1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Cần lao nhân vị cách mạng đảng trong chính thể đệ nhất việt nam cộng hòa

106 12 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng Trong Chính Thể Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa
Tác giả Chế Thị Kim Hằng
Người hướng dẫn Th.s Bùi Anh Thư
Trường học Đại học Thủ Dầu Một
Chuyên ngành Sư phạm Lịch sử
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2017
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 613,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua góc nhìn của một nhà báo, tác giả đã khắc họa bốicảnh của miền Nam Việt Nam kể từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ đến năm 1963dưới chế độ thực dân kiểu mới của Mỹ, miêu tả chân dung ch

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

KHOA SỬ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

• • NIÊN KHÓA 2013 - 2017

CẦN LAO NHÂN VỊ CÁCH MẠNG ĐẢNG

• • TRONG CHÍNH THỂ ĐỆ NHẤT VIỆT NAM CỘNG HÒA

• • •

Chuyên ngành: Sư phạm Lịch sử GVHD: Th.s Bùi Anh Thư SVTH: Chế Thị Kim Hằng

MSSV: 1321402180002 Lớp: D13LSVN

Trang 2

Bình Dương, Tháng 4 năm 2017

LỜI CẢM ƠN

Thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp Đại học đối với tôi rất đặc biệt.Trong suốt thời gian này, tôi đã học được rất nhiều điều bổ ích cho đam mê nghiêncứu khoa học của mình Để hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được sự hướngdẫn tận tình của quý thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên nhiệt tình từ phía gia đình,bạn bè

Thủ Dầu Một đã tận tình giúp đỡ và truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm quý báu trongquá trình học tập cũng như quá trình tôi thực hiện khóa luận tốt nghiệp

- Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Th.s Bùi Anh Thư - giáo viên hướngdẫn khóa luận này - người đã hướng dẫn tận tình, động viên và tạo mọi điềukiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận

- Tôi xin chân thành cảm ơn Hội đồng khoa học đã xét duyệt và cho nhữngnhận xét quý báu để bài khóa luận được hoàn thiện hơn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời chúc sức khỏe tới quý thầy cô khoa Lịch sử vàmong Khoa ngày càng phát triển hơn nữa!

Dù đã cố gắng hết sức, nhưng khóa luận vẫn không thể tránh khỏi những hạnchế và thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý từ phía thầy cô, bạn bè

Xin chân thành cảm ơn!

Tp Thủ Dầu Một, tháng 4 năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện cùngvới sự hỗ trợ của giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứucủa tác giả khác Các dữ liệu, thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận đều đượctrích dẫn rõ ràng

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

Sinh viên

(Ký và ghi rõ họ tên)

Chế Thị Kim Hằng

Trang 4

đã lựa chọn Ngô Đình Diệm làm tay sai đắc lực nhằm phục vụ âm mưu xâm lược củamình Được sự hậu thuẫn của Mỹ, ngày 23/10/1955, Diệm tiến hành tổ chức cuộcTrưng cầu Dân ý Kết quả là Bảo Đại bị phế truất, Diệm đắc cử Thủ tướng Khichính quyền Việt Nam Cộng do Ngô Đình Diệm làm Tổng thống được dựng lên, Mỹtrực tiếp viện trợ và là lãnh đạo mới của chính thể này, biến miền Nam Việt Namthành thuộc địa kiểu mới, phòng tuyến chống phá cách mạng Xã hội Chủ nghĩa miềnBắc Việt Nam.

Để củng cố và phát triển thế lực tại miền Nam Việt Nam, Ngô Đình Diệm từlâu ấp ủ ý định thành lập một đảng chính trị mới Để thực hiện, Ngô Đình Diệm chotập hợp các tổ chức, lực lượng Công giáo di cư và các thành phần chống Cộng khácthành một tổ chức chính trị đối đầu với các thế lực còn lại của Pháp ở miền Nam ViệtNam, nhằm đối phó với Đảng Lao động Việt Nam Với mong muốn hậu thuẫn chochính quyền của anh mình là Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu đã có những toan tínhthành lập một Đảng chính trị ngay từ đầu thập niên 1950, Ngô Đình Nhu đã xâydựng cốt cán của một đảng chính trị mới, với nhóm người chạy khỏi Hà Nội vào khu

tự trị Bùi Phát sau ngày 19/12/1946, mà sau này mới xuất hiện công khai với tên gọiĐảng Cần lao Nhân vị, nhưng thường chỉ gọi vắn tắt là “Cần Lao” Sự ra đời củaĐảng Cần Lao mang ý nghĩa nhằm thiết lập một chính quyền vững mạnh để tránh sựnguy hại cho Việt Nam Cộng hòa từ các thế lực khác

Tìm hiểu về Lịch sử Việt Nam hiện đại, tác giả nhận thấy rằng nghiên cứu vềchế độ Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa - mà cụ thể là về Đảng Cần lao nhân vị là mộtviệc làm có ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn

Về mặt khoa học

Thứ nhất, dưới thời kì của chế độ Việt Nam Cộng hòa, được xem là thời kì đầy

4

Trang 5

biến động của đất nước trên nhiều phương diện Một thời kì đặt ra nhiều vấn đề cầnnghiên cứu, đặt biệt là giới khoa học lịch sử Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn còn nhữngkhoảng trống chưa khai thác triệt để về giai đoạn này cần được nghiên cứu và đánhgiá lại Chính vì vậy, đây vẫn còn là một vấn đề nghiên cứu khá mới mẻ và mangtính khoa học cao.

Thứ hai, trong thời gian 9 năm lãnh đạo của chính quyền Đệ nhất Việt NamCộng hòa từ năm 1955 đến năm 1963, cùng với sự sụp đổ của chính quyền Đệ nhấtViệt Nam Cộng hòa, Đảng Cần Lao cũng tan rã Như vậy, vai trò của Đảng đối vớichính quyền ra sao, và có những tác động như thế nào khi cùng với hệ thống cácchính sách của Mỹ và chính quyền tay sai đã gây ra những tác động đa chiều vớikinh tế - xã hội Việt Nam trên khắp các vùng ở miền Nam nước ta

Thứ ba, trong quá trình tồn tại ngoài sự hậu thuẫn của Hoa kì, để trụ vững ởmiền Nam, chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa đã tạo ra cho mình những trụcột về mặt chính trị cũng như là xã hội Đảng Cần lao nhân vị là một trong nhữngchỗ dựa cho chính quyền Vậy Đảng được tổ chức và vận hành trên những nguyêntắc nào? Chịu ảnh hưởng của những nhân tố gì? Đó là những vấn đề đặt ra cần đượcnghiên cứu

Vậy nên, việc nghiên cứu về chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa và ĐảngCần Lao Nhân vị, sẽ góp phần làm rõ quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, và việcđưa vào nghiên cứu là một điều thiết yếu

Về mặt thực tiễn

Thứ nhất, nghiên cứu về Đảng Cần lao nhân vị dưới thời của chính quyền Đệnhất Việt Nam Cộng hòa không chỉ góp phần vào công tác nghiên cứu lịch sử miềnNam nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung mà còn làm sinh động bức tranh kinh tế -

xã hội của nước ta trong giai đoạn này Từ đó, giúp chúng ta có thể thấy được rõ hơnnhững hạn chế trong việc vận hành và điều tiết các chính sách cũng như là xây dựnglực lượng chính trị của chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa

Thứ hai, ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo củaĐảng, vấn đề xây dựng Đảng vững mạnh là cấp thiết Qua việc nghiên cứu về ĐảngCần Lao nhân vị dưới chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa, rút ra những bài họckinh nghiệm trong việc xây dựng và hoàn thiện việc xây dựng Đảng, các tổ chức và

5

Trang 6

những nền tảng chính trị, xã hội của nước ta trong giai đoạn hiện nay, góp phần xâydựng đất nước giàu mạnh và bảo vệ thành quả cách mạng mà ông cha ta đã xây dựnglên.

Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Cần lao Nhân vị Cách mạng Đảng trong Chính thể Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa” để làm khóa luận

tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu vấn đề

Về chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa nói chung và Đảng Cần Lao nóiriêng, là đề tài thu hút được nhiều sự quan tâm của các học giả trong và ngoài nướctrong suốt thời gian qua

Ngay sau khi nhà họ Ngô bị lật đổ, Đoàn Thêm có điều kiện được chứng kiếnnhững sự kiện lịch sử của chế độ Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa Những sự kiện đóđược ghi lại thuần túy theo lối biên niên sử, cung cấp nhiều dữ liệu gốc khá hiếm hoi

trong tác phẩm Những ngày chưa quên (1954 - 1963) xuất bản năm 1969.

Nông Huyền Sơn, Cái chết của anh em nhà họ Ngô, Nxb CAND, 2009 Đặt

vấn đề từ cái chết của anh em Ngô Đình Diệm, tác giả đi vào miêu tả những nhân vậtcủa gia đình họ Ngô và đặt họ trong chính sách của Mỹ Từ đó nêu lên bản chất taysai phục vụ cho chủ nghĩa thực dân mới Hoa Kỳ của chế độ Đệ nhất Cộng hòa

Nguyễn Khắc Viện (2008), Miền Nam Việt Nam từ sau Điện Biên Phủ (Diệu

Bình dịch), Nxb Trí Thức Qua góc nhìn của một nhà báo, tác giả đã khắc họa bốicảnh của miền Nam Việt Nam kể từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ đến năm 1963dưới chế độ thực dân kiểu mới của Mỹ, miêu tả chân dung chế độ Đệ nhất Cộng hòaqua hoạt động kinh tế, văn hóa và xã hội, hoạt động đàn áp phong trào đấu tranh củanhân dân miền Nam, những hành động vụ lợi của chính quyền Ngô Đình Diệm vànhững cố gắng của nhân dân Việt Nam để thi hành Hiệp định Geneve được tríchdẫn từ nguồn báo chí xuất bản tại Pháp Nhiều vấn đề được tác giả trình bày mangtính thời sự, với nguồn tư liệu chủ yếu từ các báo, tạp chí xuất bản ở Pháp và một sốnước

Cuốn sách Từ Bạch Ốc đến Dinh Độc lập của tác giả Nguyễn Tiến Hưng,

Jerrold L.Schecter (Nxb Trẻ, 1990) Với hai tập sách đã thể hiện mối quan hệ củaViệt Nam Cộng hòa với Nicxon, cũng như là “buổi hoàng hôn” của nền cộng hòa tại

6

Trang 7

miền Nam Việt Nam Tác giả đã khắc họa lại giai đoạn cuối cũng của chế độ ViệtNam Cộng hòa và những nhận định của mình Qua đó, tác giả cũng khẳng định rằngchính sự phản bội của Hoa Kỳ đã dẫn tới kết cục bi thảm của Việt Nam Cộng hòatrong biến cố năm 1975.

