinh xã hội là toàn bộ các chính sách của nhà nướcnhằm giúp đỡ các cá nhân, gia đình và các nhóm xã hội quản lý rủi ro của mình vàcung cấp, hỗ trợ những người nghèo khổ nhất Định nghĩa này thể hiện sự quan tâmcủa Ngân hàng Thế giới hướng đến mục đích quản lý rủi ro thuộc nhiều lĩnh vựcnhư kinh tế, xã hội, chính trị,v.v trong cuộc sống Đây chính là nguyên nhân dẫnđến sự nghèo khổ và an sinh xã hội là phương tiện của Nhà nước nhằm hỗ trợnhững cá nhân không may gặp những rủi ro này Tương tự, Ngân hàng Phát triểnchâu Á (The Asian Development Bank- ADB) nhận định "An sinh xã hội là một hệthống chính sách công nhằm giảm nhẹ tác động bất lợi của những biến động đối vớicác hộ gia đình và cá nhân" Trong khi đó, Hiệp hội An sinh Xã hội Quốc tế(International Social Security Association- ISSA) quan niệm rằng đây không chỉ làphần việc của nhà nước mà là "những chương trình bảo hộ xã hội do nhà nước thiếtlập, hoặc những tổ chức được ủy nhiệm khác, có chức năng cung ứng cho các cánhân một mức độ an toàn về thu nhập khi họ phải đối diện với những hoàn cảnh bấttrắc do tuổi già, do thương tổn quyền lợi , do mất khả năng, do tàn tật, thất nghiệphoặc do phải nuôi dạy con cái Nó cũng có thể cung ứng quyền được hưởng sựchăm sóc y tế- chữa trị hay phòng ngừa bệnh tật" (Mạc Văn Tiến, 2005), hay theoHiệp hội An sinh xã hội quốc tế (ISSA), an

Trang 38

sinh xã hội bao gồm: các chương trình bảo hiểm xãhội, các chương trình trợ giúp xã hội, các chương trìnhphổ quát (universal programmes), các chương trình tươngtrợ (mutual benefit schemes), các quỹ dự phòng quốc gia(national provident funds) và những chương trình kháctrong đó bao gồm cả những chương trình mang tính thươngmại (Chu, Ke-young, and Sanjeev Gupta, 1998; trích theoNguyễn Đức Lộc, 2015)

1.4 Những nghiên cứu về các nhóm cư dân bị tác động bởi quá trình đô thị hóa

Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị Nó được tính theo tỉ lệ phần trăm giữa

số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng haykhu vực (mức độ đô thị hóa) Nó cũng có thể tính theo tỉ lệ gia tăng của hai yếu tố

đó theo thời gian (tốt độ đô thị hóa) Đô thị hóa cũng được coi như quá trình pháttriển rộng rãi lối sống thị thành thể hiện qua các mặt dân số, mật độ dân số, chấtlượng cuộc sống,

Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước thường sử dụng nhiều cách tiếp cậnkhác nhau để nghiên cứu quá trình độ thị hóa và sự ảnh hưởng của chúng tới cáclĩnh vực khác nhau của đồi sống xã hội Dưới tiếp cận xã hội học, nhiều công trìnhnghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn đã được thực hiện Đô thị hóa, xét từ góc độnhân khẩu học và địa lý kinh tế, là sự di cư từ nông thôn và thành thị, là sự tậptrung ngày càng nhiều dân cư nông thôn sống trong khu vực đô thị Mức độ đô thịhóa của một quốc gia được đo bằng 1.000.000.000 lệ dân cư đô thị trong tổng sốdân Như vậy, 1.000.000.000 lệ tăng sự tập trung dân cư nông thôn sống trong khuvực đô thị sẽ là một chị báo để đo tốc độ đô thị hóa của một quốc gia

về mặt xã hội, Đô thị hóa được hiểu là quá trình tổ chức lại môi trường cưtrú của con người Đô thị hóa không chỉ thay đổi sự phân bố dân cư và những yếu

tố vật chất, mà còn làm chuyển hóa những khuôn mẫu của đời sống xã hội, phổbiến lối sống đô thị tới các vùng nông thôn và toàn bộ xã hội Quá trình đô thị hóakhông chỉ diễn ra như một sự tăng trưởng dân số đô thị, mở rộng lãnh thổ đô thị vàtăng trưởng kinh tế đô thị, mà còn thể hiện cả về mặt nâng cao chất lượng và tiêuchuẩn sống làm phong phú hơn các khuôn mẫu văn hóa và các nhu cầu Nhìn rộnghơn, đô thị hóa là một quá trình biến đổi kinh tế xã hội và luôn đi cùng với quátrình công nghiệp hóa

