1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục và vui chơi giải trí của trẻ nhập cư thành phố thủ dầu một, tỉnh bình dương nghiên cứu trường hợp tại lớp học tình thương phường phú cường TP thủ dầu một

103 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khả Năng Tiếp Cận Dịch Vụ Y Tế, Giáo Dục Và Vui Chơi Giải Trí Của Trẻ Nhập Cư Thành Phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương - Nghiên Cứu Trường Hợp Tại Lớp Học Tình Thương Phường Phú Cường TP Thủ Dầu Một
Tác giả Ngô Thị Thanh Trúc
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Hồng Thắm
Trường học Trường Đại Học Thủ Dầu Một
Chuyên ngành Công tác xã hội
Thể loại báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2016
Thành phố Thủ Dầu Một
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 236,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘIBÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC 2015 -2016 Khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI

học tình thương phường Phú Cường TP Thủ Dầu Một

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

Trang 2

KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC 2015

-2016

Khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục và vui chơi giải trí của trẻ nhập cư

Thành Phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương- Nghiên cứu trường hợp tại lớp

học tình thương phường Phú Cường TP Thủ Dầu Một

Sinh viên thực hiện: Ngô Thị Thanh Trúc, Nam, Nữ: Nữ Dân tộc: Kinh

Lớp, khoa: D12XH01, Khoa Công tác xã hội

Năm thứ: 4/Số năm đào tạo: 4

Ngành học: Công tác Xã hội Người hướng dẫn: Thạc sĩ Nguyễn Thị Hồng Thắm

UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài: Khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục và vui chơi giải trí của trẻ nhập cư

Trang 3

Thành Phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương- Nghiên cứu trường hợp tại lớp học tình thươngphường Phú Cường TP Thủ Dầu Một.

- Sinh viên thực hiện: 01

- Lớp: D12XH01, Khoa: Công tác xã hội

Năm thứ: 4 Số năm đào tạo:4

- Người hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Hồng Thắm

Thứ nhất, thực trạng trẻ nhập cư trong việc tiếp cận với các vấn đề về y tế và chăm sóc

sức khỏe.

Trẻ em với nhu cầu được chăm sóc sức khỏe là một điều cần thiết, bởi trẻ em có được

sự chăm sóc tốt mới có được sự phát triển hoàn thiện về cả thể chất và tinh thần Qua nghiêncứu cho thấy trẻ em nhập cư tuy được hưởng các chế độ chăm sóc sức khỏe tại cộng đồngmột cách công bằng như mọi trẻ em khác, mà không có sự phân biệt đối xử nào trong chămsóc sức khỏe cho trẻ của gia đình vẫn còn nhiều khó khăn Tuy nhiên về mặt chăm sóc sứckhỏe cho trẻ của gia đình cho thấy điều kiện kinh tế của các hộ khảo sát phần lớn đều thuộc

diện rất khó khăn nên nhóm trẻ được khảo sát hầu hết không có được cơ hội chăm sóc sức khỏe tại các cơ sở, trung tâm y tế mà chỉ được chăm sóc và điều trị tại nhà Qua khảo sát cho thấy trẻ chưa được đáp ứng đầy đủ các nhu cầu sinh lý như ăn, mặc, ngủ, nghỉ tức là nhu cầu

cơ bản bậc 1 của tháp nhu cầu Maslow Chính vì việc trẻ nhập cư sống như vậy thì sẽ có

nhiều tiềm tàng nguy hiểm gây nên nhiều tác động tiêu cực đến tâm lý cũng như tình trạng

sức khỏe của trẻ nhập cư

Thứ hai, thực trạng trẻ nhập cư trong việc tiếp cận các dịch vụ về giáo dục

Trẻ nhập cư ở lớp tình thương thiệt thòi hơn rất nhiều trong việc được học tập so vớinhiều đứa trẻ khác Nếu chiếu theo tháp nhu cầu của Maslow thì nhu cầu giáo dục thuộc nhu

Trang 4

cầu cơ bản (nhu cầu cấp 1 là nhu cầu về ăn, uống, ngủ, nghỉ, học hỏi và hiều biết để duy trì

giống nòi), tuy nhiên đối với trẻ nhập cư các em vẫn chưa tiếp cận được với các nhu cầu này.

Thực tế cho thấy rằng trẻ nhập cư lao động sớm không có điều kiện tiếp xúc với các lớp họcchính quy do nhiều nguyên nhân khác nhau Vì thế với sự mong mỏi của gia đình và sự hỗ trợcủa chính quyền đã phần nào giúp trẻ thỏa mãn được nhu cầu học tập của trẻ cũng như đượchòa nhập trong môi trường giáo dục phổ cập là được học tập ở các lớp học tình thương Phần

lớn các gia đình nhập cư làm kinh tế mà không có tay nghề thường rất khó tiếp cận với các

mô hình giáo dục chính thức mà chỉ tiếp cận được chương trình giáo dục phi chính thức là các

mô hình lớp học tình thương Tuy nhiên, với những giới hạn hiện tại của lớp học tình thươngnên trẻ chỉ được hỗ trợ giáo dục ở bậc tiểu học Nhu cầu được học lên của trẻ có khả năng sẽ

không được đáp ứng nếu không có sự hỗ trợ nhiều hơn nữa và sự chung tay góp sức từ các

ban ngành chính quyền đoàn thể như gia đình, nhà nước cần có trách nhiệm bảo đảm cho trẻ

em thực hiện tốt việc học tập, học hết chương trình phổ cập giáo dục và cần tạo điều kiện chotrẻ em, đặc biệt là trẻ nhập cư ở các lớp học tình thương có cơ hội được học ở trình độ caohơn

Thứ ba, thực trạng trẻ nhập cư trong việc tiếp cận với vấn đề vui chơi giải trí Thời giandành cho hoạt động giải trí thường gắn liền với thời gian rỗi, là những khoảng thời gian mà cánhân không bị bức bách bởi những nhu cầu sinh tồn, không bị chi phối bởi những nghĩa vụ cánhân hoặc sự đòi hỏi bởi nhu cầu vật chất Con người hoàn toàn tự do, thoát khỏi những bănkhoăn, lo lắng thường nhật Gắn vào lý thuyết nhu cầu của Maslow thì nhu cầu vui chơi giảitrí thuộc tháp nhu cầu thứ 3 tức là nhu cầu về xã hội (nhu cầu cấp cao) nó thể hiện sự liên kết,chấp nhận, được tạo điều kiện để có cơ hội để mở rộng giao lưu, vui chơi, giải trí Và vui chơigiải trí là một nhu cầu văn hóa không thể thiếu của con người, đặc biệt đối với trẻ em Cáchoạt động vui chơi, giải trí lành mạnh rèn luyện cho trẻ những phẩm chất cơ bản về trí tuệ,đạo đức, thể chất theo quy luật của cái đẹp Trong quá trình phát triển của trẻ, hoạt động vuichơi giải trí đóng vai trò không kém phần quan trọng so với các hoạt động thiết yếu khác như

bổ sung dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe cho trẻ Thế nhưng trên thực tế ta có thể thấy được

sân chơi miễn phí dành cho trẻ thì hầu như không có Việc thiếu hụt sân chơi trầm trọng dễ

dẫn đến tình trạng nhiều trẻ chọn quán Internet, những tụ điểm phức tạp làm “sân chơi” Và

đó cũng là nguyên nhân vì sao nhiều trẻ em nhập cư mà có điều kiện hay những trẻ thườngtrú thường hư hỏng, bỏ học để đi chơi, tụ tập đánh nhau, hay có thể ngồi lì trong quán gameonline hết ngày này sang ngày khác.v.v Tất cả những điều đó là do việc thiếu sân chơi lành

Trang 5

mạnh gián tiếp gây nên Đối với trẻ nhập cư thì cuộc sống của trẻ luôn phải cuốn theo nhữngmưu sinh bộn bề của cuộc sống, việc trẻ nhập cư bị cuốn vào vòng xoáy thường ngày màquên đi những nhu cầu giải trí lành mạnh cần có trong một xã hội đang phát triển hiện đại nhưngày nay, thứ mà con người luôn muốn có và sở hữu chúng và đặc biệt là đối với các trẻ emnhập cư.

5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài:

Dựa vào kết quả từ đề tài, có thể đưa ra các biện pháp nhằm hỗ trợ và nâng cao cơ hội cho trẻ nhập cư được tiếp cận với các dịch vụ về y tế, giáo dục và vui chơi giải trí

Kết quả nghiên cứu của đề tài này sẽ nâng cao sự hiểu biết về người nhập cư nói chung

và trẻ nhập cư ở lớp học tình thương phường Phú Cường nói riêng Thông qua kết quả nghiêncứu này sẽ là nguồn tài liệu cho các nghiên cứu sau nhằm giúp người nhập cư có cơ hội dễdàng hơn trong việc tiếp cận các dịch vụ về y tế, giáo dục và vui chơi giải trí

6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ họ tên tác

giả, nhan đề và các yếu tố về xuất bản nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả nghiên cứu (nếu có):

Ngày 27 tháng 03 năm 2016

Sinh viên chịu trách nhiệm chính

thực hiện đề tài

(ký, họ và tên)

Trang 6

UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Trang 7

THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN: Họ và tên: Ngô Thị Thanh Trúc

Sinh ngày: 03 tháng 10 năm 1994

Nơi sinh: phường Phú Cường, TP Thủ Dầu Một, T Bình Dương

Lớp: D12XH01, Khóa: 2012 - 2016

Khoa: Công tác xã hội

Địa chỉ liên hệ: Số 54/36, đường Hai Bà Trưng, Khu 10, phường Phú Cường, thành phốThủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Điện thoại: 0979031094, Email: Ngothithanhtruc0310@icloud.com

II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm đang

Ngành học: Công tác Xã hội Khoa: Công tác xã hội

Kết quả xếp loại học tập: Trung Bình Khá

Trang 9

b) Ý nghĩa thực tiễn

3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

a) Nghiên cứu ngoài nước

b) Nghiên cứu trong nước

4 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

a) Mục tiêu tổng quát

b) Mục tiêu cụ thể

5 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

a) Đối tượng, khách thể nghiên cứu

b) Phạm vi nghiên cứu

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

7 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

8 CẤU TRÚC ĐỀ TÀI

PHẦN 2: NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.2 Cách tiếp cận trong nghiên cứu

1.2.1 Thuyết nhu cầu

1.2.2 Ứng dụng của lý thuyết

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ Y TẾ, GIÁO DỤC VÀ VUI CHƠI GIẢI TRÍ CỦA TRẺ NHẬP CƯ QUA BA TRƯỜNG HỢP ĐIỂN CỨU CA

2.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu phường Phú Cường

2.2 Lớp học tình thương phường Phú Cường

2.3 Tổng quan về chính sách

2.3.1 Chính sách và những văn bản có liên quan đến Chương trình

BVCS&GDTE ở phường Phú Cường

Trang 10

2.3.2 Chương trình hành động vì trẻ em Bình Dương GĐ 2013-2020

2.3.3 Chương trình BVTE tỉnh Bình Dương GĐ 2011-2015

2.3.4 Kế hoạch liên ngành về công tác BVCS&GDTE giữa Sở Lao động Thương Binh- xã hội và Sở Giáo dục & Đào tạo tỉnh BD GĐ 2014 - 20202.3.5 Quyết định phê duyệt đề án CSTE mồ côi không nơi nương tựa, TE bị bỏrơi, TE bị nhiễm HIV/AID, TE là nạn nhân của chất độc hóa học, TE khuyết tật nặng và TE bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa dựa vào cộng đồng trên địa bàn tình BD GĐ 2014 - 2020

2.4 Trường hợp gia đình nhập cư 1

2.5 Trường hợp gia đình nhập cư 2

2.6 Trường hợp gia đình nhập cư 3

CHƯƠNG 3: THẢO LUẬN VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Tiếp cận về dịch vụ y tế của trẻ nhập cư

3.2 Tiếp cận về dịch vụ giáo dục của trẻ nhập cư

3.3 Tiếp cận về dịch vụ vui chơi giải trí của trẻ nhập cư

Các phát hiện chính của đề tài

Hạn chế của đề tài và gợi ý các hướng nghiên cứu tiếp theo

BVCS & GD: Bảo vệ chăm sóc và giáo dục.

