Mục tiêu đề tài: Đe xuất giải pháp sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học phân môn kể chuyện để giúphọc sinh phát triển ý tưởng, từ đó, các em có thể xây dựng được nội dung câu chuyện theođú
Trang 1BÁO CÁO TỐNG KÉT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA
CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN cứu KHOA HỌC NĂM HỌC 2016 - 2017 /XÉT GIẢI THƯỞNG "TÀI NẢNG KHOA HỌC TRẺ ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT"
NĂM 2017
TÊN ĐÈ TÀI:
SỬ DỤNG Sơ ĐỒ Tư DUY GIÚP HỌC SINH LỚP 4 PHÁT TRIÊN Ỷ TƯỞNG
TRONG DẠY HỌC KÉ CHUYỆN
Thuộc nhóm ngành: Khoa học giáo dục
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA Sư PHẠM
Trang 2ĐÈ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA
CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN cứu KHOA HỌC NĂM HỌC 2016 -2017
/XÉT GIẢI THƯỞNG "TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ ĐẠI HỌC THỦ DÀU MỌT"
NĂM 2017
TÊN ĐÈ TÀI:
GIÚP HỌC SINH LỚP 4 PHÁT TRIỂN Ý TƯỞNG
TRONG DẠY HỌC KẾ CHUYỆN
Thuộc nhóm ngành: Khoa học giáo dục
Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Kim Thoa Nam, Nữ: Nữ
Dân tộc: Kinh
Lớp, khoa: DI4TH04, khoa Sư phạm Năm thứ: 3/số năm đào tạo: 4
Ngành học: Giáo dục tiểu học
Người hướng dẫn: Thạc sĩ Võ Thị Ngọc Trâm
UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMTRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập - Tụ do - Hạnh phúc
Trang 31 Thông tin chung:
- Tên đề tài: sử DỤNG sơ ĐỒ TU' DUY GIÚP HỌC SINH LỚP 4 PHÁT TRIẾN ÝTƯỞNG TRONG DẠY HỌC KẾ CHUYỆN
- Sinh viên / nhóm sinh viên thực hiện đề tài:
STT Họ và tên MSSV Lóp Khoa
Năm thứ/
Số nămđào tạo
1 Phạm Thị Kim Thoa 1421402020209 D14TH04 Sư phạm 3/4
2 Hồ Thị Xuân Thủy 1421402020204 D14TH04 Sư phạm 3/4
3 Trần Thị Thủy Tiên 1421402020218 D14TH04 Sư phạm 3/4
- Người hướng dẫn: Thạc sĩ Võ Thị Ngọc Trâm
2 Mục tiêu đề tài:
Đe xuất giải pháp sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học phân môn kể chuyện để giúphọc sinh phát triển ý tưởng, từ đó, các em có thể xây dựng được nội dung câu chuyện theođúng chủ đề, ke lại câu chuyện theo lối kể của mình một cách sáng tạo Qua đó, giúp họcsinh phát triển khả năng tư duy, kĩ năng giao tiếp và bồi dưỡng tâm hồn tình cảm, góp phầnhình thành nhân cách ỏ' các em
3 Tính mói và sáng tạo:
Đe tài nghiên cứu trong phạm vi chương trình dạy học kể chuyện lóp 4 với các kế hoạch dạy học minh họa có sử dụng SO' đồ tư duy để giúp học sinh ngoài ghi nhớ, tóm tắt còn có thế phát triển ý tưỏưg câu chuyện hiệu quả, góp phần phát triển tư duy cho học sinh
4 Kết quả nghiên cứu:
Đe tài được nghiên cứu trên cơ sở lí luận và có đưa ra một số phương pháp dạy học
sử dụng sơ đồ tư duy cũng như các kế hoạch dạy học minh họa phù hợp nên có thể
Trang 4học sinh phát triển ý tưởng câu chuyện tốt hơn.
5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khảnăng áp dụng cùa đề tài:
Sản phấm của đề tài có thế áp dụng giáng dạy trong phân môn kế chuyện lớp 4 ởcác trường tiểu học, tăng tính tích cực và khả năng sáng tạo của học sinh, góp phần nângcao hiệu quả giáo dục
6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ họ tên tác giả,
nhan đề và các yếu tổ về xuất bản nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các
kết quả nghiên cứu (nếu có):
Ngày 10 tháng 04 năm 2017Sinh viên chịu trách nhiệm chính
thực hiện đề tài
(ký, họ và tên)
Nhận xét của nguòi hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực hiện đề tài
(phần này do người hướng đẫn ghi):
Nhóm nghiên cứu rat tích cực và chu động trong việc tìm hiểu các lý thuyết liên quan đến đề tài Sản phẩm là phát triển các ý tưởng từ các tài liệu tham khảo, tuy nhiên vẫn
có những sáng tạo và đưa ra được một số ý tưởng mới quan trọng trong việc hướng dẫn học
sinh phát triển ý tưởng bằng cách sử dụng SO’ đồ tư duy.
Trang 5TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THựC HIỆN ĐỀ TÀI
I sơ Lược VỀ SINH VIÊN:
Họ và tên: PHẠM THỊ KIM THOA
Sinh ngày: 12 tháng 11 năm 1996
Trang 7CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ĐỘC lập - Tự do - Hạnh phúc
Bình Dương, ngày 10 tháng 04 năm 2017
Kính gửi: Ban tổ chức Giải thuửng
“Tài năng khoa học trẻ Đại học Thủ Dầu Một”
Sinh ngày 07 tháng 03 năm 1996
Sinh viên năm thứ: 3/ Tống số năm đào tạo: 4
Lớp, khoa :D14TH04, Sư phạm Ngành học : Giáo dục tiểu học
3 TRẦN THỊ THỦY TIÊN
Sinh ngày 07 tháng 11 năm 1996
Sinh viên năm thứ: 3/ Tổng số năm đào tạo: 4
Lóp, khoa :D14TH04, Sư phạm Ngành học : Giáo dục tiểu học
Thông tin cá nhân của sinh viên chịu trách nhiệm chính:
Địa chi liên hệ: Phường Phú Lợi, TP Thù Dầu Một, tình Bình Dương Số điện thoại (cố định, di động): 01679082580
Địa chì email: thoaphaml23580@gmail.com
Chúng tôi làm đơn này kính đề nghị Ban tổ chức cho chúng tôi được gửi đề tài nghiên cứu khoa học để tham gia xét Giải thưỏưg “Tài năng khoa học trẻ Đại học Thủ Dầu Một” năm 2017
Tên đề tài: Sử dụng sơ đồ tư duy giúp học sinh lóp 4 phát triển ý tưởng trong dạy họcphân môn Kể chuyện
Chúng tôi xin cam đoan đây là đề tài do chúng tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS Võ Thị Ngọc Trâm; đề tài này chưa được trao bất kỳ một giải thu ỏ ng nào khác tại thờiđiểm nộp hồ sơ và không phải là luận văn, đồ án tốt nghiệp
Trang 9DANH MỤC HÌNH iv
MỞ ĐẦU 1
1 Tổng quan tài liệu 1
2 Lí do chọn đề tài 5
3 Mục tiêu đề tài 6
4 Phuong pháp nghiên cứu 6
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
6 Bố cục đề tài 6
Chương 1: co SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC sử DỤNG so ĐÒ TU DUY ĐỂ PHÁT TRIỂN Ý TƯỞNG TRONG DẠY HỌC KỂ CHUYỆN 8 1.1 Các khái niệm 8
1.1.1 Khái niệm tư duy 8
1.1.2 Khái niệm SO’ đồ tư duy 8
1.1.3 Khái niệm ý tưởng 9
1.1.4 Khái niệm kể chuyện 1 ]
1.2 Sơ đồ tư duy đối vói sụ phát triển tư duy của học sinh 12
1.2.1 Cơ sở khoa học của sơ đồ tư duy đối vói sự phát triển tư duy 12
1.2.2 Tác dụng của SĐTD đối vói sự phát triển tư duy của học sinh 15
1.2.2.1 Ghi nhớ, tóm tắt hệ thống thông tin 15
1.2.2.2 Phát triển ý tưỏng 15
1.2.3 Quy trình vẽ SĐTD 16
1.3 Nội dung dạy học phân môn Kể chuyện lóp 4 19
1.3.1 Vị trí và nhiệm vụ của phân môn Kể chuyện 19
1.3.1.1 VỊ trí của phân môn Kể chuyện 19
1.3.1.2 Nhiệm vụ của phân môn Kể chuyện 20
1.3.2 Nội dung chương trình dạy học phân môn Kể chuyện lóp 4 21
1.3.3 Tác dụng của việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học kể chuyện lóp 4 23
1.3.3.1 Đối vói dạng bài kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lóp 23
1.3.3.2 Đối vói dạng bài kể chuyện đã nghe, đã đọc 24
1.3.3.3 Đối vói dạng bài kể chuyện đã chirng kiến, tham gia 24
Trang 101.4 Co' chế của hoạt động kể chuyện 25
1.4.1 Giai đoạn nắm ý và nhớ ý 25
1.4.2 Giai đoạn diễn ý 27
1.5 Đặc điếm tâm lí, sinh lý học thần kinh của học sinh tiểu học 28
1.5.1 Tâm lí 28
1.5.1.1 Hứng thú học tập 28
1.5.1.2 Khả năng chú ý 30
1.5.1.3 Khả năng ghi nhó' 31
1.5.1.4 Khả năng tư duy 31
1.5.2 Sinh lý học thần kinh 33
1.6 Phát triển ngôn ngữ gắn liền vói phát triến tư duy 33
Chuông 2: sử DỤNG so ĐỒ TƯ DUY GIÚP HỌC SINH PHÁT TRIỂN Ý TƯỞNG TRONG DẠY HỌC KÉ CHUYỆN 35
2.1 Nguyên tắc sử dụng SO’ đồ tư duy trong dạy học kế chuyện 35
2.2 Các loại SO' đồ tư duy trong dạy học Ke chuyện 4 37
2.3 Quy trình sử dụng SO’ đồ tư duy trong dạy học kể chuyện 39
2.3.1 Đối vói dạng bài kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lóp 39
2.3.2 Đối vói dạng bài kể chuyện đã nghe, đã đọc 42
2.3.3 Đối vói dạng bài kể chuyện đã chứng kiến, tham gia 43
2.4 Những điều lưu ý khi sử dụng sơ đồ tu duy trong dạy học kế chuyện 45
2.5 Thiết kế kế hoạch dạy học minh họa 46
2.5.1 Dạng bài: Ke chuyện đã nghe thầy (cô) kể trên lóp 46
2.5.2 Dạng bài: Kế chuyện đã nghe đã, đã đọc 58
2.5.3 Dạng bài: Ke chuyện đã chứng kiến hoặc tham gia 67
KẾT LUẬN VÀ KIÉN NGHỊ 78
1 Kết luận 78
2 Kiến nghị 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 83
Trang 12Hình 1 ưng dụng SĐTD trong bài kê chuyện đã nghe, đã đọc về lòng nhân hậu
Hình 2 ứng dụng SĐTD trong bài kể chuyện đã chứng kiến, tham gia về tinh thần kiên trì
vượt khó
Hình 3 SĐTD theo tuyến sự kiện
Hỉnh 4 SĐTD theo tuyến nhân vật
Hình 5 Ưng dụng SĐTD trong bài kế chuyện đã nghe, đã đọc về lòng dũng cảm
Hình 6 ưng dụng SĐTD trong bài kể chuyện Sự tích hồ Ba Be
Hình 7 ứng dụng SĐTD trong bài kê chuyện Một nhà thơ chân chính
Hình 8 ưng dụng SĐTD trong bài kế chuyên Con vịt xẩu xí
Hình 9 ưng dụng SĐTD trong bài kế chuyện đã nghe, đã đọc Nàng tiên OC
Hình 10 ứng dụng SĐTD trong bài ke chuyện đã chứng kiến, tham gia về chuyến du lịch
hoặc cam trại
Hĩnh 1 ỉ Ung dụng SĐTD trong bài kế chuyện đã chứng kiến, tham gia về một người
vui tính
Trang 13Nguyễn Thị Thân và Phạm Hồng Bắc cũng đề cập đến việc ứng dụng SĐTD nhằm nâng caochất lượng dạy học các môn học ở trường THPT.
