LỊCH SỬ VẤN ĐỀNhư chúng ta đã biết, Nam Cao là một nhà văn hiện thực xuất sắc của văn họcViệt Nam nói chung và văn học hiện thực nói riêng.Ngay từ khi tên tuổi của NamCao được khẳng định
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẨU MỘT
• • • KHOA NGỮ VĂN
KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP CAO ĐẲNG A
Tên đề tài:
CHỨC NĂNG NHẬN THỨC VÀ CHỨC NĂNG GIÁO DỤC TRONG
TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO
Giáo viên hướng dẫn: ThS.LÊ SỸ ĐỒNG Sinh viên thực hiện: LÊ THỊ HOÀI THƯƠNG
Lớp: C12NV01 Khóa: 2012-2015
Bình Dương, ngày 25 tháng 05 năm 2015
LỜI CẢM ƠN
Trang 2Trước hết, em xin gửi lời chân thành đến gia đình, đặc biệt là ba mẹ, người đãnuôi dưỡng, dạy dỗ, tạo mọi điều kiện trong quá trình học tập của em.
Em cũng xin chân thành cảm ơn đến tập thể quý thầy cô trong khoa Ngữ văn
đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận
Đặc biệt, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Lê Sỹ Đồng Thầy đã hết lòng tận tình động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến những người bạn đã động viên emhoàn thành khóa luận này
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!Bình Dương, ngày 25 tháng 05 năm 2015
Người thực hiện
Lê Thị Hoài Thương
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các kết quả nêu trongkhóa luận là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác
Trang 3Nam Cao là người đi sau so với các nhà văn khác cùng thời nhưng ông đã gặt
hái nhiều thành công Trong các tác phẩm như Dì Hảo, Ở hiền, Lão Hạc, Một đám cưới, Nghèo, Điếu văn, Tư cách mõ viết về người nông dân, Nam Cao đã thể hiện
tính nhân văn cao cả với bút pháp hiện thực sâu sắc
Qua quá trình đọc và tìm hiểu các tác phẩm của Nam Cao, chúng tôi nhậnthấy những sáng tác của ông điều thể hiện khá rõ chức năng văn học trong đó cóchứcnăng nhận thức và chức năng giáo dục Những trang viết của Nam Cao như tiếng kêucứu: hãy bảo vệ nhân phẩm của con người
Việc nghiên cứu này sẽ góp phần quan trọng trong việc đọc, cảm nhận cũngnhư phân tích các tác phẩm của Nam Cao, đặc biệt là truyện ngắn.Bên cạnh đó, đề tàisẽlà tài liệu giảng và học của giáo viên và học sinh ở các trường phổ thông trong bộmôn Ngữ văn, những người quan tâm đến tác phẩm của Nam Cao
Trang 4II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Như chúng ta đã biết, Nam Cao là một nhà văn hiện thực xuất sắc của văn họcViệt Nam nói chung và văn học hiện thực nói riêng.Ngay từ khi tên tuổi của NamCao được khẳng định qua tác phẩm Chí Phèo cho đến nay có nhiều nhà phê bình,nghiên cứu văn học quan tâm đến.Ta có thể nói đến công trình nghiên cứu năm
1941Lê Văn Trương có tập “Đôi lứa xứng đôi”,do nhà xuất bản “Đời mới” ấn hành (1941) đầu tiên.Lê Văn Trương đã xác nhận Nam Cao là người “Không nói cái người
ta nói, không tả theo lối người ta đã tả”[20, 347] Như vậy, Lê Văn Trương đã nhấn
mạnh việc Nam Cao mạnh dạn đi theo lối riêng của mình, tìm tòi những đều chưa có
và chưa ai sáng tạo nên
Phong Lê khi nhận xét về Nam Cao: “Nam Cao - là người suy nghĩ rất nghiêm chỉnh và cẩn thận về nghề, tuy khôngđặt nghề viết cao hơn mọi nghề”[11,
157].Nam Cao ý thức laođộng trong bất cứ nghề nào đều là một hoạt động nghiêmtúc và phải có lương tâm với nghề, đặc biệt là khi viết văn
Nguyễn Đăng Mạnh đã nhận định rằng: “Truyện của Nam Cao dạy cho con người ta biết xấu hổ, hay nói cách khác muốn lay tỉnh con người ý thức về nhân phẩm, nhân tính”[16, 257].Nguyễn Đăng Mạnh khẳng định tầm quan trọng tính giáo dục trong truyện ngắn: “Nam Cao luôn tạo cảm giác ngược đời để càng làm nổi bật
số phận bi thươngvà các cay đắng chua chát của những cuộc đời để làm nổi bật số phận bi thảm và cái cay cực chua chát của những cuộc đời nghèo khổ” [14,
263].Cảm giác ngược đời mà Nam Cao tạo ra như thế không thể không làm chongười đọc cứ phải day dứt không nguôi về thân phận tủi nhục của con người trongcái xã hội đầy rẫy sự bất công tàn bạo
Thao Nguyễn với bài viết Nam Cao, trái tim luôn thức đập cùng với những buồn vui đau khổ của con người năm 2013,NXB Văn hóa thông tin, đã trích dẫn lời nói của nhà văn Nguyễn Minh Châu khi nói đến Nam Cao:“Từ trước tới giờ tôi vẫn
Trang 5thường nghĩ rằng trong những người cầm bút viết văn xuôi hiện thực của ta, Nam Cao có tấm lòng thương người thương đời và có con mắt nhìn đời ác nhất - vì Nam Cao đã nhìn thấy vấn đề cuối cùng của con người Nam Cao đã lật ra hết tất cả các lớp áo phủ ngoài đời sống con người Việt Nam Nam Cao đánh giá tư cách của con người, vẽlên muôn vạn muôn dạng bức xúc, eo sèo của đời sống, do cái miếng ăn sinh ra, vẽ lên tâm lý và những mối quan hệ đầy đau đớn giữa những con người trước cách mạng tháng Tám”[24, 116] Qua bài viết trên, ta thấy Nam Cao đã nói vẽ
lên bức tranh xã hội hiện thực trước Cách mạng tháng Tám một cách khái quát và cụ
thể nhất Tô Hoài nhận địnhNam Cao:“Nam Cao không che giấu, không màu mè gì hết, nói toạt ra cái cuộc sống cùng đường tận lối và nhơ nhớp của những người như anh”[24, 23].Nam Cao là người nhận thức rõ vềxã hội qua sự trải nghiệm của mình
từ cuộc sống
Nguyễn Minh Châu trong bài viết về Nam Cao trên bài báo Văn nghệ số ngày
18 tháng 7 năm 1987 có nhận xét: “Cả cuộc đời cầm bút cuả Nam Cao cứ đau đáu nhìn vào cái nhân cách Cái sự săn đuổi chính mình và các nhân vật của mình đầy róng riết cũng chính là sự săn đuổi cái nhân cách của con người ta nói chung” [19,
265] Miêu tả người nông dân, Nam Cao không chỉ vạch trần tình cảnh nghèo khổcủa của họ, mà còn chú tâm đến nhân cách bị chà đạp, nhân cách bị tha hóa cũng bởi
vì hoàn cảnh đôi khi biến họ trở thành những kẻ thô tục tham lam, đáng bị khinh bỉ
về nhân cách
Hà Minh Đức khi viết về Nam Cao trong cuốn giáo trình Văn học Việt Nam
1900 -1945 có đoạn: “Gấp những trang sách của Nam Cao, người đọc dường như vẫn cảm thấy ngột ngạt và ám ảnh không nguôi với số phận của những con người khốn khổ Cái không khí ngột ngạt đó, chủ yếu là do hiện thực xã hội lúc bấy giờ”[4,
478] Qua đó phần nào ta cũng thấy được sự phản ánh trong nhận thức của Nam Cao:
“Ngòi bút hiện thực sắc sảo của Nam Cao đã xé toang lớp vỏ hào nhoáng bên ngoài
Trang 6của con người tiểu tư sản để đi sâu vào những vấn đề bên trong, ông không rơi vào lối viết tô vẽ, thi vị hóa như một nhà văn lãng mạn đương thời” [4,484] Người đọc