GDTE: giáo dục trẻ em.

TECHCĐB: trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

BVCSTE: bảo vệ chăm trẻ em.

LĐ TBXH: lao động thương binh xã hội.

TP HCM: Thành Phố Hồ Chí Minh.

BHYT, BHXH: Bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội.

Trang 11

đó di cư kéo theo việc cha mẹ mang con cái đi cùng để chăm sóc nuôi dưỡng nhưng trên thực

tế trẻ di cư rất khó tiếp cận về các dịch vụ giáo dục, y tế, sức khỏe, xã hội, vui chơi giải trí v.v

Việt Nam là nước đầu tiên khu vực châu Á và nước thứ hai trên thế giới phê chuẩnCông ước Quốc tế về Quyền trẻ em Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là mối quan tâm lớn

Trang 12

của Đảng, Nhà nước, gia đình và xã hội Nó trở thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc ViệtNam, dành mọi sự yêu thương cho trẻ, luôn đặt lợi ích của trẻ lên hàng đầu với phương châm

“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” Đi kèm với phương châm này thì nước ta cũng đã đầu

tư nhiều vào việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em để mỗi trẻ đều có được cuộc sống antoàn và hạnh phúc nhất

Với tốc độ phát triển nhanh như hiện nay ở đất nước ta những năm gần đây tỉ lệ nghèođang được giảm xuống, đời sống người dân được cải thiện một cách rõ rệt dẫn đến việc chămsóc và giáo dục trẻ em cũng được cải thiện hơn thông qua việc người dân sử dụng các dịch vụBHYT, BHXH với trên 70% vào năm 2014, tỉ lệ biết chữ người lớn trên 90% vào năm 2009

và trẻ em là 88% năm 2005 theo cục thống kê năm 2010 Tuy vậy không phải sự phát triểnnày đều giúp tất cả mọi người nhất là với những người nhập cư đặc biệt là trẻ em chưa hoàntoàn hưởng được hết các dịch vụ về y tế, giáo dục và vui chơi giải trí

Là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của khu vực phía Nam, Bình Dươngcũng đã có sự phát triển vượt bậc đáng kể trong những năm gần đây về mọi mặt Có thể nóiBình Dương hôm nay đang là một điểm sáng trên bản đồ kinh tế Việt Nam với những thànhtựu đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế như việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) Bêncạnh đó Bình Dương còn là một trong những tỉnh có nhiều khu công nghiệp nổi tiếng như:khu công nghiệp Sóng Thần, VISIP, Việt Nam Singapore v.v Chính vì điều đó mà nơi đây

đã thu hút được một lượng lớn người dân từ các tỉnh lân cận nhập cư vào địa bàn nhằm tìmkiếm cơ hội việc làm và định cư sinh sống nên Bình Dương đã trở thành một tỉnh có tốc độtăng dân số cao, theo kết quả điều tra dân số ngày 1/4/2009 là 7.3% Thủ Dầu Một là mộttrong những trung tâm thành phố của tỉnh Bình Dương có tỉ lệ dân nhập cư cao do gần cáckhu công nghiệp, trung tâm hành chính, chợ đầu mối lớn trong đó có chợ Phú Cường Và PhúCường cũng là trung tâm của Thành Phố Thủ Dầu Một nên dân nhập cư chiếm số lượng kháđông trên 1.000 hộ (hơn 3.000 nhân khẩu) so với tổng số hộ 5,639 hộ dân, theo tài liệu báocáo dân số của phường Phú Cường năm 2014 Những hệ lụy kéo theo từ dòng di cư đếnphường Phú Cường là rất lớn cho chính bản thân những người di cư, mà hơn hết đó là trẻ em-những đứa trẻ phải theo gia đình đi làm kinh tế

Chính vì thế mà tôi chọn đề tài “Khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục và vui chơi giải trí của trẻ nhập cư Thành Phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương- Nghiên cứu trường hợp tại lớp học tình thương phường Phú Cường TP Thủ Dầu Một“ để có một cách nhìn

khác về việc tiếp cận các dịch vụ của trẻ nhập cư nơi đây, bên cạnh đó cung cấp thêm những

Trang 13

thông tin, số liệu cho chính quyền địa phương để giúp đỡ trẻ phần nào vơi bớt khó khăn trongcuộc sống.

2 Ý NGHĨA LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.

a) Ý nghĩa lí luận.

Đề tài góp phần tìm hiểu việc tiếp cận các dịch vụ của trẻ nhập cư và sử dụng cách tiếpcận của phương pháp nghiên cứu định tính để vận dụng và lý giải về khả năng tiếp cận các dịch vụ về y tế, giáo dục, vui chơi giải trí của trẻ nhập cư tại lớp học tình thương phường Phú Cường TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

b) Ý nghĩa thực tiễn.

Kết quả nghiên cứu của đề tài này sẽ làm sáng tỏ khả năng tiếp cận các dịch vụ về y tế,giáo dục, vui chơi giải trí của trẻ nhập cư tại lớp học tình thương phường Phú Cường TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo cho các bạn sau này về đề tài trẻ nhập cư nói chung và trẻ nhập cư tại địa bàn phường Phú Cường nói riêng Bên cạnh đó có thể làm nguồn tài liệu thêm cho ủy ban, chính quyền địa phương trong các lĩnh vực về tiếp cận dịch

vụ y tế, giáo dục, vui chơi giải trí của trẻ nhập cư

Trang 14

3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ.

a) Nghiên cứu ngoài nước

Theo công ước của LHQ về quyền trẻ em thì trẻ em có 4 nhóm quyền cơ bản nhưquyền được sống còn, quyền được phát triển, quyền được bảo vệ, quyền được tham gia.Chính vì thế quyền của trẻ em luôn được Nhà nước Việt Nam quan tâm và bảo vệ Tùy theomỗi quốc gia mà áp dụng độ tuổi quy định của trẻ thì được gọi là trẻ em nhưng nhìn chung trẻ

em trên tất cả các nước đều cần sự quan tâm và hỗ trợ của chính phủ, bộ máy nhà nước trựcthuộc nơi trẻ sống bảo vệ trẻ, đặc biệt là đối với trẻ nhập cư để trẻ có thể tránh khỏi các nguy

cơ rủi ro không đáng có

Một số tài liệu nghiên cứu ngoài nước, công trình khoa học mà tôi đã nghiên cứu vàtham khảo để rút ra được những quan điểm, cái nhìn của mỗi tác giả về đề tài trẻ em nhập cưngoài nước như sau

Về vấn đề trẻ em di cư nói chung, có tài liệu nghiên cứu D Lange-FSA, Oklahoma,

“Children youth and migration”, Unicef 2002 nói về những khó khăn mà trẻ di cư ở các nướcChâu Âu đang phải gánh chịu, theo nghiên cứu thì Trung Quốc có 19.810.000 trẻ em di cư ,gần 20% của tổng số dân nhập cư Con số không nhỏ này cho thấy tình trạng trẻ nhập cư đangngày một tăng nhanh không những ở Châu Âu mà còn ở Châu Á và trong đó có Việt Nam.Nghiên cứu này nhấn mạnh vào cách tiếp cận các quyền của trẻ trong đó có việc không phânbiệt đối xử với trẻ di cư Và trẻ di cư cần được hưởng đầy đủ các quyền như trong công ướcLHQ đã nêu, nghiên cứu phân chia loại trẻ em di cư theo gia đình và trẻ di cư một mình đểthấy được những thuận lợi và khó khăn của trẻ di cư đang gặp phải về thuận lợi đối với cuộcsống như kinh tế phát triển hơn so với lúc chưa di cư, ngoài ra di cư như một “chiến lượcsống sót” đối với họ, giúp họ thể hiện tinh thần đoàn kết hơn với gia đình, nâng cao sự sẻ chiađùm bọc yêu thương gia đình hơn Bên cạnh đó di cư cũng mang đến rất nhiều vấn đề khókhăn như: bị phân biệt đối xử, thiếu các giấy tờ khai sinh, quốc tịch, thiếu các dịch vụ y tế,giáo dục, vui chơi giải trí cho trẻ nhập cư, trẻ nhập cư phải lao động sớm Ngoài ra ngôn ngữgiao tiếp cũng là một vấn đề đáng quan tâm khi mà nó vừa là cơ hội cũng vừa là thách thứcđối với người nhập cư nói chung và trẻ nhập cư nói riêng

Về mảng chăm sóc sức khỏe cho trẻ nhập cư, tác giả đã tiếp cận được công trình

nghiên cứu của Jill F N Kilanowski, MSN, RN, CPNP, “health disparities: carnival and migrant worker children ” Jill F N Kilanowski, MSN, RN, CPNP The Ohio State University

Trang 15

2006, theo đó bài viết nói về việc đánh giá tình trạng sức khỏe của trẻ di cư trong độ tuổi từ 0đến 12 tuổi để thấy được sự chênh lệch giữa hai nhóm trẻ di cư và trẻ tại địa phương Bài viết

sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính để thống kê số liệu kết hợp quan sátphỏng vấn nhóm trẻ di cư trong độ tuổi từ 0 đến 12 để qua đó thấy được tình trạng sức khỏecủa trẻ di cư và trẻ thường trú Nghiên cứu cho rằng có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến vấn đềsức khỏe của trẻ di cư như: trình độ học vấn, phân biệt giới, tình hình kinh tế xã hội thấp,không có nhà ở, thiếu các giấy tờ v.v tác động qua lại lẫn nhau làm cho dân di cư luôn bịphân biệt trong đời sống xã hội dẫn đến tình trạng sức khỏe của trẻ nhập cư cũng không đảmbảo Điểm mạnh của bài viết là có thể chỉ ra cụ thể sự chênh lệch về các về đề sức khỏe như(chiều cao, cân nặng, độ tuổi, giới tính.) của hai nhóm trẻ di cư và trẻ ở tại địa phương Tácgiả cũng nêu ra phát hiện mới cho bài viết của mình như trẻ có điều kiện chăm sóc sức khỏetốt hơn so với lúc trước khi di cư, tuy nhiên trẻ di cư vẫn không được chăm sóc sức khỏe tốtnhư những trẻ cư trú tại địa phương về các vấn đề như: tiêm chủng phòng ngừa, bệnh răngmiệng, chăm sóc da, chế độ dinh dưỡng Qua đó cho thấy trẻ di cư theo gia đình phải đốimặt với rất nhiều mối nguy hiểm như môi trường sống, vốn văn hóa, trình độ giáo dục, phânbiệt giới là các yếu tố tác động không nhỏ đến tình trạng sức khỏe của trẻ nhập cư Tuy nhiên,bài viết lại chưa đưa ra những lí giải về những số liệu khảo sát được mà chỉ dừng lại ở việc

mô tả, nhận xét số liệu

Về mảng nghiên cứu vấn đề giáo dục cho người nhập cư là nghiên cứu mang tính toànquốc của Friedrich Heckmann và các cộng sự (2008), “EDUCATION AND MIGRATION strategies for integrating migrant children in European schools and societies”, European