Ke cả ỏ’ Tiêu học, SĐTD cũng đã được nghiên cứu ứng dụng trong rất nhiều môn
học Sáng kiến kinh nghiệm ủng dụng So’ đồ tư duy vào dạy học vào một số môn học ở lóp 4
(2012) của Trần Thị Thúy Vân đã chỉ ra sơ đồ tư duy giúp học sinh rèn luyện kỹ năng và tư
duy khoa học, đặc biệt ghi nhó’ được sâu sắc Vũ Văn Nam với bài viết ứng dụng So’ đồ tư
duy vào dạy học ở Tiểu học (2013) đã chứng tỏ sơ đồ tư duy giúp học sinh tiểu học phát hiện
vấn đề một cách có hệ thống Tác giả Trần Kim Hương lại tóm lược cách xây dựng bản đồcũng như ứng dụng của loại bản đồ này trong giảng dạy và học tập, đồng thời giói thiệu một
số công cụ phần mềm để có thê giúp tạo ra các Bản đồ Tư duy trong Bản đồ tư duy - Phương
pháp dạy và học hiệu quả Bên cạnh đó còn có bài viết Vận dụng bủn đồ tư duy vào dạy học môn Địa lý lớp 5 của Phạm Thị Hoa Mai, các sáng kiến kinh nghiệm nhu- “Giảipháp ứng
dụng so' đồ tư duy trong giảng dạy bộ môn tin học ở trường tiểu học Kim Đồng - quận 7, Tp.
HCM " của Nguyễn Trịnh Ngọc Hân, Một số biện pháp giúp học sinh lóp 4,5 vận dụng sơ
đồ tư duy để học tốt môn Khoa học của Phạm Thị Tuyết Ánh - Trần Thị Thùy Phương cũng
góp phần giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát về tầm quan trọng của loại sơ đồ này trong dạyhọc như thế nào
Môn Tiếng Việt ở Tiếu học là một trong những môn học quan trọng, đã có rất nhiềunghiên cứu về việc sử dụng SĐTD trong dạy học các các phân môn của môn học này giúp
kích thích hứng thú học tập hiệu quả của học sinh Nhiều bài viết trên các Tạp chí như Xây
dựng và khảo nghiệm quy trình hướng dẫn học sinh sử dụng giản đồ tư duy trong lập dàn ý qua học tập phân môn Tập làm văn lớp 4 (2010) của Bùi Thị Kim Trúc đã đưa ra gợi ý về
quy trình hướng dẫn HS sử dụng giản đồ tư duy một cách hiệu quả và khả thi trong phânmôn Tập làm văn đối với tòng dạng bài văn miêu tả ở lớp 4 Cũng trong phân môn này, bài
viết ủng dụng SO' đồ tư duy để lập dàn ý trong dạy học văn miêu tả lóp 5 (2012) của Lê
Phương Nga và Lê Ngọc Hóa đã nêu ra vai trò quan trọng của SĐTD trong việc lập dàn ý bàivăn miêu tả là giúp HS dễ nắm bắt nội dung trọng tâm, tạo cho HS hứng thú, là điều kiệnmở’ ra những liên tưởng, tưởng tượng, sáng tạo về đối tượng miêu tả Các tác giả mongmuốn đưa ra gợi ý hướng dẫn HS khai thác các chức năng của SĐTD để lập dàn ý cho mộtbài văn miêu tả cụ thể trong chương trình Tập làm văn lớp 5
Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Hương Giang với đề tài Sừ dụng bản đồ tư duy trong
dạy - học phân môn Luyện từ và câu lớp 5 (2012) lại nêu ra một số ứng dụng của bản đồ tư
Trang 14duy như trong cuộc sống hằng ngày và cả trong kinh doanh Tác giả cũng chỉ ra vai trò quantrọng của bản đồ tư duy trong dạy - học, các kĩ thuật thiêt kê và giới thiệu một số phần mềm
hỗ trợ vẽ bản đồ tư duy Đặc biệt, bài viết đề cập đến sự hỗ trợ đắc lực cúa bản đồ tư duy đedạy - học từng nhóm bài trong phân môn LT&C lớp 5
Hay Trịnh Thị Hương với Sử dụng SO' đô tư duy đê dạy học kê chuyện ở Tiêu học
đăng trcn báo Tạp chí khoa học Trường Đại học cần Thơ (2013) đã nghiên cứu việc vậndụng SĐTD vào dạy học Ke chuyện và việc đánh giá hiệu quả của sử dụng SĐTD để rèn các
kỹ năng nghe kể cho học sinh, đồng thời, hướng dẫn các em vẽ SĐTD để kể lại câu chuyệnnhằm rèn kĩ năng khái quát hóa và kĩ năng sử dụng ngôn ngữ Cùng quan điểm đó, trong bài
viết mang tên Sử dụng SO' đồ tư duy trong dạy học kể chuyện lóp 3 của Lê Thị Lan Anh và
Nguyễn Thị Phương (Tạp chí Giáo dục, số 392 năm 2016) đã cụ thể hơn việc sừ dụng SĐTDđối với từng dạng bài và cũng khẳng định rằng lập SĐTD giúp học sinh khái quát và nhớđược nội dung câu chuyện một cách dễ dàng, phát huy được khả năng sáng tạo khi nhập vàovai nhân vật mà không cần phải nhớ máy móc các chi tiết trong văn bản truyện [3, tr.43)Những năm sau đó, hàng loạt các bài viết đăng trên các tạp chí cũng bàn luận về việc sử
dụng SĐTD trong phân môn tập đọc PGS TS Nguyễn Thị Ly Kha với bài viết Sử dụng SO'
đồ trong dạy học tập đọc ở Tiếu học (Tự/? chí Khoa học ĐHSP TPHCM, sổ 6(71) năm 2015) đã giới thiệu và đưa ra cách sử dụng một số loại sơ đồ ở bước khái quát hóa nội dung
bài đọc giúp học sinh nắm được thông tin hiển ngôn và thông tin hàm ngôn của bài đọc Tácgiả cho rằng SĐTD có tác dụng rất lớn trong việc ghi nhớ và giúp phát triển ý tưởng Song,kiểu sơ đồ này lai không thuận lọi trong việc tóm tắt những bài đọc có tính tiến trình [22,tr.46] Cũng phân môn này, Th.s Trịnh cấm Ly lại nêu các giải pháp hưóng dẫn học sinh vẽSĐTD một cách chi tiết từ đơn giản đến phức tạp, tùng phần của bài tập đọc cùng với một sốlưu ý cho giáo viên khi sử dụng kĩ thuật dạy học này nhằm nâng cao chất lượng dạy học
trong bài viết ẤM’ dụng SO' đồ tư duy vào dạy học tập đọc cho học sinh lớp 4, 5 (Tạp chí
Giáo dục, sô 363 năm 2015).
Qua một số nghiên cứu của các tác giả về việc ứng dụng SĐTD trong dạy học cácmôn học ở các cấp nói chung và trong môn Tiếng Việt ở tiêu học nói riêng, chúng tôi thấyrằng các nghiên cứu hầu hết đều chỉ ra rằng SĐTD là một công cụ tuyệt vời, giúp ích rấtnhiều cho cả giáo viên và học sinh để có the dạy và học tốt hơn các phân môn Tiếng Việt.Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào về việc sử dụng SĐTD trong dạy học Kẻ chuyện lóp 4 đểgiúp các em phát triển ý tưởng cũng như cách vẽ một SĐTD như thế nào cho một bài kể
Trang 15chuyện đúng, hay và thư hút mọi người Trong khi đó, chương trình Kể chuyện lớp 4 còn cóthêm các dạng bài tập mó'i mà các lớp 1, 2, 3, các em chưa từng được học và làm quen vớiviệc dùng SĐTD trong các dạng bài tập này Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ ra ý nghĩa
và phương pháp sử dùng sơ đồ tư duy trong dạy học Ke chuyện lớp 4 để giúp học sinh pháttriển ý tưởng, đồng thời thiết kế các kế hoạch dạy học minh họa sử dựng SĐTD phù họp đốivới từng bài trong chương trình
2 Lí do chọn đề tài
Trong chương trình tiểu học, phân môn Ke chuyện có nhiệm vụ phát triên các kĩ năngnghe - nói, phát triển tư duy và góp phần tích lũy vốn sống, vốn văn học cho học sinh thôngqua việc kể lại các câu chuyện
Ở chương trình lớp 4, phân môn Kể chuyện ngoài giúp học sinh củng cố kì năng kểlại các câu chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp còn yêu cầu các em kê chuyện đã nghe, đãđọc, kể chuyện đã chứng kiến hoặc tham gia (đây là hai dạng bài mới, khác với các khối lóp1,2, 3) theo chủ đề đã cho Nội dung phân môn Ke chuyện 4 phong phú, độ dài ló'n ho’n, cáctình tiết phức tạp hơn so với chương trình các khối lóp trước nên có yêu cầu cao hơn, đòi hỏihọc sinh cần phải có ý tưởng khi kê chuyện Song, học sinh khó có thể hình dung các ý, cáctình tiết cần thiết và quan trọng trong câu chuyện của mình nên các cm có thể kể lan man, ketừng câu như hình thức trả lời câu hỏi hoặc không có bất kì ý tưởng nào để phát triển nộidung câu chuyện của mình mà chỉ là dựa trên khuôn mẫu, từ đó, làm cho câu chuyện kémhấp dẫn, làm giảm chât lượng dạy học tiết phân môn kế chuyện, dần dần khả năng tư duy củahọc sinh kém đi
Đe giúp học sinh phát triển ý tưởirg trong học phân môn ke chuyện thì giáo viên nên
có phương pháp dạy học mới và tích cực đó là sử dụng sơ đồ tư duy
Sơ đồ tư duy là một công cụ hữu ích cho phép học sinh tóm tắt những ý chính thànhnhững cụm từ ngắn gọn và chính xác, giúp các em dễ dàng khái quát, sắp xếp triển khai các
ý tưởng theo cách riêng của mình Sử dụng sơ đồ tư duy giúp các em phát triển ý tưởng xâydựng nội dung câu chuyện, dùng ngôn ngữ của mình đê xây dựng và trình bày bài kể, từ đógiúp các em học tập phân môn Ke chuyện một cách hiệu quả
Đó cũng chính là lí do chúng tôi quyết định chọn đề tài “Sử dụng SO' đồ tư duy giúp
học sinh ló’p 4 phát triển ỷ tưởng trong dạy học Kê chuyện
3 Mục tiêu đề tài
Đề xuất giải pháp sử dụng SO' đồ tư duy trong dạy học phân môn ke chuyện đế giúp
Trang 16học sinh phát triển ý tưởng, tù' đó, các em có thể xây dựng được nội dung câu chuyện theođúng chủ đề, kế lại câu chuyện theo lối kể của mình một cách sáng tạo Qua đó, giúp họcsinh phát triển khả năng tư duy, kĩ năng giao tiếp và bồi dưỡng tâm hồn tình cảm, góp phầnhình thành nhân cách ở các em.