thấy được bản chất bên trong con người của từng nhân vật Đồng thời, ta nhận ra mộtđiều rằng Nam Cao là một người ghét những tính chất giả dối và kiên quyết đoạntuyệt với chủ nghĩa lãng mạn để đến với chủ nghĩa hiện thực
Nguyễn Duy Tờ tác giả cuốn sách Sự vận động của động của dòng văn học hiện thực Việt Nam 1930 -1945 đã ghi lại nhận xét của Nguyên Hồng như sau: “Tuy
ta đã được đọc không ít những truyện viết về sự đói khổ, bóc lột, áp bức, về những cảnh thương tâm, đen tối của một xã hội đầy rẫy sự bất công, nhưng qua Nam Cao
ta được thấy cất lên thật là những tiếng nói, ta được những chứng kiến thật là những cuộc đời mờ mịt, ngoi ngóp, xơ xác ở nông thôn mà từ trước đến giờ mà ta đã trông
đã nghĩ mà gần không hiểu, không thấy gì hết, đó thật là những tác phẩm của con người” [21,265] Có thể nói giá trịtác phẩmcủa Nam Cao đã đánh sâu vào tâm trí làm
lay động ý thức nhà văn Nguyên Hồng
Những nhận định trên, ta thấy đa phần trong các bài phê bình chỉ có một vàiđoạn nhắc đến chức năng nhận thức và chức năng giáo dục.Nhưng các nhận định đóchưa đi sâu làm rõ vấn đề.Vấn đề đặt ra ở đây là cần phải làm rõ chức năng nhậnthức vàchức năng giáo dục trong truyện ngắn của Nam Cao, đặc biệt giai đoạn trước
1945 Có như thế, chúng ta mới có thể thấy đượcvị trí quan trọng của Nam Cao trênvăn đàn Việt Nam cùng với giá trị lớn lao từ những tác phẩm ấy
Bên cạnh những nhận định của các nhà văn và công trình nghiên cứu trên,
chúng ta còn tham khảo các cuốn sách tập hợp viết về nhà văn Nam Cao như “Nghĩ tiếp về Nam Cao”(NXB Hội nhà văn Hà Nội 1992), “Nam Cao về tác gia tác phẩm” (NXB Giáo dục 1998), “Nam Cao nhà văn hiện thực xuất sắc” (NXB Thông tin văn hóa Hà Nội 2000),“Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn”(NXB Giáo
dục, H, 1996)
III. MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI
Trang 7Mục đích của đề tài này là làm rõ chức năng nhận thức và chức năng giáo dụctrong sáng tác của Nam Cao Chức năng giáo dục trong tư tưởng rèn luyện nhân cách
để từ đó biết nuôi dưỡngthanh lọc tâm hồn.Mỗi tác phẩm của ông điều mang tínhgiáo dục đi kèm với nhận thức khi người đọc soi mình vào từng trang viết của ông đểnhìn lại bản thân mình.Những tác phẩm ấy dường như làm cho con người thứctỉnh.Từ đó, giúp người đọc nhận thức thêm về giá trị truyện ngắn của Nam Cao
IV. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu về chức năng nhận thức, chức năng giáo dục trongtruyện ngắn của Nam Cao trước1945
2 Phạm vi đề tài
Do giới hạn làm luận vănnên chúng tôi chọn khảo sát những truyện ngắn ở
giai đoạn trước 1945như: Giăng sáng(1942), Đời thừa (1943), Trẻ con không được
ăn thịt chó (1942), Chí Phèo (1941), Nghèo (1937), Dì Hảo (1944), Tư Cách Mõ (1943), Lang Rận (1944), Lão Hạc (1943), Một bữa no (1943), Một truyện xu-vơ- nia (1943), Một đám cưới (1944), Điếu Văn (1943), Ở hiền (1943), Truyện tình (1943), Nhỏ nhen (1942), Nửa đêm (1944), Sao lại thế này (1943), Quên điều độ (1943), Mua danh (1943), Nhìn người ta sung sướng (1942), Từ ngày mẹ chết (1943), Điếu văn (1943), Mua nhà (1943), Đui mù (1937),Xem bói (1943).
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu, để đề tài của mình chặt chẽthống nhất, chúng tôi
đã sử dụng một số phương pháp sau để hoàn thành luận văn của mình:
1 Phương pháp phân tích
Phương pháp này rất quan trọng trong khi nghiên cứu đề tài.Từ những tài liệu
đã chọn lọc và tập hợp đầy đủ, người viết tiến hành phân tích các chức năng nhậnthức và chức năng giáo dục trong tác phẩm Nam Cao.Như thế sẽ giúp đề tài thêm sức
Trang 8thuyết phục.
2 Phương pháp so sánh
Người viết tiến hành liện hệ so sánh tác phẩm của Nam Cao với những tác giakhác, để làm rõ chức năng.Góp phần cho đề tài thêm sức thuyết phục.Và khẳng địnhtài năng và sự đóng góp của Nam Cao trong giai đoạn hiện đại hóa văn học ViệtNam
3 Phương pháp liên ngành
Để đánh giá một cách chính xác, người viết vận dụng những kiến thức về cơ
sở văn hóa, lịch sử, tôn giáo tư tưởng để phân tích các hiện tượng văn học
BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
CHƯƠNG 1 TÁC GIẢ NAM CAO VÀ THỜI ĐẠI 1.1 Hoàn cảnh lịch sử năm 1930- 1945
1.1.1. Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội
1.1.2. Tình hình văn học
1.2. Tác giả Nam Cao
1.2.1. Con người và cuộc đời
Trang 9CHỨC NĂNG NHẬN THỨC TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NAMCAO 2.1. Nhận thức về hoàn cảnh xã hội
2.1.1. Hiện thực xã hội
2.1.2. Thái độ của tác giả
2.2 Nhận thức về số phận con người
2.2.1. Nông dân bần cùng hóa, tha hóa
2.2.2. Tri thức tiểu tư sản
❖ Tiểu kết
CHƯƠNG 3 CHỨC NĂNG GIÁO DỤC TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO 3.1 Giáo dục về tư tưởng
3.1.1. Rèn luyện, tu dưỡng, trao dồi phẩm chất
Trang 10CHƯƠNG 1 TÁC GIẢ NAM CAO VÀ THỜI ĐẠI 1.1 Hoàn cảnh lịch sử năm 1930- 1945
1.1.1 Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội
> Tình hình chính trị
Vào thế kỉ XX, thực dân Pháp đã thực hiện xong việc xâm chiếm nước ta sau
đó chuyển sang giai đoạn khai thác thuộc địa làm giàu cho nước của họ Pháp choxây dựng các hệ thống như hầm mỏ, cơ sở công nghiệp, giao thông, Ngoài việckhai thác thuộc địa thiết lập trật tự mới thì chúng đã tuyên truyền tư tưởng văn minhcủa nước Phápmuốn đầu độc thuần hóa nhân dân Việt, che dấu bộ mặt cướp nướcbằng cách đã đưa ra hội đồng tư vấn bày trò dân chủ giả hiệu
Thôn xóm làng mạc tiêu điều sơ xác do kẻ thù tàn phá, nhân dân ta đã sống vớinhững ngày tháng sống dở chết dởchịu nhiều áp bức sưu thuế, nhiều người phải bỏlàng ra đi làm thuê, làm mướn với đồng lương rẻ mạt Tầng lớptrí thức thời phongkiến lúc bấy giờ cũng lâm vào tình trạng bế tắc.Trong bối cảnh chính trị phức tạp vàđen tối như thế, thanh niên Việt Nam cảm thấy bi quan tuyệt vọng họ hết sức chánnản với lối học cũ
Phong trào giải phóng dân tộc bị dập tắt kể từ ngày khởi nghĩa Phan ĐìnhPhùng thất bại hoàn toàn.Nhưng sau đó có các cuộc khởi nghĩa khác trỗi dậy mạnh
mẽ như khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo trong năm sau Vào đầuthế kỉ XX, cuộc đấu tranh giải phóng nổi dậy mạnh mẽ
Ngọn cờ cứu nước, cuộc giải phóng dân tộc chuyển sang thời kì mới.Với việcthành lập Đảng cộng Sản năm 1930.Sau cao trào Xô viết - Nghệ Tĩnh năm 1930-
1931 bị thực dân Pháp đàn áp.Phong trào mặt trận Dân chủ Đông Dương 1939) và tiếp đó là thời kì Mặt trậnViệt Minh dẫn tới cuộc tổng khởi nghĩa tháng
Trang 11(1936-Tám năm 1945, đã chấm dứt chế độ thực dân phong kiến trên đất nước ta.