Đô thị hóa có thể gây những hệ quả kinh tế xã hội với cả các vùng đô thị và

Trang 39

nông thôn tại các vùng đô thị, do tốc độ tăng dân số quá nhanh, đặc biệt là sốlượng lớn dân nhập cư và thành phố, đã làm trầm trọng thêm sự khăn hiếm về nhà

ở, thiếu việc làm, phân hóa dầu nghèo, các tệ nạn xã hội (nghiện hút, mại dâm, trậmcắp ), ô nhiễm môi trường (nguồn nước chất thải), làm xuống cấp cơ sở hạ tầng kĩthuật và quá tải đối với cơ sở hạ tầng xã hội

Quá trình đô thị hóa tạo ra những biến đổi mạnh mẽ trong cuộc sống của người dân.Những biến đổi có thể khác nhau đối với các nhóm xã hội và diễn ra trên nhiều lĩnhvực khác nhau của đời sống như: Sử dụng đất, kiến trúc nhà cửa, quy mô và cơ cấudân số, lao động và việc làm, sức khỏe và môi trường, biến đổi lối sống và phongtục tập quán Tóm lại, quá trình đô thị hóa đã tạo ra sự thay đổi cả về vật chất lẫntinh thần của người dân (Trịnh Duy Luân 2000 và 2009, Nguyễn duy Thắng,2009)

Quá trình đô thị hóa tác động tới kinh tế, xã hội, văn hóa và cả sinh thái môitrường Sự tác động về mặt kinh tế của đô thị hóa là việc chuyển đổi mục đích sửdụng đất từ nông nghiệp sang mục đích phi nông nghiệp như xây dựng các khucông nghiệp, khu dân cư, khu dịch vụ và vui chơi giải trí Những tác động về mặt

xã hội thể hiện ở chỗ làm biến đổi đời sống từ nông thôn xong đô thị, từ nông dânsang thị dân làm thay đổi các chuẩn mực văn hóa sẽ đến sự thay đổi thái độ hành vi

và cách ứng xử của mỗi người dân trong đời sống gia đình và xã hội Những tácđộng về mặt văn hóa biểu hiện ở chỗ một số yếu tố văn hóa truyền thống dần biến mất trong khi một số yếu tố khác được duy trì hay chuyển hóa để hội nhập với môi trường mới Mặt khác quá trình này cũng làm suy thoái môi trường sống của con người do sức ép tăng dân số, sự và chọn lối sống, thiếu đầu tư cho cơ sở hạ tầng, quản lý đô thị yếu kém.

Trong những năm gần đây, gắn với quá trình đô thị hóa những công trìnhnghiên cứu thực nghiệm về đời sống dân cư thường tập trung vào đối tượng là giaicấp công nhân và những người nhập cư, đặc biệt là nghiên cứu về công nhân tại cáckhu công nghiệp, khu chế xuất Các chủ đề quan tâm dưới nhiều góc độ trong đời

sống của họ như: “đời sống của công nhân tại các khu công nghiệp và chế xuất

thành phố Hồ Chí Minh” (Phạm Văn Xu, 2002); những “Vấn đề thích ứng với lối sống đô thị trong quá trình đô thị hoá tại Thành phố Hồ Chí Minh”, (Nguyễn Văn

Thành, 2003) Chính những đặc điểm của tiến trình phát triển kinh tế trên quy môtoàn cầu, dẫn tới xu hướng nữ hóa lực lược di cư đến các khu công nghiệp khiến

cho những người nữ công nhân được các học giả lưu ý nhiều hơn “Cuộc sống của

Trang 40

công nhân may di cư tại Hà nội, Việt Nam” (Nghiêm Liên Hương, 2007) “Cuộc sống của các nhóm nữ vị thành niên nhập cư ở phường Ba, quận Tám, thành phố

Hồ Chí Minh” (Trần Thị Kim Xuyến, Nguyễn Thị Hòa, Nguyễn Phương Thảo,

2003) hay nghiên cứu sâu về đời sống văn hóa tinh thần của công nhân tại cácKCX- KCN thành phố Hồ Chí Minh (Phạm Đình Nghiệm, 2005) là những nghiêncứu như vậy