Commission's Directorate-General for Education and Culture, 2008 nói về việc góp phần thúcđẩy chất lượng và công bằng trong nền giáo dục Châu Âu Nghiên cứu đề cập đến bản chất,nguyên nhân và biện pháp khắc phục cho nền giáo dục đối với trẻ em (di cư hay dân tộc thiểusố) bị thiệt thòi về tuyển sinh trong loại hình trường học, thời gian đi học, các chỉ số thànhtích, tỷ lệ bỏ học, các nền văn Iióíi v.v Ngoài ra nghiên cứu còn nêu cao các chính sách,chương trình và các biện pháp để cải thiện tình hình khó khăn của trẻ nhập cư Bài viết đánhmạnh vào các chính sách, chống phân biệt đối xử với người nhập cư, chú ý nhiều hơn đếntừng vấn đề của trẻ, cho học ngôn ngữ thứ hai sao cho phù hợp với nơi nhập cư để có thể pháttriển một cách tốt nhất Nghiên cứu cho thấy tình hình trẻ em nhập cư khi đi học với thời gianngắn và ít hơn nhiều so với trẻ ở bản xứ Bên cạnh đó, tình trạng quá tải của các em ở các lớp

Trang 16

học “đặc biệt” này ngày càng nhiều, tỷ lệ các em đi đến trường thì ít do không đủ điều kiệnnhập học đồng nghĩa với việc trẻ càng có nhu cầu học ở những lớp “đặc biệt” này càng caohơn Nghiên cứu nêu cao tinh thần chống phân biệt đối xử trẻ (di cư, nhập cư) để từ đó nângcao cơ hội của trẻ nhập cư trong việc tiếp cận nền giáo dục.

Nhìn chung nghiên cứu về trẻ nhập cư ngoài nước nhấn mạnh vào việc tìm ra cácchính sách để giúp đỡ cho trẻ được thể hiện cụ thể qua từng nhóm trẻ, độ tuổi của trẻ Bêncạnh đó các tác giả luôn xem trọng vấn đề trẻ bị phân biệt đối xử bởi nhiều nguyên nhân khácnhau nhưng với mục đích cuối cùng là mọi tác giả đều muốn đem lại quyền bình đẳng cho trẻ

em nói chung và trẻ nhập cư nói riêng

b) Nghiên cứu trong nước.

Trẻ em là tương lai của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia và là tương lai cho toàn thế giới, vìthế sự phát triển toàn diện và tốt nhất của trẻ luôn là sự quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia.Cũng chính vì thế có rất nhiều công trình nghiên cứu về trẻ cũng như về những nhu cầu, đờisống (giáo dục, chăm sóc, sức khỏe, dinh dưỡng, vui chơi- giải trí, lao động sớm.) của trẻ.Dưới đây là một số công trình nghiên cứu,tài liệu, tạp chí khoa học, tiểu luận và mà tôi đãtham khảo và rút ra được những quan điểm, cái nhìn của mỗi tác giả về đề tài trẻ em nhập cư

và đời sống của trẻ em nghèo nhập cư

Tại việt Nam tỷ lệ dân nhập cư đang tăng dần qua các năm, theo dự báo cục thống kêThành Phố Hồ Chí Minh thì sự di cư từ nông thôn lên các trung tâm, thành thị chiếm tỉ lệ càovào năm 1989 là 2,36% và 2004 là 3,60%, theo dự báo cục thống kê Thành Phố Hồ ChíMinh Trong đó tỷ lệ trẻ em di cư theo cha mẹ chiếm tới 2/3 là trẻ có độ tuổi 15 đến 19 đangtham gia lao động và đa số trẻ không được tham gia tiếp cận các dịch vụ xã hội như y tế, giáodục và vui chơi giải trí Vì thế Đảng và Nhà nước ta cũng đã có nhiều chính sách quan tâm,

hỗ trợ nhằm cải thiện đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần cho trẻ em nói chung vàtrẻ di cư nói riêng

Đầu tiên phải kể đến đó là công trình nghiên cứu có quy mô trên toàn quốc của tác giả

Đặng Bích Thủy (2010), “Hội nhập kinh tế và những tác động đến thực hiện quyền trẻ em ở Việt Nam”, tạp chí xã hội học, số 1 (109), năm 2010 cho ta thấy được sự khác nhau cơ bản

của trẻ em và trẻ có hoàn cảnh khó khăn tại Việt Nam về các dịch vụ y tế, dinh dưỡng, sứckhỏe, giáo dục Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính đểnghiên cứu nhóm trẻ em và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn để thống kê các biến số, thu thập số

Trang 17

liệu từ các nguồn và bảng hỏi điều tra về trẻ tại Việt Nam Bài viết nhấn mạnh sự bất bìnhđẳng xã hội, nghèo đói, di cư và các tệ nạn xã hội.tất cả là đều liên quan đến việc mở cửa vàhội nhập của đất nước Bài viết cũng trình bày rõ những thuận lợi và thách thức của trẻ em vàtrẻ em nghèo ở Việt Nam về các dịch vụ như y tế: tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổigiảm từ 42% năm 1991 còn 25,2% năm 2005 (Theo báo cáo của viện dinh dưỡng tại Hội nghịQuốc Tế về dinh dưỡng Hà Nội năm 2008) Về giáo dục: chi tiêu ngân sách cho giáo dục ởViệt Nam tăng gấp 3 lần trong giai đoạn từ 1991 đến 2002 Bên cạnh đó bài viết cũng nêu lênnhững thách thức từ quá trình toàn cầu ảnh hưởng đến quyền của trẻ gay gắt là những rủi roxuất phát từ sự nghèo đói-nguyên nhân dẫn đến sự thất học và suy dinh dưỡng và các rủi ro

về sức khỏe đã ảnh hưởng nghiên trọng đến đời sống của trẻ nghèo và trẻ nhập cư Điển hìnhnhư trong dịch vụ chăm sóc sức khỏe gánh nặng tài chính đã chuyển từ Nhà nước sang chongười sử dụng Ước tính khoảng 80% tổng chi phí y tế được chi trả trực tiếp bởi người sửdụng, còn ngân sách Nhà nước chỉ tài trợ dưới 15%, phần còn lại được trang trải bởi các tàitrợ nước ngoài và các chính sách bảo hiểm khác (Số liệu của Bộ y tế 2002 Dẫn theo AriKokko và cộng sự 2008) Ngoài ra bài viết còn nêu điểm mới ở những thách thức cho tươnglai của trẻ em đứng trước nguy cơ toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng nhanh Bài viết đưa rakhá nhiều khía cạnh về trẻ em tuy nhiên vẫn chưa đưa ra những lí giải về những số liệu khảosát được mà chỉ dừng lại ở việc mô tả, nhận xét số liệu

Cũng với đề tài nghiên cứu tình hình trẻ em tại Việt Nam ta cần phải nhắc đến côngtrình nghiên cứu có quy mô toàn quốc của UNICEF Việt Nam (2003), “Báo Cáo Phân TíchTình Hình Trẻ Em Tại Việt Nam 2010” Báo cáo UNICEF Việt Nam, nghiên cứu được viếtdựa trên việc phân tích số liệu điều tra trẻ em Việt Nam vào năm 2010 Nghiên cứu sử dụngphương pháp nghiên cứu định lượng và định tính để thống kê các biến số, điều tra bảng hỏi vàphỏng vấn trẻ dưới 18 tuổi ở Việt Nam và chỉ tập trung vào trẻ có HCĐB Với bài viết này tácgiả đã đưa ra rất nhiều số liệu để chứng minh những tình trạng khó khăn mà trẻ di cư đang

gặp phải Trong chương 5 trang 230 có nêu “trẻ em nhập cư phải đối mặt với nguy cơ bị gạt

ra ngoài cuộc sống xã hội do các em không được đăng ký cư trú tại nơi ở mới Thiếu giấy tờ chứng minh tình trạng cư trú khiến cho những trẻ này không tiếp cận được với các dịch vụ công thiết yếu như y tế, giáo dục và thường phải đối mặt với nguy cơ bị bóc lột và xâm hại cao” mục tiêu của nghiên cứu này là kêu gọi giảm sự bất bình đẳng về khả năng tiếp cận các

dịch vụ của trẻ có HCĐB Nghiên cứu tìm hiểu những nguyên nhân có ảnh hưởng đến quyền

Trang 18

của trẻ như các hành vi và giá trị liên quan đến gia đình, truyền thống và văn hóa Việt Nam.Nghiên cứu mang tính kế thừa nguồn dữ liệu sẵn qua việc phân tích thực trạng của trẻ en ViệtNam và phát huy tối đa hơn thông qua việc lí giải về những số liệu đã khảo sát được Tuynhiên, các chính sách được nêu ra trong bài viết chưa đồng bộ và nhất quán gây khó khăn chocông tác giải quyết vấn đề và cần thời gian về lâu về dài.