Trong bối cảnh chính trị phức tạp như thế, Nam Cao đã không chịu khuất dướichế độ ngạt thở ấy.Ông nhìn rõ chế độ đã đầy đọa con người, nhà văn muốn vạch racho mọi người thấy cái khổ đang vây kín con người.Thế nên, trong sáng tác củaôngchịu ảnh hưởng sâu sắc về hoàn cảnh chính trị
> Tình hình kinh tế
Đầu thế kỉ XX,kinh tế nước ta vẫn là kinh tế nông nghiệp lạc hậu.Thực dânPháp thực hiện chính sách kinh tế thực dân làm phá sản nông dân và thợ thủ công,tạo ra nguồn nhân công rẻ mạt, phục vụ cho công trình khai thác của chúng.Kết quảcủa chính sách trên đã kéo nước ta vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản, muốn biếnnước ta thành sân sau của thực dân Pháp
> Tình hình xã hội
Kinh tế hàng hóa kích thích phát triển của công thương nghiệp làm cho thànhthị phát triển, xuất hiện nhiều nhu cầu mới, phát triển nhiều nghề mới, tầng lớp thịdân phát triển.Trong xã hội Việt Nam thời kì này tồn tại những mâu thuẫn gay gắtgiữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp, giữa tầng lớp nhân mà chủ yếu là nôngdân với giai cấp địa chủ phong kiến.Tầng lớp thị dân có ít nhiều tự do trong đờisốngthành thị tư sản Giai cấp tư sản từ các tầng lớp thị dân phát triển dần lên.Sự pháttriển của đô thị dẫn đến sự phá sản nông nghiệp, làm cho nông thôn tiêu điều.Nôngdân kéo ra thành thị kiếm sống ngày càng đông.Sự vơ vét, bóc lột của thực dânPháp, địa chủ cường hào ở nông thôn với sưu thuế cao đã đẩy nhiều tầng lớp rơi vào
bế tắc bần cùng hóa
Qua tình hình kinh tế, xã hội như thế, Nam Cao đã chứng kiến cuộc sống khókhăn bế tắc bần cùng của người dân và tri thức tiểu tư sản Nên trong quá trình sángtác, ta thấy có rất nhiều truyện ngắn đề cập đến vấn đề đói khổ của người nông dân,cuộc sống bế tắc của những người tri thức
Trang 121.1.2 Tình hình văn học
Văn học giai đoạn 1900- 1930 mang tính chất giao thời từ văn học trung đạisang văn học hiện đại Đi đôi với sự giao thời đó, văn học giai đoạn này có nhữngđặc điểm sau:
Thứ nhất, văn học đổi mới theo hướng hiện đại hóa Hiện đại hóa chính làsựđổi mới văn học sao cho thoát khỏi thi pháp văn học trung đại để tiến tới tiếp cận
và hội nhập với nền văn học phương Tây Bên cạnh đó, xã hội Việt Nam đã có sựthay đổi và chính điều này đã thúc đẩy hiện đại hóa văn học Việt Nam qua hai lầnkhai thác thuộc địa của thực dân Pháp, cơ cấu xã hội có sự biến đổi, quá trình đô thịhóa hình thành tầng lớp thị dân công chúng, đóng vai trò quan trọng thúc đẩy vănhọc thay đổi Không những thế, nền văn học Trung hoadần mất đi sự ảnh hưởng,thay vào đó là nền văn học phương Tây chiếm ưu thế; trí thức Tây học thay thế dầntrí thức Nho học.Và cuối cùng ta không bỏ qua được chính là sự ra đời của chữ quốcngữ.Chính ba yếu tố này thúc đẩy quá trình phát triển văn học theo hướng học đạihóa Bên cạnh đó, có sự ảnh hưởng quá trình phát triển văn học
Từ đầu thế kỉ XX đến 1920, nền văn họcbước vào giai đoạn giao thời, nhưng
vẫn còn tồn tại các lớp nhà nho học của văn học trung đại như Tú Xương, NguyễnKhuyến Họ vẫn tiếp tục sáng tác với những tác phẩm viết bằng chữ Hán thể loạitheo kiểu truyền thống Bên cạnh đó, có sự xuất hiện tác phẩm viết bằng chữ quốc
ngữ trước đó chẳng hạnnhư Truyện thầy Lazaro Phiềncủa Nguyễn Trọng Quản năm
1887, hay một số sáng tác của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, HuỳnhThúcKháng.Văn học giai đoạn này mang nội dung mới,tư tưởng mới nhưng nghệ thuật thìlại còn chịu ảnh hưởng nặng nề bởi văn học trung đại Cho nên ta chỉ xét văn họcgiai đoạn này như một bước điều kiện cần thiết cho văn học hiện đại hóa về sau
Bước qua giai đoạn 1920 đến 1930, giai đoạn này ra đời những tác phẩm có
giá trị, những nhà văn mang tên tuổi khẳng định được sáng tác của mình Đồng thời,
ta thấy có sự xuất hiện thể loại mới là kịch nói và những tác giả, tác phẩm tiêu biểu
Trang 13Văn xuôi ở miền Bắc có Hoàng Ngọc Phách, ở miền Nam có Hồ Biểu Chánh Vềtruyện ngắn thì có những cây bút khá tài năng như Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học
và Nhất Linh.Về bút kí, tùy bút có Đông Hồ, Phạm Quỳnh Về thơ, có Tản Đà, TuấnKhải.Văn học lúc này có sự thay đổi mới, một bước tiến mới nhưng chưa thực sựsâu sắc
Giai đoạn 1930 đến 1945, đây là giai đoạn quan trọng nhất cho quá trình hiện
đại hóa hoàn thiện nhất, lúc này ta bắt gặp một số tác giả tác phẩm tiêu biểu và vănhọc cũng đạt được nhiều thành tựu.Về thơ, chúng ta không thể nào không nhắc đếncuộc cách mạng của thơ ca 1930- 1945 với những tác giả rất nổi tiếng như Hàn Mặc
Tử, Xuân Diệu, Thế Lữ, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Về truyện ngắn,nổi bật lên những cây bút tài hoa như Thạch Lam, Nam Cao, Nguyên Hồng, NguyễnCông Hoan, Ngô Tất Tố, Bút kí, tùy bút có Xuân Diệu, Nguyễn Tuân Về tiểuthuyết, ta không thể quên Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Ngô Tất Tố Đặc biệt có sựhình thành phê bình văn học với các nhà phê bình như Đặng Thai Mai, Hoài Thanh.Bước sang giai đoạn này, về mặt nội dung, nghệ thuật, thể loại có sự thay đổi toàndiện, chính vì thế văn học lúc bấy giờ có lợi thế hội nhập vào nền văn học phươngTây
Thứ hai,hình thành hai bộ phận và phân hóa đa xu hướng;điểm quan trọng ởđặc điểm thứ hai này là thái độ chính trị của người sáng tác đối với chính quyền thựcdân.Bộ phận đầu tiên là văn học công khai, trong bộ phận này lại chia ra thành hai
xu hướng khác nhau đó là xu hướng lãng mạn và xu hướng hiện thực.Với xu hướnglãng mạn, các nhà văn nhà thơ thể hiện một cách trực tiếp để có thể nói lên tiếng nóicảm xúc riêng cho cá nhân mình.Nhưng bên cạnh đó, họ thể hiện một thái độ bất hòavới xã hội, đề cập đến vấn đề bức bối, tù túng của một xã hội thực dân phongkiến.Và điều quan trọng nhất là những sáng tác của trào lưu văn học lãng mạn rấtchú tâm đến đời sống nội tâm con người, góp phần vào cho chủ nghĩa nhân đạoViệt
Trang 14Nam lên tiếng yêu cầu hạnh phúc của cá nhân và chống lại phong kiến Đến xuhướng hiện thực thì hoàn toàn khác với lãng mạn, các nhà văn hiện thực của chúng
ta tập trung phơi bày thực trạng bất công của xã hội thực dân phong kiến lúc bấygiờ Họ bênh vực cho những kiếp người lầm than nghèo khổ Họ đề cập đến vấn đềthế sự với tinh thần dân chủ và tinh thần nhân đạo.Đồng thời các nhà văn còn phântích lý giải hiện thực khách quan trong việc xây dựng những hoàn cảnh điển hình,tính cách điển hình
Mặt khác, chúng ta còn phải kể đến một bộ phận khác của giai đoạn
1900-1945 chính là bộ phận văn học không công khai, của các nhà cách mạng, nhữngchiến sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Aí Quốc, Tố Hữu.Nội dung chính của nó đólà xem văn học như một vũ khí chống lại thực dân phongkiến.Đặc biệt hơn, họ lại phản ánh xã hội với mâu thuẫn cơ bản giữa nước xâm lược
và nước bị xâm lược.Ấn tượng hơn, họ đã xây dựng nhân vật trung tâm của mình lànhững hình tượng nhân vật yêu nước, những anh hùng bất khuất xả thân vì dân tộc
Thứ ba, văn học phát triển theo tốc độ nhanh chóng Ta thấy rất rõ ở Hồ BiểuChánh có hơn sáu mươi cuốn tiểu thuyết, Vũ Trọng Phụng trong thời gian sángtáccho ra đời tám tiểu thuyết, bảy phóng sự hàng chục truyện ngắn có giá trị,Nguyễn Công Hoan một truyện ngắn tài hoa có hành trăm truyện dài và hàng chụctruyện ngắn Nóivề thơ, ta thấy rằngtừ năm 1932-1941Hoài Thanhđã chọn ra nhữngbài thơ tiêu biểu để hình thành nên tập thi nhân Việt Nam.Nói vậy để ta thấy được sự
đồ sộ về số lượng trong giai đoạn văn học này
Không những thế,văn học lúc này có sự cách tân văn học Việt Nam đã đến
một đỉnh điểm Vào năm 1925 ở miền Bắc với tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách ra đời đánh dấu một chấn động lớn Nhưng đến năm 1933 khi Hồn bướm mơtiên xuất hiện thì Hoàng Ngọc Phách đã lùi xa và sau này Nam Cao,Thạch Lam
xuất hiện văn xuôi Việt Nam có một bước phát triển mạnh mẽ hơn nữa Đến với thơ,
Trang 15ta có bài Nhớ rừng của Thế Lữ, khi bài này ra đời chỉ có đôi ba câu thơ thôi cũng đã
đủ làm bức phá thành công vượt qua thơ cũ Vì thếta thấy văn học thời xưa phát triểnrất dữ dội
Nhịp độ phát triển sự trưởng thành của văn học Việt Nam hình thành và pháttriển nhờ sự kết tinh tài năng của những cây bút tài hoa, chúng ta có được những tácphẩmvà tác giả đứng vững mãi với thời gian.Những biểu hiện trên có được nhờ vàocác nguyên nhân sau:Đó là tiềm lực văn học dân tộc, khả năng diễn đạt tuyệt vời củaTiếng Việt giúp cho các nhà văn hình thành nên sáng tác vô cùng tuyệt diệu Bêncạnh đó, còn có sự đóng gópcủa lớp trí thức tây học Họ là những người cách tânvăn học đổi mới văn học đưa văn học Việt Nam đến với thế giới, ảnh hưởng từ cáccuộc vận động cách mạng với tinh thần dân chủ cách mạng những năm 1930- 1945
do Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo
1.2 Tác giả Nam Cao
1.2.1 Con người và cuộc đời
Nam Cao có một vị trí vững vàng đặc biệt trong văn học Việt Nam giai đoạn
1930 - 1945.Ông là một tài năng lớn, một ngòi bút hiện thực sắc bén đã góp phầnkhông nhỏ vào quá trình vận động cách tân văn học bằng chữ quốc ngữ.Những tácphẩm của Nam Cao ra đời trong thời kì phát triển của trào lưu văn học hiện thựcphê phán.Chỉ mới mười lăm năm cầm bút (1936- 1951), Nam Cao đã khẳng định
vị trí vững chắc cho ngòi bút của mình.Ông đã để lại cho đời những tác phẩm vôgiá, vững bền với thời gian, có sức vượt qua mọi giới hạn để trở thành một ngườibạn gần gũi với nhiều thế hệ độc giả
Khi đến với nghề văn, Nam Cao luôn quan niệm tiến bộ, nhất quán sâu sắc:
“Nghệ thuật không cần ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể là tiếng đâu khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than”[25, 112] Cả một
đời mình, Nam Cao gắn sự nghiệp vào cuộc đời để phản ánh cuộc sống chân thựcđầy đen tối của xã hội thực dân phong kiến, số phận lầm than bế tắc của người nông
Trang 16dân, người trí thức tiểu tư sản những năm 1940 -1945.