Những nghiên cứu về đời sống của công nhân nhập cư không chỉ đề cập tớithực trạng những hoạt động sống của họ, mà còn được đi sâu vào cách thức mà cácnhóm này bị ảnh hưởng bởi quá trình đô thị hóa, cũng như cách thức mà họ hội

nhập vào nó để tồn tại Chính vì vậy, nghiên cứu “Mạng lưới xã hội của công nhân

nhập cư ở khu công nghiệp Biên Hòa” (Huỳnh Thị Ngọc Tuyết, Nguyễn Thị Minh

Châu, Đào Quang Bình, 2009), kỹ thuật quan sát tham dự, kết hợp với phương phápthu thập thông tin định lượng, định tính và phương pháp đánh giá nhanh có sự tham

gia của người dân (Participatory Rapid Appraisal - PRA) tại phường Long Bình,

thành phố Biên Hòa đã phản ánh được vai trò của mạng lưới xã hội của công nhânkhi trong quá trình thích ứng với môi trường mới của họ Trong bối cảnh xa giađình, hàng xóm, những người được coi như những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tớiquan điểm sống hay sự trợ giúp xã hội trong nền văn hóa Việt Nam Bên cạnh đó,việc dành quá nhiều thời gian để làm việc và tìm kiếm thu nhập, các tổ chức tậphợp thanh niên công nhân mang tính chính thức là một trong những thành tố tácđộng tới tính tích cực chính trị - xã hội của công nhân nhập cư Tuy nhiên, cácnghiên cứu đã chỉ ra rằng trong khi các đoàn thể xã hội chính thức như: Công đoàn,Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, v.v tỏ ra lúng túng trong việc hỗ trợ thanh niêncông nhân thì các nhóm phi chính thức của công nhân lại hoạt động rất hiệu quả Vì

vậy, Nguyễn Đức Lộc (2009), trong nghiên cứu “Các loại hình và các cách thức

tập hợp thanh niên công nhân tại các KCN - KCX: thực trạng và giải pháp” đã chỉ

ra những giải pháp kết hợp giữa các tổ chức chính thức và phi chính thức dựa trênnhu cầu, nguyện vọng của công nhân với các loại hình khác nhau

Từ nguồn tư liệu sẵn có, có thể thấy, các nghiên cứu với mục tiêu khắc phụcnhững khía cạnh hạn chế của thực tại xã hội, vì vậy thường tập trung vào nhữngkhía cạnh tiêu cực của quá trình đô thị hóa Đó là lý do vì sao các nhóm yếu thếthường được quan tâm nhiều hơn Tuy nhiên, sự tác động của quá trình đô thị hóamang tính hai mặt Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xác định sự tác động xã hộicủa quá trình hai mươi năm phát triển của Bình Dương nên sẽ xem xét một cáckhách quan những gì thay đổi về mặt lối sống, chất lượng sống của như phúc lợi và