Cuốn Phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963 của Lê Cung, (Nxb

Thuận Hóa, Huế, 2003) đã cho thấy chính sách của chính quyền Ngô Đình Diệm đốivới Phật giáo miền Nam Việt Nam và cuộc đấu tranh của Phật giáo trước năm 1963,Phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963 được tác giả khắc họa rõ néttính chất, đặc điểm và ý nghĩa của phong trào, góp phần đưa đến sự sụp đổ của chínhquyền Đệ nhất Việt Nam cộng hòa vào năm 1963

Thời gian gần đây, tác phẩm Liên minh sai lầm Mỹ -Ngô Đình Diệm của tác giả

Edward Miller, Nxb Chính trị Quốc gia (2016), với cách nhìn ở một góc độ khác, tácgiả đã phác hoạ hình ảnh Ngô Đình Diệm và cách giải thích về mối quan hệ giữaNgô Đình Diệm với Hoa Kỳ Với hơn 500 trang sách, tác giả đã viết về bước khởiđầu của Ngô Đình Diệm cũng như là quá trình đi đến sự sụp đổ, trong đó tác giả đãdành một phần để giới thiệu về Ngô Đình Nhu, tư tưởng Nhân vị và nguồn gốc củaĐảng Cần Lao Những luận giải, đánh giá về một số sự kiện, nhân vật, về chủ nghĩacộng sản, cách mạng miền Nam, phong trào Đồng khởi, nguyên nhân dẫn đến sự thấtbại của chính quyền Sài Gòn, để từ đó tác giả đã đưa ra những nhận định về sự tan rãcủa một liên minh

Trần Lệ Xuân - thăng trầm quyền tình của tác giả Lý Nhân (2015), NXB Công

an Nhân dân, đây là quyển sách được viết khá đầy đủ về Trần Lệ Xuân từ quá trình

là “bà cố” Nhu trở thành “Đệ nhất phu nhân” cùng với những ảnh hưởng của bà đốivới chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa, với những chi tiết thú vị, có ích chonhững cá nhân quan tâm đến thời kì đầy biến động với nhiều sự kiện, nhiều nhân vật

có ý nghĩa về mặt nhân văn và chính trị ở miền Nam Việt Nam những năm cuối thậpniên 50, đầu thập niên 60 của thế kỉ XX Bên cạnh đó, tác giả cũng đã đề cập đến cácchính sách gia đình trị và các vụ đảo chính đối với chính quyền Ngô Đình Diệm

Tác phẩm Madam Nhu Trần Lệ Xuân - Quyền lực bà rồng của tác giả Moniqur

Brinson Demery (2016), cũng đã được xuất bản Đây là một tác phẩm viết về cuộcđời, sự nghiệp bà Nhu nói riêng và chế độ Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa nói chung

7

Trang 8

Với ngòi bút của một tác giả nước ngoài muốn khai thác về bà Nhu Dù vậy, chỉ vớihơn 300 trang sách, tác giả đã khắc họa chế độ Việt Nam Cộng hòa từ những ngàyđầu gặp khó khăn như thế nào để đi đến thời kì vàng son và cuối cùng là sự sụp đổ,cùng với đó là những tổ chức chính trị và Đảng Cần lao Nhân vị của chính quyềnViệt Nam Cộng hòa Tuy chưa được khai thác sâu về các tổ chức chính trị - xã hội vàĐảng Cần Lao Nhân vị, nhưng qua đó tác giả đã cho người đọc thấy được sự “độctài” của chế độ gia đình trị của gia đình họ Ngô thông qua các tổ chức chính trị và bộmáy Đảng, nhà nước.

Nhân vị chủ nghĩa của Phạm Xuân Cầu (1958), tác phẩm viết về thuyết Nhân

vị, trong đó tác giả làm rõ khái niệm, tôn chỉ và mục đích của chủ nghĩa nhân vị.Đồng thời, tác giả lí giải tại sao nhân vị lại có những khả năng siêu việt đã làm choloài người linh thiêng hơn muôn loài vật khác

Một số tác phẩm hồi ký của các cựu nhân viên, tướng tá chế độ Sài Gòn viếttrước và sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng năm 1975 ít nhiều có giá trị:

Hồi ký Hoàng Linh Đỗ Mậu (2001), Tâm sự tướng lưu vong (Việt Nam máu

lửa quên hương tôi), Nxb CAND, Hà Nội Tuy tác phẩm được viết xuất phát từ lậptrường chống Cộng, nhưng do đã từng làm Giám đốc An ninh Quân đội của chế độDiệm nên Đỗ Mậu có đủ điều kiện để hiểu rộng, biết sâu về chế độ này, có điều kiệnsuy ngẫm kỹ hơn, nhìn nhận moi sự việc tương đối sát thực tiễn để lý giải nguyênnhân thất bại của chế độ Diệm Với tư cách một người trong cuộc, tác giả đã kể lạinhững chính sách độc tài, những buổi đầu cũng như những thất bại của chế độ NgôĐình Diệm, và tác giả cũng đã dành một chương để viết về sự hình thành và tan rãcủa Đảng Cần Lao Nhân vị Qua đó thấy được sự biến chất của các Đảng viên và sựcâm phẫn của nhân dân đối với Đảng, với chế độ Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa

Từ việc đánh giá về tình hình nghiên cứu vấn đề, tác giả nhận thấy các côngtrình trên chỉ nghiên cứu về chính thể Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa một cách rời rạc,

lẻ tẻ, ở những khía cạnh khác nhau Trong sự hiểu biết của tác giả, cho đến nay chưa

có công trình nào nghiên cứu tổng thể về Đảng Cần Lao Nhân vị Mặc dù vậy, nhữngcông trình nghiên cứu và tài liệu đã được công bố nói trên đã góp phần giúp tác giảnghiên cứu và hoàn thành đề tài này

8

Trang 9

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để hoàn thành mục đích nghiên cứu, tác giả thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Khái quát về quá trình hình thành, các chính sách cai trị độc tài và quá trìnhkhủng hoảng dẫn đến sự sụp đổ của chế độ Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa vào năm1963

- Nghiên cứu về quá trình thành lập, cơ cấu tổ chức, hoạt động và vai trò củaĐảng Cần lao Nhân vị đối với chính thể Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa

- Đánh giá chung về vai trò Đảng Cần lao đối với sự tồn vong của chính quyền

Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa, trên cơ sở đó đúc rút bài học lịch sử đối với công tácxây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu tổng thể là dựa vào phương pháp luận của Chủ nghĩaMác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam,Nhà nước Việt Nam về vấn đề chiến tranh và cách mạng, về vấn đề dân tộc và giaicấp

Phương pháp nghiên cứu cụ thể là kết hợp hai phương pháp cơ bản của sử họcmácxit là Phương pháp lịch sử và phương pháp Logic, kết hợp phân tích, tổng hợp

trình phát triển của các sự kiện, vấn đề theo một trình tự liên tục về thời gian để làm

rõ sự hình thành, khủng hoảng và sụp đổ chế độ Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa Đồngthời trình bày các vấn đề nhiều mặt, biểu hiện, ảnh hưởng của Đảng Cần Lao đối vớichính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa, để làm sáng tỏ các mối quan hệ, đa dạng,phức tạp đó

9

Trang 10

trình bày vấn đề một cách tương đối đầy đủ, hệ thống Đồng thời, qua đó xác định độtin cậy và giá trị của các sự kiện.

trong các nguồn tài liệu để trình bày vấn đề theo hệ thống Phương pháp này cònđược chúng tôi vận dụng khi lựa chọn, phân tích giá trị của các sự kiện liên quan đến

đề tài

Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng những phương pháp cụ thể khác trong khoa học

xã hội nhân văn hiện nay, nhất là thống kê, so sánh, đối chiếu, để xác định các cứliệu lịch sử và các vấn đề kinh tế, quân sự, chính trị, xã hội, giáo dục, pháp lý và cácphương pháp liên ngành của chính trị học, xã hội học để có thể đưa ra cái nhìn toàndiện, khoa học

6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

6.1 Đối tượng nghiên cứu

Với đề tài “Cần lao Nhân vị Cách Mạng Đảng trong chính thể Đệ nhất ViệtNam Cộng hòa”, đối tượng nghiên cứu chủ yếu là Đảng Cần lao Nhân vị của chínhthể Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1955 đến 1963 cụ thể là về quá trình thành lập, tổchức, hoạt động và vai trò của Cần lao Nhân vị Cách mạng đảng

6.2 Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: Đề tài sẽ nghiên cứu Đảng Cần lao Nhân vị trong chính thể Đệ

nhất Việt Nam Cộng hòa trên không gian “lãnh thổ” Việt Nam Cộng hòa

Về thời gian: Đề tài nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 1955 đến năm

1963

Tác giả chọn mốc bắt đầu là năm 1955, từ sự kiện ngày 23/10/1955, Ngô ĐìnhDiệm giành thắng lợi từ cuộc trưng cầu dân ý giả hiệu, xóa bỏ chế độ Quốc gia ViệtNam của Quốc trưởng Bảo Đại, lập ra chế độ Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa

Tác giả chọn mốc kết thúc là năm 1963 là khi Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa bịlật đổ bởi cuộc đảo chính vào tháng 11/1963

Trang 11

tại Trung tâm lưu trữ quốc gia II.

- Các sách báo; những công trình nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam của cáctác giả trong và ngoài nước

- Các bài viết liên quan đến nội dung đề tài đăng trên các báo, tạp chí

- Hồi ký của các chính trị gia, tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ

- Hồi ký của các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội đã trực tiếp chiến đấutrên chiến trường hoặc tham gia vào các cuộc đàm phán về hòa bình Việt Namtrong cuộc kháng chiến chống Mỹ

bộ máy chính quyền, các chính sách độc tài khi Ngô Đình Diệm lên nắm quyền vànhững mâu thuẫn trong lòng chế độ, dẫn đến cuộc đảo chính tháng 11/1960, đánhdấu sự sụp đổ của chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa

Chương 2: Tác giả nghiên cứu Đảng Cần lao Nhân vị về quá trình hình thành,thuyết Nhân vị, cương lĩnh, cơ cấu tổ chức và quá trình hoạt động của Đảng Cần lao.Làm rõ quá trình Đảng Cần lao từng bước dấn sâu vào hoạt động lũng đoạn chế độ,trở thành một “siêu chính quyền” bên trong của chế độ Việt Nam Cộng hòa, trực tiếptham gia hoạch định các quốc sách của chế độ Việt Nam Cộng hòa Từ đó, tác giảđưa ra những nhận định về vai trò của Cần lao Nhân vị Cách mạng Đảng đối vớichính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa

Chương 3: Tác giả đánh giá chung về vai trò của Cần lao Nhân

vụ cho chính quyền chuyên chế, độc tài, đi ngược lại với

nguyện vọng của nhân dân Kết quả, Đảng Cần lao đã không cứu vãn được chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa trên bờ vực sụp đổ Cuộc đảo chính năm 1963 đã chấm dứt sự lãnh đạo của chính quyền Ngô Đình Diệm và sự tồn tại của Đảng Cần Lao Nhân

vị Từ đó, tác giả đưa ra những bài học lịch sử về công tác xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay

11

Trang 12

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ CHẾ ĐỘ ĐỆ NHẤT VIỆT NAM CỘNG HÒA