4 Phuong pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lí luận: tìm hiểu các tài liệu liên quan đe xác định CO' sở líluận của đề tài
5 Đoi tưọ’ng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp sử dụng sơ đồ tư duy
- Phạm vi nghiên cứu: Nội dung phân môn kể chuyện lớp 4
1.1.1 Khái niệm tư duy
1.1.2 Khái niệm sơ đồ tư duy
1.1.3 Khái niệm ý tưởng
1.1.4 Khái niệm kể chuyện
1.2 Sơ đồ tư duy đối với sự phát triển tư duy của học sinh
1.2.1 Cơ sở khoa học của sơ đồ tư duy đối với sự phát triển tư duy
1.2.2 Tác dụng của SĐTD đối với sự phát triển tư duy của học sinh
1.2.2.1 Ghi nhớ, tóm tắt hệ thống thông tin1.2.2.2 Phát triển ý tưởng
1.2.3 Quy trình vẽ SĐTD
1.3 Nội dung dạy học phân môn Ke chuyện lóp 4
1.3.1 VỊ trí và nhiệm vụ của phân môn Ke chuyện
1.3.2 Nội dung chương trình dạy học phân môn Kể chuyện lóp 4
1.3.3 Tác dụng của việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học kế chuyện lóp 4
1.3.3.1 Đối với dạng bài kê chuyện đã nghe thầy (cô) kể trên lớp
1.3.3.2 Đối với dạng bài ke chuyện đã nghe, đã đọc
Trang 171.3.3.3 Đối vói dạng bài kế chuyện đã chứng kiến, tham gia
1.4 Cơ chế của hoạt động kể chuyện
1.4.1 Giai đoạn nắm ý và nhớ ý
1.4.2 Giai đoạn diễn ý
1.5 Đặc điểm tâm lí, sinh lý học thần kinh của học sinh tiểu học
1.5.2.3 Đặc diêm hoạt động thần kinh cấp cao ỏ' học sinh tiểu học
1.6 Phát triển ngôn ngữ gắn liền với phát triển tư duy
Chuông 2: sử DỤNG so ĐÒ TƯ DUY GIÚP HỌC SINH PHÁT TRIỂN Ý TUÔNG
TRONG DẠY HỌC KẺ CHUYỆN
2.1 Nguyên tắc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học kể chuyện
2.2 Các loại SĐTD trong dạy học kể chuyện
2.3 Quy trình sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học kể chuyện
2.3.1 Đối với dạng bài kể chuyện đã nghe thầy (cô) kể trên lớp
2.3.2 Đối với dạng bài kể chuyện đã nghe, đã đọc
2.3.3 Đối vói dạng bài kể chuyện đã chứng kiến, tham gia
2.4 Những điều lưu ý khi sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học kể chuyện
2.5 Thiết kế kế hoạch dạy học minh họa
2.5.1 Dạng bài kể chuyện đã nghe thầy (cô) kể trên lóp
2.5.2 Dạng bải kể chuyện đã nghe, đã đọc
2.5.3 Dạng bài kể chuyện đã chứng kiến, tham gia
Chuông 1: co SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC sủ DỤNG so ĐÒ TƯ DUY ĐẺ PHÁT TRIÉN ÝTƯỞNG TRONG DẠY HỌC KỂ CHUYỆN
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Khái niệm tư duy
Trang 18Trong cuộc sống, khi đứng trước những bài toán, những tình huống mà chỉ dùng cảmgiác và tri giác, con người sẽ không thể trả lòi được những câu hỏi mang tính bản chất,những cái chưa biết, chính vì vậy mà con người cần phải tư duy để giải quyết vấn đề, tìm racái mới mà cái mới ấy chính là những đặc điểm bên trong, những thuộc tính bản chất, nhữngmối liên hệ có tính quy luật Mức độ nhận thức đó gọi là quá trình tư duy.
Tư duy là một quá trình tâm lí Đó là sự vận động có mở đầu, có diễn biến, có kếtthúc và mỗi hành động tư duy là một quá trình giải quyết nhiệm vụ nào đó nảy sinh trongquá trình nhận thức hay trong hoạt động thực tiễn của con người Đó là quá trình đi tìm kiếmcái mới (ý nghĩ mới, giải pháp mới, tri thức mới ) từ những kiên thức, kinh nghiệm đã có
Thuật ngữ tỉf duy trong Từ điển Tiếng Việt đươc định nghĩa là từ triết học dùng để
chỉ những hoạt động của tinh thần, đem những cảm giác của người ta sửa đổi và cải tạo, làmcho người ta có nhận thức đúng đắn về sự vật: Tư duy bao giờ cũng là sự giải quyết vấn đềthông qua những tri thức đã nắm được từ trước [4, tr.704J
Có thể nói, tư duy là một quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất,những mối liên hệ và quan hệ bôn trong có tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiệnthực khách quan mà trước đó ta chưa biết [31, tr 102]
1.1.2 Khái niệm SO’ đồ tư duy
Trong cuốn Cracking Creativity (Sự sáng tạo tuyệt vời), Michael Michalko định
nghĩa “Bản đồ tư duy là công cụ có thể thay thế toàn bộ tư duy hàng lối đã định sẵn trongnão bộ Công cụ này có thể vươn ra mọi hướng để nắm bắt suy nghĩ từ mọi góc độ”
Theo Tony Buzan, sơ đồ tư duy (bản đồ tư duy) là công cụ tổ chức suy nghĩ cơ bản một công cụ đa năng hỗ trợ bộ não của bạn SĐTD là một công cụ ghi chép, ghi chú sáng tạo
-và hiệu quả theo mạch tư duy của mỗi người nhằm đào sâu, mở rộng một ý tưởng, sắp xếpcác ý tưởng một cách tối ưu nhất bằng cách sử dụng kết họp giữa hình ảnh, đường nét, màusắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Đặc biệt, loại sơ đồ này không yêu cầu tỉ lệ chi tiết khắtkhe như các loại bản đồ khác (bản đồ địa lí hay lược đồ lịch sử), có thể vẽ thêm hoặc bớt cácnhánh, mồi người thỏa sức vẽ sáng tạo theo ý của mình, dùng hình ảnh, màu sắc, từ ngữriêng của mình để làm nổi bật chủ đề mà mình đang muốn tìm hiếu, học hởi Sử dụng SĐTD
là cách đon giản dể đưa thông tin vào bộ não, đế sau đó bạn có thể dễ dàng và nhanh chóng
“truy xuất” lại những gì đã ghi nhó' Có thể áp dụng SĐTD trong cuộc sống mọi mặt, qua đócải thiện học tập và khả năng tư duy mạch lạc, nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động Sơ đồ
tư duy có bốn đặc diêm cơ bản sau:
Trang 19- Đối tượng quan tâm được kết tinh thành một hình ảnh trung tâm.
- Từ hình ảnh trung tâm, nhũng chủ đề chính của đối tượng tỏa rộng thành các nhánh
- Các nhánh đều cấu thành từ một hình ảnh chủ đạo hay từ khóa trên một dòng liên kết.
Những vẫn đề phụ cũng đuợc biếu thị bởi các nhánh gắn kết vói những nhánh có thứ bậc caohơn
- Các nhánh tạo thành một cấu trúc nút liên hệ nhau
1.1.3 Khái niệm ý tưởng
Wilhelm Leibniz có câu: “Nguồn gốc của các phát minh còn thú vị hơn bản thân của
phát minh đó ” Đúng vậy, nhân loại đang hưởng thụ thành quả là những phát minh vĩ đại
của các nhà khoa học lỗi lạc mà hiếm có ai đã đặt ra câu hỏi tại sao các nhà khoa học lại tìm
ra được những phát minh đó? Hay có phải những phát minh đó vốn dĩ là dành cho những nhàkhoa học khám phá ra hay không? Tất cả các thắc mắc, các câu hỏi tại sao đó, nguồn gốc củacác phát minh vĩ đại đó đều là xuất phát từ các ý tưởng Vậy ý tưởng là gì?
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa ý tưởng là những điều nghĩ trong đầu óc.
Đa số chúng ta dùng từ ý tưởng để biểu thị bất kì mọi nội dung trí tuệ nào và điều đó
là hoàn toàn họp lí Có rất nhiều loại ý tưởng, theo Howard Gardner - nhà tâm lí học nôitiếng thế giới tù' Đại học Harvard cho rằng có 4 loại ý tưởng quan trọng liên quan đến tư duy
và thay đổi tư duy, đó là: khái niệm, câu chuyện, lý thuyết và kĩ năng
Khái niệm, đơn vị cơ bản nhất, là một cụm từ bao quát dùng để miêu tả một tập họp
những chủ thể có quan hệ gần gũi với nhau
Câu chuyện là những bài tường thuật mô tả sự kiện diễn ra theo thời gian ít nhất, câu
chuyện bao gồm một nhân vật chính hay một vai chính, những hoạt động diễn biến hướngđến cùng một mục tiêu, một cuộc khủng hoảng và một giải pháp, hay ít nhất là một nồ lựctìm kiếm giải pháp
Lý thuyết là những lòi giải thích tương đối chính thức về các quá trình trong thế giói.
Kĩ năng (hay thực hành) thê hiện ở mức độ thông thạo Các câu chuyện và lý thuyết
mang bản chất gợi ý Có thể kể chúng bằng từ ngữ, hoặc cũng có thể trình bày dưới các hìnhthức trí tuệ khác (như phim không lời hay đoạn video) Còn các kĩ năng bao gồm những quytrình thực hiện, và người thực hiện biết có nên - hay thậm chí có thế - diễn đạt chúng bằnglời hay không Các kĩ năng bao gồm những điều rất bình thường - như ăn chuối hay bắt bóng
- hay phức tạp - như chơi một bản xô - nát của Bach dành cho violon hay giải phương trình
vi phân bang tay [26, tr.44]
Trang 20Hay tư duy mở rộng là một khái niệm mới đe phát triển ý tưởng mà nhà phát minh ra những SĐTD noi tiếng trên toàn thế giói - Tony Buzan giói thiệu đến vói chúng ta là: Tư duy
mở rộng (theo động từ gốc “to radiate” gợi ý hình ảnh lan tỏa, mở rộng từ mọi hướng hay từ
vùng tiling tâm) là những quá trình tư duy liên kết xuất phát từ việc kết nối vói vùng trungtâm Tính từ gốc “radiant” còn có các nghĩa liên quan là “tỏa sáng rực rỡ”, “ánh mắt sángngời niềm vui và hy vọng”, “hoặc tâm điểm của cơn mưa sao băng” - cũng giống như hiệntượng “bùng nổ tư duy” [24, tr.71 ]
Đối với đề tài này, việc phát triển ý tưởng dựa vào SĐTD chính là phát triển từ một ý
tưởng trung tâm của một vấn đề, một lĩnh vực nào đó ra thành nhiều ý tưởng mới có mối liên
kết với nhau Đó có the là các ý tưởng về một khái niệm, một câu chuyện, tình huống nào đó
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Để phát triển được nhũng ý tưởng mới, chúng ta bắt đầu
từ việc mở rộng những ý tưỏng trong hiện tại và áp dụng những ý tưởng mở rộng đó vàohoàn cảnh, tình huống khác Dựa vào đó, chúng ta tiếp tục phát triển ý tưởng trong hoàncảnh mói, trau dồi và hoàn thành ý tưởng mới của mình
Hãy khám phá dòng chảy ý tưởng trong mồi con người chúng ta Pablo Picasso từng
nói: Tôi khởi đầu với một ý tưởng, rồi sau đó, nó lại trở thành một “phát minh ” khác.