Cùng với các nghiên cứu trẻ em di cư về đăng ký cư trú, hộ khẩu cho người nhập cư có

bài viết của tác giả Trần Đan Tâm (2007) “Vấn đề của người nhập cư vào TPHCM”, tạp chí

khoa học và xã hội số 04 (104) năm 2007 cho ta một cách nhìn khác hơn về người di cư dướigóc độ chính sách về đăng ký hộ khẩu Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng

và nghiên cứu định tính tập trung khảo sát, thống kê số liệu ở hai thành phố lớn là Hà Nội vàTPHCM kết hợp với quan sát và phỏng vấn dân nhập cư các vấn đề về y tế, giáo dục, vui chơigiải trí và điều kiện hạ tầng v.v để cho người đọc có thể hình dung rõ hơn về người nhập cưkhi nói về những khó khăn của họ trong đó không thể không nhắc đến vấn đề về đăng ký hộkhẩu tạm trú Điểm mạnh của bài viết này là tác giả đã nêu ra những thực trạng khó khăn củangười nhập cư mà họ đang phải gánh chịu với khó khăn trước mắt là việc giải quyết hộ khẩucho dân nhập cư thì cuộc sống của họ sẽ phần nào ổn định hơn Tuy nhiên bài viết cũng cònmột số điểm hạn chế như chỉ chú trọng vào việc đăng ký hổ khẩu cho dân nhập cư (khó khăntrước mắt) nhưng về lâu dài còn có nhiều vấn đề khác chưa được quan tâm Bên cạnh đó cácchính sách pháp luật chưa đồng bộ, ảnh hưởng kinh tế phát triền không đồng đều khiến chodân nhập cư chịu rất nhiều khó khăn như việc tiếp cận các dịch vụ giáo dục: khảo sát cho thấy

tỷ lệ trẻ nghỉ học sớm trong nhóm nhập cư tăng nhanh hơn nhóm khác theo cấp lớp, với lý donghỉ học được nêu ra nhiều nhất là khó khăn về kinh tế, tiếp theo đó là vì không có hộkhẩu về y tế: dân nhập cư quan niệm rằng họ là những người trẻ, khỏe, có sức lao động tốtmới đến thành phố làm việc nên vấn đề sức khỏe không là khó khăn đối với họ, mặt khác vớiphương châm tiết kiệm tối đa thời gian cho việc chi cho y tế (cả thời gian và tiền bạc) là “xaxỉ” đối với người nhập cư Về tiếp cận các dịch vụ đô thị: chính sách nhà nước đã tạo điềukiện tối đa cho người dân nhập cư KT3 về 6 lĩnh vực như học hành, xin cấp điện nước, làmgiấy khai sinh, làm giấy tờ nhà đất và xin việc Một ví dụ minh họa là họ cũng còn phải chịukhó khăn không khác gì KT4 như để ngăn chặn tình trạng quá tải xe máy, cấp quản lý nghỉngay đến việc không cho KT3 đăng ký chủ quyền xe, trong khi trước đó quy định này đã cólần xóa bỏ Hạn chế này đã mang lại không ít phiền toái cho người nhập cư nói chung và KT3

Trang 19

nói riêng.

Nhìn chung dưới góc độ chính sách về đăng ký hộ khẩu thì Nhà nước nên tạo điều kiện

dễ dàng cho dân di cư trong việc đăng ký hộ khẩu, cần có các tiêu chí rõ ràng, dễ hiểu đểphần nào giúp cho người di cư có thể nhanh chóng hơn trong việc đăng ký Bên cạnh đó việcđăng ký hổ khẩu cho dân nhập cư (khó khăn trước mắt) nếu được giải quyết thì về lâu dài còn

có nhiều vấn đề khác cũng cần được quan tâm như chính sách pháp luật cần được đồng bộ đểkhông làm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế giữa thành thị và nông thôn thì người di cư sẽkhông cần phải chịu nhiều khó khăn thêm nữa

Bên cạnh những việc về đăng ký hộ khẩu, các giấy tờ cho trẻ nhập cư thì việc cần phảiđảm bảo cho trẻ nhập cư được hưởng các quyền lợi là rất quan trọng Chính vì thế cần cónhững nghiên cứu về đảm bảo quyền lợi cho trẻ ở từng khu vực để có cách nhìn chính xáchơn về trẻ nhập cư tại khu vực đó Đối với việc nghiên cứu về đảm bảo quyền lợi cho trẻ

nhập cư phải kể đến bài viết của tác giả Trần Minh Tuấn (2010) “Đảm bảo quyền lợi lao động

di cư hiện nay”, trên tạp chí khoa học -kinh tế xã hội số 7 năm 2010 trang 24 -27 cho ta thấy

được những hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ của người dân di cư Bài viết sử dụngphương pháp nghiên cứu định lượng để thống kê và thu thập dữ liệu về lao động di cư tại TP.HCM Bài viết nêu có khoảng 30% dân số của TP HCM là người di cư, trong đó có tới 2/3 làlao động trẻ từ 15 đến 19 tuổi chiếm khoảng 70% người di cư vì lý do kinh tế, 41% thay đổiviệc làm, 30% mong muốn cải thiện điều kiện sống Bài viết trình bày rất nhiều số liệu nghiêncứu về lao động di cư tại TP.HCM nhằm làm tăng tính thuyết phục hơn, bên cạnh đó còn nêu

ra được những vấn đề cơ bản đặt ra trong việc đảm bảo quyền lợi của người lao động di cưnhư: thu nhập thấp không được đảm bảo, hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội y tế,giáo dục, vui chơi giải trí, điều kiện nhà ở chật chội, thiếu thốn và chưa được sự quan tâm củachính quyền sở tại đã cho ta thấy được phần nào những khó khăn mà người di cư đang phảigánh chịu Theo thống kê kết quả khảo sát của Bộ Văn hóa -Thể thao và Du lịch về đời sốngvăn hóa công nhân tại 45 doanh nghiệp ở 13 tỉnh, thành phố cho thấy: 60% công nhân khôngxem tivi, nghe đài, 85% không đọc sách báo, 80% không tập thể dục thể thao thường xuyên,65% không có nhu cầu về văn hóa, 65% công nhân không tham gia vào các hoạt động tuyêntruyền và 65% không tham gia vào các hoạt động văn nghệ quần chúng Di cư chẳng nhữngkhông bảo đảm được quyền lợi cho bản thân người di cư mà còn ảnh hưởng đến gia đình vàcon cái của họ Trẻ di cư không được hưởng các quyền lợi để tiếp cận các dịch vụ xã hội mà

Trang 20

cũng không có các dịch vụ về đời sống như vui chơi giải trí để trẻ có được một sân chơi lànhmạnh Bài viết đề cập đến khá nhiều khía cạnh nhưng chưa đưa ra những lí giải về những sốliệu khảo sát được mà chỉ dừng lại ở việc mô tả, nhận xét số liệu.

Bên cạnh đó để hiểu rõ hơn về đời sống của dân di cư khác với dân địa phương như thếnào thì ta cần biết được những đặc điểm của người dân di cư Bài viết của tác giả Đỗ NgọcKhải nói về những đặc điểm cơ bản của dân di cư sẽ cho ta một cái nhìn sơ nét về cuộc sốngvới rất nhiều khó khăn mà dân di cư đang gặp phải và đặc biệt là trẻ em di cư Theo tác giả

Đỗ Ngọc Khải (2009) ”kết quả khảo sát nghèo đô thị tại Hà Nội và TP HCM năm 2009: Những đặc điểm cơ bản của nhóm di cư”, trên tạp chí khoa hoc -kinh tế xã hội số 12 năm

2010 trang 15 -18 nêu về sự khác nhau của việc tiếp cận các dịch vụ của dân di cư và dânthường trú Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính để thống kê,thu thập thập số liệu dân di cư tại Hà Nội và TP HCM kết hợp với quan sát và phỏng vấn dân

di cư về các dịch vụ tiếp cận của họ Bài viết thu thập thông tin, số liệu về đời sống kinh tếcủa người di cư tác động trực tiếp đến việc tiếp cận các dịch vụ: giáo dục, y tế, việc làm đểthấy được sự khác biệt của người dân thường trú và người di cư thông qua việc tiếp cận cácdịch vụ đó Bài viết cho ta thấy được việc tiếp cận các dịch vụ giáo dục và y tế của dân di cưkém hơn so với dân địa phương như về giáo dục: trẻ di cư đa số không được đến trường kể cả

trường bán công vì lý do thiếu điều kiện và hồ sơ Về y tế: “hộ nghèo và hộ cận nghèo là dân

di cư tuy được chính quyền địa phương quan tâm hỗ trợ, tạo điều kiện khám chữa bệnh nhưng việc tiếp cận dịch vụ y tế của họ vẫn hạn chế hơn dân thường trú Tính chung còn 56,6% dân di cư chưa có BHYT do họ chưa biết về BHYT, không biết mua BHYT ở đâu (21,9%), do không có hộ khẩu (16,3%), do thiếu tiền (18,5%) Điểm hạn chế của bài viết này

là chỉ nêu ra các chính sách giải quyết nhưng không thống nhất làm cho việc giải quyết vấn

đề còn gặp nhiều trở ngại

Qua các bài viết trên ta có thể cơ bản thấy được phần nào về đời sống của người nhập

cư thông qua việc tiếp cận các dịch vụ là rất khó khăn, với những số liệu cụ thể được điều tra

ở 2 nơi Hà Nội và TP.HCM Cùng với tỷ lệ dân di cư ngày càng đông mà đa phần là trình độhọc vấn và chuyên môn thấp nên dân di cư phải chịu nhiều thiếu hụt hơn so với dân thườngtrú về việc tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục và vui chơi giải trí dành cho trẻ Trẻ em nhập cưđang ngày càng thiếu đi những sân chơi lành mạnh dành cho lứa tuổi mẫu giáo, tiểu học.v.v,những khu vui chơi thiếu nhi, các công viên công cộng dần ngày một ít Vì thế cần có các

Trang 21

công trình nghiên cứu để chỉ ra sự thiếu hụt sân chơi dành cho trẻ em nói chung và trẻ nhập

cư đến các thành phố lớn nói riêng Một trong các nghiên cứu đó là bài viết của nhóm tác giả

Nguyễn Văn Tiên, Nguyễn Hoàng Mai (2006) “ Di dân đến các thành phố lớn ở Việt Nam: Những vấn đề thực tiễn và chính sách”, Xã hội học số 3 (95) năm 2006 nói về thực trạng việc

tiếp cận các dịch vụ về đời sống của người di cư về các lĩnh vực y tế, giáo dục và vui chơigiải trí ở hai đô thị lớn là Hà Nội và TP.HCM Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu địnhlượng và định tính để khảo sát và thống kê số liệu kết hợp với quan sát, phỏng vấn nhómngười di cư về thực trạng tiếp cận các dịch vụ và đời sống của họ Về y tế: do thiếu kiến thức

và thu nhập thấp nên người di cư đến khám tại các cơ sở rất hạn chế, đa phần tự mua thuốc vềnhà chữa trị.Về giáo dục: trẻ di cư chịu nhiều thiệt thòi hơn trẻ thường trú do không có hộkhẩu thường trú và thu mức phí cao nên nguy cơ dẫn đến bỏ học là điều có thể xảy ra Về vuichơi giải trí: đời sống văn hóa tinh thần đối với trẻ di cư còn rất nhiều hạn chế, thiếu hụt nhất

là cơ sở văn hóa, sinh hoạt thể thao, vui chơi giải tiì nguyên nhân chủ yếu là do thiếu sótngay từ khu quy hoạch các doanh nghiệp, KC'\ v;'i chính quyền cũng không quan tâm nhiềuđến các dịch vụ vui chơi giải tií nơi đây, đặc biệt là cho các tiẻ nhập cư

Bên cạnh những khó khăn mà người di cư đang phải gánh chịu ta không thể không phủnhận những thuận lợi mà di cư mang lại như người di cư đóng góp không nhỏ cho sự pháttiiển kinh tế của bản thân người di cư, của gia đình họ cũng như thúc đẩy nền kinh tế của đấtnước Di cư đông góp phần thúc đẩy phát tiiển các ngành dịch vụ, công nghiệp khác phát tiiểntheo, góp phần tiao đổi kinh tế, văn hóa và kỹ thuật giữa vùng đô thị và nông thôn, khuyếnkhích tiao đổi sản phẩm hàng hóa ở hai nơi, góp phần quan tiọng tiong việc xóa đói giảmnghèo Bên cạnh đó còn iất nhiều khó khăn như: luồng di cư đông, gia tăng dân số khôngđồng đều tạo sức ép tác động tiêu cực đến đời sống con người Người dân di cư đến các đô thịlớn ngày càng đông nên cần phải có các chính sách pháp luật để phân bố dân cư đồng đều vàhưởng đầy đủ quyền lợi Nhìn chung tiẻ di cư luôn phải chịu thiệt thòi tiong việc di chuyển,thích nghi và làm quen với môi tiường mới, việc tiếp cận đến các dịch vụ giành cho ngườinhập cư cũng không được đáp ứng một cách đầy đủ do nhiều yếu tố tác động như: văn hóa,môi tiường, ngôn ngữ, tiình độ học vấn, độ tuổi, giới tính, màu da tác động qua lại lẫn nhaukhiến cho người nhập cư đang phải đối mặt với iất nhiều khó khăn đặc biệt là tiẻ em nhập cư.Qua các công tiình nghiên cứu, tài liệu, tiểu luận tạp chí khoa học tiên đây đã cho thấythực tiạng việc tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục và vui chơi giải tií của tiẻ nhập cư vẫn còn