Từ cuối năm 1949, trước khả năng bại trận của Pháp, Mỹ đã tăng cường giúp

đỡ để kéo dài cuộc chiến tranh ở Đông Dương, đồng thời cũng áp đặt những quanđiểm của mình Mỹ chê trách chính phủ thực dân lỗi thời của Pháp, ngoan cố khôngchịu trao quyền cho những nhà quốc gia chân chính, mà chỉ muốn sử dụng những tên

bù nhìn Mỹ cho rằng để đẩy mạnh cuộc chiến tranh phải tạo lập được một quân đội

“Quốc gia”, một chính phủ “Quốc gia”, để đánh bại kháng chiến Việt Nam phải dùngngười Việt Nam [72, 25] Ngày 7/5/1954, Pháp thua trận ở Điện Biên Phủ, chiếncuộc Đông Dương chấm dứt, hiệp định Giơnevơ được kí kết Đại diện Mỹ và Đạidiện Chính phủ Quốc gia Việt Nam khước từ không ký vào bản Hiệp định TheoHiệp định này, “một giới tuyến quân sự tạm thời sẽ được quy định rõ, để lực lượngcủa hai bên khi rút lui, sẽ tập hợp ở bên này và bên kia giới tuyến ấy: lực lượng Quânđội nhân dân Việt Nam ở phía Bắc giới tuyến, lực lượng quân đội Liên Hiệp Pháp ởphía Nam giới tuyến.” [47, 706] Lúc bấy giờ, Mỹ tăng cường lực lượng thế chânPháp ở Đông Dương và đã lựa chọn Ngô Đình Diệm để làm tay sai cho mình,Richarrd F Newcomb cho biết: “Đối với người Mỹ, Diệm là rất thích hợp Ông làngười Việt Nam thực sự, 54 tuổi chống Pháp, chống Cộng Với một vài kinh nghiệmtrong thời kỳ làm quan thuộc địa, và là một người Thiên Chúa giáo (không bao giờchú ý đến Việt Nam có 85% dân số là Phật giáo)” [ 37, 29] Bằng những đặc điểmtrên, Ngô Đình Diệm đã đáp ứng được những yêu cầu mà Mỹ đặt ra cho người đứngđầu một chính quyền thân Mỹ tại miền Nam, với âm mưu biến miền Nam Việt Namthành thuộc địa thực dân kiểu mới

Sau khi quân Pháp rút ra khỏi miền Nam Việt Nam, ảnh hưởng Pháp tan biếndần để thay thế bởi ảnh hưởng Mỹ Bởi vì, ngay từ khi mở Hội nghị các ngoại trưởngLiên Xô, Anh, Pháp, Mỹ ở Bec-lin, bàn thảo việc thành lập Hội nghị Giơnevơ giảiquyết vấn đề chiến tranh Đông Dương, Mỹ đă ngầm vận động thúc đẩy Quốc trưởngBảo Đại mời Ngô Đình Diệm lúc này đang ở Mỹ về làm Thủ Tướng, thay thế Thủtướng Bửu Lộc được coi là thân Pháp Mỹ cho rằng, Pháp đã không thực hiện được

Trang 13

chính sách ngăn chặn cộng sản, mà sau Hiệp định Giơnevơ phía Bắc Việt Nam đãthuộc về Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và theo hiệp định thì đến năm 1956, miềnNam sẽ tiếp tục rơi vào tay cộng sản Chính vì vậy, Mỹ đã quyết định loại bỏ Pháp,thiết lập một miền Nam Việt Nam thân Mỹ, thông qua bộ máy tay sai Ngô ĐìnhDiệm, bằng thủ đoạn này, Mỹ đã nhảy vào miền Nam Việt Nam một cách hợp pháp.Sau hiệp định Giơnevơ, cách mạng miền Nam từ chỗ có chính quyền, có quânđội, có vùng giải phóng trở thành không có chính quyền, không có quân đội, vùnggiải phòng thuộc cai quản của quân đội Liên Hiệp Pháp và hai năm sau sẽ tổ chứctuyển cử Tuy nhiên, Mỹ đã ép Pháp đưa Ngô Đình Diệm về miền Nam làm Thủtướng thay cho Bửu Lộc, chuẩn bị cho Mỹ thay Pháp tại miền Nam Việt Nam [34]Ngày 16/6/1954, Bảo Đại với tư cách là Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam, kísắc lệnh số 37 - QT, giải tán chính phủ Bửu Lộc và Sắc lệnh số 38-QT bổ nhiệm NgôĐình Diệm làm thủ tướng Việt Nam Quốc gia [18] Tiếp đó, ngày 19/6, Bảo Đại kí

dụ số 15 trao cho Diệm toàn quyền cả về dân sự lẫn quân sự [57, 77] Ngày25/6/1954, Ngô Đình Diệm từ Pháp về phi trường Tân Sơn Nhất (Sài Gòn), được sựtiếp đón nồng nhiệt theo nghi lễ ngoại giao của một số nhân viên đại diện các Bộtrong Chính phủ Bửu Lộc, một số sĩ quan cấp tá Việt và Pháp thuộc Bộ Quốc phòng

và bộ Tổng Tham mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam (TTM/QĐQGVN), cùng một sốngười thân thuộc dòng họ Ngô Đình và Nhân sĩ thân hữu của gia đình Ngô ĐìnhDiệm Sau khi trở về nước, Ngô Đình Diệm tiếp xúc với các nhân sĩ, từng bước thựchiện các biện pháp để thành lập chính phủ Ngô Đình Diệm thực hiện một số chủtrương của Mỹ như: “Từ chối hiệp thương tổng tuyển cử, từ chối việc tái lập quan hệgiữa hai miền Nam - Bắc; tổ chức tuyển cử riêng rẽ, bầu cử Quốc hội Lập hiến, banhành hiến Pháp (26/10/1956), lập Đảng Cần Lao Nhân vị, Phong trào Cách mạngQuốc gia, Thanh niên Cộng hoà, Phụ nữ liên đới [37, 30]

Ngày 30/6/1954, Ngô Đình Diệm ra Hà Nội để quan sát tình hình miền Bắc vàthăm dò nhân sự nhằm thành lập nội các mới Tuy nhiên, quân Pháp ở các nơi đã bịlực lượng Việt Minh đánh bại và lực lượng tay sai người Việt thì rơi vào tình trạnghỗn loạn Trước tình cảnh khó khăn như vậy, trở về Sài Gòn, tình hình miền Nam đốivới Ngô Đình Diệm vẫn không được thuận lợi Hiệp định Giơnevơ được kí kết, quyđịnh một cuộc tổng tuyển cử vào hai năm sau đó, để tiến hành thống nhất đất nướcViệt Nam Điều này đã làm cho Ngô Đình Diệm lo lắng, vì nếu cuộc tổng tuyển cử

Trang 14

diễn ra Diệm sẽ không có cơ may dành thắng lợi Ngay từ khi vấn đề chấm dứt chiếntranh Việt Nam và Đông Dương còn đang được đàm phán ở Giơnevơ, giới cầmquyền Washington đã dự báo sẽ có sự chia đôi tạm thời nước Việt Nam trong mộtthời gian nhất định, và sau đó sẽ có cuộc tổng tuyển cử để đi đến thống nhất đấtnước Aixenhao đã nhận định rằng “nếu bầu cử xảy ra theo như hiệp định Giơnevơ

đã tiên liệu, thì 80% dân chúng miền Nam sẽ bỏ phiếu cho Hồ Chí Minh” [67, 119]

Mỹ không thể chấp nhận một sự đảo ngược cán cân như vậy Để điều này không diễn

ra, Tổng thống Mỹ, Aixenhao đã tính đến kế hoạch di cư của đồng bào miền Bắc vàoNam Khi Hiệp định Giơnevơ còn chưa kết thúc, Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệmbắt tay ngay vào việc thực thi kế hoạch này Chính vì vậy, bên cạnh việc không thừanhận Hiệp định Giơnevơ, Mỹ đã viện trợ và thực hiện chính sách cưỡng ép gần mộttriệu người dân từ Bắc vào Nam tạo ra cuộc di cư lớn chưa từng có trong lịch sử ViệtNam, để tạo cơ sở xã hội - chính trị cho Ngô Đình Diệm Trong thời gian 300 ngàysau ngày hiệp định bắt đầu, cuối thời hạn mở này, hơn 810.000 người dân đã tậndụng cơ hội di cừ từ Bắc vào Nam [28]

Với số dân di cư từ miền Bắc vào Nam, nhằm thăng bằng sự chênh lệch giữadân số miền Bắc 12 triệu và dân số miền Nam 11 triệu, làm tăng hi vọng thắng lợicủa cuộc tổng tuyển cử đối với Ngô Đình Diệm, tạo ra một cơ sở vững chắc cho chế

độ của Diệm Tờ báo Thế giới - 29.11.1954 có viết “ họ xem những người miền Bắcnhư là một khối dự trữ cho quân dội và cho những tổ chức chính trị của họ, trongkhối dự trữ đó, họ mộ được những người tay chân cuồng tín” [71, 74] Số dân cônggiáo đã được Diệm tín nhiệm về mặt chính trị và là lực lượng để giúp Ngô ĐìnhDiệm cầm quyền ở miền Nam Việt Nam, là nguồn nhân lực chủ yếu của bộ máyhành chính, chính trị quân sự của chính quyền Sài Gòn

Song song với việc thực hiện di cư, Mỹ nhanh chóng giúp Diệm xây dựngchính quyền ở miền Nam theo hướng thân Mỹ Nhưng đã gặp phải sự chống đốiquyết liệt của các thế lực thân Pháp và các giáo phái tại miền Nam Đối với lực lượngthân Pháp, từ ngày Ngô Đình Diệm về nước làm thủ tướng, tướng Hinh đã bày tỏnhững thái độ bất mãn với chính quyền Ngô Đình Diệm, tiến hành phối hợp với lựclượng Bình Xuyên của Bảy Viễn với âm mưu phá hoại chính phủ và cá nhân NgôĐình Diệm Ngày 26/10/1954, thiếu tướng Nguyễn Văn Hinh (quốc tịch Pháp), tổngtham mưu trưởng quân đội Quốc gia, dự định tổ chức đảo chánh, lật đổ thủ tướng

Trang 15

Ngô Đình Diệm Tuy nhiên, vào lúc Hinh sắp đảo chính Diệm thì quốc hội Mỹ chínhthức công bố lập trường của mình rằng nếu ông Diệm bị lật đổ thì Mỹ sẽ chấm dứtviện trợ cho Việt Nam và cũng chấm dứt quân viện cho quân đội Pháp Kế hoạch đảochính bị thất bại, thiếu tướng Nguyễn Văn Hinh bỏ qua Pháp ngày 19/11/1954 TheoHoàng Linh Đỗ Mậu, tướng Hinh ra đi, cả thể cờ của Pháp và Bảo Đại sụp đổ, vìtướng Hinh là đại diện cho sức mạnh chính trị của Pháp và Bảo Đại tại Việt Nam lúcbấy giờ Sau khi tướng Hinh ra đi, toàn bộ vùng Duyên hải miền Trung và Caonguyên Trung phần trở thành hậu thuẫn vững chắc cho Ngô Đình Diệm tiến hànhnhững vận động cuối cùng để quét sạch tàn dư của chế độ thực dân Pháp [57, 95-96]Khi đã loại bỏ được tướng Hinh - tay chân của Pháp, Diệm đã thực hiện cải tổchính phủ, đưa những người thân Diệm vào nắm giữ các vị trí trọng yếu trong chínhquyền Chính quyền Ngô Đình Diệm đã đưa các tín đồ Công giáo di cư vào các chức

vụ hoặc cho thành lập các tổ chức chính trị hậu thuẫn cho Diệm như: Trần Văn Lắmthành lập Tập đoàn công dân vụ cuối năm 1945, Bùi Văn Thinh thành lập Phong tràotranh thủ tự do, Bùi Văn Lương giữ chức Tổng ủy trưởng di cư tị nạn, Trần ChánhThành thành lập phong trào Cách mạng quốc gia, Lâm Lễ Trinh giữ chức Đổng lívăn phòng Phủ Tổng thống, giám mục Phạm Ngọc Chi phụ trách Uỷ ban Hỗ trợĐịnh cư,