Nam Cao tên thật là Trần Hữu Trí, sinh năm 1917 trong một gia đình nông dânnghèo ở làng Đại Hoàng, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Trong gia đình nghèo, đờisống quá khó khăn, chỉ có mình Nam Cao được ăn học tử tế Thi Thành chung trượt,Nam Cao đành phải vào Sài Gòn kiếm sống mang trong mình biết bao nhiêu hoàibão, ước mơ dự định trong tương lai, nhưng rốt cuộc bệnh tật đã đưa ông về lại miềnquê nghèo mà ông đã từng sống Khi trở về làng, Nam Cao lại nỗ lực học lại và thi
đỗ Thành chung Ông định đi làm công chức nhưng bệnh tật nên không được chấpnhận Nam Cao lên Hà Nội dạy học cho một trường tư thục Chính cuộc sống nhàgiáo khổ trường tư này giúp ông nhận thức được sâu sắc về thân phận tri thức nghèotiểu tư sản phải sống trong không khí ngột ngạt, bế tắc của xãhội cũ Vào năm 1941,Nhật xâm lược Đông Dương, trường bị đóng cửa Nam Cao phải chuyển nghề viếtvăn, làm gia sư,có khi phải thất nghiệp Và cuối cùng phải tồn tại bằng cách sốngdựa giẫm vào vợ ở quê Năm 1943, Nam Cao tham giavào nhóm Văn hóa cứu quốccùng với một số nhà văn như Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, NguyênHồng Nhưng khi cơ sở mà ông đang hoạt động bịphát hiện, Nam Cao trở về quêtham gia vào phong tràoViệt Minh Năm 1945, Nam Cao thamgia lập đổ chínhquyền ở phủ Lí Nhân Sau được bầu làm chủ tịch xã.Năm 1947kháng chiến bùng nổ,Nam Cao tham gia vào kháng chiến ông vừa biên tập cho báo Cứu quốc Việt Bắc,vừa làm mọi công việc của một cán bộ thông tin tuyên truyền Trong quá trình hoạtđộng nghiêm túc ông được vinh dự kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương năm
1948 Tháng11năm 1951trên đường công tác, Nam Cao bị địch phục kích sát hạiNam Cao ngã xuống khi tài năng đang nổ rộ.Nhắc đến Nam Cao, ta nhớ ngay mộtngười bề ngoài có vẻ lạnh lùng nhưng đằng sau đó có một trái tim nồng hậu, biết yêuthương con người với tấm lòng nhân đạo sâu sắc đối với con người nghèo khổ
Trong sách giáo trình văn học Việt Nam hiện đại, có nhận xét về Nam Cao như
sau:“Nam Cao là một người luôn trăn trở về cuộc đời, lúc nào cũng cảm thấy mình
Trang 17mắc nợ tình thâm” [6, 255] Đó là người bà, mẹ, vợ, họ là những người chịu thương
chịu khó nuôi dưỡng, chăm sóc Nam Cao Chính họ là điểm tựa niềm an ủi, độngviên ông trước những sóng gió của cuộc đời, là nơi tiếp sức nâng đỡ đôi chân nhàvăn khi ông tuyệt vọng.Trong sâu thẳm nội tâm,Nam Cao thường xuyên dằn vặt,đấutranh bản thân kiềm nén những tham vọng, để vượt qua chính mình và vươn tới cáiđẹp trong cuộc sống Một đặc điểm nổi bật nữa ở Nam Cao là hay hối hận, dày vòbản thân, dám thành thực và dũng cảm phơi bày mình trên từng trang giấy Cuộc đấutranh nội tâm này phản ánh rõ trong các tác phẩm về đề tài tri thức tiểu tư sản Cácnhân vật trí thức tiểu tư sản của Nam Cao ít khi có cuộc sống bình yên, lúc nào cũng
lo toán việc gạo tiền, nét mặt dường như đăm chiêu lo lắng.Nam Cao có một tìnhcảm đặc biệt với quê hương nơi sinh ra và lớn lên ở làng quê Nam Cao hiểu rõ vàyêu thương những người nông dân khốn khổ, tuy họ bề ngoài thô kệch, có khi thô lỗnhưng bên trong họ mang nhiều phẩm chất đáng quý
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác
Nam Cao là người đại diện cho trào lưu văn học hiện thực giai đoạn 1940
-1945, với tài năng xuất sắc nhà văn đã viết ra những trang giấy phản ánh chân thựcnhững cuộc đời tăm tối, chua chát, những bi kịch đau đớn Trước Cách mạng thángTám, sáng tác của Nam Cao đã xoay quanh hai mảng đề tài chính Mảng đề tài thứ
nhất viết về người nông dân nghèo khổ có những tác phẩm như (Nghèo, Chí Phèo, Nhỏ nhen, Nhìn người ta sung sướng, Đòn chồng, Đôi móng giò, Trẻ con không được ăn thịt chó, Mua nhà, Quái dị, Từ ngày mẹ chết, Mua danh, Tư cách mõ, Điếu Văn, Một bữa no, Ở hiền, Lão Hạc, Lang rận, Một đám cưới, Nửa đêm, Dì Hảo, Sao
Trang 18lại thế này, Làm tổ).Mảng đề tài thứ hai viết vềngười trí thức tiểu tư sản có những tác phẩm như (Giăng sáng, Truyện tình, Một chuyện xú - vơ - nia, Đời thừa, Cười, Quên điều độ, Xem bói, Nước mắt, Những chuyện không muốn viết,Sống mòn) Sau cách mạng tháng Tám có những tác phẩm tiêu biểu (Đôi mắt, Chuyện biên giới, Từ ngược về xuôi, Đường vô Nam, Vui dân công, ).
J Cuộc sống những người nông dân cùng khổ
Bức tranh nông thôn trong truyện ngắn của Nam Cao có phần mới mẻ khá đặcbiệt Bao trùm lên toàn bộ thôn quê trong tác phẩm của Nam Cao là một không khíngột ngạt u ám,hoang vắng và nghèo đói đến rợn người Hình ảnh con đường, ngõvắng, tất cả mọi hoạt động của con người điều được thu gọn vào trong các máinhà.Cảnh nông thôn hoang vắng đến lạnh người như thế Chính cái cảnh này nổi lênlên tiếng chửi của những kẻ tha hóa rạch mặt ăn vạ, người vợ túng quẫn chửi conhay thậm chí là tiếng khóc thành lời của những người nông dân bế tắc Bức tranhnông thôn trong sáng tác của Nam Cao phản ánh chính xác bộ mặt nông thôn ViệtNam những năm cuối cùng của chế độ thuộc địa
Trên bối cảnh nông thôn xơ xác,ngòi bút của Nam Cao đã diễn tả chân thựcvềtình trạng nghèo túng và không ít nhân vật bị đẩy vào con đường chết đầy đau
đớn: anh Đĩ Chuột (Nghèo), bà cái Tý (Một bữa no), lão Hạc (Lão Hạc), anh Phúc (Điếu văn) số phận đáng thương của người nông dân bần cùng, mỗi người mỗi
cảnh nhưng chung lại đều là nghèo Mỗi tác phẩm của nhà văn là một lời tố cáo chânthực, cảm động về cuộc sống tăm tối, thê thảm của người nông dân Bên cạnh loạinhân vật chịu sự đầy đọa, chà đạp của xã hội nhưng vẫn giữ được nhân phẩm củamình Nam Caocòn chú ý đến những con người thấp cổ bé họng, bị áp bức bất công
đẩy họ vào con đường tha hóa, lưu manh hóa Đó là Trạch Văn Đoành (Đôi móng giò),Trương Rự (Nửa đêm), Năm Thọ, Binh Chức (Chí Phèo).