Trang 22

gặp iất nhiều khó khăn Các nghiên cứu và bài viết đã đưa ia một cách nhìn cụ thể về việc tiếpcận các dịch vụ của tiẻ nhập cư, đặc biệt quan tâm đến các chính sách dành cho tiẻ em nóichung và tiẻ nhập cư nói iiêng để có thể phần nào hỗ tiợ tiẻ, giúp tiẻ phát tiiển tốt hơn tiongcuộc sống Các bài nghiên cứu đa phần đều sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng vàđịnh tính để thống kê, thu thập dữ liệu, phỏng vấn và điều tia bảng hỏi về chủ đề cần nghiêncứu Tuy nhiên các giải pháp mà nghiên cứu đưa ia vẫn chưa thống nhất về các chính sách,ngoài ia nghiên cứu chỉ đề cập đến những số liệu thống kê nhưng phần lớn vẫn chưa lý giải

những con số khảo sát và nhận xét số liệu Với đề tài “Khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục và vui chơi giải trí của trẻ nhập cư Thành Phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương- Nghiên cứu trường hợp tại lớp học tình thương phường Phú Cường TP Thủ Dầu Một”

đề tài không những tìm hiểu những mục tiêu thực trạng tiếp cận các dịch vụ, những thuận lợikhó khăn của trẻ nhập cư mà còn giải thích những số liệu thống kê từ phương pháp nghiêncứu có được để phần nào làm cho đề tài được sáng và mới mẻ hơn

4 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.

a) Mục tiêu tổng quát:

Tìm hiểu khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục và vui chơi giải trí của trẻ nhập

cư Thành Phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương- Nghiên cứu trường hợp tại lớp học tìnhthương phường Phú Cường TP Thủ Dầu Một, để từ đó có thể đưa ra các biện pháp, kiến nghịđến chính quyền phường xã có thể hỗ trợ, xử lý kịp thời

b) Mục tiêu cụ thể :

• Tìm hiểu thực trạng việc tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục và vui chơi giải trí của trẻnhập cư ở lớp học tình thương phường Phú Cường

• Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn của trẻ nhập cư trong việc tiếp cận dịch vụ về y

tế, giáo dục và vui chơi giải trí ở lớp học tình thương phường Phú Cường

5 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.

• 7 •

a) Đối tượng, khách thể nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: khả năng tiếp cận dịch vụ về

y tế, giáo dục và vui chơi giải trí của trẻ nhập cư

Trang 23

Khách thể nghiên cứu: trẻ nhập cư phường Phú Cường và hiện đang theo học lớp học tình thương phường Phú Cường

b) Phạm vi nghiên cứu:

Phần phạm vi nghiên cứu: trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, tôi tập trung nghiên cứumột số khía cạnh như sau về trẻ nhập cư:

Về nội dung:

• Tìm hiểu thực trạng về các dịch vụ y tế, giáo dục và vui chơi giải trí dành cho trẻ nhập

cư ở lớp học tình thương phường Phú Cường

• Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn của trẻ nhập cư nơi đây trong việc tiếp cận cácdịch vụ y tế, giáo dục và vui chơi giải trí

Về mặt thời gian: Đề tài nghiên cứu bắt đầu từ tháng 08/2015 đến tháng 03/2016

Về mặt không gian: Lớp học tình thương phường Phú Cường TP Thủ Dầu Một, BìnhDương

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

- Phương pháp nghiên cứu trong đề tài nghiên cứu này tôi sử dụng phương pháp nghiêncứu định tính

- Phương pháp nghiên cứu định tính bao gồm quan sát, phỏng vấn sâu để tìm hiểu rõ và

cụ thể hơn về thực trạng về khả năng tiếp cận các dịch vụ về y tế, giáo dục và vui chơigiải trí của trẻ ở lớp học tình thương phường Phú Cường

Công cụ thu thập thông tin được sử dụng trong phương pháp nghiên cứu định tính gồm:biểu đồ tháp nhu cầu Maslow để tìm hiểu rõ hơn về khả năng tiếp cận các dịch vụ của trẻnhập cư đang theo học trên địa bàn phường hiện nay

Trang 24

Công cụ quan sát: tôi sử dụng phương pháp này để thu thập thông tin từ thực tế thông

quá quá trình quan sát tại nhà trẻ, môi trường trẻ tiếp xúc như: lớp học, bạn bè, các mốiquan hệ xung quanh v.v để hiểu rõ hơn về đời sống của trẻ

Công cụ phỏng vấn được sử dụng để thu thập thông tin chi tiết về những người được

phỏng vấn như: trẻ nhập cư đang theo học nơi đây, phụ huynh hay người trực tiếpđứng ra nuôi dưỡng trẻ (ba và mẹ), cán bộ đoàn viên phụ trách lớp học và người dânhàng xóm sống trong nhóm nhập cư nơi trẻ đang sống để từ đó có thể hiểu rõ hơn vềcộng đồng cũng như những nhu cầu về đời sống của trẻ nhập cư

Chọn mẫu phỏng vấn sâu: phương pháp được sử dụng là chọn mẫu không xác suất dựa

trên sự phán đoán

Xác định cỡ mẫu: do các hạn chế trong nghiên cứu nên tôi xác định cỡ mẫu phỏng vấn

sâu theo phương pháp ước lượng cỡ mẫu: trong đó số mẫu cần có của phỏng vấn sâu là

13 mẫu, bao gồm: 6 mẫu là người thân trẻ nhập cư đang học ở lớp học, 3 mẫu trẻ nhập

cư, 1 mẫu đoàn viên dạy lớp học, 1 mẫu là cán bộ trực tiếp quản lý lớp học, 1 mẫu làngười dân hàng xóm và 1 mẫu là trưởng khu phố nơi trẻ đang sống

Phân bố mẫu phỏng vấn sâu: 3 mẫu là ba của trẻ nhập cư; 3 mẫu là mẹ của trẻ nhập

cư; 3 mẫu trẻ nhập cư; 1 mẫu trưởng khu phố nơi trẻ đang cư trú; 1 mẫu ban giám hiệulớp học; 1 mẫu cán bộ trực tiếp lớp học; 1 mẫu dân hàng xóm

Cách thức phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp cá nhân được lựa chọn vào mẫu nghiên cứu.

Biểu đồ tháp nhu cầu của Maslow: nhằm cho chúng ta thấy rõ những nhu cầu nhất

định của con người theo từng cấp và cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân cóthể hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần

7 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU.

- Thực trạng trẻ nhập cư ở lớp học tình thương phường Phú Cường trong việc tiếp cận các dịch vụ về y tế, giáo dục và vui chơi giải trí như thế nào ?

- Những thuận lợi và khó khăn của trẻ nhập cư ở lớp học tình thương phường Phú Cường khi tiếp cận các dịch vụ về y tế, giáo dục và vui chơi giải trí ?

8 CẤU TRÚC ĐỀ TÀI.

Mở đầu

Chương 1 Cơ sở lý luận

Chương 2 Thực trạng việc tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục và vui chơi giải trí

Trang 25

của trẻ nhập cư qua ba trường hợp điển cứu

Chương 3 Thảo luận về kết quả nghiên cứu Kết luận

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

PHẦN 2: NỘI DUNG

Trang 26

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Di cư -Nhập cư

Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc (1958) về di dân (migration) thì: di dân là một hình

thức di chuyển trong không gian của con người từ một đơn vị địa lý hành chính này đến mộtđơn vị địa lý hành chính khác, kèm theo sự thay đổi chỗ ở thường xuyên trong khoảng thờigian di dân xác định Như vậy di dân hay di cư bao gồm hai quá trình: xuất cư và nhập cư

Xuất cư (emigration): là quá trình chuyển đi của dân cư từ một vùng hay một quốc gia

này sang một vùng hay một quốc gia khác để sinh sống thường xuyên hoặc tạm thời (trongmột khoảng thời gian dài)

Nhập cư (immigration): là quá trình chuyển đến của dân cư từ một vùng hay một quốc

gia khác để sinh sống thường xuyên hay tạm thời (trong một khoảng thời gian dài)

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam về di cư: Sự di cư của người là sự thay đổi chỗ ở của

các cá thể hay các nhóm người để tìm chỗ ở tốt hơn, phù hợp hơn nơi ở cũ để định cư

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam về nhập cư: Nhập cư là hành động di chuyển chỗ ở

đến vào một vùng hay một quốc gia mới Dân nhập cư là người dân di chuyển từ một vùngđến một vùng khác để định cư hoặc tạm trú

Trong đề tài này tôi hiểu di cư và nhập cư theo Từ điển Bách khoa Việt Nam

Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì trẻ em di cư: là trẻ em rời nơi cư trú

ban đầu của mình để đến một nơi cư trú mới cách xa nơi cư trú ban đầu Thuật ngữ này được

sử dụng vừa để chỉ những trẻ em di cư từ quốc gia này sang quốc gia khác lẫn các em di cư từnông thôn ra sống ở thành thị; những trẻ em không có nơi cư trú ổn định và thường di chuyển

từ nơi này sang nơi khác.Trẻ em có thể trở thành di cư theo quyết định của cha mẹ hoặc ngườichăm sóc hoặc chính trẻ em tự quyết định hoặc cùng với các trẻ em khác quyết định thay đổinơi cư trú Nhóm trẻ này dễ bị xâm hại do thiếu sự hỗ trợ từ các mạng lưới dựa vào cộngđồng Các em thường không được đến trường, dễ trở thành trẻ em lang thang (mặc dù các em

Trang 27

có thể vẫn sống cùng gia đình) và bị bóc lột lao động hoặc tình dục.