Sau khi đã diệt trừ các thế lực thân Pháp và thực hiện cải tổ chính phủ Cuốinăm 1955, chính quyền Ngô Đình Diệm chiến thắng lực lượng Bình Xuyên, nhữnglực lượng chống đối Ngô Đình Diệm chỉ còn lại là những lực lượng phía Đạo CaoĐài và Hòa Hảo Tuy nhiên, những lực lượng này cũng bị dẹp yên, chấm dứt hoàntoàn mọi hoạt động đối lập với Ngô Đình Diệm ở miền Nam Về phía vua Bảo Đại,sau khi ổn định tình hình, chế độ khá vững vàng, Thủ tướng Diệm liền tìm cáchchấm dứt vai trò Quốc trưởng của Bảo Đại, người đã tin tưởng Ngô Đình Diệm và bổnhiệm ông làm thủ tướng với toàn quyền dân sự và quân sự Ngô Đình Diệm đã dùngmột biện pháp có hình thức dân chủ hơn, đó là tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý Đểthực hiện âm mưu xâm lược của mình, việc phế truất Bảo Đại đã được Mỹ đặt ratrong kế hoạch, ngày 23/10/1955 Diệm kêu gọi tổ chức cuộc trưng cầu dân ý phếtruất Bảo Đại, “kết quả chính thức của cuộc Trưng cầu dân ý Ngô Đình Diệm giành5.721.735 phiếu (đạt 98.2% số phiếu), Bảo Đại 63.018 (đạt1.1%) trong tổng số5.828.907 người đi bầu [21] Số lượng phiếu bầu cho Ngô Đình Diệm gây ra sự nghi

Trang 16

ngờ lớn trong dân chúng tuy nhiên điều đó đã được Mỹ đứng sau che đậy rất kĩ.Cuộc trưng cầu dân ý chẳng những truất phế quốc trưởng Bảo Đại, mà chấm dứt luônnhững hoạt động chính trị của cựu hoàng Kết quả cuộc trưng cầu dân ý đã truất phếBảo Đại và chấp thuận Ngô Đình Diệm làm Quốc trưởng Việt Nam, với nhiệm vụđặt nền móng dân chủ Sau cuộc trưng cầu dân ý, Quốc trưởng Ngô Đình Diệm tuyên

bố ngay việc thành lập nền Cộng hòa, và tự mình lên làm Tổng thống Ngày26/10/1955, tân Quốc trưởng Ngô Đình Diệm đưa ra bản Tuyên cáo, công bố thànhlập nền Cộng hòa

Như vậy, sau khi từng bước thực hiện và thúc đẩy việc thành lập chính phủ ViệtNam Cộng hòa và trở thành vị Tổng thống đầu tiên, Ngô Đình Diệm đã tiến hành xâydựng bộ máy chính quyền và thực hiện các chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội Cótác động sâu sắc đến tình hình miền Nam Việt Nam, mở ra một trang sử mới cho lịch

sử kháng chiến chống Mỹ của dân tộc nói riêng và lịch sử Việt Nam nói chung

Ba ngày sau cuộc trưng cầu dân ý, ngày 26/10/1955, Ngô Đình Diệm ký bảnHiến ước tạm thời số 1, tuyên bố: Quốc gia Việt Nam là một nước Cộng hòa, Quốctrưởng đồng thời là Thủ tướng Chính phủ lấy danh hiệu là Tổng Thống Việt NamCộng hòa [20] Ngô Đình Diệm ngay sau khi làm Tổng thống, ông bắt đầu việc sơthảo một Hiến pháp cho chính quyền mới (11/1955) Ngày 23/1/1956, Tổng thốngNgô Đình Diệm đã kí Dụ số 8 để thiết lập Quốc hội và Dụ số 9 để ấn định thể thứcthi hành Ngày 4/3/1956, dân chúng đã bỏ thăm theo lối phổ thông, đầu phiếu chọnlựa đại diện của mình trong 123 đơn vị bầu cử Trong phiên họp đầu tiên của Quốchội lập hiến, Tổng thống gửi cho Quốc hội một bản thông điệp vạch các nguyên tắclập hiến Ngày 2/7/1956, toàn thể Quốc hội chấp thuận dự án Hiến pháp, theo đó:Đứng đầu ngành hành pháp là Tổng thống với nhiệm kỳ 5 năm Quốc hội do dân cửchỉ có một viện duy nhất với 123 dân biểu (nhiệm kỳ ba năm chọn theo từng đơn vịbầu cử) có thẩm quyền lập pháp Về tư pháp có Viện Bảo hiến để cân nhắc và xétduyệt những luật lệ ban hành cho phù hợp với Hiến pháp Đặc biệt, Pháp viện sẽđược tổ chức, có thẩm quyền xét xử Tổng thống, Phó Tổng thống, Chánh án, Tòa phá

án và Chủ tịch Viện Bảo hiến, trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội

Hỗ trợ ngành hành pháp là Nội các gồm 13 Bộ trưởng Quốc hội soạn xong và thông

Trang 17

qua lần cuối bản Hiến pháp ngày 20/10/1956 Hiến phápViệt Nam Cộng hòa đượcban hành ngày 26/10/1956, thiên cuối của Hiến pháp quyết định:

Quốc hội dân cử ngày 4/3/1956 là Quốc hội Lập pháp đầu tiên theo Hiến phápViệt Nam Cộng hòa

Trong khóa họp thứ nhất của Quốc hội Lập pháp đầu tiên, Tổng thống chỉ địnhphó Tổng thống đầu tiên Sự chỉ định này thành nhất định khi được Quốc hội chấpthuận

Tổng thống được nhân dân ủy nhiệm thiết lập nền dân chủ do cuộc trưng cầudân ý ngày 23/10/1955 là Tổng thống đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.Điều 96 của bản Hiến pháp này hợp thức hóa chức vụ của ông Diệm là vị tổng thốngđầu tiên của Việt Nam Cộng Hòa Theo đó, Tổng thống có các quyền:

định quốc tế

thay mặt Quốc gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc

chiến hoặc phê chuẩn hòa ước

luật định

Sắc lệnh

thông báo cho Quốc hội biết tình hình Quốc gia và chánh sách đối nội, đốingoại của Chính phủ

hợp nhất định

Trang 18

> Kí Sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp, báo động hoặc giới nghiêm trongmột hay nhiều vùng; các Sắc lệnh này có thể tạm đình chỉ sự áp dụng mộthoặc nhiều đạo luật tại những vùng đó [51, 18-31]

Có thể thấy rằng, chế độ Việt Nam Cộng hòa là chế độ theo định chế “Tổng

Cộng hòa trong giai đoạn 1955-1963 và 1967-1975 Chức vị Tổng thống Việt NamCộng hòa là chức vị chính thức được thành lập bởi Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa,

do dân chúng bầu trong qua cuộc bầu cử trực tiếp Mặc dù mang tính dân cử rất cao,nhưng trên thực tế, do điều kiện chiến tranh, hầu hết thời gian tồn tại của mình, hầuhết các vị Tổng thống Việt Nam Cộng hòa đều ít nhiều bị chỉ trích về sự độc tài

Để phục vụ cho chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa, việc thành lập một tổchức chính trị là yêu cầu sống còn đặt ra cho Ngô Đình Diệm, để có thể tập hợp đượccác tổ chức, lực lượng giáo dân di cư, và các thành phần chống Cộng ở miền NamViệt Nam Dưới chính quyền của Ngô Đình Diệm, Đảng Cần Lao Nhân vị đượcthành lập và được xem là lực lượng nòng cốt cho tổ chức chính trị của chế độ ViệtNam Cộng Hòa từ năm 1954-1963 Đảng Cần Lao một lực lượng hoạt động ngầmbên trong và cả hoạt động công khai bên ngoài chính quyền Ngô Đình Diệm, là một

chính Đảng tồn tại và hoạt động tại Việt Nam Cộng hòa từ năm 19541963 do hai anh

Mounier Ngày 2/9/1954, Nghị Định số 116- bNV/CT cho phép Đảng Cần lao Nhân

Vị được hoạt động hợp pháp [14] Đảng Cần Lao Nhân vị được ví như “đoàn thủythủ” trong bộ máy của chiếc tàu nhà nước của Ngô Đình Diệm Trong các đơn vịquân đội lớn, ở các bộ, Đảng Cần lao đều có tổ chức “Đảng đoàn” của nó, không có

cơ quan trọng yếu nào mà không có Đảng Cần lao làm tai mắt và là “nồng cốt” chochế độ độc tài Ngô Đình Diệm

Các đảng viên nắm các chức vụ chủ chốt trong các cơ quan chính quyền, đặcbiệt là các cơ quan an ninh và quân đội trong thời kỳ Ngô Đình Diệm nắm giữ chức

1 Tổng thống chế là hệ thống chính phủ mà trong đó có một ngành hành pháp tồn tại và “ngự trị” tách biệt khỏi ngành lập pháp.

Trang 19

vụ Tổng thống, Ngô Đình Nhu đưa phần lớn đảng viên Đảng Cần lao Nhân vị thamgia hoạt động ngầm trong các tổ chức như Thanh niên Cộng hòa, Phong trào Phụ nữLiên đới, Thanh nữ Cộng hòa, Sở nghiên cứu chính trị - xã hội Các tổ chức này tùytheo vị trí không chỉ trực tiếp tham gia vào guồng máy chính quyền Việt Nam Cộnghòa, mà còn có nhiệm vụ theo dõi, giám sát hoạt động của các tổ chức chính trị và xãhội khác.

Bên cạnh Đảng Cần Lao Nhân vị, còn có các tổ chức chính trị - xã hội khác

như: tổ chức Phong trào Cách mạng Quốc gia, được thành lập vào ngày ngày 02

tháng 10 năm 1955 theo nghị định 966/NV của Tổng trưởng Nội vụ Việt Nam Cộnghòa do Trần Chánh Thành - Bộ trưởng Thông tin là chủ tịch”[13] Phong trào Cáchmạng Quốc gia nằm dưới sự chủ trương đường lối hoạt động của Đảng Cần lao Nhân

vị, nhanh chóng thâm nhập sâu vào các tầng lớp xã hội như quân đội, công chức, tríthức, giới kinh doanh tại miền Nam và trở thành tổ chức lớn nhất thời bấy giờ dưới

sự lãnh đạo của Đảng Cần lao Nhân vị Tất cả các Ban chấp hành các cấp của Phongtrào Cách mạng Quốc gia đều diễn ra những cuộc họp thường xuyên nhằm kiểmthảo, báo cáo và đề nghị công tác lên cấp trên Tùy theo đơn vị mà Ban chấp hànhcác cấp quy định số lần họp trong tháng như: Ban chấp hành Xã mỗi tuần họp 1 lần;Ban chấp hành Huyện hai tuần họp 1 lần; Ban chấp hành Tỉnh một tháng họp 1 lần;Ban chấp hành Trung ương thì tùy theo công việc mà quy định số lần phiên họpnhiều hay ít, ít ra phải nữa tháng họp một lần Mỗi lần khai họp phải kèm theo biênbản và tờ báo cáo lên cấp trên Phong trào Cách mạng Quốc gia có vai trò quan trọngtrong bộ máy chính quyền Việt Nam Cộng hòa, mọi đường lối và chủ trương củaphong trào đều nằm dưới sự lãnh đạo của Đảng Cần lao Nhân vị Là lực lượng nòngcốt trong quốc hội (với số ghế cao nhất), tổ chức này là giữ vai trò quyết định trongviệc thi hành nhiều chính sách của chính quyền Việt Nam Cộng hòa