Ngày đăng: 02/09/2021, 16:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Biều đồ 22 Các chương trình truyền hình thường được quan - Tác động của đô thị hóa trong lĩnh vực xã hội ở bình dương   những vấn đề thực tiễn
i ều đồ 22 Các chương trình truyền hình thường được quan (Trang 6)
Biểu đồ 16 Loại hình cơ sở làm việc của người trả lời 72 - Tác động của đô thị hóa trong lĩnh vực xã hội ở bình dương   những vấn đề thực tiễn
i ểu đồ 16 Loại hình cơ sở làm việc của người trả lời 72 (Trang 6)
Nguồn: CTKBD, Bình Dương 2 năm hình thành và phát triển, 2016 - Tác động của đô thị hóa trong lĩnh vực xã hội ở bình dương   những vấn đề thực tiễn
gu ồn: CTKBD, Bình Dương 2 năm hình thành và phát triển, 2016 (Trang 61)
Bảng 2: Số trường phổ thông ở tỉnh Bình Dương từ 2011-2016 Các trường phổ thông - Tác động của đô thị hóa trong lĩnh vực xã hội ở bình dương   những vấn đề thực tiễn
Bảng 2 Số trường phổ thông ở tỉnh Bình Dương từ 2011-2016 Các trường phổ thông (Trang 77)
Bảng 5: Cơ sở ý tế của địa bàn tỉnh Bình Dương - Tác động của đô thị hóa trong lĩnh vực xã hội ở bình dương   những vấn đề thực tiễn
Bảng 5 Cơ sở ý tế của địa bàn tỉnh Bình Dương (Trang 81)
phúc lợi xã hội. Bảng 7 dưới đây đã phản ánh kết quả thái độ của người dân mỗi khi tới các cơ sở y tế để khám chữa bệnh với một số các tiêu chí như thời gian chờ khám chữa bệnh, thủ tục giấy tờ, không gian, nơi chờ khám bệnh, chuẩn đoán bệnh, chất lượng c - Tác động của đô thị hóa trong lĩnh vực xã hội ở bình dương   những vấn đề thực tiễn
ph úc lợi xã hội. Bảng 7 dưới đây đã phản ánh kết quả thái độ của người dân mỗi khi tới các cơ sở y tế để khám chữa bệnh với một số các tiêu chí như thời gian chờ khám chữa bệnh, thủ tục giấy tờ, không gian, nơi chờ khám bệnh, chuẩn đoán bệnh, chất lượng c (Trang 82)
Nếu xét về loại hình của cơ sở làm việc, có thể thấy nổi bật hai nhóm: nhóm thứ nhất là những người tự làm việc cho gia đình mình, chiếm tỷ lệ cao nhất (46,3%) - Tác động của đô thị hóa trong lĩnh vực xã hội ở bình dương   những vấn đề thực tiễn
u xét về loại hình của cơ sở làm việc, có thể thấy nổi bật hai nhóm: nhóm thứ nhất là những người tự làm việc cho gia đình mình, chiếm tỷ lệ cao nhất (46,3%) (Trang 92)
Nơi làm việc (%) - Tác động của đô thị hóa trong lĩnh vực xã hội ở bình dương   những vấn đề thực tiễn
i làm việc (%) (Trang 93)
Biểu đồ 16: Loại hình cơ sở làm việc của người trả lời - Tác động của đô thị hóa trong lĩnh vực xã hội ở bình dương   những vấn đề thực tiễn
i ểu đồ 16: Loại hình cơ sở làm việc của người trả lời (Trang 93)
sát đã tăng lên 36,3%. Đặc biệt, loại hình nhà villa- biệt thự sau 10 năm đã tăng từ 0,6% lên 11,9% (xem biểu đồ 18) - Tác động của đô thị hóa trong lĩnh vực xã hội ở bình dương   những vấn đề thực tiễn
s át đã tăng lên 36,3%. Đặc biệt, loại hình nhà villa- biệt thự sau 10 năm đã tăng từ 0,6% lên 11,9% (xem biểu đồ 18) (Trang 95)
Bảng 9: Sự sở hữu đồ dùng lâu bền của các hộ dân tỉnh Bình Dương - Tác động của đô thị hóa trong lĩnh vực xã hội ở bình dương   những vấn đề thực tiễn
Bảng 9 Sự sở hữu đồ dùng lâu bền của các hộ dân tỉnh Bình Dương (Trang 97)
Bảng 11: Mức tiêu dùng người/tháng) - Tác động của đô thị hóa trong lĩnh vực xã hội ở bình dương   những vấn đề thực tiễn
Bảng 11 Mức tiêu dùng người/tháng) (Trang 98)
Bảng 12: Mức tiêu thụ rượu bia và các loại nước uống khác tính theo các nhóm thu nhập Đơn vịNhómINhómIINhómIIINhóm IVNhómV - Tác động của đô thị hóa trong lĩnh vực xã hội ở bình dương   những vấn đề thực tiễn
Bảng 12 Mức tiêu thụ rượu bia và các loại nước uống khác tính theo các nhóm thu nhập Đơn vịNhómINhómIINhómIIINhóm IVNhómV (Trang 99)
Bảng 13: Các hoạt động trong thời gian rảnh rỗi của nhóm người thường trú (%) - Tác động của đô thị hóa trong lĩnh vực xã hội ở bình dương   những vấn đề thực tiễn
Bảng 13 Các hoạt động trong thời gian rảnh rỗi của nhóm người thường trú (%) (Trang 106)
Kết quả (thể hiện trong bảng 14) cho thấy hai dạng hoạt động mà người trả lời chọn ở mức độ thực hiện hàng ngày là xem tivi (75%) và theo dõi internet (60%) - Tác động của đô thị hóa trong lĩnh vực xã hội ở bình dương   những vấn đề thực tiễn
t quả (thể hiện trong bảng 14) cho thấy hai dạng hoạt động mà người trả lời chọn ở mức độ thực hiện hàng ngày là xem tivi (75%) và theo dõi internet (60%) (Trang 107)
Tỷ lệ chọn cao thứ hai là nhóm người hay xem phim truyền hình (61,9%), tiếp theo là ca nhạc (37,5%) rồi tới các loại hình sân khấu như cải lương, chèo, kịch, tuồng (23,4%) và các chương trình thể thao (22,2%) - Tác động của đô thị hóa trong lĩnh vực xã hội ở bình dương   những vấn đề thực tiễn
l ệ chọn cao thứ hai là nhóm người hay xem phim truyền hình (61,9%), tiếp theo là ca nhạc (37,5%) rồi tới các loại hình sân khấu như cải lương, chèo, kịch, tuồng (23,4%) và các chương trình thể thao (22,2%) (Trang 108)
Xem truyền hình 24 0 75.0 41 12.8 5 1.6 34 10.6 - Tác động của đô thị hóa trong lĩnh vực xã hội ở bình dương   những vấn đề thực tiễn
em truyền hình 24 0 75.0 41 12.8 5 1.6 34 10.6 (Trang 108)
Biều đồ 22: Các chương trình truyền hình thường được quan tâm(%) - Tác động của đô thị hóa trong lĩnh vực xã hội ở bình dương   những vấn đề thực tiễn
i ều đồ 22: Các chương trình truyền hình thường được quan tâm(%) (Trang 109)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w