Trong xã hội ấy, người phụ nữ với thân phận nô lệ luôn bị chà đạp thô bạo,có
Trang 19khi họ là nạn nhân khốn khổ của những kẻ mà họ phải thờ phụng Ở hiền, Trẻ con không được ăn thịt chó, Đòn chồng.Hay ta lại bắt gặp những nhân vật nông dân với
cái vẻ bề ngoài xấu xí thô kệch, nhưng Nam Cao phát hiện bên trong tâm hồn của họnhững phẩm chất cao quý Ôngđi sâu vào nỗi khổ tâm hồn của con người bị đầy đọa,nhân phẩm bị xúc phạm giá trị làm người bị tước đoạt Bị sỉ nhục tàn tệ, người nôngdân khốn khổ chỉ có thể hoặc từ bỏ cuộc sống như Lang Rận Nam Cao đã đanh théplên án xã hội lúc bấy giờchà đạp người nông dân lương thiện, và dõng dạc bênh vựcnhân phẩm của họ ngay khi bị sỉ nhục một cách độc ác
J Cuộc sống của những người trí thức tiểu tư sản nghèo
Viết về đề tài này, Nam Cao đã miêu tả thấm thía tình cảnh bấp bênh, đóicơm,rách áocủa tầng lớp tiểu tư sản trước cách mạng, Nam Cao hiểu rất rõ cuộcsống cơ cực của họ Vì bản thân ông đã là nhà văn nghèo bất đắc dĩ, từng dạy học
ở những nơi giáo khổ trường tư Tác phẩm của Nam Cao đã ghi lại chi tiết cuộcsống nghèo túng bi hài của người tư sản.Nhân vật tiểu tư sản của Nam Cao là
những Hộ(Đời thừa), Điền (Trăng sáng), Hài (Quên điềuđộ), Họ đã ý thức được
nhân phẩm, có hoài bão, có tâm huyết với nghề,muốn xây dựng một sự nghiệp lớnnhưng vì cơm áo gạo tiền mà đành phải sống thừa, kẻ ăn bám, làm những việc bấtlu'0'iig Nam Cao không chỉ miêu tả tình cảnh ấy mà còn có thái độmỉa mai thói
hư tật xấu của những kẻ tri thức thèm khát hưởng lạc cuộc sống giàu sang trong
truyện Quên điều độ, Truyện tình, Nhìn người ta sung sướng.
> Quan điểm sáng tác
Nam Cao là một trong những nhà văn có ý thức tự giác về sáng tạo trong vănchương trước cách mạng Cả một đời nhiệt huyết với nghề, Nam Cao luôn khôngngừng suy nghĩ về cách sống và quan điểm nghệ thuật của mình.Những quan điểm
đó tuy không thể hiện trực tiếp qua báo chí hay văn bản chính luận, nhưng đã đượcthể hiện qua các tác phẩm mà nhà văn sáng tác Trong cuộc sống cũng như trongnghề viết văn, Nam Cao gặp khá nhiều khó khăn ngay lúc ban đầu Lúc mới bắt đầu
Trang 20cầm bút viết văn, Nam Cao đê chịu ảnh hưởng của văn học lêng mạn đương thời
khiến ông hướng tới xu hướng “nghệ thuật vị nghệ thuật” thoât khỏi hiện thực sâng
tâc ra những băi văn, băi thơ dễ dêi không phản ânh được hiện thực cuộc sống mẵng đang sống Từ đó, Nam Cao đê kịp thời thoât khỏi thế giới ảo ảnh để nhanhchóng trở về với cuộc sống thực Quan điểm của Nam Cao trước hết lă quan điểm:
“Nghệ thuật vị nhđn sinh” nhă văn yíu cầu phải nhìn thẳng, phản ânh chđn thực
hoăn cảnh đời sống, phục vụ đời sống con người Người cầm bút phải có trâchnhiệm dâm đương đầu với sự thật, dù sự thật ấy chẳng nín thơ chút năo
Trong truyện ngắn Giăng sâng Nam Cao viết: “Nghệ thuật không cần lă ânh trăng lừa dối, không nín lă ânh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể lă tiếng đau khổ kia, thoât ra từ những kiếp lầm than” [25, 112].Người nghệ sĩ phải mở rộng lòng
mình để đón nhận những vang động của đời.Nhă văn phải đồng cảm nhđn vật Điền,một nhă văn có xu hướng đi theo văn chương lêng mạn, muốn thoât khỏi cuộc sốngtầm thường ước ao muốn vươn lín cuộc sống giău có Điền muốn ânh trăng nghệthuật kia che lấp đi câi cuộc sống khó khăn hiện tại nhưng thực tế đê lăm cho anhtỉnh thức bởi, tiếng chửi mắng của người vợ Ngoăi kia ânh trăng đẹp đấy nhưng nólại không thể hiện được sự đồng cảm mă Điền phải gânh chịu, tđm trạng Điền đangđấu tranh day dứt trong tư tưởng giữa hai con đường thực vă ảo mă ý thức đượctrâch nhiệm ngòi bút của mình Điền chối bỏ vă nghiím khắc phí phân tính chất giảdối của văn thơ lêng mạn thờ ơ trước những kiếp người lầm than quay lưng với cuộcsống Để rồi lựa chọn cho mình chủ nghĩa hiện thực có nghĩa lă trở về chỗ đứng của
mình trong những người nghỉo khổ ruột thịt của mình:“Điền chẳng cần đi đđu cả Điền chẳng cần trốn trânh, Điền đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời ”[25, 113] Điền chẳng muốn đi đđu hay trốn trânh gì
cả, anh muốn ở lại chịu đựng những lao khổ với vợ mình vă những người khốn khổ
Quan điểm nghệ thuật ấy cho thấy nghệ thuật không chỉ phản ânh hiện thực
Trang 21lầm than mà còn thể hiện giá trị nhân đạo: “Nó phải chứa đựng một cái gì đó lớn lao, mạnh mẽ vừa đau đớn vừa phấn khởi, nó ca tụng lòng yêu thương và sự bác ái,
nó làm cho người gần gũi nhau hơn” [25, 348] Hộ trong Đời thừatừng mơ ước viết
một tác phẩm có giá trị chứa đựng một cái gì đó lớn lao, một tác phẩm có giá trịchung cho nhân loại, đem lòng yêu thương cứu giúp đỡ người Hộ sống theo nguyêntắc yêu thương nâng đỡ họ trên đôi vai của mình, chính nguyên tắc thể hiện lòngnhân đạo đó Hộ đã cứu lấy đời Từ Tư tưởng nhân đạo là sợi dây đỏ xuyên suốt quátrình sáng tác của nhà văn.Mỗi tác phẩm của ông đều được xây dựng trêncái nềnnhân đạo kiên cố
Nam Cao là nhà văn luôn coi lao động là một hoạt động nghiêm túc và côngphu, đòi hỏi người viết văn phải cólương tâm với nghề, đề cao sự sáng tạo của người
nghệ sĩ.Ông lên án sâu sắc sự cẩu thả trong nghề văn: “Sự cẩu thả trong bất cứ nghề
gì cũng là sự bất lương rồi, nhưng sự cẩu thả trong văn chương thật là đê tiện” [25,
341] Sự cẩu thả trong văn chương, viết ra những tác phẩm hời hợt, tầm thường sẽgiết chết một thế hệ người đọc sách, nếu như không cẩn trọng thì văn chương sẽ đầuđộc vào tinh thần một cách ghê gớm Chính vì thế, Nam Cao có ý thức rất rõ tráchnhiệm của người cầm bút Với Nam Cao, ông nhấn mạnh lương tâm của người cầmbút Từ việc đề cao ý thức sáng tạo của người nghệ sĩ, nhà văn cũng coi trọng vănhọc nghệ thuật là một lĩnh vực hoạt động đòi hỏi sự tìm tòi sáng tạo không ngừng
Nam Cao từng viết: “Văn chương không cần đến người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu được cho, văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu,biết tìm tòi khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”[25, 341] Để có
một tác phẩm có giá trị, người cầm bút phải biết cách đưa hình ảnh của cuộc sốnggiản dị chẳng có gì hấp dẫn vào trong tác phẩm của mình sáng tạo ra một thế giớithu nhỏ mang những ý nghĩa dạy đời cho bạn đọc, tưởng chừng những cái không ragì.Nhưng nó thật sự tạo nên một giá trị rất lớn, gây sự ám ảnh cho người đọc, cáiquan trọng ở đây không phải là nghĩ như thế nào viết thế ấy mà là phải viết như thế
Trang 22nào để cho tác phẩm ấy làm bật lên tư tưởng thâm thúy Chính quan điểm trên,thểhiện rõ nhất ở các tác phẩm của Nam Cao mang một ý nghĩa lớn.