Chúng ta có thể tạo ra những ý tưởng mới từ những gì mình đã biết “Nhũng kết quá, thànhtích chúng ta có được sẽ luôn là động lực thúc đẩy các ý tưởng mói Thành
Trang 21tưỏng trong tương lai” [17, tr 137] Dòng chảy ý tưởng đó sẽ chẳng bao giờ ngừng “Hãychọn một ý tưởng từ bất kỳ lĩnh vực nào - công việc, xã hội, hay cuôc sống - mà không phải
là ý tưởng do bạn nghĩ ra Tiếp đó, suy nghĩ và tìm ra những cơ hội mở rộng ý tưởng đó Bạnđừng lo lắng liệu ý tưởng đó có thể mở rộng được hay không Chắc chắn là nó có thê vấn đề
là bạn có tìm ra được những cơ hội tiềm ân của nó hay không thôi” [ 17, tr 142]
1.1.4 Khái niệm kể chuyện
Trong cuộc sống sinh hoạt của xã hội loài người, không những trẻ cm mà thậm chí cángười lớn cũng thích được nghe kể chuyện Sở dĩ như vậy, vì kể chuyện là một hình thứcthông tin nhanh gọn truyền cảm bằng ngôn ngữ Mặc dù đã có những phương tiện thông tinđại chúng hiện đại như ti vi, đài phát thanh, người ta vẫn thích nghe nói chuyện bằngmiệng Theo nghĩa rộng, thuật ngữ kể chuyện có thể bao hàm toàn bộ ngôn ngữ nói sinh hoạthằng ngày [21, tr 12]
Ke là động từ biếu thị hành động nói Từ điển Tiếng Việt giải thích kê: nói có đầu
đuôi, trình tự cho nguừi khác biết [4, tr.273]
Khi ở vị trí một thuật ngữ, kể chuyện bao hàm bốn phạm trù ngữ nghĩa sau:
Chỉ loại hình tự sự trong văn học (phân biệt với loại hình trữ tình, loại hình kịch) còn gọi là truyện hoặc tiểu thuyết
-Văn kể chuyện là văn trong truyện hoặc tiểu thuyết Do đó, đặc điểm của văn kểchuyện cũng là đặc điếm của truyện Đặc trưng cơ bản của truyện là tình tiết, tức là có sựviệc đang xảy ra, đang diễn biến, có nhân vật với ngôn ngữ, tâm trạng, tính cách riêng
- Chỉ tên một phương pháp nói trong diễn giải
Ke chuyện là một phưong pháp trực quan sinh động bằng lời nói Khi cần thay đốihình thức diễn giải nhằm thu hút sự chú ý của người nghe, người dùng xen kẽ phương pháp
kể chuyện Với các môn khoa học tự nhiên, kể chuyện thường được dùng trong phần kể vềtiểu sử tác giả, miêu tả quá trình phát minh, sáng chế, quá trình phản ứng hóa học
- Chỉ tên một loại văn thuật chuyện trong phân môn tập làm văn
Văn kể chuyện là một loại văn mà học sinh phải được luyện tập diễn đạt bằng miệnghoặc viết thành bài theo những quy tắc nhất định Vì tính chất phổ biến và ứng
Trang 22dụng rộng rãi của loại văn này nên nó trở thành loại hình cần được rèn kĩ năng, kỉ xảo bêncạnh các loại hình văn miêu tả, văn nghị luận.
- Chỉ tên một phân môn học ở các lóp trong trường tiểu học
Kê chuyện là một môn học ở các lớp tiêu học trường phô thông Có người hiêu đơn
giản, kể chuyện chỉ là kể chuyện dân gian Ke chuyện cổ tích Thực ra không hẳn như vậy,
kế chuyện ỏ' đây bao gồm việc kể nhiều loại chuyện khác nhau, kế cả truyện cố và truyệnhiện đại, nhằm mục đích giáo dục, giáo dưỡng, rèn kĩ năng nhiều mặt của một con người.[21, tr 11 -12]
Trong đồ tài này, kể chuyện được hiểu là một hoạt động hội tụ đầy đủ cả bốn kĩ năng
cơ bản trong giao tiếp đó là nghe, nói, đọc, viết Đặc biệt là kĩ năng nói, yêu cầu kể chuyệnphải là một câu chuyện có nhân vật, có cốt truyện và bài học giáo dục rút ra trong mồi câuchuyện đó Và ke chuyện được xếp vào một phân môn không hề kém phần quan trọng trong
bộ môn Tiếng Việt ở tiểu học đó là phân môn Ke chuyện
1.2 So’ đồ tu duy đối vói sự phát triển tu duy của học sinh
1.2.1 Co sỏ’ khoa học của so đồ tu duy đối vó’i sự phát triển tư duy
a) Co’ sỏ’ sinh lý thần kinh
Giáo sư Robert Omstein, tác giải cuốn The Psychology of Consciousness (Tâm lý
nhận thức) đã đề cập đến vấn đề bộ não con ngưòi: Bộ não là cơ quan điều phối mọi hoạt
động của cơ thể; nó kiểm soát gần như mọi hành vi, cử chỉ của chúng ta, như ăn, ngủ, giữấm, Bộ não cũng là cơ quan điều khiển các hoạt động phức tạp như sáng tạo âm nhạc, nghệthuật, khoa học và ngôn ngữ Ngay cả những hy vọng, suy nghĩ, cảm xúc và tính cách củachúng ta cũng tồn tại ở một nơi nào đó trong chính bộ não của mình Suốt hàng the kỷ qua,hàng ngàn nhà khoa học đã nghiên cứu về bộ não và chỉ có thê dùng một từ để mô tả về cấutrúc ấy: Tuyệt vời!
Bộ não của chúng ta vô cùng phức tạp Một tế bào thần kinh hoạt động bằng cáchthiết lập những liên kết phức tạp đến không tưởng với hàng vạn những tế bào thân kinh khác.Những liên kết được hình thành chủ yếu khi các nhánh chính lớn nhất (tức các sợi trục) thựchiện hàng ngàn liên kết với các nút nhỏ trên hàng ngàn các nhánh của các tế bào thần kinhkhác
Một diêm như vậy được gọi là một xi náp (hay synapse) Khi một thông điệp điện hóa - sinh (tức xung thần kinh) tăng vọt xuống sợi trục, dẫn truyền xi - náp sẽ lan qua các nútthần kinh vốn được kết nối với các đuôi gai Giữa các nút thần kinh và đuôi gai có một
Trang 23-khoảng trống rất nhỏ, gọi là khe xi - náp.
Xung thần kinh bắn hàng trăm ngàn túi não hình cầu qua khe xi - náp - nhìn từ gócnhìn vi mô, cảnh này không khác gì cảnh hệ thống thác Niagara hùng vĩ đang đổ từ trên caoxuống Các túi não di chuyển với tốc độ ánh sáng qua khe xi - náp, đến tiếp xúc vói phần bềmặt của đuôi gai Các thông điệp được truyền đi dọc theo các nhánh của te bào này và rồi lạitiếp tục truyền thông tin đến các tế bào thần kinh khác, với chu trình giống như trên Chutrình truyền tin này tương tự các chuỗi thông tin trên bản đồ tư duy, the nên khi lập bản đồ tưduy trên giấy, tức là bạn đang mô phỏng chính các bản đồ tư duy trong bộ não của bạn [25,tr.37-38]
Mặt khác, những nghiên cứu bằng ảnh cộng hưởng từ chức năng của não cho thấy,toàn bộ não hoạt động một cách đồng bộ trong các hoạt động của con người và quá trình tưduy là sự kết họp phức tạp giữa ngôn ngữ, hình ánh, khung cảnh, màu sắc, âm thanh và giaiđiệu Tức là, quá trình tư duy đã sử dụng toàn bộ các phần khác nhau trên bộ não [5, tr.68]
Bản đồ tư duy tương tự như kết cấu của bộ não, ở giữa bản đồ là một ý tưởng hayhình ảnh trung tâm Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này được phát triển bằng các nhánhtượng trưng cho những ý chính và đều được nối vói ý trung tâm Mọi từ và hình ảnh đượctỏa ra lại trở thành một tiểu trung tâm liên kết, cứ thế khai triển thành một chuỗi mắc xíchgồm những cấu trúc rễ nhánh tỏa ra xa hay hội tụ vào tâm diem chung, và có thế kéo dài vôtận Sơ đồ tư duy tuy vẽ trên mặt giấy 2-D, nhưng nó biếu thị một hiện thực đa chiều, đượcxác định bởi không gian, thời gian và màu sắc Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, các ý tưởngcũng có sự liên kết dựa trên mối liên hệ của bản thân chúng, điều này khiến SĐTD có thểbao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng mà một bản liệt kê ý tưởng thôngthường không thế làm được
Hiểu biết về cách bộ não hoạt động có thể ví như việc biết lái một chiếc xe hơi: càngnắm bắt tốt, càng hiểu biết nhiều, thao tác vận hành của bạn sẽ càng “nhuần nhuyễn” Tương
tự, nếu hiếu được bộ não của bạn thích học hỏi và hoạt động thế nào, bạn sẽ nhận được phầnthưởng xứng đáng: một bộ não hoạt động hiệu quả hơn rất nhiều Khi đó bạn sẽ thấy việcnảy ra những ý tưởng đầy cảm hứng, việc ghi nhớ các thông tin khi cần, và việc tìm ra cácgiải pháp sáng tạo giờ đã đơn giản rất nhiều Bạn sẽ nhanh chóng khám phá ra rằng khi đangthực hiện một Bản đồ tư duy, tức là bạn đang phản ánh cách suy nghĩ “ưa thích” của bộ não
Và nhờ vậy, Bản đồ tư duy sẽ giúp bạn giải phóng được toàn bộ tiềm năng của bộ não [34,tr.26]
Trang 24b) Co' sỏ’ tâm lý học
Trực giác đóng vai trò quan trọng trong sáng tạo Cơ sở của trực giác là trí tưởngtượng khoa học Trí tưởng tượng là khả năng tạo hình ảnh phản ánh đối tượng cho trước ỏ’trong óc Trí tuửng tượng đóng vai trò quan trọng trong sáng tạo bởi con người tưởng tượng
ra cái mới ở trong óc rồi mới biến nó thành hiện thực
Khi ta suy nghĩ một vấn đề gì đó, thông tin được tích lũy trong não một cách dần dần.Bang trí tưởng tượng của mình, con người xây dựng các sơ đồ, mô hình và tiến hành thao tácvói các “vật liệu” ấy Khi được những sự kiện mới làm nảy sinh, kích thích, khơi gợi, nhữngthông tin từ trong não bật ra tự nhiên và dễ dàng, giúp con người phán đoán nhanh và cáimới xuất hiện Những hình vẽ, kí hiệu, màu sắc đóng vai trò quan trọng trong tưởng tượng vìchúng là nhũng “vật liệu neo thông tin”, nếu không có chúng thì không thể tạo ra được sựliên kết giữa các ý tưởng
Vói cách thể hiện gần như cơ chế hoạt động của bộ não, SĐTD có thế phục vụ một sốmục đích Ba trong số những mục đích chính là làm cho tư duy trở nên nhìn thấy đượcqua sơ đồ là:
- Tìm hiểu những gì ta biết, giúp xác định những khái niệm then chốt, thê hiện mốiliên hệ giữa các ý tưởng và lập nên một mẫu có nghĩa từ nhùng gì ta biết và hiêu, do đógiúp ghi nhớ một cách bền vững
- Trợ giúp lập kế hoạch cho một hoạt động hoặc một dự án thông qua tố chức và tậphợp các ý tưởng và thể hiện mối liên hệ giữa chúng
- Trợ giúp đánh giá kinh nghiệm hoặc kiến thức thông qua quá trình suy nghĩ vồnhững yếu tố chính trong những gì đã biết hoặc đã làm
Trong SĐTD, học sinh được tự do phát triển các ý tưởng, xây dựng mô hình và thiết kế
mô hình vật chất hoặc tinh thần đế giải quyết những vấn đề thực tiễn Từ đó, cùng vớiviệc hình thành đưọ’c kiến thức, các kĩ năng tư duy (đặc biệt kĩ năng tư duy bậc cao) của
HS cũng được phát triên
Với việc lập SĐTD, học sinh không chỉ là người tiếp nhận thông tin mà còn cần phải suynghĩ về các thông tin đó, giải thích nó và kết nối nó với cách hiểu biết của mình Và điềuquan trọng hơn là HS học được một quá trình tô chức thông tin, tô chức các ý tưởng [5,tr.69]
1.2.2 Tác dụng của SĐTD đối vói sự phát triển tư duy của học sinh
1.2.2.1 Ghi nhớ, tóm tắt hệ thống thông tin
Trang 25Các kỹ thuật hỗ trợ trí nhó' bao gồm việc sử dụng trí tưởng tượng và liên tưởng đểtạo ra hình ảnh mới, dễ nhớ Cũng như trí tưởng tượng và liên tưởng, SĐTD kết hợp tất cảnhững kĩ năng của vỏ não để tạo ra một công cụ trí nhớ đa chiều tiên tiến, cho phép tạo rahình ảnh ba chiều, bên trong đầu và có the mở rộng Đây lả phép liên tưởng chéo, màu sắc vàthời gian với kết cấu đa chiều và mục đích hỗ trợ ghi nhớ nhanh hon và nhiều hom [24,tr.180]
Trong học tập, việc ghi nhớ đóng một vai trò rất quan trọng, có rất nhiều môn họcđòi hỏi phải ghi nhớ, học thuộc nhiều nội dung kiến thức Sau khi học một khối lượng kiếnthức cơ bản, SĐTD sẽ giúp học sinh thấy được những chỗ rối răm trong môn học của mìnhhay mối quan hệ giữa môn học này với môn học khác Từ đó, học sinh tự hoàn thiện sơ đồ tưduy và lấy đó đê làm cơ sở đế học tiếp hoặc có thê ôn tập lại mà không cần lật lại các trangsách Đặc biệt, với ưu điểm vượt trội hơn so với lối ghi chú tuần tự đơn điệu, tẻ nhạt, não họcsinh dễ dàng tiếp thu và ghi nhó' những SĐTD kích thích thị giác, đa sắc và đa chiều hơn Sơ
đồ tư duy sẽ giúp học sinh tóm tắt và ghi nhớ những nội dung đó một cách có hệ thống và dễdàng hơn
Giúp học sinh học được phương pháp học: SĐTD là công cụ giúp HS biết cách ghichú nhanh chóng những nội dung kiến thức trọng tâm, đồng thời mạng lưới liên kết trong sơ
đồ giúp HS dễ dàng hình dung khối lượng kiến thức và biết cách liên kết các nội dung kiếnthức giữa bài trước và bài sau, ứng dụng các kiến thức một cách thành thạo, và tăng khả năngghi nhớ cho các em
Công cụ giúp học sinh ghi chcp hiệu quả: Do đặc điểm của SĐTD nên người thiết kế
ra SĐTD phải chọn lọc thông tin, từ ngữ, sắp xếp, bố cục để ghi thông tin cần thiết nhất vàlogic nhất, vì vậy, sử dụng SĐTD sẽ giúp HS dần dần hình thành cách ghi chép có hiệu quả.Đặc biệt, với khả năng này của SĐTD, ngay cả những bài báo cáo, tiểu luận, thuyết trình haynội dung kiến thức ôn luyện cho các kì thi sẽ trở nên đơn giản và tóm gọn trong tầm tay củangười học
1.2.2.2 Phát triển ý tưỏ’ng
Sơ đồ tư duy là công cụ lí tưởng đe tư duy sáng tạo vì nó tận dụng tât cả các kĩ năngliên quan đến hoạt động sáng tạo, đặc biệt là trí tưởng tượng, sự liên hội ý tưởng và tính liênhọp
Sơ đồ tư duy phù hợp vói các giai đoạn của quá trình tư duy nên nếu biết cách ápdụng kĩ thuật SĐTD sáng tạo, số lượng ý tưởng do một cá nhân tìm ra có thế nhiều gấp đối
Trang 26so với số lượng ý tưởng của một nhóm ló'n tìm ý theo cách thông thường trong một khoảngthời gian.