Trong đề tài này tôi hiểu trẻ em di cư theo định nghĩa của Luật Bảo vệ, chăm sóc vàgiáo dục trẻ em

1.1.4 Dịch vụ xã hội

Dịch vụ xã hội được Liên hợp quốc định nghĩa như sau: Dịch vụ xã hội cơ bản là các

hoạt động dịch vụ cung cấp những nhu cầu cho các đối tượng nhằm đáp ứng những nhu cầutối thiểu của cuộc sống

Dịch vụ xã hội cơ bản được chia thành 4 loại chính

Dịch vụ đáp ứng những nhu cầu vật chất cơ bản: Việc ăn uống, vệ sinh, chăm sóc, nhà

ở mọi đối tượng yếu thế là trẻ em, người tàn tật mất khả năng lao động đều phảiđược đáp ứng nhu cầu này để phát triển về thể lực

Dịch vụ y tế: Bao gồm các hình thức khám chữa bệnh, điều dưỡng phục hồi chức năng

về thể chất cũng như tinh thần cho các đối tượng

Dịch vụ giáo dục: Trường học, các lớp tập huấn, đào tạo kỹ năng sống, các hình thức

giáo dục hoà nhập, hội nhập và chuyên biệt

Dịch vụ về giải trí, tham gia và thông tin: Đây là loại hình dịch vụ xã hội rất quan

trọng đối với các đối tượng thuộc nhóm đối tượng công tác xã hội, hoạt động giải trínhư văn nghệ, thể thao, nâng cao sự tự tin, đẩy mạnh hoà nhập tốt hơn với cộng đồng,nâng cao sự hiểu biết, kiến thức cho đối tượng

Trong đề tài này tôi hiểu dịch vụ xã hội là hoạt động cung cấp, đáp ứng nhu cầu cho các

cá nhân, nhóm người nhất định nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội

1.1.5 Nhu cầu

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là

đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người

có những nhu cầu khác nhau

Theo quan niệm của Mác: “Nhu cầu là đòi hỏi khách quan của mỗi con người trong

những điều kiện nhất định, đảm bảo cho sự sống và phát triển của mình”

Theo quan điểm A.Maslow chia nhu cầu thành 5 loại:

1 Nhu cầu vật chất (sinh lý): thức ăn, không khí, nước uống

2 Nhu cầu an toàn (bảo vệ): nhà ở, việc làm, sức khoẻ

3 Nhu cầu giao tiếp xã hội : Tình thương yêu, được hoà nhập

Trang 28

4 Nhu cầu được tôn trọng: Được chấp nhận có một vị trí trong một nhóm người.

5 Nhu cầu tự khẳng định mình: Nhu cầu hoàn thiện, được thể hiện khả năng và tiềm lực của mình

Trong đề tài này tôi hiểu nhu cầu theo quan điểm của Maslow với 5 loại nhu cầu đượcphân chia từ cấp thấp cho đến cấp cao

1.1.6 Khái niệm KT3 - KT4

Theo luật dân sự (năm 2006) thì KT3: là sổ tạm trú dài hạn ở một tỉnh, thành phố trực

thuộc Trung ương khác với nơi đăng ký thường trú Ví dụ: Công dân có hộ khẩu thường trú ởtỉnh Khánh Hòa nhưng hiện sinh sống ở TP.HCM, khi đăng ký tạm trú dài hạn ở TP.HCM thìgiấy đăng ký này chính là KT3

Và theo luật dân sự (năm 2006) thì KT4: là sổ tạm trú ngắn hạn ở một tỉnh, thành phố

trực thuộc Trung ương với nơi đăng ký thường trú Trường hợp này tương tự KT3 nhưng thờihạn đăng ký tạm trú ngắn hơn (có thời hạn nhất định, Theo Luật cư trú sửa đổi 2013 thì thờihạn của sổ tạm trú tối đa chỉ là 24 tháng Từ ngày 28/10/2014, Thông tư 35/2014/TT-BCAhướng dẫn về tạm trú, thường trú chính thức có hiệu lực Như vậy, Sổ tạm trú dài hạn cũngchỉ có giá trị tối đa là 24 tháng)

1.2 Cách tiếp cận trong nghiên cứu.

1.2.1 Thuyết nhu cầu

Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908- 1970) Ông là một nhà Tâm lý học nổi tiếnngười Mỹ Ông là một người đáng chú ý nhất với sự đề xuất về Tháp nhu cầu và ông đượcxem là cha đẻ của chủ nghĩa Nhân văn trong Tâm lý học

Maslow nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của conngười vào những năm 1950 Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định củacon người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và

có ích cả về thể chất lẫn tinh thần

Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con ngườibằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu Ông đã đem các loại nhu cầu khácnhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh trước sau của chúng

để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của con người tư thấp đến cao

Sơ đồ tháp nhu cầu của Abraham Maslow

Trang 29

Tháp nhu cầu của Maslow

(Nguồn: An sinh nhi đồng và gia đình- Nguyễn Thị Nhẫn, Huỳnh Minh Hiền)

Những nhu cầu về sinh lý (nhu cầu cấp thấp nhất, cơ bản nhất của con người): là nhữngnhu cầu cần thiết và tối thiểu nhất đảm bảo cho con người tồn tại như ăn, uống, mặc, tồn tại

và phát triển nòi giống và các nhu cầu của cơ thể khác

Những nhu cầu được bảo vệ (nhu cầu cấp thấp thứ hai): là những nhu cầu về an toàn,không bị đe dọa về tài sản, công việc, sức khoẻ, tính mạng và gia đình

Những nhu cầu về xã hội (nhu cầu cấp cao): là những nhu cầu về tình yêu, được chấpnhận, bạn bè, mong muốn được tham gia vào một tổ chức hay một đoàn thể nào đó

Những nhu cầu được tự trọng (nhu cầu cấp cao): là những nhu cầu về, tôn trọng ngườikhác, được người khác tôn trọng, tự đánh giá và được tổ chức đánh giá;

Những nhu cầu về tự khẳng định (nhu cầu cấp cao nhất): là những nhu cầu về chân,thiện, mỹ, tự chủ, sáng tạo, hài hước, mong muốn phát triển toàn diện cả về thể lực và trítuệ

Maslow đã chia các nhu cầu thành 2 cấp: cấp cao và cấp thấp:

- Cấp thấp gồm các nhu cầu sinh lý và được bảo vệ

- Cấp cao gồm các nhu cầu xã hội, tự trọng và tự thể hiện

Sự khác biệt giữa hai loại này là chúng thoả mãn từ bên trong và bên ngoài của conngười

Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong muốn có đủthức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thểthiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại

Trang 30

được nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày.

Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao Những nhu cầunày bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, vui vẻ, địa vị xã hội,

sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân v.v

Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậc cao này.Khi con người được thoả mãn bậc dưới đến một mức độ nhất định thì tự nó nảy sinh các nhucầu bậc cao hơn Ví dụ: Với một người bất kỳ, nếu thiếu ăn, thiếu uống họ sẽ không quantâm đến các nhu cầu về vẻ đẹp, sự tôn trọng

1.2.2 Ứng dụng của lý thuyết nhu cầu.

Theo tháp nhu cầu của Maslow thì nhu cầu được chia thành 2 dạng là nhu cầu cấp thấp

và nhu cầu cấp cao Theo đó nhu cầu cấp thấp bao gồm nhu cầu sinh lý và nhu cầu được bảo

vệ Nhu cầu sinh lý (physiological needs) còn được gọi là nhu cầu của cơ thể (body needs),bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục, cácnhu cầu làm cho con người thoải mái, đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất củacon người

Ông bà ta cũng đã sớm nhận ra điều này khi cho rằng: “Có thực mới vực được đạo”, cầnphải được ăn uống, đáp ứng nhu cầu cơ bản để có thể hoạt động, vươn tới nhu cầu cao hơn.Chúng ta có thể kiểm chứng dễ dàng điều này khi cơ thể không khỏe mạnh, đói khát hoặcbệnh tật, lúc ấy, các nhu cầu khác chỉ còn là thứ yếu Chính vì thế mà người ta cần đến sự bảo

vệ, sự ổn định trong cuộc sống, sống trong xã hội có pháp luật, có nhà cửa để ở, Các chế độbảo hiểm xã hội, chăm sóc sức khỏe, chế độ dinh dưỡng để thể hiện sự đáp ứng nhu cầu antoàn này

Thang bậc nhu cầu cũng được áp dụng có hiệu quả trong việc giáo dục trẻ em Từ nghỉngơi, vui chơi, giải trí cho đến sự phát triển lành mạnh của trẻ như các yếu tố dinh dưỡng,chăm sóc sức khỏe và giáo dục Trong khi vui chơi, trẻ có thể tự sắm vai, tự do hoạt động vàlàm theo những gì mình thích thì các em sẽ có một tư duy rộng mở hơn Có cơ hội tiếp xúcvới các môi trường xung quanh để mở mang tri thức Từ đó các em sẽ có được những cơ hộitrải nghiệm với thực tế, rèn luyện bản thân để đáp ứng linh hoạt với các tình huống đó Thôngqua đó trẻ em cũng thể phát triển tốt về thể lực cụng như trí lực của mình

Ngoài việc tạo ra sân chơi lành mạnh cho các em thì việc các em được học, được tiếpthu và được giáo dục như thế nào để đáp ứng các mặt cơ bản của con người Việc áp dụng lýthuyết nhu cầu trong giáo dục giúp cho gia đình và nhà trường có thể nắm bắt được tâm lí của

Trang 31

trẻ, sự khó khăn, thiếu hụt của trẻ đang gặp phải ở vị trí nào trong tổng quan tháp nhu cầu để

có những thay đổi, điều chỉnh và rút ra những phương pháp giáo dục phù hợp nhất nhằm pháthuy tối đa tiềm năng của trẻ Với mục tiêu cuối cùng là đảm bảo cho các trẻ đều được phổ cậpgiáo dục nhằm cho các trẻ có cơ hội khám phá, rèn luyện và phát triển tốt nhất mọi tiềm năngcủa trẻ

Mỗi con người đều có những nhu cầu nêu trên để tồn tại và duy trì sự sống Cũng nhưngười lớn, trẻ em cũng có những nhu cầu trên để tồn tại và phát triển những nhu cầu trên đều

đi theo một trình tự nhất định, khi được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản nhất như ăn, uống,ngủ, nghỉ, hít thở thì con người mới bắt đầu xuất hiện những nhu cầu cao hơn Tuy nhiênnếu những nhu cầu cơ bản nhất của con người nói chung và đặc biệt là trẻ em nói riêng khôngđược đáp ứng thì sức khỏe, tâm lý và nhân cách của trẻ sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều đặc biệt làđối với trẻ nhập cư

Trang 32

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ Y TẾ, GIÁO DỤC VÀ VUI CHƠI GIẢI TRÍ CỦA TRẺ NHẬP CƯ QUA BA TRƯỜNG HỢP ĐIỂN CỨU CA

2.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu phường Phú Cường.

Phường Phú Cường là phường trung tâm của thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

và là địa danh có lịch sử lâu đời với nhiều di tích lịch sử từ thời Pháp thuộc UBND tỉnh nằmtrên đồi xưa kia cũng là khu hành chính của thực dân Pháp thời xưa Cùng ngay gần đó là khuchợ Thủ Dầu Một, là chợ lớn nhất Bình Dương cũng được hình thành từ thời đó (đã phá bỏxây lại chợ mới do xuống cấp) Vì phường là trung tâm tỉnh từ thời cai trị của thực dân Phápnên bây giờ vẫn còn rất nhiều các kiến trúc phương Tây cổ xưa Thời Việt Nam Cộng hòa PhúCường là xã trung tâm của quận lị Châu Thành với 5 ấp: Bộng Dầu, Chánh, Chánh Trong,Chánh Ngoài và Chợ

Phú Cường cũng là phường có diện tích nhỏ nhất 244,89 ha.