Có thể nói, quan điểm nghệ thuật của Nam Cao tiến bộ và nhất quán rất cầncho nền văn học hiện thực giai đoạn này, nó trở thành một kim chỉ nam để Nam Caomạnh dạn đi theo cách mạng với tư cách là một nhà văn chiến sĩ
> Phong cách nghệ thuật
Nam Cao có tài năng đặc biệt trong việc phân tích tâm lý nhân vật.Điều đó thể
hiện qua hứng thú tìm kiếm, khám phá “con người trong con người”, đi tìm bản chất
thực của con người Hứng thú tìm kiếm này, cũng như đối tượng tìm kiếm cho dù làngười nông dân bần cùng tha hóa hay người tri thức tiểu tư sản nghèo thì hứng thú
đó vẫn không thay đổi, vẫn nguyên vẹn và đòi hỏi nhà văn phải nổ lực kiếm tìmnhững điều quan trọng để tạo ra rồi nuôi dưỡng hứng thú ấy là sống hết mình trungthực không giả dối
Với phong cách của ông, Nam Cao đề cao con người sống có tư tưởng: “Sống
là cảm giác cũng là hành động nữa, nhưng hành động chỉ là phần phụ,có cảm giác
có tư tưởng mới sinh ra hành động Bản chính cốt yếu của sự sống chính là tư tưởng, cảm giác càng mạnh càng linh dịu tư tưởng càng dồi dào, càng sâu sắc thì
sự sống càng cao”[25, 647] Điều mà Nam Cao nhấn mạnh ở đây không phải là khía
cạnh của tâm lý hay thế giới tinh thần mà thực chất ở đây là con người, tư tưởng conngười trí tuệ Sức mạnh trí tuệ tạo nên phẩm chất và quy định tính cách con người,
có những hành vi ứng xử phù hợp mang tính đạo lý nhân văn cao cả, cho nên cácnhân vật của Nam Cao đều có dáng vẻ riêng, tâm lý riêng tiếp cận xử lý từ góc độtâm lý.Tâm lý của nhân vật được tái hiện và phân tích từ các góc độ khác nhau, cónhững trạng thái tâm lý cực kì phức tạp
Từ việc khai thác tâm lý, Nam Cao tạo ra kiểu kết cấu mà ở đó có sự đảongược trình tự không gian, thời gian Ngoài ra ta còn thấyxuất hiện nhiều dạng đối
Trang 23thoại xen lẫn độc thoại nội tâm Nhà văn làm thế giới bên trong của nhân vật càngtrở nên phong phú và phức tạp đúng như những gì diễn ra trong cuộc sống Qua việcphân tích tâm lý nhân vật, Nam Cao còn đi đến việc xác lập từng giọng điệu riêng,
có tác phẩm nhà văn sử dụng giọng điệu buồn buồn mang màu sắc chua chát mỉamai, còn có tác phẩm nhà văn tỏ ra lạnh lùng tưởng chừng như tàn nhẫn song đầytình cảm yêu thương
1.3 Chức năng của văn học
1.3.1 Chức năng nhận thức
Chức năng văn học là khái niệm xác định ý nghĩa và giá trị của văn học đốivới đời sống xã hội.Chính văn học giúp cho con người nhận thức được chính mình
và cuộc sống thông qua các chức năng nhận thức và chức năng giáo dục
Chức năng nhận thức đóng một vai trò quan trọng trong tác phẩm văn học Nó
có thể đem đến cho người đọc một thế giới khách quan về đời sống tinh thần, đời
sống vật chất:“Trong văn chương nghệ thuật nhận thức có nghĩa là biết; ý nghĩa nhận thức của nghệ thuật là ở chỗ nó giúp người ta biết về cái gì, có thêm những tri thức gì” [12, 166].“Một điều ta đáng lưu ý của nhận thức văn học là dường như
“biết” không cơ bản mà “hiểu” mới là cái chính” [12, 171].
Mặt khác, văn học cũng giúp cho con người nhận thức về chính mình.Trongsáng tác, người nghệ sĩ là một quá trình tìm hiểu thế giới xung quanh nhưng đồngthời cũng là quá trình tự quan sát chính bản thân mình Tác phẩm được xem như làmột tấm gương soi những năng lực và thế giới tinh thần của nhà văn Sau mỗi lầnsáng tác các nhà văn như hiểu mình hơn Đối với người đọc, người xem cũng nhưthế, nhờ tiếp xúc tác phẩm nghệ thuật người ta mới biết đầy đủ hơn về xã hội, vềngười khác, về chính mình.Mục đích của nhận thức là hướng tới khái quát lớn, khámphá cái bản chất, quy luật của hiện tượng
Trang 24khiến họ đi đến suy nghĩ và hành động đúng Nghệ thuật thời nàocũng vậy - “luôn
có xu hướng khuếch đại cái tốt để nó trở nên đẹp đẽ, lỗng lẫy hơn, từ đó lôi cuốn, hấp dẫn mọi người, làm cho mọi người tin rằng trên đời bao giờ cũng công lý lương tri, bao giờ cũng có người tốt, khơi dậy ở mỗi người khát vọng vươn tới cái lý tưởng muốn noi gương, bắt chước làm theo điều thiện, điều hay” [12, 176] Văn học rèn
luyện cho con người thói quen cảm thụ tinh tế, khả năng nhận ra cái thật, cái giả, cáithiện, cái ác trong cuộc sống, cải tạo thế giới quan và quan đểm chính trị xã hội
❖ Tiểu kết
Có thể nói, hoàn cảnh lịch sử đã tác động mạnh quá trình sáng tác của mộtnhà văn có tài năng lớn, đã góp phần cách tân một bước đáng kể nền văn xuôi ViệtNam,nhất là thể loại truyện ngắn Những năm cầm bút, Nam Cao đã trăn trở vềtương lai, cuộc sống con người Nhà văn có ý thức trách nhiệm của người cầm bút,cócái nhìn sắc sảo đối với những vấn đề của xã hội.Chính vì điều này mà Nam Cao
đã sớm tìm đến cách mạng
Nam Caođại diện cho văn học hiện thực phê phán trong giai đoạn cuối.Ông làngười có ý thức tự giác về sáng tạo nghệ thuật Những quan điểm đó, ông không thểhiện trên chính luận mà thường gửi gắm gián tiếp qua quá trình sáng tác chứa đựng
Trang 25chức năng nhận thức và chức năng giáo dục.
Chức năng nhận thức giúp phản ánh hiện thực, đem đến cho người đọc mộtthế giới khách quan.Giúp ta có khả năng phân tích, đánh giá nhận ra cái đẹp cái tốtcủa con người và xã hội Nếu như chức năng nhận thức giúp người đọcnhận thức vềthế giới quan,con người, xã hội, thì đến với chức năng giáo dục trong văn học, giúpngười đọc biết nuôi dưỡng tâm hồn, tư tưởng, tình cảm và giúp ta thấu chính bảnthân của mình Phân biệt được cái tốt cái xấu trong xã hội, hướng người đọc đếntương lai tươi sáng tốt đẹp
CHƯƠNG 2 CHỨC NĂNG NHẬN THỨC TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO 2.1 Nhận thức về hoàn cảnh xã hội
2.1.1 Hiện thực xã hội
Sinh ra và lớn lên tại làng Đại Hoàng, một vùng quê nghèo tăm tối với nhữngcon người xơ xác vì đói, vì bị áp bức bóc lột Chính nơi đây, ông nhận ra một hiệnthực xã hội bất công Vì sao những người nông dân lại phải chịu những nỗi cơ cựcđến như thế?Chính là do bản chất xã hội đã gây ra, một xã hội đã sản sinh ra nhữngbọn cường hào ác bá đã dùng tiền bạc, địa vị ức hiếp người dân thấp cổ bé họng
Bọn cường hào địa chủ ngày càng sâu sắc.Chẳng hạn, trong tác phẩm Chí PhèoBá
Kiến tiêu biểu cho bọn địa chủ, cường hào ác bá ở nông thôn Việt Nam.Hắncòndùng âm mưu nham hiểm để bóc lột những người bần cùng.NamCao nói về cách
nhìn của Bá Kiến đối với kẻ bần cùng như sau: “Những thằng ấy là những thằng được việc, khi cần đến thì cho nó dăm hào uống rượu, thì có thể sai nó tác hại bất
cứ anh nào không nghe mình Gặp người bướng bỉnh, đanh thép thì nó đốt nhà hay cho mấy lát dao; gặp người non mặt thì nó quăng vào chai rượu lậu, hay gây sự rồi lăn ra kêu làng Có chúng sinh chuyện thì mới có dịp mà ăn, nếu không thì giữa đám dân hiền lành và yên phận này, khéo lắm chỉ bóp nặn được vào vụ thế” [25,
Trang 2642] Bá Kiến có đủ quyền lực, có đủ khả năng thao túng tất cả mọi chuyện Ban đầuchúng dùng những quyền lực và tiền tài để chiếm ruộng đất, nhà cửa của dân, cho
vay nặng lãi: “Cái nghề làm quan thì bám thằng có tóc, ai bám thằng trọc đầu” [25,
37].Bóc lột bằng sưu thuế, lấy tiền trong những ngày bắt phu Bọn cường hào lí dịchcàng giàu bao nhiêu thì nhân dân lại cực khổ bấy nhiêu Họ mất hết ruộng đất rồiphải nộp tô thuếlàm phu tạp dịch
Trong xã hội ấy, Nam Cao chứng kiến đời sống khó khăn, thóc cao gạo kém,con người phải vật lộn để kiếm sống Không đâu xa đó là làng Đại Hoàng nơi màNam Cao gắn bó với quê hương Chính làng Đại Hoàng này được xem như là mộtmàn hình thu một của xã hội lúc bấy giờ Làng Đại Hoàng những năm trước Cáchmạng tháng Tám năm 1945 người nông dân phải chịu tô nặng nề, làm phu sai tạpdịch, nhiều người phải bán hết tài sản của mình để cứu đói, nếu như không có tài sảnthì phải chịu nhận cái chết thê thảm Vì đói khổ và bị áp bức,một số nông dân đã bị
đầy vào con đường lưu manh hóa như Chí Phèo Nông dân còn khổ cực nhiểu hơn
khi tình trạng như dốt nát mù chữ, rượu chè xảy ra tràn lan
Trong một cái xã hội thực dân nửa phong kiến, dưới ách thống trị của bọnthực dân phong kiến giai cấp tiểu tư sản cũng không hơn gì so với tầng lớp nông dânlúc bấy giờ Đời sống của giai cấp tiểu tư sản luôn bị đe dọa cả về vật chất lẫn tinhthần, đa số họ rơi vào tình trạng bị phá sản, bần cùng hóa Họ là những viên chứcnhỏ, trí thức nghèo, học sinh chịu nhều cay đắng, đe dọa về đời sống nhất Tầnglớp tiểu tư sản nghèo sống rất bấp bênh khổ cực, ngay đến những viên chức nhỏ, tríthức tự do cũng lâm vào hoàn cảnh khó khăn và bị khinh rẻ chà đạp Tình hình xãhội hết sức ngột ngạt, ngay những kẻ bảo thủ sợ đổi thay nhất