Sơ đồ tư duy với một hình ảnh trung tâm ấn tượng đặt giữa trang giấy lớn - phải thậtló'n vì theo Buzan thì “So' đồ tư duy sẽ lóư dan đe chiếm hết mọi chồ trống” trên trang giấy
Và khi tư duy sáng tạo, học sinh cần nhiều chỗ trống để tạo điều kiện cho não sinh thêmnhiều ý tưởng mới Một ý tưỏng mói xuất hiện rồi được lặp lại ở các tầng tư duy sẽ trở thànhtâm điểm mới Đi theo hoạt động tìm thấy của bộ não, SĐTD thăm dò những nơi sâu kínnhất trong tư tưởng hiện hành của mỗi người nhằm tìm một tâm điếm mới để thay thế chotâm điểm cũ Và chính tâm diem mới này, vào thời diêm thích hợp, lại được thay thế bằngmột nhận thức mới ở’ cấp độ cao hơn “Suốt quá trình thực hiện SĐTD, chúng ta luôn bắtgặp các cơ hội khám phá tìm hiếu, tạo điều kiện cho dòng chảy tư duy liên tục bất tận” [24,
tr 185-193]
Giúp học sinh học tập một cách tích cực SĐTD đuực trình bày với nhiều màu sắc,hình ảnh và ngôn ngữ mà chính HS tự ghi chú được và vẽ ra nên đây là một công cụ có khảnăng kích thích hứng thú học tập cao ở HS, đồng thời, khi tự mình thực hiện vẽ sơ đồ HS sẽđưọ’c huy động tối đã tiềm năng của bộ não, HS sẽ tự giác trân trọng và yêu quý “tác phẩm”của mình
Trong quá trình tạo SĐTD nhờ liên tục vận dụng mọi kĩ năng của vỏ não mả não củacác em ngày càng linh hoạt, tiếp nhận hiệu quả, và tự tin vào khả năng của mình hơn Tạocho học sinh tâm thế chủ động khi trình bày kiến thức dựa trên chính SĐTD của bản thân,các cm tự tin và hiếu được những gì mình đang nói và đang tìm hiểu
1.2.3 Quy trình vẽ SĐTD
Bảy bước tạo lập nên một Sơ đồ tư duy:
- Bước 1: Lật trang giấy nằm ngang, hãy bắt đàu từ CHÍNH GIỮA trang giấy Tại saoư? Vì việc, bắt đầu từ vị trí chính giữa sẽ tạo khoảng không tự do cho bộ não của bạn - điểmchính giữa chính là điểm mà từ đó, ta có thể tỏa các ý tưỏng, mọi suy nghĩ ra mọi hướng vàgiúp bạn thể hiện chúng một cách thoải mái, tự nhiên
- Bưó’c 2: Dùng một BỨC HÌNH bất kì (có thể là hình vẽ hay ảnh chụp, cũng có thể làảnh cắt ra từ báo, tạp chí, ) đặt vào vị trí chính giữa, để minh họa cho ý tưởng chính củabạn Vì sao? Vì một hình ảnh đáng giá cả ngàn từ, và còn có thê tạo động lực giúp bạn sửdụng tiếp đến Trí tưởng tượng của mình Với một bức hình ở giữa trang giấy sẽ giúp bạncảm thấy thích thú, giữ cho bạn tập trung, còn bộ não sẽ hoạt động một cách hưng phấn
Trang 27- Bưó'c 3: Dùng nhiều MÀU SÀC khác nhau Màu sắc, cùng với những hình ảnh sẽkhiến bộ não của bạn cảm thay thích thú Những màu sắc sẽ mang đen cho So đô tư duy củabạn tính cộng hưởng lẫn sức sống, cùng với nguồn năng lượng dồi dào cho Tư duy Sáng tạocủa bạn Tất nhiên, cả niềm vui!
- Biró’c 4: Tất cả các NHÁNH CHÍNH sẽ đều LIÊN KẾT với bức hình trung tâm, đầucòn lại là mối nối mở ra những nhánh phụ và những nhánh thê hiện ý chi tiết hơn, Làm nhưthế, bộ não sẽ hoạt động trên CO’ sở liên kết, liên tưởng Bộ não của chúng ta vốn dĩ cókhuynh hướng liên hệ nhiều thứ lại với nhau Neu bạn xâu chuồi các nhánh lại, bạn sẽ thấy
dễ hiểu và dễ ghi nhớ hơn nhiều Việc kết nối các nhánh chính, đồng thời cũng giúp khởi tạo
và thiết lập một cơ cấu hay kiến trúc cơ bản cho các suy nghĩ của bạn Điều này tương tự nhưviệc trong tự nhiên, các nhánh cây thường đâm tỏa và phát triển thêm tù’ phần giữa của thâncây Neu giữa phần thân cây và các nhánh chính, hay giữa các nhánh chính và các nhánh phụcùng các cành cây, có quá ít khoảng trống, theo tự nhiên, cây này sẽ không thê phát triển tot.Neu không xây dựng được sự liên kết trong sơ đồ tư duy, mọi thứ (đặc biệt là trí nhớ và việchọc của bạn) sẽ rời rạc và không thành hệ thống được Vì thế, hãy nhanh liên kết, liên tưởngmọi thứ đi!
- Bước 5: Bạn nên nhớ, khi vẽ các nhánh, hãy “tạo” cho chúng dáng CONG thay vìnhững đường thẳng băng Lí do đơn giản là vì những đưò’ng thẳng chỉ càng khiến não bạnthấy nhàm chán và mau mệt mỏi hơn Các nhánh cong cong trên sơ đồ tư duy cũng tương tựnhư những cánh cây, chúng mang sức sống, đồng thời tạo sự thu hút với mắt nhìn của bạn
- Bưó'c 6: Nên dùng MỘT TỪ KHÓA CHO MÕI NHÁNH! Chỉ với một từ (hay mộtcụm từ thật ngắn) sẽ khiến SO’ đồ tư duy của bạn có thêm sức mạnh cũng như tính linhđộng Mồi từ, mỗi hình ảnh như một phép nhân, tù’ đó sẽ tạo ra tiếp một hệ thống đặc biệtnhững liên tưỏưg và liên kết Khi bạn dùng các từ khóa, chúng không bị ràng buộc và do vậy
sẽ khiến bạn bật nảy ra những ý tưởng và suy nghĩ mới Trong khi đó, những cụm tù’ dài haycác câu thường có khuynh hướng khiến sự hăng hái của bộ não bị chùng xuống
Một sơ đồ tư duy vói càng nhiều từ khóa sẽ giống như một bàn tay vói đầy đủ cácngón tay khỏe mạnh đang vận động và phối hợp hiệu quả Trong khi một sơ đồ tư duy vớichỉ toàn những câu chữ dài lê thê chỉ như một bàn tay mà các ngón đang bị bó nẹp
- Bưó'c 7: Bổ sung các HÌNH ANH xuyên suốt sơ đồ tư duy Mỗi hình ảnh, ví dụ nhưbức hình ỏ' trung tâm bản đồ, đều có ý nghĩa bang cả ngàn từ Thế nên, chỉ can 10 bức hìnhtrong sơ đồ tư duy của mình, bạn có đến 10.000 tù' chứ thích rồi [34, tr 15- 16]
Trang 28Các quy tắc trong So’ đồ tư duy:
- Luôn bắt đầu một hình ảnh ở trung tâm
- Sử dụng hình ảnh ở mọi nơi trong sơ đồ tư duy Neu buộc phải dùng từ thay chohình ảnh làm trung tâm trong sơ đồ, hãy biến nó thành hình ảnh bằng cách dùng kích
cỡ, màu sắc và hình thức lôi cuốn
- Mỗi ảnh ở trung tâm dành ít nhất 3 màu
- Dùng kích cỡ trong các ảnh và xung quanh các từ đe chỉ tầm quan trọng tương đốigiữa các thành phần trong cùng một phân cấp
- Dùng mũi tên đế chỉ các mối liên hệ cùng nhánh hoặc khác nhánh
- Sử dụng màu sắc ở mọi nơi trong sơ đồ tư duy để làm ký hiệu hay phân biệt cácvùng vì nó giúp cho việc tăng cường trí nhớ khả năng ghi nhớ thông tin và sáng tạohiệu quả nhất
- Dùng kí hiệu đe các mối liên kết giữa các bộ phận trong cùng một trang trong sơ
đồ tư duy sẽ dễ dàng được tìm thấy bất kể chúng xa hay gần nhau
c) Mạch lạc:
Hình thức mạch lạc giúp tư duy mạch lạc hơn, việc ghi chú trở nên dễ dàng và linhhoạt hơn “Giản đồ tư duy theo hướng này yêu cầu trình bày giản đồ theo chiều ngang mộtcách thông thoáng; mỗi dòng chí có một từ khóa (hoặc hình), được viết bằng chữ in hài hòatrên vạch liên kết và nhánh chính luôn được nối với chủ đề trung tâm bằng nét đậm.” [41,
Trang 29d) Tạo phong cách riêng thể hiện nét độc đáo:
Sơ đô tư duy phản ánh được các mạng lưới tạo phong cách riêng, mói mẻ, và lối tưduy độc đáo trong bộ não có riêng ở mồi người về màu sắc, ý tưởng, liên kết logic, thẩmmỹ
2 Cách bố trí:
a) Trình tự phân cấp trong sơ đồ tư duy:
Các ý nằm ở vị trí thuận lợi sẽ nhanh chóng liên hệ với những ý phân cấp thứ hai,thứ ba, giúp dễ dàng khai triển một hệ thống hài hoà Việc sử dụng phân cấp và phân hạngvói ý chủ đạo có hiệu quả đẩy mạnh năng lực tư duy của não Ta có thể nhận diện những
phân nhánh chính trong giản đồ bằng những câu hỏi tại sao, cái gì, ỏ’ đâu, ai, bằng cách
nào, cái nào, khi nào
b) Trình ỉự đánh sổ trong sơ đồ tư duy:
Trình tự đánh số là cách sắp xếp các ý logic, hợp lý cho chu đề khi thể hiện ý tưởng(viết, nói) bằng cách đánh số để thể hiện trình tự trước sau
1.3 Nội dung dạy học phân môn Kể chuyện lóp 4
1.3.1 Vị trí và nhiệm vụ của phân môn Kể chuyện
1.3.1.1 Vị trí của phân môn Ke chuyện
O tiểu học, Ke chuyện là một môn học rất hấp dẫn đối với học sinh Phân môn nàygiúp các em phần nào thoát li ra khỏi sách vở và đắm chìm vào những câu chuyện lí thúthông qua lời kể của giáo viên hay lời kể lại của các học sinh khác Kể chuyện là phân môn
có vị trí quan trọng trong việc dạy học tiếng “mẹ đẻ” Ở đây chúng ta sẽ xem xét vị trí của
phân môn này qua việc tìm hiêu vai trò của hành động kể và sàn phẩm truyện.