đạo, mở lớp huấn luyện quân sự cho các thiếu nữ Tổ chức này hình thành năm 1961,

bệnh nhân trong nhà thương, viết thư thăm hỏi binh lính tiền tuyến Tuy nhiên, thấtbại lớn nhất của phong trào không phải chỉ vì tính chất lý thuyết thiếu thực tế đó mà

đặc biệt là người sáng lập ra nó “tuy là một người có quyền lực lớn lao nhưng lại

Trang 20

không có đủ đức độ và khả năng lãnh đạo để thúc đẩy phong trào hoạt động” [57,

225] Vì quan niệm sai lầm về việc xây dựng uy tín và quyền lực, vì xem thường ócphê phán và truyền thống đạo đức Đông phương cho nên những việc làm của bà Nhungày càng làm cho bà bị quần chúng và chính giới căm thù

Có thể thấy rằng, dưới chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa, quyền hànhtập trung triệt để vào tay Tổng thống, theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa năm 1956,Quốc hội là cơ quan cao nhất do dân bầu cử Nhưng thực chất, Quốc hội chỉ là một tổchức để hợp pháp hóa việc ban hành luật lệ, chính sách do Tổng thống dự định trước.Tổng thống Ngô Đình Diệm với danh vị Nguyên thủ Quốc gia, nắm giữ vai trò vừa

là Tổng thống, Thủ Tướng, vừa là Quốc trưởng, tập trung cao độ quyền lực trong tay.Sau khi thành lập chính quyền Việt Nam Cộng hòa, Mỹ đã xây dựng miền Nam vớinhãn mác “dân chủ” với đầy đủ các thiết chế của một Nhà nước, có Quốc hội, Tổngthống do dân bầu, song, quyền lực lại nằm vào tay Tổng thống Ngô Đình Diệm, từ

đó dẫn đến sự lũng đoạn của gia đình cũng phe cánh họ Ngô, đưa chế độ Việt NamCộng hòa thành một chế độ độc tài, chuyên chế

Ngay từ khi bắt đầu thực hiện âm mưu xâm lược vào miền Nam Việt Nam, Mỹ

đã chú ý đến giai cấp nông dân và nông thôn ở miền Nam, nhằm tranh thủ và lôi kéonông dân và phía Ngô Đình Diệm, mở đường cho tư bản chủ nghĩa xâm nhập vàonông thôn và nông nghiệp, tạo ra tầng lớp tư sản mới trong đời sống nhân dân miềnNam, để làm chỗ dựa cho chính quyền Sài Gòn Công cuộc “cải cách điền địa” làbước đầu thực hiện âm mưu đó của Mỹ và chính quyền Sài Gòn Tuy nhiên, côngcuộc cải cách điền địa đã không tạo ra tầng lớp tư sản mới, mà thực chất là khôi phụclại giai cấp địa chủ đã bị Cách mạng làm thiệt hại, đồng thời tạo ra lớp địa chủ mớitrong thôn xã để làm lực lượng hậu thuận cho Ngô Đình Diệm Những đạo dụ “Cảicách điền địa” như Dụ số 2 ngày 8/1/1955, Dụ số 7 ngày 5/2/1955, Dụ số 57 ngày22/10/1956, thực chất cướp lại ruộng đất mà nông dân đã được cách mạng chia cấptrong thời kháng chiến, nhằm xóa bỏ ảnh hưởng của cách mạng trong dân chúng.[73,197]

Bộ điền thổ và cải cách điền địa sớm được thành lập, cuộc cải cách điền địa

Trang 21

được chia làm hai giai đoạn, giai đoạn thứ nhất từ năm 1955 đến cuối năm 1956, thihành “quy chế tá điền”, khuyến khích việc khẩn hoang đất bỏ hoang và cải thiện mốiquan hệ giữa tá điền và chủ điền Tuy nhiên, đây không phải là nhằm cải thiện mốiquan hệ địa chủ, tá điền mà nhằm cướp đoạt ruộng đất người dân vào tay của địa chủ.Diệm muốn thủ tiêu những quyền lợi về ruộng đất của người dân miền Nam đã thuđược từ cách mạng kháng chiến chống Pháp Giai đoạn 1 của cuộc cải cách điền địađược đánh dấu bằng dụ số 2 (8/1/1955) và dụ số 7 (5/2/1955) Dụ số 2 quy định mứcthu tô (giá thuê đất) tối đa và lãi suất mà điền chủ được áp dụng: Mức tô tối đa từ 10đến 15% trên số lúa thu hoạch cho ruộng làm 1 mùa/năm, Mức tô tối đa từ 15 đến25% cho mùa gặt chính của ruộng 2 mùa/năm Dụ số 7 quy định việc thuê đất phải

có khế ước (hợp đồng) tá điền, buộc chủ đất phải lập hợp đồng với nông dân Thờihạn khế ước là 5 năm, có tái ký Tá điền có quyền trả đất và phải báo trước chủ đất 6tháng Chủ đất muốn lấy đất lại phải báo trước tá điền 3 năm Khế ước được chiathành 3 loại: Loại A: đối với ruộng đang canh tác có chủ, loại B: đối với ruộng hoang

có chủ, loại C: đối với ruộng hoang vắng chủ Giai cấp địa chủ ở thôn, xã dần ngócđầu dậy từ khi chế độ Ngô Đình Diệm lên nắm quyền Dụ số 57 được ban hành vàongày 22/10/1956, đưa công cuộc cải cách điền địa bước vào giai đoạn thứ 2, quyđịnh việc truất hữu địa chủ Mỗi địa chủ chỉ được giữ lại 100 ha ruộng đất và 15 haruộng hương hỏa Ruộng bị truất hữu sẽ được đem bán lại cho những người thiếuruộng, mỗi hộ không quá 5 ha, người mua sẽ trả tiền trong thời gian 6 năm Trongthời gian đó ruộng đất vẫn thuộc quyền sở hữu của chính quyền Trong 10 năm kếtiếp, người được phát ruộng không được cho mướn hay đem bán lại Địa chủ sẽ đượcbồi thường 10% tiền mặt, số còn lại được trả bằng trái phiếu trong 12 năm, mỗi nămlời 3% [47, 846]

Như vậy, về thực chất dụ số 57 của chính quyền Ngô Đình Diệm đã xóa bỏthành quả cách mạng mà người dân miền Nam đã nhận được trong thời kì khángchiến chống thực dân Pháp, buộc người nông dân thừa nhận mặt pháp lí việc sở hữuruộng đất của địa chủ thông qua việc lặp các “khế ước tá điền” Mặt khác, dụ số 57cũng đã tạo điều kiện để phát triển giai cấp địa chủ ở nông thôn miền Nam, chế độbồi thường đối với đất truất hữu -tiền bồi thường sẽ được trả 10% tiền mặt, số còn lạiđược trả bằng trái phiếu trong 12 năm, mỗi năm lời 5% Số ruộng truất hữu này sẽđược bán cho nông dân thiếu ruộng, mỗi hộ không quá 3 ha Đây thực chất là việc

Trang 22

đảm bảo quyền lợi cho giai cấp địa chủ Cuộc cải cách điền địa của Ngô Đình Diệmkhông công nhận quyền sở hữu ruộng đất của nông dân được cấp trong thời khángchiến chống Pháp, mưu tước đoạt ruộng đất mà chính phủ cách mạng đã chia chongười dân Bóc lột phong kiến và quyền sở hữu phong kiến vẫn tồn tại giữa địa chủ

và tá điền

Bên cạnh đó, Diệm còn cho phép Tỉnh trưởng được tập trung nhân dân trongnhững công tác cứu tế xã hội đã góp phần biến số đông những Tỉnh trưởng, Quậntrưởng, Xã trưởng thành mạng lưới quyền lực đầu tiên ở cấp địa phương Đây đượcxem là những mầm móng của tham nhũng, áp bức, bất công sau này Ngô Đình Diệmcho bãi bỏ những cuộc bầu cử thôn xã, các viên chức điều hành cấp xã sẽ do Tỉnhtrưởng chỉ định chứ không phải Hội đồng do nhân dân trong làng bầu lên nữa[57,194] Từ lâu, chế độ tự trị ở làng xã vốn ăn sâu vào nếp sống của người dân ViệtNam, như câu “phép vua thua lệ làng”, tính tự trị và tính cộng đồng thể hiện rõ tronglàng xã Việt Nam Với chính sách trên, Ngô Đình Diệm đã tạo nên những bất đồngcũng như những mẫu thuẫn đối với nhân dân, khi đã phá vỡ những truyền thống lâuđời của người dân trong làng, xã

Bên cạnh việc thực hiện chính sách cải cách điền địa, tháng 4/1957, chínhquyền Ngô Đình Diệm triển khai kế hoạch lập dinh điền, nhằm đưa dân miền Bắc di

cư và dân các tỉnh đồng bằng lên vùng rừng núi, dọc biên giới từ tỉnh Kon Tum đếnmiền Đông Nam Bộ Để lôi kéo quần chúng nhân dân vào các khu dinh điền, chínhquyền Ngô Đình Diệm tổ chức các lớp học tập tìm hiểu về dinh điền và ra sức lừa gạtrằng, dinh điền là biện pháp làm tăng vốn và lợi ích quốc gia, tư hữu hóa nông dân

vô sản, cải thiện dân dinh, Học tập xong nếu ai không tình nguyện đi sinh sống tạicác khu dinh điền thì chính quyền sẽ chỉ định các gia đình buộc phải đi, nếu khôngchịu đi thì sẽ bị nghi là “Việt cộng”, “thân Cộng” Từ năm 1957 - 1960, chính quyềnSài Gòn đã đưa khoảng 20 vạn dân mà phần đông là đồng bào Thiên Chúa giáo ởmiền Bắc di cư vào Nam và một phần dân các tỉnh miền Trung định cư khoảng 150điểm ở Tây Nguyên, Phước Long, Kiến Phong, Kiến Tường, Mộc Hoá, Tân Uyên, [73, 198]

Giáo sư Trần Văn Giàu cho biết: “ Các địa điểm là những trung tâm trồng câycông nghiệp, một trong các chủ trương kinh tế của chính quyền Diệm là đa canh hóa

Trang 23

Nói khác hơn, bằng cách dinh điền, Diệm muốn trồng một số loại cây công nghiệpnhư cao su, ki-nap, đay, gai mà Mỹ và chư hầu của Mỹ cần dùng, một số loại câykhác, giá trị cao như café, chè và hoa quả đặc sản” [47, 853] Tuy nhiên, chính sáchKhu Dinh điền đã vấp phải sự phản đối của nhân dân, đặc biệt là những đồng bàođược đưa đi đến khu dinh điền sinh sống Đến năm 1959 - 1960, cùng với chính sáchcải cách điền địa, chính sách dinh điền bị phong trào Đồng Khởi của nhân dân ta làmcho phá sản Trước thất bại của chính sách Dinh điền, chính quyền Ngô Đình Diệmnghĩ đến một chính sách mới có quy mô hơn, lâu dài hơn, có thể kết hợp được sự đàn

áp bằng bạo lực với sự lừa phỉnh về xã hội và kinh tế, nhằm bình định nông thôn,khống chế nông dân, cô lập phong trào cách mạng ngay ở địa bàn cơ sở, chính vì vậyngày 7/7/1959, Ngô Đình Diệm phát lệnh thành lập “khu trù mật”, dồn dân vàonhững nơi quy định