Số hộ gia đình 5 639 (theo tài liệu báo cáo dân số của phường Phú Cường năm 2014.)

với số dân 23.344 nhân khẩu đông nhất trong các phường xã của Thủ Dầu Một và cũng là nơi

buôn bán sầm uất nhất ở Thủ Dầu Một nói riêng cũng như Bình Dương nói chung

Tổ chức hành chính: Phường Phú Cường gồm 14 khu phố với 100 tổ dân phố được

đánh số thứ tự từ 1-14

• Trụ sở ủy ban nhân dân phường nằm tại số 2 đường Quang Trung, Khu phố 6, P.PhúCường

• Công an phường nằm tại số 26 đường Võ Thành Long, Khu phố 5, P.Phú Cường

Kinh tế: chuyển dịch theo cơ cấu thương mại, dịch vụ - tiểu thủ công nghiêp; trong đó

tỷ trọng ngành thương mại chiếm 60,31%, dịch vụ 32,74% và tiểu thủ công nghiêp là 6,95%.Các cơ sở sản xuất, kinh doanh phát triển đa dạng, phong phú ngành nghề, nhiều chi nhánhngân hàng được thành lâp; bưu chính viễn thông, các trung tâm điên máy thi nhau mọc lên,góp phần đẩy mạnh ngành thương mại - dịch vụ phát triển Toàn phường hiện có 2.076 hôđăng ký kinh doanh, đạt 108,33 so với chỉ tiêu Bên cạnh đó, phường còn có 256 cơ sở đanghoạt đông ở các ngành sản xuất và chế biến thực phẩm như hạt điều, mì sợi, bún, bánh mì,may măc

Giao thông: những tuyến đường giao thông chính như đường Cách Mạng Tháng

Tám, đường Bạch Đằng (chợ Hoa Xuân), đường Quang Trung (tập trung nhiều trung tâm hành chính), đường BS Yesin (con đường tơ lụa), đường Điểu Ông , Nguyễn Thái Học (đường chợ chính) và một số tuyến đường khác có thể thông qua một số địa bàn lân cận

Trang 33

của Phường khác.

Vị trí địa lý:

• Phía Đông giáp với phường Phú Hòa, Phú Lợi

• Phía Tây giáp với xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi, Thành Phố HCM

• Phía Nam giáp với phường Chánh Nghĩa

• Phía Bắc giáp với phường Hiệp Thành

• Phía Tây Bắc xã Chánh Mỹ

• Phía Đông Nam phường Phú Thọ

Sơ đồ địa bàn nghiên cứu (phường Phú Cường).

(Nguồn: http://bandotructuyen com )

2.2 Lớp học tình thương phường Phú Cường

Với mục đích đem đến con số cái chữ đến những trẻ nhập cư, những trẻ em nghèo cóhoàn cảnh khó khăn trên địa bàn phường Ủy ban phường chỉ đạo trực tiếp đoàn thanh niênphường Phú Cường tham gia giúp đỡ, hỗ trợ các em bằng cách mở mô hình “lớp học tìnhthương phường Phú Cường” để các em có được một mội trường học tập và vui chơi lànhmạnh

Lớp học được thành lập từ ngày 5/1/2015 tính đến nay cũng đã được 1 năm đi vào

Trang 34

hoat động Với mục tiêu là giúp các em biết đọc biết viết để sau này có thể học tiếp văn hóa

vì đa phần các bé ở đây trình độ chỉ ở mức mẫu giáo và lớp 1 Lý do là các em hầu hếtkhông có hộ khẩu, giấy khai sinh ở địa phương nên không thể theo học ở những lớp chínhquy của nhà nước mà phải theo cha mẹ đi tìm kế sinh nhai

Thời gian đầu đi vào hoạt động lớp gặp khá nhiều vấn đề khó khăn do gia đình quanniệm không cần phải đi học chữ, các em chỉ cần theo ba mẹ đi làm ăn kinh tế Nhưng saukhi được các bạn đoàn viên, cán bộ phụ trách lớp học hướng dẫn và giải thích thì phụhuynh cũng đã có khuynh hướng thay đổi dần Các bé được sự vận động từ chính quyền địaphương đến cha mẹ của các em, đoàn viên thanh niên trực tiếp đi rà xót danh sách, đếntừng hộ gia đình vận động các em đi đến lớp đề theo học lại từ đầu Lớp học tình thươngđược xây dựng trên mảnh đất của ủy ban cấp cho và vận động bàn ghế, sách vở từ nhữngtrường học trong địa bàn và các mạnh thường quân giúp đỡ cùng với giáo viên, tình nguyệnviên cũng là những cô giáo, anh chị có tâm huyết và yêu thương và muốn giúp đỡ các bé.Lớp học không chỉ dạy cho các em học chữ mà qua đó còn lồng ghép những buổi sinh hoạtngoại khóa, kể chuyện, văn nghệ và trò chơi vận động để khuyến khích các em thêm hứngthú học tập Ngoài ra, thì vào các dịp lễ, tết cũng tổ chức cho các em vui chơi và tặng quànhư Quốc tế thiếu nhi 1/6, đêm hội trăng rằm 15/8 âm lịch và tết

Các bé ở đây đa phần là con của những người dân lao động nghèo đang sống trọtrên địa bàn phường mà không có hộ khẩu và giấy khai sinh cho các bé đến lớp được Và từ

đó lớp học tình thương đã được hình thành để cho các bé có thể đến lớp học tập và vui chơibên cạnh sự chung tay giúp đỡ của nhiều người Thời gian học là 3 buổi/ tuần, thứ 2,4,4 từ18h đến 20h mỗi buổi Qua một năm đi vào hoạt động thì tỉ số lớp cũng đã dần ổn định là

15 em, trong đó độ tuổi nhỏ nhất là 6 tuổi và lớn nhất là 15 tuổi

Lớp học tình thương hình thành cũng là một môi trường tốt cho các trẻ nhập cư nơiđây học tập và vui chơi trong những giờ phút rãnh rỗi Bên cạnh đó nó có thể giúp cho các

em có thể tránh xa các môi trường xấu và tệ nạn xã hội như hiện nay

Trang 35

và giáo dục Đặc biệt là với nhóm trẻ nhập cư, chính vì vậy có khá nhiều chương trìnhđược đề ra thực hiện Đây là một số chương trình tiêu biểu và sát với nội dung đề tài.

2.3.2 Chương trình hành động Vì trẻ em Bình Dương GĐ 2013-2020 Mục đích

Xây dựng môi trường sống an toàn, thân thiện và lành mạnh để thực hiện tốt hơn cácquyền trẻ em Từng bước giảm khoảng cách chênh lệch về điều kiện sống của các nhóm trẻ

em và trẻ em giữa các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Nâng cao chất lượng cuộcsống và tạo cơ hội phát triển bình đẳng cho mọi trẻ em

Đối tượng, phạm vi và thời gian

Đối tượng: Trẻ em, ưu tiên trẻ có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ sống trong khu nhà trọ.Phạm vi: Chương trình thực hiện trên toàn tỉnh

Thời gian: Thực hiện từ năm 2013 đến năm 2020 Năm 2015 tổ chức sơ kết giữa kỳ

và năm 2020 tổ chức tổng kết Chương trình

Các hoạt động chủ yếu của chương trình

Truyền thông, giáo dục, vận động xã hội để nâng cao nhận thức và chuyển đổi hành

vi thực hiện quyền của trẻ em

Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch BVCS & GDTE

Rà soát, nghiên cứu, đề xuất, bổ sung pháp luật, chính sách liên quan đến công tácBVCS & GDTE và thực hiện quyền trẻ em

Khuyến khích và vận động các tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xãhội, tổ chức nghề nghiệp, gia đình, người dân và trẻ em tham gia BVCS & GDTE; cungcấp dịch vụ BVCS & GD, vui chơi, giải trí, thể thao, du lịch, thông tin và truyền thông chotrẻ em Gia đình và cộng đồng có trách nhiệm tham gia thực hiện các quyền của trẻ em, tạomọi điều kiện cho trẻ em được học tập, chăm sóc sức khỏe, vui chơi, giải trí; tạo cơ hội,điều kiện thuận lợi cho trẻ em chủ động tham gia các hoạt động BVCS & BVTE và cáchoạt động khác phù hợp với lứa tuổi Củng cố, kiện toàn quỹ bảo trợ trẻ em để tăng cườngvận động các nguồn lực thực hiện Chương trình ưu tiên TECHCĐB

Củng cố hệ thống tổ chức, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ,chăm sóc trẻ em ở các cấp, kiện toàn mạng lưới cộng tác viên, tình nguyện viên BVCSTE

ở cơ sở

Phường Phú Cường cũng đã thực hiện các hoạt động trên hằng năm đều tổ chức cáccuộc thi tim hiểu về chăm sóc sức khỏe cho các hộ gia đình tham gia, phổ biến pháp luật

Trang 36

cho người dân và cho trẻ em thông qua các hoạt động lồng ghép sinh hoạt đoàn cơ sở dochính các anh chiến sĩ công an tại phường thực hiện Bên cạnh đó còn có rất nhiều các hoạtđộng bổ ích khác như: khám và phòng ngừa các bệnh cho bà mẹ đang mang thai, khám sứckhỏe tiền hôn nhân cho cả nam và nữ để có thể phòng ngừa kịp thời Hằng năm đều tổ chứctim các đợt vắc xin phòng ngừa cho trẻ dưới 6 tuổi Tổ chức các cuộc triển khai, tuyêntruyền cho người dân buôn bán giữ gìn vệ sinh an toàn thực phẩm để bảo vệ quyền lợi chongười dân cũng như cho các trẻ em 11I1Ỏ V.V Thông qua các hoạt động trên phườngPhú Cường muốn đảm bảo chất lượng sống cho trẻ em, giảm đi sự chênh lệch về khoảngcách và độ tuổi của các em Nhằm hướng đến nâng cao chất lượng Về cuộc sống cho ngườidân nói chung Và trẻ em nói riêng

2.3.3 Chương trình BVTE tỉnh BD GĐ 2011- 2015

Mục đích

Tạo môi trường sống an toàn, lành mạnh, ở đó tất cả trẻ em đều được bảo Vệ Chủđộng phòng ngừa, giảm thiểu, loại bỏ các nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em, giảm thiểu tìnhtrạng trẻ em rơi Vào HCĐB Và trẻ em bị xâm hại, trẻ em bị bạo lực Trợ giúp, phục hồi kịpthời cho TECHCĐB Và trẻ em bị xâm hại, bị bạo lực, tạo cơ hội để các em được tái hòanhập cộng đồng Và bình đẳng Về cơ hội phát triển

Đối tượng, phạm vi và thời gian

Đối tượng: Trẻ em, ưu tiên TECHCĐB, trẻ có nguy cơ cao rơi vào HCĐB, trẻ em bịxâm hại, trẻ em bị bạo lực Người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạmpháp luật

Phạm vi: Chương trình được thực hiện trên phạm vi toàn tỉnh; ưu tiên địa phương cónhiều TECHCĐB và trẻ có nguy cơ cao rơi vào HCĐB tại 30 xã, thị trấn của 7 huyện, thịxã

Thời gian: Từ năm 2011 đến năm 2015

Các dự án của chương trình

Dự án truyền thông, giáo dục và vận động xã hội

Dự án nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em,tình nguyện viên tham gia công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Dự án xây dựng và phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em

Dự án xây dựng và nhân rộng các mô hình trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt dựavào cộng đồng

Trang 37

Dự án nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc trẻ em.