Ke là một hành động “nói” đặc biệt trong hoạt động giao tiếp Kể chuyện vận dụngmột cách tổng hợp sự hiểu biết về đời sống và tạo điều kiện để học sinh rèn luyện một cáchtống hợp các kĩ năng tiếng Việt như nghe, đọc, nói trong hoạt động giao tiếp Học sinh có thểtiếp nhận tác phẩm thông qua lời kể của thầy cô, từ đó các em có the ke lại hoặc sáng tạothêm vào câu chuyện để làm cho nó mới mẻ và thú vị hơn, hay nói cách khác chính là các
em đang tái sản sinh hoặc sản sinh một tác phẩm nghệ thuật ở dạng lời nói
Truyện là một tác phẩm văn học nên kể chuyện có được cả sức mạnh của văn học.Truyện có khả năng bồi dưỡng tâm hồn trẻ thơ Sự hiểu biết về cuộc sống, con người, tâmhồn, tình cảm của các em sẽ nghèo đi biết bao nhiêu nếu không có môn học Kê chuyện trong
Trang 30trường học.
Vì vai trò của hoạt động kế và sản phẩm truyện, phân môn Ke chuyện có vị trí rất
quan trọng trong dạy học tiếng Việt
1.3.1.2 Nhiệm vụ của phân môn Ke chuyện
Với vai trò và vị trí quan trọng trong việc dạy học tiếng “mẹ đẻ”, phân môn Kechuyện còn có những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, phản môn Kê chuyện phát triển các kĩ năng tiếng Việt cho học sinh Trong
vai trò của hoạt động kê thì Kê chuyện giúp học sinh rèn luyện một cách tông hợp các kĩnăng tiếng Việt như nghe, đọc, nói trong hoạt động giao tiếp, và quan trọng nhất chính là kĩnăng nói “Giờ kể chuyện rèn cho học sinh kĩ năng nói trưó’c đám đông dưới dạng độc thoạithành đoạn bài theo phong cách nghệ thuật” [40, tr 169] Không chỉ nói, trong giờ kể chuyệncác em còn có thể phát triển các kĩ năng như nghe, đọc, ghi chép thông qua quá trình học cácdạng bài kể lại chuyện đã nghe, đã đọc
Thứ hai, phân môn Kê chuyên góp phân phát triên tir duy, đặc biệt là tư duy hình tượng và cảm xúc thấm mỹ ở học sinh Bên cạnh việc rèn luyện các kĩ năng tiếng Việt, tư
duy của học sinh cũng được phát triển Khi các em hóa thân thành các nhân vật trong câuchuyện là lúc các em sống trong thế giới của truyện, thâm nhập vào các tính tiết câu chuyện
và cảm nhận được tâm tư, tình cảm của nhân vật Khi đó không chỉ tư duy hình tượng màcảm xúc thẩm mỹ của các em cũng được phát triển Ngoài ra, việc tiếp xúc với nghệ thuậtngôn từ kể chuyện cũng sẽ góp phần định hướng cho các em trong việc phát triển vốn từ ngữcủa mình
Thứ ba, phân môn Kê chuyện góp phần tích lũy von song, von văn học cho học sinh.
Giờ kể chuyện kích thích trí tò mò, tưởng tượng và óc sáng tạo của học sinh Qua từng câuchuyện, các em tìm thấy ở trong truyện từ những phong tục tập quán đến cảnh sắc thiênnhiên, từ những thân phận và biết bao hành động nghĩa hiệp của con người trong muôn vàntrường hợp khác nhau “Truyện ke làm tăng vốn hiếu biết về thế giới và xã hội loài người từxưa đến nay cho học sinh Truyện còn chắp cánh cho trí tưởng tượng và ước mơ của họcsinh, thúc đẩy sự sáng tạo của các cm” [32, tr 168]
Trong giờ học kê chuyện, các em được làm quen với các tác phẩm văn học Việt Nam
từ cổ tích, ngụ ngôn, thần thoại hay truyền thuyết cho đến cả các tác phẩm văn học của thếgiới Những câu chuyện giàu giá trị nhân văn và nghệ thuật không những làm giàu vốn vănhọc cho các em mà còn làm hành trang quý báu theo các em suốt cuộc đời
Trang 311.3,2 Nội dung chuông trình dạy học phân môn Ke chuyện lóp 4
O lớp 4, các câu chuyện được dạy có độ dài lớn hơn, các tình tiết phức tạp hơn và nộidung sâu sắc hơn so với các câu chuyện ở lóp 2, 3 Bài kể chuyện ở lóp 4 gồm 3 dạng sau:
- Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lóp
- Kê chuyện đã nghe, đã đọc
- Ke chuyện được chứng kiến, tham gia
Kiểu bài nghe - kể lại chuyện thầy cô kể trên lớp được thực hiện ở tuần thứ nhấttrong một chủ điểm 3 tuần học Các câu chuyện thường được in trong sách giáo viên vàthường được trình bày thành tranh hoặc tranh kèm lời hướng dẫn trong sách giáo khoa Câuchuyện được các thầy, cô kể cho học sinh nghe sau đó học sinh kể lại
Kiêu bài kê lại câu chuyện đã nghe, đã đọc ngoài giờ kê chuyện yêu câu học sinhphải tự sưu tầm trong sách báo hoặc trong đời sống hang ngày để kê lại Bên cạnh mục đíchchung là rèn kĩ năng nói cho học sinh, kiểu bài này còn có mục đích kích thích học sinh hamđọc sách báo
Kiểu bài kể lại câu chuyện được chứng kiến hoặc tham gia yêu cầu học sinh kế lạinhững chuyện người thật, việc thật có trong cuộc sống xung quanh mà các em đã biết, đãthấy mà có khi các em chính là nhân vật của câu chuyện Các bài ke chuyện được chứng kiếnhoặc tham gia rất đa dạng vì chúng gắn với các chủ điểm của sách giáo khoa.Dạng bài nàyrèn cho học sinh thói quen ghi nhớ, quan sát và xây dựng côt truyện
Các bài học Ke chuyện lớp 4 được phân bố theo các tuần học như sau:
1 Sự tích Hồ Ba Bê (kể chuyện đã nghe thầy cô kế trên lớp)
2 Đọc bài thơ Nàng tiên ốc và kể lại (kể chuyện đã nghe, đã đọc)
3 Ke một câu chuyện về lòng nhân hậu (kê chuyện đã nghe, đã đọc)
4 Một nhà thơ chân chính (kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lóp)
5 Ke một câu chuyện về tính trung thực (kể chuyện đã nghe, đã đọc)
6 Ke một câu chuyện về lòng tự trọng (kế chuyện đã nghe, đã đọc)
7 Lời ước dưới trăng (kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lóp)
8 Kể một câu chuyện về những ước mơ đẹp hoặc những ước mơ viễn vông, phi lí (kếchuyện đã nghe, đã đọc)
9 Kể về một ước mơ đẹp của em hoặc của bạn bè, người thân (kế chuyện được chứng kiếnhoặc tham gia)
10 Ôn tập
Trang 3211 Bàn chân kì diệu (kể chuyện đã nghe thầy cô kề trên lóp).
12 Kể một câu chuyện về một người có nghị lực (kể chuyện đã nghe, đã đọc)
13 Kể một câu chuyện thể hiện tinh thần kiên trì, vượt khó (kể chuyện được chứng kiếnhoặc tham gia)
14 Búp bê của ai (kê chuyện đã nghe thây cô kê trên lóp)
15 Kể một câu chuyện có nhân vật là những đồ chơi của trẻ em hoặc những con vật gần gũivới trẻ em (kể chuyện đã nghe, đã đọc)
16 Ke một câu chuyện có liên quan đến đồ chơi của em hoặc của các bạn xung quanh (kểchuyện được chứng kiến hoặc tham gia)
17 Một phát minh nho nhỏ (kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp)
18 Ôn tập
19 Bác đánh cá và gã hung thần (kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lóp)
20 Kể một câu chuyện về một người có tài (kể chuyện đã nghe, đã đọc)
21 Ke một câu chuyện về một người có khả năng hoặc sức khỏe đặc biệt mà em biêt (kểchuyện được chứng kiến hoặc tham gia)
22 Con vịt xấu xí (kể chuyện đã nghe thầy cô kế trên lớp)
23 Kê một câu chuyện ca ngợi cái đẹp hay phản ánh cuộc đấu tranh giữ cái đẹp vói cái xấu,cái thiện với cái ác (kế chuyện đã nghe, đã đọc)
24 Ke một câu chuyện về việc em hoặc người xung quanh đã làm gì để góp phần giữ gìnxóm làng, đường phố, trường học xanh, sạch, đẹp (kể chuyện được chứng kiến hoặctham gia)
25 Những chú bé không chết (kế chuyện đã nghe thầy cô kể trên lóp)
26 Ke một câu chuyện về lòng dũng cảm (kế chuyện đã nghe, đã đọc)
27 Ke một câu chuyện về lòng dũng cảm mà em được chứng kiến hoặc tham gia (kếchuyện được chúng kiến hoặc tham gia)
28 Ôn tập
29 Đôi cánh của ngựa trang (kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp)
30 Ke một câu chuyện về du lịch hay thám hiểm (kể chuyện đă nghe, đã đọc)
31 Ke một câu chuyện về một cuộc du lịch hay cắm trại mà em đu’Ọ’c tham gia (kể chuyệnđược chứng kiến hoặc tham gia)
32 Khát vọng sống (kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lóp)
33 Ke một câu chuyện về tinh thần lạc quan yêu đời (kể chuyện đã nghe, đã đọc)
Trang 3334 Ke một câu chuyện về một người vui tính mà em biết (kể chuyện được chứng kiến hoặctham gia).