Về mặt lý thuyết, khu trù mật được xem như những đơn vị hành chánh nôngnghiệp, nhằm quy tụ nông nhân thành từng khu bảo vệ yểm trợ và phát triển Trênmặt xã hội, khu trù mật là gạch nối giữa thành thị và nông thôn, qua đó, các sinh hoạt

và phát triển tiến bộ của đô thị sẽ đổ về nông thôn Đỗ Mậu cho biết rằng chươngtrình Khu trì mật đã không nghiên cứu kĩ càng để đi sát với thực tế, chuộng hình thứcnặng nề về lượng hơn là sản phầm, các cán bộ chỉ đạo lo hối hả trồng cây hôm nay,

để ngày mai Tổng thống đi kinh lý khen thưởng hơn là thực sự phát triển chậm màchắc Những lời la thán và các đơn khiếu nại của nhân dân ngày một nhiều, ngườidân bị đe dọa nên phải rời khỏi nhà, thiếu thốn về mọi mặt, thay vì được trợ cấpnhững người công phu bị biển thủ, kinh phí phóng đại, tài sản bị xâm phạm Mặtkhác, những hoạt động canh tác, nề nếp sống cũng như những sinh hoạt nhân văn củangười dân như: hội hè, đình đám, cưới hỏi đều bị xáo trộn, gây ra những bất bìnhtrong nhân dân Chương trình Khu trù mật đã làm tốn không biết bao nhiêu công quỹ

và làm khổ sở nhân dân [57, 266 - 267] Giáo sư Trần Văn Giàu cũng cho biết: Mỗigia đình đến khu trù mật buộc phải bỏ ruộng vườn, nhà cửa, mồ mã ông bà để ở quênhà, những ai không chịu dời đi, chính quyền Ngô Đình Diệm dùng bạo lực đàn áp

và dồn dân vào những nơi quy định, dùng quân đội, đàn áp, cưỡng bách bắt xâu, đuổinhà, gom dân, phá ruộng vườn và phá nhà cửa của dân Những gia đình bị dời đếnKhu trù mật phải lĩnh mấy công đất đã được định đoạt trước Sau khi gặt lúa xong,người dân không được đem thẳng về nhà, mà phải đem đến sân chung để khấu trừ

Trang 24

các loại thuế sau đó mới được đem về nhà [47, 939]

Quả thật, khu trù mật đã làm xáo trộn đời sống của nhân dân, chính quyềnNgô Đình Diệm đặt nhân dân vào một hệ thống kìm kẹp cực kỳ khắc nghiệt màkhông lường trước sự thất bạn của chính sách tập trung dân, gây thêm những bấtbình, mâu thuẫn của nhân dân đối với chính quyền Sự thất bại của Diệm về cải cáchđiền địa và chính sách Khu trù mật đã được thể hiện khi Diệm không lôi kéo đượclực lượng nông dân đi theo chính quyền, không tách được quần chúng nhân dân khỏiảnh hưởng của Đảng Cách mạng Từ đó, cho thấy sự mâu thuẫn giữa nông dân vớichính quyền, đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của chếđộ

Chống Cộng là quốc sách của cả Mỹ và Diệm, nhằm chống lại những ngườikháng chiến cũ Chính sách “tố Cộng, diệt Cộng” là chính sách của Ngô Đình Diệmkhi còn là Thủ tướng, được thi hành từ năm 1954, và kéo dài trong nhiều năm sau khiNgô Đình Diệm lên làm Tổng thống Theo Hiệp định Giơnevơ, quy định cấm trả thùnhững người kháng chiến, nhưng Ngô Đình Diệm là người có tinh thần chống Cộng,truy tìm và tiêu diệt những người tham gia hoặc có liên quan đến Việt Minh trongthời kháng chiến Ngô Đình Diệm coi tất cả những người chiến sĩ và du kích ViệtMinh trước năm 1945, dù họ có là Đảng viên hay không, những người làm nghề tự

do ít nhiều đã tham gia vào trong kháng chiến đều là Cộng sản “Trong những năm từ

1956 - 1957, cuộc khủng bố của chính quyền Diệm đã trở thành những hành độngđại quy mô, có hệ thống, đạt mức độ dã man xưa nay chưa từng thấy ở Việt Nam Từđây, Diệm công khai trước dư luận về các chiến dịch tố cộng hay chiến dịch diệtCộng” [47, 807]

Từ tháng 5/1955 đến tháng 5/1956, chính quyền Ngô Đình Diệm phát động

“chiến dịch tố Cộng giai đoạn I” trên quy mô toàn miền Nam Tháng 3/1955, NgôĐình Diệm đã cho thành lập một hệ thống các cơ quan có trách nhiệm thực hiệnchính sách chống Cộng sản ở miền Nam, như “Phủ Đặc ủy công dân vụ”, “Hội đồngchỉ đạo tố cộng”, ngoài ra còn có các cơ quan như Nha chiến tranh tâm lí, Bộ Thôngtin, Tổng cục chiến tranh chính trị được thành lập ngày 9/2/1957, để làm cố vấntrong chiến dịch “tố Cộng” Ngô Đình Diệm đã ra Dụ số 6 (11/1/1956), lập các trại

Trang 25

để giam giữ những người bị coi là “nguy hại cho quốc phòng và an ninh” Địch chianhân dân làm ba loại: loại cán bộ và Đảng viên Cộng sản, loại gia đình có người đitập kết, loại nhân dân nói chung Tùy theo từng đối tượng mà địch cho tổ chức họctập “tố Cộng” theo những mức độ khác nhau Sau khi học tập xong, địch bắt từng giađình phải kê khai những người Cách mạng, bắt mọi người phải tố giác Cộng sản.Chính điều này, đã gây ra những hoang mang, nghi ngờ giữa quần chúng và cán bộ.

Từ tháng 7/1957 trở đi, địch mở “Chiến dịch tố Cộng gia đoạn II” Vào giai đoạnnày, địch điều tra và phân chia gia đình các hộ gia đình theo từng loại: Gia đình loại

A là gia đình những người kháng chiến cũ, gia đình có người đi tập kết

Địch coi đây là loại gia đình bất hợp pháp Gia đình loại B là gia đình có bà con, họhàng thân thuộc với gia đình loại A, đây cũng là loại gia đình bất hợp pháp Gia đìnhloại C, là những gia đình hậu thuẫn cho chính quyền Ngô Đình Diệm, được hưởngnhững ưu đãi quyền lợi về kinh tế, chính trị Những gia đình thuộc loại A, B phải đihọc tập “tố Cộng” và nói xấu cách mạng, thực hiện tố giác đồng chí, người thân củamình [42, 254- 255]

Tháng 4/1959, với sự tàn ác của mình, quyết tâm nhổ cỏ tận gốc Cộng sản,

“Quốc hội” của Diệm thông qua luật số 91 Luật ấy được ban hành ngày 6/5/1959mang tên “Luật 10-59” về thành lập các “Tòa án Quân sự Đặc biệt” với lý do “xét xửcác tội ác chiến tranh chống lại Việt Nam Cộng Hòa”, mục đích nhằm tiến hànhthanh trừ những người cộng sản ở miền Nam Việt Nam Với những luật lệ khắcnghiệt và các tổ chức chống Cộng, chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành khủng bốtràn lan đối với nhân dân, đặc biệt là những gia đình kháng chiến cũ hoặc những giađình có thân nhân tập kết ngoài miền Bắc Việt Nam Theo ông Hoàng Linh Đỗ Mậu,thay vì tố Cộng, bộ máy Cần lao Công giáo đã tố chính những thành phần dân tộcquốc gia Chiến dịch tố Cộng đã bắt giam vào trại cải tạo từ 50.000 đến 100.000 tùnhân, nhưng đa số tù nhân này không phải là Cộng sản [57, 197-198] Chỉ trong vòng

4 năm, từ năm 1955 đến năm 1958, chính sách khủng bố của Ngô Đình Diệm đã làmcho cả miền Nam tổn thất gần 9 phần 10 cán bộ Đảng viên Ở Nam Bộ, khoảng 7 vạncán bộ, đảng viên bị giết, gần 90 vạn cán bộ, nhân dân bị bắt, tù đày, gần 20 vạn bịtra tấn thành tàn tật, [33, 310]

Có thể nói rằng, quốc sách “tố Cộng” đã gây ra biết bao đau khổ cho ngườidân Với những luật lệ hà khắc và các tổ chức chống Cộng quy mô, chính quyền Ngô

Trang 26

Đình Diệm đã tiến hành bắt bớ, chém giết biết bao người dân yêu nước Dưới chiêubài “chống Cộng”, chính quyền Ngô Đình Diệm đã chống lại tất cả những người yêunước, những người dân chủ và tiến bộ ở miền Nam Việt Nam Chính vì vậy, quốcsách “tố Cộng” đã trở thành một trong những nguyên nhân gây mâu thuẫn trong lựclượng nhân dân Với chính sách dã man, tàn độc đã khiến nhân dân miền Nam đứnglên kiên quyết đấu tranh, chống lại chính quyền Ngô Đình Diệm.

Chính sách xây dựng các khu trù mật, khu dinh điền, với âm mưu ngăn chặnlực lượng Cách mạng thâm nhập vào vùng dân cư đông đúc Để đánh lừa dư luận,Ngô Đình Diệm tuyên bố rằng, thành lập các khu trù mật trước hết nhằm vào mụcđích kinh tế, xã hội, “là xây dựng một xã hội mới để thực hiện công bằng, bác ái,đồng tiến xã hội trong hoàn cảnh một nước kém mở mang” [47, 935] Tuy nhiên,những âm mưu đăng sau những lời tuyên bố tốt đẹp đó lại đi ngược với lợi ích,nguyện vọng của nhân dân Báo Lẽ Sống được đăng tải ngày 15/3/1960 đã viết:

“Những vùng hoang vu, hẻo lánh thường là sào huyệt của Việt cộng nằm vùng vàphiến loạn, quân đội đến tảo thanh thì chúng lẩn trốn, rút đi thì chúng trở lại Bởivậy, khu trù mật thiết lập ngay tại những vị trí xung yếu để cắt đứt giao thông liên lạccủa địch, cô lập chúng, đồng thời kiểm soát mọi sự xâm nhập phá hoại” Báo Cáchmạng Quốc gia Sài Gòn số 18/2/1960 tiết lộ mục đích đen tối của “khu trù mật” là:

“tách quần chúng ra khỏi những phần tử cảm tình với cộng sản, lùa cộng sản vào rừng để chúng bị cô độc, thiếu thốn, đói khát rồi bị diệt trừ” [47, 936] Khu trù mật

có 4 tiểu khu, khu hành chính, tiểu khu công thương, tiểu khu dân sự và tiểu khudành riêng cho các gia đình “thân Cộng”, tức là những gia đình có người thân tập kết

ra Bắc hoặc bị tình nghi là cộng sản, tiểu khu này bị bao vay chằng chịt bởi các hàngrào thép gai và tháp canh Chính quyền Ngô Đình Diệm đã đặt nhân dân vào một hệthống kìm kẹp khắc nghiệt Mỗi khu có một ban đại diện Dưới ban đại diện là Banđại diện ấp Các ban đại diện khu, ấp là những tên tay sai đắc lực Dưới ấp, các giađình được ghép lại thành ngũ gia liên bảo, có một Liên gia trưởng và một Liên giaphó do cấp trên chỉ định Chúng xếp các gia đình thành các loại A,B,C,D Gia đìnhloại D ở vòng ngoài, đến loại C,B và ở giữa là gia đình loại A Các gia đình loại C,Dkiểm soát các gia đình loại A, B Mỗi gia đình phải có tờ khai ghi rõ họ tên, tuổi,nghề nghiệp và dán ảnh từng người Người dân đi đâu, làm gì đều phải báo lên Liêngia trưởng, ấp trưởng [47, 939]