Phú Cường đã thực hiện chương trình này và đã kết thúc năm 2015, chương trìnhthành công trong năm vừa rôi Có thể nói các dự án của chương trình này đã giúp đỡ không

ít TECHCĐB có được nơi ăn uống nghỉ dưởng và không còn phải gặp nhiều khó khăn vất

vả trong cuộc sống Năm qua không những Uỷ ban phường nói chung mà đoàn thanh niênphường nói riêng đã giúp đỡ hơn 200 trường hợp trẻ em có hoàn cảnh cơ nhở, trẻ đi lạc giađình và tìm được về người thân Những trẻ em có HCĐB thì được nhận học bổng LươngThế Vinh, thắp sáng ước mơ và trẻ em nghèo hiếu học nhận được phần quà và học bổngnày phần nào giúp đỡ các em vượt qua khó khăn và có nghị lực sống tiếp cùng với giađình Ngoài ra còn có Uỷ ban phường vẫn còn đang duy trì lớp học tình thương vào buổitối để giúp cho các trẻ nhập cư có một môi trường học tập an toàn và lành mạnh Tuychương trình này đã kết thúc nhưng mô hình hoạt động của lớp học tình thương vẫn cònđang tiếp diễn cho đến thời điểm hiện tại vì đây là mô hình ý nghĩa và có thể sẽ giúp đỡ trẻ

em trong những giai đoạn kế tiếp

2.3.4 Kế hoạch liên ngành về công tác BVCS&GDTE giữa Sở Lao động Thương Binh - xã hội và Sở Giáo dục & Đào tạo tỉnh BD GĐ 2014 - 2020.

Mục đích

Tăng cường phối hợp chỉ đạo và triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 20- CT/TWngày 5/11/2012 của Bộ Chính trị (khóa XI) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối vớicông tác BVCS & GDTE trong tình hình mới; các nhiệm vụ BVCS & GDTE và thực hiệnquyền của trẻ em của hai ngành nhằm xây dựng môi trường an toàn, thân thiện, đảm bảo cơhội học tập và phát triển bình đẳng cho mọi trẻ em trên địa bàn tỉnh

Đối tượng, Phạm vi, thời gian.

Cán bộ quản lý, thực hiện công tác BVCS & GDTE, cán bộ quản lý giáo dục các cấp Cán

bộ, giáo viên, nhân viên trong các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và cơ sở trợ giúp trẻ

Trang 38

Thời gian, phạm vi:

Giai đoạn I (2014-2015): Triển khai tại thành phố Thủ Dầu Một, Thị xã Thuận An, DĩAn

Giai đoạn II (2016-2020): Triển khai tại 100% các huyện, thị xã còn lại

Các hoạt động

Nghiên cứu, rà soát và đánh giá các văn bản đã ban hành, chia sẻ thông tin, dữ liệu vềBVCS & GDTE giữa hai ngành để sửa đổi, bổ sung và đề xuất các văn bản phù hợp tronggiai đoạn mới

Nghiên cứu, xây dựng cơ chế phối hợp giữa hai ngành về công tác BVCS & GDTE ởcác cấp

Nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên vềBVCS & GDTE các cấp tỉnh, huyện, xã

Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về công tác BVCS & GDTE cho họcsinh, cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, nhân viên, cha mẹ trẻ em, học sinh trong cơ sởgiáo dục mầm non, phổ thông, cơ sở trợ giúp trẻ em ở địa phương

Phối hợp tổ chức một số chương trình, hoạt động cụ thể trong công tác bảo vệ, chămsóc, giáo dục trẻ em

Tiếp nối với kế hoạch này phường Phú Cường cũng đã có triển khai và thực hiệnsong song với chương trình hành động vì trẻ em Bình Dương 2012-2020 và chương trìnhbảo vệ trẻ em tỉnh 2011-2015 vừa kết thúc đợt vừa rồi Tuy nhiên bên cạnh đó mô hình lớphọc tình thương cũng là một trong số các hoạt động sẽ được tiếp diễn trong thời gian tớivới mục đích cuối cùng là bảo vệ quyền lợi cho trẻ em nhằm xây dựng một môi trường antoàn, thân thiện dành cho trẻ em

2.3.5 Quyết định phê duyệt đề án CSTE mồ côi không nơi nương tựa, TE bị bỏ rơi, TE bị nhiễm HIV/AID, TE là nạn nhân của chất độc hóa học, TE khuyết tật nặng

và TE bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa dựa vào cộng đồng trên địa

bàn tình BD GĐ 2014 - 2020:

Mục đích:

Tạo chuyển biến về nhận thức, ý thức trách nhiệm và hành động tích cực trong toàn

xã hội về công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; Huy động sự

Trang 39

tham gia của xã hội, nhất là gia đình và các nguồn lực khác trong cộng đồng đối với việcchăm sóc, trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để ổn định cuộc sống, có cơ hộithực hiện các quyền của trẻ em và hòa nhập cộng đồng theo quy định của luật pháp Thựchiện tốt chế độ, chính sách đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nhằm nâng caochất lượng cuộc sống phù hợp với tình hình phát triển của tỉnh Bình Dương.

Đối tượng, phạm vi và thời gian:

Đối tượng: trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em nhiễm

HIV/AIDS, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ em khuyết tật nặng và trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa dựa vào cộng đồng

Phạm vi: trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Thời gian: giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2020.

Các hoạt động:

Tham gia xây dựng và triển khai thực hiện chính sách, pháp luật về huy động sự thamgia của cộng đồng trong việc chăm sóc và trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.Tiếp tục thí điểm mô hình gia đình, cá nhân nhận nuôi có thời hạn đối với trẻ em cóhoàn cảnh đặc biệt khó khăn; mô hình dạy nghề gắn với tạo việc làm cho trẻ em có hoàncảnh đặc biệt khó khăn và một số mô hình trợ giúp khác

Nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị cho các cơ sở bảo trợ xã hội, hỗ trợ đầu tưcho cơ sở bảo trợ xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu về chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục và phụchồi chức năng cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

Xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin bảo trợ xã hội đối với trẻ em có hoàncảnh đặc biệt khó khăn nhằm phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành một cách cóhiệu quả, bền vững theo từng giai đoạn Mô hình này phường chỉ mới bắt đầu đi vào hoạtđộng từ cuối năm 2014 vừa rồi, tính đến nay cũng đã 1 năm đi vào hoạt động Việc giúp đỡtrẻ em mô côi, trẻ em bị nhiễm HIV/AID, trẻ em khuyết tật, trẻ em là nạn nhân của chấtđộc hóa học luôn là một trong những quyền lời mà trẻ được hưởng Hằng năm cứ vàonhững ngày lễ, tết thì Ủy ban có cử cán bộ phường xuống thăm hỏi, động viên tinh thầncủa trẻ cũng như gia đình trẻ để giúp gia đình phần nào vơi đi khó khăn và tiếp tục sống.Bên cạnh đó phường cũng hay kêu gọi các mạnh thường quân có những tài trợ để giúp đỡthêm cho các em không những về điều kiện sống mà còn có cả tinh thần, động viên và giúp

đỡ gia đình các em, tạo điều kiện sống thuận lợi nhất cho họ

2.4 Trường hợp gia đình nhập cư số 1

Trang 40

Là gia đình của chị Nguyễn Thị T H (1987) làm công nhân và anh Huỳnh H H (1985)nghề nghiệp không ổn định là ai kêu gì làm đó, quê ở Hà Nội và vào Bình Dương sinh sốngđược 15 năm Gia định anh chị có tổng cộng 6 thành viên gồm 2 vợ chồng và 4 trẻ nhỏ 2

bé gái đang được đi học tại lớp tình thương là Huỳnh Hoàng N A (12 tuổi) và HuỳnhHoàng P A (11 tuổi), 2 bé trai còn lại là Huỳnh Hoàng G N (4 tuổi) và bé nhỏ nhất làHuỳnh Hoàng G B (2 tuổi) Trường hợp các bé của gia đình chị thì có 2 bé lớn đang đượchọc ở lớp học tình thương, còn lại 2 bé trai thì không được học vì còn quá nhỏ Các bétrước giờ chưa được tiếp xúc với môi trường giáo dục bao giờ

Sức khỏe chị không được tốt, bị đau nhức khắp người chạy chọt khắp nơi gói ghémlắm mới đủ cho 6 miệng ăn Cực khổ đã đành cộng thêm gia với hoàn cảnh đình khó khănnên nhiều khi gia đình cũng không có thời gian quan tâm và chăm sóc con cái Địa phươngcũng biết hoàn cảnh gia đình khó khăn của chị nên vào những dịp lễ hay ngày tết thì cóphát quà cho gia đình để hỗ trợ lo cho các bé nhỏ

Nói về việc chăm sóc sức khỏe, thì tất cả các bé trong gia đình gồm 4 người (2 trai, 2gái) trong độ tuổi từ 2 đến 12 tuổi đều chưa có BHYT phần do kinh tế khó khăn, lo cơm 3bữa còn chưa xong nên khó mà mua BHYT được, phần nữa là do thủ tục hồ sơ rắc rối, hộnghèo còn chưa được xét thì làm sao mà đầy đủ tiêu chuẩn mua bảo hiểm Người ta đòiphải công chứng giấy tờ đủ thứ rồi chờ đợi để được xét nữa nhưng tới giờ vẫn chưa có kết

quả “Tiền còn không có để ăn lấy đâu ra mà mua BHYT hả cô?” (mẫu phỏng vấn sâu cha trẻ nhập cư- Mã số: PVS2) Mà lý do chính cũng bởi nơi đây chủ yếu tập trung dân

lao động để sống nên ít hiểu biết thông tin Có bệnh nhẹ thì để tự hết còn không thì nghỉdưỡng vài ngày đợi ổn định rồi mới đi làm tiếp chứ ít khi đi khám bệnh lắm vì không cótiền Tội cho mấy đứa nhỏ có bệnh thì cũng phải đợi có tiền mới đi khám chứ đa phần làgia đình tự mua thuốc về nhà sử dụng Ngoài ra dịch vụ về CSSK cũng có một số thuận lợinhư việc đi khám bệnh thì khám ở các bệnh viện tư thì nhanh hơn, vô là bác sĩ hỏi khámbệnh rồi cho thuốc uống hoặc chích đợi đến ngày tái khám còn ở bệnh viện nhà nước thìchờ đợi lâu mà cũng khám giống như ở bệnh viện tư Qua nhận xét của gia đình thì thấysức khỏe ở trong đây tốt hơn so với ở ngoài quê, tuy bệnh viện có hơi xa chỗ ở nhưng nóvẫn gần hơn rất nhiều so với ở ngoài quê Còn khó khăn thì chi phí mắc mỏ, phí dịch vụcao nên gia đình thường ít khi đi khám bệnh

Nói về việc giáo dục của các em chưa từng được đào tạo qua trường lớp nào, chỉ mớiđược học ở lớp tình thương Bé vui lắm và gia đình cũng vui nữa, vì nơi đây các bé vừa

Ngày đăng: 02/09/2021, 16:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w