35 Ôn tập
1.3.3 Tác dụng của việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học kể chuyện lóp 4
1.3.3.1 Đối vói dạng bài kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lóp
Dạng bài kể chuyện đã nghe thầy cô kế trên lớp là dạng bài kể chuyện mà GV làngười kể chuyện, HS là người nghe câu chuyện Giáo viên kể chuyện, rèn và kiểm tra khảnăng nghe hiểu truyện của HS Cuối giờ, HS kể lại chuyện Hoạt động kể lại từng đoạn hoặc
cả bài của HS ở giai đoạn cuối giò’ trong hình thức dạy học không chỉ là hoạt động để kiểmtra khả năng nghe hiểu của HS mà còn là hoạt động rèn kĩ năng kê chuyện
Phân biệt với dạng bài kể chuyện đã nghe, đã đọc, câu chuyện trong dạy học dạng bàinày là câu chuyện mà HS chưa được nghe, đọc ở đâu mà chỉ vừa được nghe thầy cô kể trênlóp rồi sau đó các em phải ghi nhớ và kể lại câu chuyện Sử dụng SĐTD đối với dạng bài này
có tác dụng hồ trợ đắc lực cho HS trong việc ghi nhớ các sự kiện - chi tiết của câu chuyệnvừa nghe, đồng thời giúp các em khái quát, sắp xếp
các ý của câu chuyện một cách mạch lạc, không bị rối, không bị thiếu chi tiết và HS dễ dàng
kể lại câu chuyện dụa vào SĐTD của mình
Đặc biệt, trong phần tìm hiểu nội dung câu chuyện, GV là nguôi tô chức và gợi ranhững kiến thức liên quan tới bài học cho HS cùng với việc sử dụng SĐTD học sinh sẽnhanh chóng nắm rõ bài học Vó'i hoạt động này, GV và HS đều phải tích cực hóa hoạt độngcủa bản thân Giáo viên giảng bài học thê hiện trên SĐTD hoặc tố chức cho học sinh lậpSĐTD, khai thác nội dung câu chuyện có trên SĐTD Tính tích cực, sự tập trung chú ý củahọc sinh được phát huy, giúp cho việc học tập đạt hiệu quả cao hơn
1.3.3.2 Đối vói dạng bài ke chuyện đã nghe, đã đọc
Dạng bài kể chuyện đã nghe, đã đọc học sinh là người chu động, kể lại câu chuyện đãđược nghe thầy cô hay người khác kể hoặc HS tự đọc được câu chuyện đó, đã sưu tầm theođúng chủ đề của bài học
Việc sử dụng SĐTD trong dạy học dạng bài này phù hợp với nội dung của tiết kểchuyện đã nghe, đã đọc rèn luyện cho học sinh khả năng ghi nhớ, sắp xếp lại các tình tiết củacâu chuyện Giáo viên định hướng cho học sinh những việc cân làm đê có thể kể lại câuchuyện của mình theo trình tự giới thiệu câu chuyện, nhân vật và các sự kiện, kết quả cuốicùng của câu chuyện Đe khuyển khích học sinh tích cực trong giờ học này, giáo viên là
Trang 34người rất quan trọng, là cầu nối giữa học sinh với chủ điếm bài học Và SĐTD là một công
cụ phù họp giúp học sinh có thể hình dung lại câu chuyện mà không bị thiếu sót các tình tiếthay bị đảo lộn các chi tiết trong câu chuyện Chính nhờ SĐTD mà học sinh có thế hình dungđược các ý tiếp theo của câu chuyện và những lò'i thoại đế có một câu chuyện hoàn chỉnh.1.3.3.3 Đối vói dạng bài kể chuyện đã chứng kiến, tham gia
Khác với nội dung của hai dạng bài kể chuyện đã nghe, đã đọc trong chương trình thìdạng bài kế chuyện đã chứng kiến, tham gia là những câu chuyện thực tế về người thật, việcthật trong cuộc sống xung quanh của hoc sinh, không có những yếu tô li kỳ, kỳ ảo như cáccâu chuyện cổ tích mà HS đã được nghe hoặc được đọc Đây chính là những câu chuyện màcác em được chứng kiến hay chính các em là một nhân vật chính trong câu chuyện đó, và các
em kể lại câu chuyện đó cho mọi người nghe Những chủ đề trong dạng bài này rất đa dạng
và gần gũi trong cuộc sống, xoay quanh những vấn đề đạo đức như kể về câu chuyện thểhiện tinh thần kiên trì vượt khó hay những trải nghiệm bản thân (Ke một câu chuyện về mộtcuộc du lịch hay cắm trại mà em được tham gia), hoặc kể về tấm gương người tốt việc tốt(Kê một câu chuyện về việc em hoặc người xung quanh đã làm gì để góp phần giữ gìn xómlàng, đường phô, trường học xanh, sạch, đẹp)
“Trong hình thức dạy học dạng bài này, vai trò của giáo viên là tổ chức, hướng dẫnhọc sinh khơi gợi lại những kinh nghiệm mình đã gián tiếp hay trực tiếp trải qua liên quanđến hướng chù đề mà sách giáo khoa đã định Điếm then chốt tạo nên hiệu quả thực sự củagiò' dạy nói này là cách thức giáo viên tổ chức các hoạt động học tập sao cho mỗi học sinh
có thể tìm thấy một hướng tạo lập câu chuyện của riêng mình, không sa vào một mẫu chuyệnrập khuôn cho cả lớp”.[42, tr.3O8J Chính vì vậy, việc sử dụng SĐTD trong tiết dạy này giúpcho học sinh có thế tạo lập được một câu chuyện riêng của chính mình, không nhầm lẫn vớibất cứ một câu chuyện nào khác Với ưu điểm của SĐTD là khả năng ghi chú nhanh và pháttriển ý tưởng liên kết mạch lạc đã hỗ trợ đắc lực cho học sinh đối với việc ghi nhớ lại câuchuyện và phát trien ý tưởng cho câu chuyện của mình phù họp vói nội dung của dạng bài đãchứng kiến, tham gia
Ngoài ra, SĐTD còn giúp học sinh biết cách sắp xếp các sự việc xảy ra theo trình tự,giúp học sinh hiểu ra ý nghĩa câu chuyện và rút ra bài học cho bản thân mình, từ đó biết cáchvận dụng lời nói cũng như cử chỉ điệu bộ để diễn đạt nội dung câu chuyện
1.4 Co’ chế của hoạt động kể chuyện
1.4.1 Giai đoạn nắm ý và nhó’ ý
Trang 35Giai đoạn nắm ý và nhớ ý là giai đoạn học sinh chuyển lời của văn bản thành ý củabản thân, tạo cơ sở cho quá trình diễn ý nảy sinh.
Ở giai đoạn này, việc đầu tiên, người giáo viên cần tạo cho học sinh tâm thế nắm ỷ và
nhớ ỷ để từ đó học sinh cảm thấy câu chuyện của tiết học có ý nghĩa đổi với cuộc sống của
riêng mình Tâm thế nắm ỷ và nhớ ý giúp học sinh nhìn ra môi liên hệ giữa mình và cấu trúc
nghĩa của văn bản truyện Từ đó, thúc đẩy học sinh biến nghĩa của truyện sống lại trong các
em, làm chúng trở thành ý tưởng trong đầu của các em Nhờ vậy mà tạo các em tích cực, chủđộng trong học tập Hoạt động giói thiệu bài liên quan mật thiết đến việc tạo tâm thế nắmtruyện cho học sinh Chính vì vậy, người giáo viên cần phải lựa chọn những biện pháp thíchhọp để lôi cuốn, thu hút, dẫn dắt học sinh, làm cho các em thật sự quan tâm đến truyện kểđang học
Đe có thể nắm ý truyện kể, trước hết, học sinh cần nắm được nghĩa hiến ngôn, hàmngôn của truyện thông qua hoạt động tri giác ngôn ngừ Tri giác ngôn ngữ giúp học sinh nắmnghĩa hiến ngôn của truyện bằng việc phân tích về mặt ngữ âm, cú pháp, ngũ' nghĩa của các
từ ngữ kết hợp với thao tác liên kết các từ, câu, đoạn trong mối liên hệ giữa chúng Tri giácngôn ngữ đi liền với liên tưởng, tưởng tượng sẽ giúp các em nắm ý của văn bản truyện - lópnghĩa thử hai - nghĩa hàm ngôn của truyện
Theo tác giả, hoạt động tưởng tượng của học sinh đa dạng và phức tạp, Tưỏng tượng
ở đây không đon giản là hoạt động cảm giác mà là một hoạt động tâm lí tất yếu của học sinh,giúp học sinh chuyến hóa nghĩa của các câu trong truyện do tri giác (nghe, đọc) được thành
hệ thống các biêu tượng, ý tướng trong trí của mình Độ nhạy cảm, khả năng di chuyến chú ýcủa học sinh càng cao bao nhiêu thì trí tưởng tượng càng phong phú bấy nhiêu
“Hoạt động tướng tưọ'ng trên cơ sỏ' tri giác ngôn ngữ truyện kết họp với hoạt độngliên tưởng diễn ra trong quá trình học sinh nam hệ thống ý và lưu giữ chúng trong trí nhó'còn được gọi là ghi nhó' có ý nghĩa.” Liên tưởng có tác dụng mạnh mẽ đôi với hoạt động ghinhớ nội dung truyện, giúp học sinh cày sâu hơn vào các biêu tượng mà các em đang hìnhthành trong lúc đọc nam nghĩa văn bản, nhận ra được thông điệp ẩn ngầm sau cấu trúc nghĩacúa truyện Sau đây là một số hình thức liên tưởng:
- Liên tưởng đồng dạng: nhận và liên hệ những chi tiết đồng dạng vó'i nhau ngaytrong văn bản hoặc chi tiết văn bản đồng dạng với những kinh nghiệm của bàn thân về đờisống xã hội
- Liên tưởng đối lập: nhận và liên hệ những chi tiết đối lập với nhau ngay trong văn
Trang 36bản hoặc chi tiết văn bản với những kinh nghiệm đã có trước.