2.1.2 Thái độ của tác giả.
Trong không ít tác phẩm, Nam Cao tỏ ra rất am hiểu về hiện thực và số phậncon người Nhất là đối với những kiếp người nhỏ bé, nghèo khổ Nam Cao có thái độthương xót, thông cảm, đồng cảm sâu sắc với thân phận của bà quản Thích trong
Trang 27Nửa đêm.Suốt cuộc đời lương thiện của bà, bà đã vất vả làm lụng nuôi Trương Rự
và con của hắn Thế nhưng bà chẳng có một tuổi già an phận: “Đã già nua, lại đau yếu, lại đói khát, lại bơ vơ và khổ hơn là chết”[25, 319] Bà quản Thích là người đàn
bà góa giàu, còn trẻ mà lại chưa con, bà luôn hiền lành nhân đức Cả cuộc đời chămbẵm nâng niu Trương Rự, dù đứa con ấykhông phải ruột thịt của mình Thế nhưngđứa con mà bà yêu thương hết mực lại không xem bà là ngưởi mẹ, hắn đối đãi với
mẹ mình như người dưng không cho bà một ngày bình yên toàn gây ra nhiều chuyện
để bà phải mang tiếng là người mẹ không biết dạy con Khi bà đau yếu lại khôngnhờ vả vào con nuôi của mình mà ngược bà phải gồng mình tiếp tục nuôi đứa cháucủa mình, hết khổ vì con rồi lại khổ vì cháu.Nam Cao rất sâu sắc và thấu hiểu cuộcđời khi nhận ra nỗi lầm than như là một con quái vật cứ đeo bám cuộc đời con ngườitrong xã hội cũ, khiến họ không có lối thoát ra được Nhà văn đã làm nổi bật lênhình tượng bà quản Thích với tất cả những cực khổ, nhọc nhằn
Xót xa và thương cảm, Nam Cao nhận ra sự bất công trên cuộc đời này qua
lời tự hỏi của Nhu trong truyện Ở hiền: “Tại sao trên đời này lại có nhiều sự bất công đến thế? Tại sao ở hiền không phải bao giờ cũng gặp lành? Tại sao những kẻ hay nhịn, nhường thì thường thường lại chẳng được ai nhịn, nhường mình; còn những kẻ thành công thì hầu hết lại là những người tham lam, chẳng biết nhịn nhường ai,nhiều khi lại xảo trá, lọc lừa và tàn nhẫn, nhất là tàn nhẫn? ” [25, 238].
Nam Cao đã dẫn người đọc lướt qua cuộc đời Nhu, một cô gái rất mực hiền lành bịmọi người hà hiếp, coi thường, xem thường Bởi tính tình hiền lành mà Nhu đểngười khác lọc lừa, toan tính rồi rơi vào bế tắc của sự đau khổ, phải sống một cuộcđời bi thảm, nhàm chán, không hề có ánh sáng niềm vui
Nhìn cuộc đời Nhu làm ta nghĩ đến nhân vật Dì Hảo trong truyện ngắn cùng tên chỉbiết làm lụng vất vả, không một lời than, một tiếng oán trách, chỉ biết nhẫn nhụcchịu đựng Sự nhẫn nhục ấy cứ lặp lại nhiều lần như một điệp khúc buồn thảm trong
Trang 28cuộc đời nhân vật Khi người chồng phụ bạc đưa về một người phụ nữ trơ tráo thì dì
Hảo: “Ngạc nhiên Rồi thì dì tức tối sai cùng thì dì nhẫn nại; phải nhẫn nại là hơn: nếu hắn về thì cũng thế”[25, 338] Dì Hảo và nhân vật Nhu: “Cả đời chỉ biết cúi đầu, cúi cổ nai lưng ra làm” Cuộc đời của hai nhân vật cứ như cánh bèo trôi nổi bị
dòng đời xua đẩy Cứ như thế nhân vật buông xuôi phó mặc cho cuộc đời, một cuộcđời bế tắc, nhẫn nhục
Qua từng truyện ngắn của Nam Cao, ta thấy giọng điệu của nhà văn buồnthương da diết Ông nhận ra cuộc đời đã đem lại cho con người những trớ trêukhông thể nào lường trước được, nhất là những con người bần cùng dưới đấy xã hội
Trong thế giới nhân vật của Nam Cao có những người xấu xí như Lang Rận,Thị Nở, Mụ Lợi dường như mọi người bỏ rơi và khinh rẻ Là người có ngoại hình
làm một trò cười của tạo hóa:“Mặt gì mà nặng chình chĩnh như mặt người phù, da như da con cóc tằm bủng, lấm tấm đầy những tàn nhang Cái trán ngắn ngũn, ngắn ngùn, lại gồ lên Đôi mắt thì hiếp lại như mắt lợn sề ”.Còn mụ Lợi thì có gì hơn đâu:“Béo trục, béo tròn, mặt mũi như tổ ong bầu, mắt trắng môi thâm đen như thằng quỷ”[25, 272 - 274] Với một cái nhìn, thái độ bao dung nhân đạo, mang đậm
tính nhân văn, Nam Cao đã nhận ra đằng sau những gương mặt xấu ấy là một tâmhồn nhạy cảm và khát khao yêu đương Hai con người dần như bị mọi người ruồng
bỏ họ đã đến với nhau.Thế nhưng sự đời không đơn giản và diễn ra không suôn sẻnhư họ mong muốn.Vì một trò đùa quái ác mà vô tình giết chết một mạng người.Qua cái chết của Lang Rận, Nam Cao muốn tất cả mọi người hãy có thái độ sốngtrân trọng đối với mọi người xungquanh ta, không nên làm tổn thương cho ngườikhác
Trong truyệnMua danh, nhà văn cũng có thái độ mỉa mai, coi thường những
người lấy tiền mua danh Anh Bịch vốn nghèo, làm lụng cực nhọc vẫn không đủ ăn,thế mà khi có tiền lại dại dột nghe một ông Cựu dỗ dành ngon ngọt, vay mượn thêm
Trang 29để mua một chức hương trưởng Anh mừng rỡ ra mặt, tưởng mua danh để được danhgiá, được ăn trên ngồi trốc, ai ngờ khi làng vào đám, chỉ được cái chân đi dẹp bọn
trẻ con, còn bị người ta mắng nhiếc là “Bịch đi xúc dậm”, bị quát mắng, dọa cách
chức Thật danh chẳng thấy đâu, chỉ chuốc lấy sự tủi nhục, trong khi ông Cựu mồmthì nói họ hàng, tình nghĩa, nhưng bỏ túi đến bốn mươi đồng
Anh Bịch hoàn toàn tỉnh táo biết rõ hoàn cảnh của mình đang bước vào đường cùng,biết rõ việc mình làm nhưng vì sức ép của hoàn cảnh lại buộc phải lựa chọn cái điều
mà mình nhận thức nó là sai.Câu chuyện dạy cho con người ta bài học nhớ đời Nếu
ở đời ta chỉ nhắm đến việc dùng đồng tiền để “mua danh” cho mình thì cho dù có tạm thời “mua” được đôi chút danh tiếng, đó cũng không phải là chân thật và sẽ dễ
dàng tan biến trong chốc lát
Xuyên suốt các tác phẩm khi viết về người nông dân trong đó hình ảnh của
những bọn nhà giàu, Nam Cao đã có tỏ thái độ: “Cái bọn ngu dốt mà đáng ghét vô cùng.Chúng chỉ biết có tiền coi người khác như rác, như rơm”[25, 352]Sao lại thế này.Bọn nhà giàu qua cái nhìn của nhà văn là những con người vô nhân tính, những
kẻ không có trái tim của một con người Sống không có tình thương với nhân loại.Ông không hài lòng đối với những bọn nhà giàu ức hiếp người nông dân bần cùng.Người nông dân phải làm nô lệ cho nhà giàu như một con trâu,làm việc quần quật cả
ngày: “Cơm nhà giàu khó nuốt Ăn của họ mà không làm lợi cho họ được thì họ làm cho đến phải mửa ra mà giả họ”trong Một đám cưới [25, 284] Từ đó nhà văn đã có cái chung cho bọn nhà giàu là chúng cùng giống nhau ở chỗ:“Gợi lòng thương của một người chủ tham lam còn khó lắm thay!”[25, 222] trongĐiếu văn Cả một cuộc đời anh Phúc đã: “Mong lấy sự cố gắng của chính mình để bù lại sự kém cỏi tự trời sinh; và cốt lấy sự chăm chỉ, sự kiên nhẫn và nhẫn nại để gợi lòng thương của chủ”
[25, 219] Thế nhưng chủ lại chẳng có một chút lòng thương xót anh