- Liên tưởng nhân quả: nhận và liên hệ những chi tiết có mối quan hệ nhân quả trongvăn bản
- Liên tưởng định thời: nhận và liên hệ những chi tiết có quan hệ về thời gian
- Liên tưởng định vì: nhận và liên hệ những chi tiết có quan hệ về không gian theotrình tự tù' trên xuống dưới, hay tù' bao quát đến chi tiết
- Liên tưởng đặc trưng: nhận và liên hệ những các chi tiết có ý nghĩa chung vớinhững chi tiết có biểu hiện cho cái chung đó
- Liên tưởng đồng nhất: nhận và liên hệ sự gắn bó chi tiết với tên truyện, với tư tưởngchủ đề Liên tưởng đồng nhất với vai trò chù đạo trong quá trình hiếu truyện và nắm ýtruyện
Các thao tác liên tưởng, tưởng tượng trên cơ sở tri giác ngôn ngữ trong giai đoạn này
có vai trò quan trọng trong việc hình thành cho các em năng lực ngôn ngữ và năng lực nhậnthức Bên cạnh đó, các thao tác này sẽ tạo điều kiện cho các em hình thành, phát triển hệthống hóa các biểu tượng, logic ý tưởng trong hoạt động nhận thức, tạo cơ sỏ' cho quá trìnhdiễn ý nảy sinh
1.4.2 Giai đoạn diễn ý
Đây là giai đoạn học sinh chuyên ý của bán thân thành lời kê chuyện Giai đoạn nàygồm hai hành động: chọn hướng ke chuyện và tạo hành động tạo lời kế
Hành động chọn hướng kê chuyện thẻ hiện ý thức ngôn cánh của truyện:
Việc học sinh hình dung ra ngôn bản bên trong của truyện trong trí mình một cáchtường minh là một yếu tố cực kì quan trọng trong tiến trình diễn ý truyện Ngôn cảnh bêntrong của truyện là tổng thể những mối liên hệ các chi tiết, sự kiện diễn tiến theo chuỗi thờigian và trên nền một hoàn cảnh, một không gian cụ thê Học sinh càng nam rõ những mốiliên hệ giữa các chi tiết và mối liên hệ giữa các chi tiết với chủ đề của truyện thì càng dễchọn ra một hướng kể mạch lạc, sáng tạo theo cảm quan của mình Ngược lại, nếu học sinhchưa nắm được ý, nghĩa là chưa hình dung ngôn cảnh bên trong truyện thì các em sẽ gặp khókhăn khi kể chuyện như: cố tái hiện lại truyện rôi kê theo nguyên văn truyện, hoặc tệ hơn làlăp băp, lúng túng, không thê kê chuyện được
Bôn cạnh ngôn bản bên trong, học sinh cần nhận biết được các ngôn bản bên ngoàicủa hoạt động kể chuyện như: môi trường xã hội, vai trò vị thế, nghi thức lời nói trong lúc
kể chuyện Khi kể chuyện, học sinh cần có những lời dẫn vào truyện, lời kết thuc truyện và
Trang 37đan xen những lời nhận xét, cảm xúc vào truyện với trạng thái tự nhiên, tự tin, thoải mái khi
kể chuyện
Hành động tạo lời kê
Hành động tạo lời kể là hành động trong đó, học sinh sử dụng các yếu tố ngôn ngữ đểthể hiện hệ thống ý tưởng của truyện trong trí của các em Hành động này được giả định diễn
ra theo hai trục: trục ngang và trục dọc
Trục dọc: ngôn từ diễn ra theo chuồi sự kiện, bố cục truyện Học sinh ngoài việc sửdụng lại ngôn từ của truyện, các em sẽ thay đổi một số từ ngừ gần gũi thông dụng, biến đổitrật tự một số chi tiết hoặc bỏ bớt một số chi tiết Ở những học sinh lóp Một, Hai và Ba việcthe hiện sự kiện của truyện theo trình tự thời gian chiếm ưu thế trong lúc quan hệ nhân quảhoặc tăng tiến, nhượng bộ giữa các sự kiện chi tiết thường học sinh nhở khó nhận diệnđưọ’c
Trục ngang: ngôn từ diễn ra theo hướng bổ sung, mở rộng chuỗi sự kiện của truyện ởtrục dọc bằng cách đan xen những nhận xét, cảm xúc, suy luận về một số chi tiết trongtruyện Trong cách diễn ngôn truyện kể theo trục ngang này, học sinh tiểu học thường dùngmột số phương thức ngôn ngữ sau đây: ngữ điệu, các phương tiện nhấn mạnh như nói lặp,nói đảo, cảm thán; các tình thái từ khác nhau: khẳng định, phũ định, giả thiết, điều kiện; cácyếu tố phi ngôn ngữ như nét mặt, cử chỉ, điệu bộ ; một số từ ngữ đưọc học sinh sáng tạovượt ngoài truyện
Tóm lại, giai doạn diễn ý là giai đoạn học sinh tạo ngôn bản truyện sau khi đã hìnhthành hệ thống ý tưởng trong trí mình từ việc đọc hay nghe truyện Giai đoạn này gồm haihành động chọn hướng kế chuyện và hành động tạo lời kể Mức độ chủ động và sáng tạo củahoạt động diễn ý ít hay nhiều tùy thuộc vào việc học sinh chọn cách thức diễn ngôn và cáchbiến đổi ngôn từ theo trục ngang hay trục dọc trong lúc kể chuyện [42, tr.272-278]
1.5, Đặc điểm tâm lí, sinh lý học thần kinh của học sinh tiếu học
1.5.1 Tâm lí
1.5.1.1 Hứng thú học tập
“Neu như trưòng mầm non gần giống với môi trường gia đình của trẻ thì trường tiểuhọc là nơi làm việc và học tập có tính hành chính” [27, tr.5] Qua đó, ta có thể thấy, hoạtđộng học tập là hoạt động chú đạo, là nhiệm vụ quan trọng nhất ở bậc học này Sự khác biệtgiữa hai môi trường đã mang lại cho trẻ không ít khó khăn trong thời gian bắt đầu đi họcnhưng môi trường mới vẫn tạo ra các yếu tố tích cực làm trẻ háo hức và hứng thú trong học
Trang 38và bài tập được giao, phải chăm chi học hành,
- Thay đổi tính chất quan hệ: Ngoài sự thay đổi về môi trường và hoạt động chủ đạo, nhàtrường tiểu học còn đặt ra trước trẻ những thay đối về tính chất cùa các mối quan hệ qua lạigiữa giáo viên - trẻ, giữa trẻ - trẻ, giữa trẻ - gia đình Trong môi trường mới, trẻ không chỉphải tự lập lấy vị trí cua mình trong một môi trường “trung lập về tình cảm”, mà còn phảithích ứng với những bó buộc không thế tránh được và chấp nhận việc một người lớn ngoàigia đình (thầy, cô giáo) sẽ đóng vai trò hàng đầu trong cuộc sống của trẻ Trẻ phải có ý thức,trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ của mình, đặc biệt là nhiệm vụ học tập và biếtđiều khiển hành vi của mình một cách có chủ định, đồng thời phải có khả năng thiết lập, vậnhành cùng một lúc các mối quan hệ với các đối tượng khác nhau và mang tính chất khácnhau [18, tr.85]
Tuy gặp phải không ít những khó khăn nhưng dưòng như các em rất hứng thú vớimôi trường mới Đại đa số các em được chuẩn bị tâm lí sẵn sàng trước khi đến trường phổthông Chùng muốn đến để xem nhà trường có gì khác so với ở nhà và ờ trường mẫu giáo.[27, tr 10] Nhờ vậy mà khi đen trường, các em nhanh chóng chấp nhận những yêu cầu củagiáo viên có liên quna đến những quy tắc hành vi trong lóp, đến những chuan mực của nhũngquan hệ vó'i bạn bè, đến thời gian biêu hàng ngày Bên cạnh đó, trẻ có thái độ rất tích cực đốivới quá trình lĩnh hội tri thức và kĩ năng các em rất tò mò, có hứng thú lập luận, lí lẽ đối vớinhũng cá xung quanh trẻ, với những tài liệu học tập Trẻ “bị lôi cuốn vào hoạt động học,được tiếp xúc với những điều mới mẻ cả về nội dung lẫn yêu cầu của nó và chính sự tiếp xúc
ấy đã tạo cơ sở cho sự xuất hiện những phẩm chất tâm lí mới đặc trưng cho lứa tưối tiểu học
và qua đó tạo ra nhũng biến đổi quan trọng trong đời sống tâm lí, nhân cách cửa các em”
Trang 39[18, tr 162] Và qua hoạt động học, trẻ ở tuổi tiểu học tự tin hơn, linh hoạt hơn, chủ động hơntrong học tập cũng như trong cuộc sống.
1.5.1.2 Khả năng chú ý
Ở lứa tuổi của bậc học này, chú ý không chú định được phát triến mạnh và chiếm ưuthế hơn cá Các em vẫn thường bị cuốn hút bởi những điều mới mẻ, bất ngờ, màu sắc sặc sỡ,hình dạng lạ mắt, Sự chú ý không chủ định của trẻ càng trở nên đặc biệt tập trung và bềnvững khi tài liệu học tập có tính trực quan sinh động hoặc gợi cảm xúc cho trẻ Ngược lại, trẻ
sẽ không thể tập trung chú ý vào những gì không rõ ràng, không hiêu hoặc quá quen thuộc,quá buồn chán Vì vậy, việc sử dụng rộng rãi đồ dùng dạy học như tranh ảnh, hình mẫu, biểuđồ, là điều quan trọng đê tô chức sự chú ý của học sinh tiêu học
Sự tập trung chú ý của học sinh tiểu học chưa cao và thiếu bền vững do quá trình ứcchế của bộ não ỏ’ trẻ còn yếu Các em chưa thể tập trung lâu dài, dễ bị phân tán trong hoạtđộng Vì vậy mà các em thường hay quên lời giáo viên dặn dò vào cuôi buổi, không hoànthành bài tập đúng hạn, thưòng bỏ sót chữ cái trong từ, bỏ sót tù' trong câu, hay bị sao nhãngvới các tác động khác bên ngoài, Các công trình nghiên cứu cho thấy, trẻ ỏ' lớp 1,2 chỉ cóthể duy trì chú ý tập trung liên tục tối đa khoảng 30 -35 phút Các em sẽ tập trung chú ý hơnkhi thực hiện nhũng hành động bên ngoài hơn là hành động trí óc, khi phải thực hiện các bàitoán khó hoặc có nhiều cách giải, hoặc là những hoạt động sáng tạo Ngoài ra, khả năng tậptrung chú ý ở trẻ còn phụ thuộc nhiều vào nhịp độ học tập: nhịp điệu làm việc nhanh hoặcquá chậm đều không thuận lợi đối với tính bền vừng và tính tập trung chú ý, nhịp điệu làmviệc tỉ lệ thuận với lứa tuổi của học sinh Bên cạnh đó, khối lượng chú ý của học sinh cònhạn hẹp: trẻ không thể cùng lúc nhìn thấy mọi dấu hiệu cùa đối tượng Sự phân phối chú ýcủa trẻ diễn ra một cách khó khăn nên trẻ chỉ có thế hoặc nghe giáo viên, hoặc viết chứ chưathể vừa nghe giáo viên giảng vừa ghi bài
Chú ý có chủ định ở trẻ còn chưa thực sự phát triển, ý của trẻ chưa cao nên ảnhhưởng đến sự phát triển chú ý và ngược lại Vì vậy, trong dạy học, người giáo viên khôngnên lạm dụng đồ dùng trực quan vì khi các tài liệu trục quan quá ấn tượng có thể tạo ra cáctrung khu hưng phấn ở vỏ não, làm kìm hãm khả năng phân tích và khái quát hóa tài liệu họctập K.Đ.Usinxki đã khuyên: “ trong việc học tập, không phải tất cả đều trở thành lí thú, mànhất định sẽ có những điều buồn tẻ Giáo viên hãy rèn luyện cho trẻ không chỉ quen làm cái
gì mà trẻ hứng thú, mà còn quen làm cả những cái không hứng thú nữa ” Vì vậy, ngưò'igiáo viên rèn luyện cho trẻ chú ý cả đối với các đối tượng không gây được chú ý trực tiếp và
Trang 40đế ghi nhớ tài liệu.
Đen cuối cấp học, đây là giai đoạn khả năng ghi nhớ có ý nghĩa và có chủ định đượctăng cường và phát triển Tuy nhiên, theo tác giả Lê Thị Lan Anh hiệu quả của ghi nhó' cóchủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sựhấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lí, tình cảm, hứng thú của các em
1.5.1.4 Khả năng tu duy
Khả năng tư duy của học sinh tiểu học là sự chuyển từ tính trực quan, cụ thể sangtính trừu tượng, khái quát Ở đầu cấp tiểu học (lóp 1, 2, 3), các em tư duy dựa vào những đặcđiểm trực quan của đối tượng Còn ở cuối cấp tiểu học (lớp 4, 5), khả năng tư duy của các trẻ
ở lứa tuổi lớp 4 ngày càng phát triến, tư duy mang dần tính trừu tượng, khái quát Đặc diêmnày the hiện rõ trong mọi khía cạnh tư duy của các em [18, tr.104]
Học sinh ở các lóp 1, 2, 3 có thao tác phân tích, tổng họp còn sơ đẳng Các em tiếnhành thao tác này chủ yếu bằng hoạt động tri giác trực tiếp đối tượng như: khi phân tích, trẻtách ra một cách riêng lẻ từng bộ phận, từng thuộc tính của đối tượng; khi tồng họp, các emcộng lại một cách đơn giản các thuộc tính, các bộ phận để tạo nên cái toàn thể Còn ở cáchọc sinh cuối cấp, các em đã có thể phân tích các đối tượng, phân biệt những dấu hiệu,những khía cạnh khác nhau của đối tượng dưới dạng ngôn ngữ, sắp xếp các đối tượng vàomột hệ thống nhất định bằng trí tuệ của mình, mặc dù vẫn gặp khó khăn trong quá trình tổnghọp
Nói về khá năng so sánh, học sinh tiếu học đã biết tiến hành so sánh nhưng thao tác
so sánh vẫn chưa được hình thành đầy đủ Học sinh đầu cấp tiểu học thường nhầm lẫn sosánh với kể lại đon giản đối tượng cần so sánh Học sinh cuối cấp tiếu học đã biết đi tìm sựgiống và khác nhau của các đối tượng cần so sánh Tuy nhiên, các em thường hoặc chỉ tìm