2.2 Nhận thức về số phận con người
Trang 302.2.1 Nông dân bần cùng hóa, tha hóa
Trong bối cảnh nông thôn tiêu điều, xơ xác, ngòi bút của Nam Cao đã diễn tảthấm thía tình trạng đói kém nghèo túng, số phận bi thảm của người nôngdân.Truyện ngắn viết về người nông dân của Nam Cao ra đời trước cách mạng thángTám, thời kì đen tối đã để lại cho nhà văn một dấu ấn sâu sắc trong nhiều truyệnngắn của Nam Cao Phần lớn nhân vật nông dân của Nam Cao là những con người
bần cùng hóa nhất của đáy xã hộigia đình anh Đĩ Chuột, giađình Dần, bà cái Tý, Chí Phèo, anh Phúc , cuộc đời của họ không thể nào khổ hơn được nữa.Họ bị hoàn
cảnh vùi dập, bị chà đạp thể xác lẫn phẩm chất Các gia đình nông dân trong tácphẩm của Nam Cao hầu như mang trọn những nỗi đau mất mác lớn (vợ mất chồng,chồng ở vậy nuôi con, con sống bơ vơ ).Hoặc có những người nông dân vì quá khổphải bỏ quê đi tha hương cầu thực để rồi cũng bỏ thân nơi đất khách Có nhữngngười nông dân trước kia luôn là người lương thiện nhưng vì xã hội hiện thực đãlàm cho họ phải sống dở chết dở'
Khi viết truyện ngắn về người nông dân bần cùng hóa, thì nhà văn đã nhậnthức rõ vì sao họ lại đến nông nỗi như thế này Trước hết, là do cái đói một sự thật
ám ảnh, đeo đẳng thường xuyên người nông dân đã đẩy họ vào cái chết đau đớn, xót
xa: Vì đói, mà bà cái Tí chết tức tưởi bởi Một bữa no.Hoàn cảnh xã hội điên đảo có
sức tàn phá khốc liệt Câu chuyện cái đói được Nam Cao nhìn nhận thành một câuchuyện nhân cách Vấn đề miếng ăn đã dược Nam Cao diễn tả so sánh như là miếngnhục Dù nhục nhưng vì quá đói nên chấp nhận hết cả, cái đói đã dày vò bà sống
không bằng chết:“Hơn ba tháng bà lão chẳng ăn toàn bánh đúc, mới đầu chỉ ăn ba tấm, sau một tấm cũng không còn nữa” [13, 288] Một bữa nolà câu chuyện cay
đắng về cái chết nhục nhã của một bà lão đem nhân phẩm đổi lấy miếng ăn Bởi vìđói mà bà phải đến nhà bà Phó Thụ phải lạy kẻ nhà giàu sang,để có một bữa cơm
nuốt vội trong tiếng nặng nhẹ, chửi bới để rồi phải “chết no” làm trò cười cho thiên
Trang 31hạ Qua hoàn cảnh của bà lão chúng ta thấy một xã hội đã dồn con người vào đườngcùng không có lối thoát Cái chết của bà lão là do hoàn cảnh đói mang lại Bà cái Đĩ
bất chấp cái nhục của một kẻ ăn chực để được “Một bữa no” Chết no ấy thật ra
cũng là một cái chết đói vừa đáng trách vừa đáng thương Cái đói đã hủy hoại conngười cả thể xác lẫn tinh thần, hủy hoại cả nhân tính
Vì đói, vì muốn giữ mảnh vườn cho con trai mà Lão Hạc đã ăn củ khoai củ
ráy cho qua bữa Truyện Lão Hạc, Nam Cao đã thể hiện sinh động qua cái nhìn nhận
thức số phận của người nông dân phải chịu đựng hoàn cảnh bất hạnh Lão Hạc mộtcon người nghèo khổ, cả đời sống trong cảnh thiếu thốn, gà trống nuôi con nhưngcon cũng bỏ ông đi làm phu điền chỉ còn lại cậu Vàng làm bạn với lão Lão coi conchó như đứa cháu, đứa con, như một thành viên trong gia đình.Nhưng vì hoàn cảnh
bế tắc mà lão phải bán con chó mà mình yêu thương nhất, rồi lại tự tìm cho mình cáichết bằng bã chó Cuộc đời lão đầy nước mắt, đau thương, sống thì cô đơn bất hạnh,nghèo đói, chết thì quằn quại đau đớn Cái chết của Lão Hạc đã chấm dứt mối nghingờ của một số người xung quanh Họ hiểu ra dù nghèo đói nhưng lão vẫn trọn vẹn
nhân cách cao quý của mình.Truyện Lão Hạcgợi cho người đọc bao nỗi xót xa cho một kiếp người mà Lão Hạc từng nói một cách chua chát: “Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hóa cho nó để nó làm kiếp người; may ra sung sướng hơn một chút Kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn! ”[25, 253] Lão Hạc đã khổ mà nhìn lại ông giáo lại
còn khổ hơn Cả vợ chồng ông giáo và lão Hạc đều có một số phận hẩm hiu, mộtcuộc đời nghèo khổ Vì khó khăn, ông giáo phải bán hết cả quần áo Lão Hạc đạidiện cho số phận của bao người nông dân trước cách mạng tháng Tám
Vì đói, vì bệnh tật mà anh Đĩ Chuột tìm chọn cho mình cái chết đau đớn để tự
giải thoát cho bản thân:“Anh lấy dây thừng làm một cái vòng tròng chắn chắc, dùng hết sức tàn còn lại, trèo lên ghế, hai chân khẳng khiu run lẩy bẩy Anh buộc cẩn thận một đầu dây lên xà nhà buộc xong anh mệt quá, anh đu vào cái thừng gục đầu
Trang 32xuống thở , anh đứng thẳng người lên, chui đầu vào tròng,cái thừng cứng cáp vào
cổ anh rùng mình , cái bộ xương bọc da giãy giụa như một con gà bị bẫy, sau cùng, nó chỉ còn giật từng cái chậm dưới sợi dây thừng lủng lẳng” [25, 22 - 23], và bớt đi gánh nặng cho gia đìnhNghèo Kể về cảnh ngộ của một người mẹ đành cho
con ăn cám chè.Những miếng chè cám không xoa dịu được những cái dạ dày của
bọn trẻ, mà trái lại làm cho cái đói trở nên dữ dội hơn:“Một miếng chưa vào mồm đã khen ngon quá Nhưng chưa kịp ăn miếng nào, nó ẹo ra một cái, mũi đỏ lên, nước mắt ứa ra giàn giụa”[ 25, 18].
Trong truyện ngắn Một đám cưới, cũng vì đói mà gia đình Dần mới có một
đám cưới Dần sinh ra trong một gia đình nghèo, mẹ mất sớm, từ nhỏ cái Dần đã ýthức được trách nhiệm của người chị lớn trong nhà phải đi ởcho nhà địa chủ ácnghiệt Thế nhưng, bọn nhà giàu tuy giàu có, trong nhà đầy của ăn của để nhưng tỏ
ra hết sức keo kiệt đối với mọi người Dần rất khổ nhưng vì thương cha thương em
nên: “Khổ đến chết cũng đành cắn răng chịu đựng, không dám khóc lóc đòi về”.
“Dần trở thành người phụ nữ chính thay mẹ cùng cha gánh vác việc nhà lo làm ăn” “Nhưng ông trời hình như không cho cha con Dần ngóc đầu nổicuộc sống ngày càng khó khăn thêm”[25, 286] Đến mức cha Dần phải gả Dần cho nhà hàng
xóm Đám cưới của Dần diễn ra lặng lẽ, không đón đưa không may mặc, không cỗ
bàn, chỉ có sáu người trong nhà:“Cả bọn lũi lũi đi trong sương lạnh và bóng tối như gia đình xẩm lẳng lặng dắt nhau đi tìm chỗ ngủ”.,[25, 295]với bao nỗi chua xót đau
lòng đến trong cảnh bần cùng.Nam Cao đã miêu tả hình ảnh chạy đói của gia đìnhnhà Dần đề làm nổi bật lênkiếp người nghèo khổ, bần cùng nhất trong xã hội
Truyện ngắn Một đám cướilà một cảnh ngược đời, Nam Cao tạo nên cảnh này
để làm nổi bật sâu sắc số phận bi thảm và cái cay cực chua chát của những cuộc đờinghèo khổ Một cái đám cưới bắt đắc dĩ, cưới vội cưới vàng, bỏ hết mọi nghi lễ tốithiểu, cưới để bớt một miệng ăn, cưới để trừ nợ, cưới để lấy dăm đồng bạc để lênrừng.Sau đám cưới là một sự tan rã của một gia đình.Còn biết bao nhiêu chuyện