Trang 27

Qua đó, có thể thấy rằng, thành lập “khu trù mật” là nhằm bình định, khốngchế dân, cô lập phong trào cách mạng ngay ở địa bàn cơ sở, nhằm tách cộng sản rakhỏi nhân dân, xây dựng được khu trù mật, chính quyền Ngô Đình Diệm hi vọng sẽngăn chặn được ảnh hưởng của cộng sản đối với nhân dân, các gia đình kháng chiến

và bị tình nghi sẽ bị bao vây chặt chẽ, những cán bộ cách mạng sẽ không còn cơ sởliên lạc Chính quyền Ngô Đình Diệm đã dùng bạo lực chứ không phải dùng các biệnpháp chính trị, giáo dục để xây dựng niềm tin và sự ủng hộ trong quần chúng nhândân Những chính sách độc tài đã trở thành nguyên nhân gây ra những mâu thuẫn,bất mãn với chính quyền Ngô Đình Diệm

Bên cạnh các chính sách độc tài khác, Ngô Đình Diệm còn thực hiện chínhsách kiểm soát và khống chế báo chí, những chính sách kiểm duyệt gắt gao, thậm chíđập phá, khủng bố các tòa soạn khi cho xuất bản các tờ báo có khuynh hướng đối lậpvới chính quyền Dưới thời của chính quyền Ngô Đình Diệm, báo chí không được tự

do ngôn luận, không thể hiện được tính dân chủ Mọi hoạt động của báo chí đều bịkiểm soát gắt gao và hạn chế Việc xuất bản báo chí ở miền Nam chỉ được ưu tiêngiành cho những tờ báo thân Mỹ - Ngụy, phục vụ cho mục đích tuyên truyền “tâm lýchiến” còn tự do báo chí có thể khẳng định rằng không hề có Những nhà báo chốngđối chính quyền, trước sau cũng bị đóng cửa; những người chủ nhiệm, quản lí củacác tờ báo bị đưa đi bí mật ban đêm; nếu không thế thì cũng bị ghép vào tội gá bạc,tống tiền hay đi lừa đảo, đưa ra toà, gia sản bị tịch biên, có bao nhiêu vốn liếng đitiêu hết Theo Đỗ Mậu, “việc trắng trợn và khủng khiếp hơn là những biện pháp công

an trị và cảnh sát trị bằng cách cho tay sai đến đập phá các tòa báo, khủng bố và truy

tố ra tòa các chủ nhiệm của những tạp chí có khuynh hướng đối lập” [57, 200] Một

cơ quan do tay sai của chế độ chặn đứng các tờ báo mà họ gọi là phản động, và cán

bộ Cần Lao được đặt vào hàng ngũ báo chí làm mật vụ để theo dõi, chỉ điểm các nhàvăn, nhà báo yêu chuộng tự do và dân chủ thật sự Ngày 20/3/1956, Ngô Đình Diệm

đã ban hành Dụ số 13, với nội dung khống chế quyền ngôn luận của nhân dân Vớinhững biện pháp bắt bớ, khủng bố kí giả, truy tố chủ nhiệm ra tòa, tình trạng báo chídưới thời Ngô Đình Diệm ít ỏi về số lượng và cả chất lượng Diệm đã tước bỏ tất cảmọi quyền hạn dù là nhỏ nhất của người dân miền Nam, bất cứ ai cũng có thể bị bắt

bớ, bỏ tù, giết hại nếu bị lính của Diệm nghi ngờ rằng đó là Cộng sản, đang che dấu

Trang 28

Cộng sản hoặc có liín quan đến Cộng sản Việc đi lại, học tập, viết lâch lă điều vôcùng xa xỉ đối với nhđn dđn miền Nam Thâng 3/1958, Nghiím Xuđn Thiện - chủ

nhiệm tờ bâo Thư gửi ông Nghị của tôi bị tòa phạt 10 thâng tù treo vă 100.000 đồng,

bị rút giấy phĩp xuất bản, vì tội “ có mục đích xúc phạm chính quyền”, “nội dung băiviết chỉ đòi hỏi câc ông Dđn biểu hănh xử đúng đắn nhiệm vụ đại diện cho dđn, đừnglăm nghị gật, đừng lăm Dđn biểu gia nô” [57, 200] Ông Nghiím Xuđn Thiện vốn lămột người chống cộng từ năm 1945, vă tờ bâo Thời Luận của ông cũng từng bị thựcdđn Phâp khủng bố vì những luận chống thực dđn Ông Thiện di cư văo Nam trongcuộc di dđn từ miền Bắc văo Nam năm 1954 vă tiếp tục với sự nghiệp lăm chủ nhiệmbâo Thời Luận Tuy nhiín, khi còn khâng chiến chống Phâp, vì đòi hỏi tự do mă bâoThời Luận bị Phâp đập phâ, đến khi văo Nam, một lần nữa cũng vì đòi hỏi tự do mẵng Thiện bị đưa ra tòa vì đòi hỏi dđn chủ tự do Sau sự kiện tờ bâo Thời Luận, Tờ

bâo Tự Do của câc ông Nguyễn Hoạt, Lưu Đức Sinh, Lí Văn Tiến, Tam Lang, lúc

đầu lă diễn đăn chống Cộng sđu sắc vă hiệu quả nhất nhưng cuối cùng cũng không

thể hợp tâc được với chế độ Ngô Đình Diệm Số Xuđn Tự Do năm Canh Tý (1960),

vì in hình bìa của họa sĩ Phạm Tăng vẽ sâu con chuột, vừa tượng trưng cho tuổi Týcủa ông Diệm vừa tiíu biểu cho anh em Ngô Đình vă bă Nhu đang gậm nhắm đụckhoĩt trâi dưa hấu (tượng trưng cho miền Nam) nín bâo bị đóng cửa vă câc ký giả thì

đi tù

Như vậy, nếu không có tự do bâo chí thì chế độ đó chắc chắn độc tăi, chínhquyền Ngô Đình Diệm đê tự cô lập chính quyền với khối đại đoăn kết dđn tộc Vớinhững biện phâp bắt bớ vă kiểm soât bâo chí như vậy, đê không ít câc nhă văn, nhăbâo bất mên với chế độ “Rất nhiều nhă bâo đê từng can đảm khôn ngoan tồn tạiđược qua chế độ kiểm duyệt của thực dđn Phâp, nhưng dưới thời ông Diệm cũngđănh tự ý đình bẩn những đứa con tinh thần vă tạm chấm dứt đệ tứ quyền của mìnhhoặc vì không muốn bẻ cong ngoăi bút để lăm một thứ bồi bút tân tận lương tđm,hoặc vì không chịu nổi âp lực của câc cơ quan mật vụ Công an” [57, 205]

Với những nhă văn, nghệ sĩ chđn chính bị chỉn ĩp dưới chế độ Đệ nhất ViệtNam Cộng hòa, với khât khao đấu tranh để đòi công bằng xê hội, tranh đấu cho đồngbăo có cơm no âo ấm, để trở lại với quyền tự do ngôn luận vă xuất bản những “đứacon tinh thần” của những người lăm bâo, viết bâo, để viết lín những sự thật lịch sử,

đê lăm mđu thuẫn giữa chính quyền vă nhđn dđn ngăy căng sđu sắc Qua đó, có thể

Trang 29

thấy rằng, chính quyền Ngô Đình Diệm đã không còn nhận được sự hậu thuẫn, niềmtin từ nhân dân Để rồi, ngày 1/11/1963, Ngô Đình Diệm bị quân đội giết chết trongcuộc đảo chính, mở ra thời kỳ khủng hoảng chính trị kéo dài với các chính phủ đượclập lên và sụp xuống liên tục.

1.2.3 Chính sách văn hóa

Miền Nam Việt Nam vốn là một xã hội đa tôn giáo, dưới thời Mỹ - Diệm ngoàiPhật giáo, Công giáo, đạo Tin Lành, còn có rất nhiều tôn giáo khác như: Tứ Ân HiếuNghĩa, Bửu Sơn Kì Hương, đặc biệt là đạo Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo Tuynhiên, để thâu tóm quyền lực, Diệm kêu gọi các giáo phái hợp nhất lực lượng vũtrang vào quân đội của chính quyền Việt Nam Cộng hòa Khi các giáo phái khôngthực hiện, thì Diệm dùng các thủ đoạn và biện pháp tàn sát đẫm máu Hệ thống lãnhđạo Phật giáo Hòa Hảo và Cao Đài bị đàn áp Dần dần phải lui về vị trí tôn giáo, tínngưỡng với ý định “chờ thời” Như vậy, đời sống chính trị của miền Nam Việt Namchỉ còn tồn tại hai tôn giáo lớn chính là Phật giáo và Công giáo

Với toan tính chiếm đóng lâu dài miền Nam Việt Nam, Mỹ sử dụng con bàichính trị là Ngô Đình Diệm - một tu sĩ Công giáo làm người đứng đầu, mặt khác gấprút chuẩn bị cơ sở vật chất, mà trong đó đáng kể nhất là cuộc di cư giáo dân Cônggiáo từ miền Bắc Việt Nam vào miền Nam để làm lực lượng hậu thuẫn cho Diệm.Chính quyền Ngô Đình Diệm đã đưa các tín đồ Thiên Chúa giáo di cư vào các chức

vụ hoặc cho thành lập các tổ chức chính trị hậu thuẫn cho Diệm như: Trần Văn Lắmthành lập Tập đoàn công dân vụ cuối năm 1945, Bùi Văn Thinh thành lập Phong tràotranh thủ tự do, Bùi Văn Lương giữ chức Tổng ủy trưởng di cư tị nạn, Trần ChánhThành thành lập phong trào Cách mạng quốc gia, Lâm Lễ Trinh giữ chức Đổng lívăn phòng Phủ Tổng thống, giám mục Phạm Ngọc Chi phụ trách Uỷ ban Hỗ trợĐịnh cư, Tại thành thị, các linh mục không có bằng cấp, chẳng tài giỏi gì mà vẫnđiều khiển các trường tư thục, được tổ chức những áp phe vơ vét tiền bạc Hai linhmục đã được cử làm viện trưởng của hai trong ba trường Đại học của toàn miềnNam, trong đó có Đại học Đà Lạt Dưới thời Đệ nhất Cộng hòa, các tổ chức Cônggiáo tha hồ xuất bản báo chí, kinh sách, tiếng nói Công giáo trên các đài truyềnthanh, trong khi đó sách kinh của Phật giáo lại bị kiểm duyệt gắt gao, ngay cả việcdùng đài phát thanh cũng không được chấp nhận [57, 398] Một cựu tướng lãnh của

Trang 30

quân đội Sài Gòn cho biết thêm:

“Trong Quốc hội thì Chủ tịch luôn luôn là người Công giáo, đa số dân biểu đều

là người Công giáo Cho đến năm 1963, trừ thị trưởng Đà Lạt là người theo PhậtGiáo, tất cả các tỉnh, thị trường tại miền Trung và Cao Nguyên đều là tín đồ ThiênChúa giáo Tỉnh trưởng nhiều tỉnh ở Nam phần như: Gia Định, Bình Tuy, LongKhánh, Phước Thành, Phước Long, Định Tường, Kiến Hòa, Vĩnh Long đều là ngườiCông giáo” [67; 131]

Như vậy, trong quá trình tiến hành di cư và định cư, chính quyền Ngô ĐìnhDiệm đã đưa những người Công giáo vào chiếm giữ các vị trí trong hệ thống chínhquyền, tính chất kì thị theo thời gian cứ tăng dần, gây bất mãn sâu rộng trong nhândân, nhất là đối với tín đồ Phật giáo Ngày 9/1/1956, chính quyền Ngô Đình Diệm ra

dụ số 4 hủy bỏ ngày lễ Phật Đản trong danh sách cho các học đường, công chức vàbinh sĩ, điều này đã tạo nên sự câm phẫn trong xã hội miền Nam nói chung và giớiPhật giáo nới riêng Tình trạng kỳ thị Phật giáo tiêu biểu và trắng trợn đã xảy ra ởmiền Nam lúc bấy giờ Lễ Phật Đảng không được ghi trong danh sách ngày nghĩquốc gia trong khi lễ Giáng sinh, lễ Phục sinh của Công giáo thì lại được xem nhưQuốc lễ Mãi cho đến năm 1957, Hội chủ Phật giáo phải làm đơn “xin”, Chính phủmới “cho” nghỉ ngày Phật Đảng Nhưng quan trọng hơn cả là chính quyền Ngô ĐìnhDiệm vẫn duy trì Dụ số 10 để khống chế Phật giáo trong quy chế của một Hội bìnhthường, trong khi Công giáo thì không bị ràng buộc, muốn tự do điều hành và sinhhoạt sao cũng được Đạo dụ số 10 được xem như là sản phẩm độc ác và thâm độc củathực dân Pháp trong chính sách tiêu diệt các tôn giáo Việt Nam, trong việc làm tê liệtcác sinh hoạt tín ngưỡng của quần chúng, mặt khác thông qua đạo số 10, Pháp độcquyền hành đạo Dụ này không xem Phật giáo như một tôn giáo mà chỉ như một hiệphội, ngang hàng với các hiệp hội từ thiện, mỹ nghệ, tiêu khiển, thể thao Riêng ThiênChúa giáo không nằm trong Dụ số 10

Đạo Dụ số 10 được ban hành ngày 6/8/1950 dưới thời Bảo Đại làm Quốctrưởng Ngô Đình Diệm được Bảo Đại cử giữ chức Thủ tướng năm 1954 thay nội cácBửu Lộc, chỉ sau một năm (ngày 23/10/1955) đã lật đổ Bảo Đại bằng một cuộc trưngcầu ý dân có sắp đặt, ba ngày sau tuyên bố thành lập cái gọi là nền Đệ nhất Cộng hòa

do chính ông làm Tổng thống lâm thời, xóa bỏ tất cả các văn kiện pháp quy nhưngtuyệt nhiên vẫn giữ lại Dụ số 10 Với việc duy trì đạo dụ số 10 đầy tính chất kì thị

Trang 31

tôn giáo tại miền NamViệt Nam, đã nói lên âm mưu Công giáo hóa miền Nam củachính quyền Ngô Đình Diệm Năm 1963, xảy ra biến cố Phật giáo là thể

hiện đỉnh điểm của chính sách kì thị tôn giáo của chế độ Ngô Đình Diệm Vào tháng5/1963, chính sách kỳ thị Phật giáo của chế độ Diệm lên đến cao điểm với lệnh cấmtreo Phật kỳ trong lễ Phật Đảng tại Huế và sau đó nổ súng giết 8 Phật tử tại Đài Phátthanh Đây là giọt nước làm tràn sự bất công của chính sách tiêu diệt Phật giáo mộtcách có hệ thống để Công giáo hóa miền Nam vốn bắt đầu từ năm 1956, khi lần đầutiên Hoà thượng Trí Thủ gửi văn thư chính thức phản đối Linh mục Vàng, giảng sưcủa Trung tâm Nhân Vị Vĩnh Long, đòi cắm cây thánh giá lên núi Ngũ Hành Sơn,nơi có chùa Non Nước ở Đà Nẵng Kể từ năm 1956 đó cho đến suốt 7 năm còn lại,Phật giáo đã bị đối xử phân biệt, áp lực đổi đạo, đày đọa đi các vùng dinh điền trêncao nguyên, bị chụp mũ là Cộng sản, chùa chiền bị các cha xứ lấn chiếm tranh dành,công chức quân nhân Phật tử bị trù dập Biến cố ở Huế sau đó trở thành cuộc đấutranh cho nguyện vọng 5 điểm đòi bình đẳng tôn giáo Trước sự ngoan cố của chínhphủ Diệm, ngày 11/6/1963, Hoà thương Thích Quảng Đức tự thiêu để phản đối chính

sách bình đẳng tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm, khiến cuộc đấu tranh của

Phật giáo lan rộng ra với sự hiện diện mạnh mẽ và đông đão của sinh viên, học sinh

và Đảng phái Ngày 7/7/1963, văn hào Nhất Linh tự tử để phản đối chính sách độctài, đàn áp Phật Giáo của Ngô Đình Diệm Trước tình hình đó, ngày 20/8, ông Nhu ralệnh cho Cảnh sát dã chiến và Lực lượng Đặc biệt của Đại tá Lê Quang Tung phátđộng chiến dịch “Nước Lũ” ào ạt tấn công chùa Xá Lợi, Giác Minh, Ấn Quang, TừQuang, Therevada ở Sài Gòn và chùa chiền khắp toàn quốc, bắt Tăng Ni và Phật tửgiam giữ, phản bội Thông cáo Chung và vu khống cho Phật giáo là tay sai của Việtcộng Hệ quả tức thời của chiến dịch Nước Lũ là toàn bộ thành phần lãnh đạo Phậtgiáo bị triệt tiêu, phong trào đấu tranh của Phật giáo gần như bị tê liệt, nhưng chính

vì vậy mà phong trào đã trở thành tiền đề văn hóa và sức bật chính trị cho ngày1/11/1963 của Quân đội ba tháng sau đó

Cuộc vận động của Phật Giáo 1963 bắt đầu ở Huế với cái chết của tám Phật tửđêm 8/5/1963 tại đài phát thanh, rồi cuộc tự thiêu của Thích Quảng Đức ngày11/6/1963 tại Sài Gòn và chiến dịch “nước lũ” tổng tấn công chùa chiền toàn quốcđêm 20 rạng ngày 21/ 8/1963 Ba biến cố lịch sử quan trọng của phong trào PhậtGiáo tranh đấu này dẫn đến cuộc khủng hoảng chính trị trầm trọng kéo dài nửa năm

Trang 32

và kết thúc bằng cuộc đảo chánh lật đổ chính quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm.Ngày 1/11/1963, quân đội phát động cuộc binh biến lần thứ ba để lật đổ chế độ độctài Ngô Đình Diệm Như vậy, với những chính sách độc tài, Ngô Đình Diệm đã làmcho mâu thuẫn giữa người dân và chính quyền ngày càng trở nên sâu sắc, đưa đếnnhững cuộc đấu tranh, biểu tình chống chế độ bùng nổ khắp miền Nam, mở ra thời

kỳ khủng hoảng sâu sắc của chế độ Việt Nam Cộng hòa

1.3 Khủng hoảng chính trị và sự sụp đổ của Chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam được sự giúp đỡ của

Mỹ đến năm 1957 cơ bản được xây dựng hoàn bị Cộng thêm các thành tích dochương trình Cải cách Điền địa và các cuộc càn quét, triệt phá các cơ sở cách mạng,tiêu diệt lực lượng yêu nước đã khiến Mỹ và Ngô Đình Diệm tin rằng, năm 1957 làthời kì vàng son của nền Đệ nhất Cộng hòa Chính trường miền Nam Việt Nam hoàntoàn nằm trong tầm kiểm soát của anh em Ngô Đình Diệm Nhưng, sự thật đằng saunhững lời tuyên bố lạc quan của chính giới Mỹ, những mâu thuẫn trong lòng chế độNgô Đình Diệm nhanh chóng phơi bày “Trong lúc anh em ông Diệm tự hào tự mãn

vì những lời ca ngợi của một số chính khách tướng lãnh Mỹ, và lạc quan vì nhữngbuổi đón tiếp đông đảo của dân chúng mỗi lần ông đi kinh lý, thì tình hình an ninhViệt Nam đã thật sự đến hồi lo ngại” [57, 287] Từ nửa cuối năm 1957, tình hìnhmiền Nam Việt Nam bắt đầu chuyển động và càng trở nên ảm đạm đối với Ngô ĐìnhDiệm sau những năm thực hiện chính sách mị dân, kết hợp sử dụng công cụ bạo lực

để tiêu diệt cách mạng, kìm kẹp quần chúng, thanh trừng đối lập Đến năm 1959,phong trào cách mạng miền Nam thực sự chuyển mình, đấu tranh chính trị kết hợpvới đấu tranh vũ trang tuyên truyền phát triển thành khởi nghĩa giành chính quyền,đẩy chế độ Ngô Đình Diệm tới bờ vực suy thoái Phong đấu tranh của nhân Việt Namchống Mỹ - Diệm đã làm bùng nổ mâu thuẫn giữa các phe phái trong chế độ ViệtNam Cộng hòa Cái chính mà chế độ Ngô Đình Diệm có được là sự căm phẫn, sựđấu tranh phản kháng của quần chúng yêu nước và cách mạng miền Nam đã làm chonội bộ Việt Nam Cộng hòa lục đục Sự phục hồi và phát triển của lực lượng cáchmạng làm cho mâu thuẫn nội bộ chế độ Ngô Đình Diệm tăng cao Nhằm củng cốquyền lực, Ngô Đình Diệm ra tay thanh trừng nội bộ, ngày càng nhiều phần từ vốn

Trang 33

trung thành với Ngô Đình Diệm trước đây bị tước đoạt quyền lợi quay lưng với chế

độ và ra mặt chống đối, lên tiếng tố cáo chính sách độc tài, gia đình trị của anh emNgô Đình Diệm Người Mỹ bắt đầu nghĩ tới việc thay thế những người trong giađình Ngô Đình Diệm Ngược lại, để củng cố vị trí và quyền lực, ngăn ngừa đảochính, Ngô Đình Diệm thanh trừng bộ máy chính quyền và quân đội Bên cạnh đó, vìanh em Diệm xem việc thưởng phạt sĩ quan như đặc quyền của cá nhân, danh dự và

kỉ luật trong quân đội không còn, đã tạo ra những bất công và ganh ghét trong hàngngũ quân đội Chính vì vậy mà tướng Dương Văn Minh đã tỏ ra bất mãn từ nhữngnăm 1960 - 1961, khi được giao chức chủ tịch Hội đồng Thăng thưởng, mà đối vớiDương Văn Minh thì Hội đồng như một trò hề [57, 287-288]

Ngày 26/4/1960, 18 chính khách trong Uỷ ban tiến bộ và tự do họp tại kháchsạn Caravelle ra một bản phê phán gay gắt và có phạm vi rộng nhằm vào các chínhsách của chế độ Ngô Đình Diệm Bản tuyên cáo của nhóm Caravelle đã vạch trầnbản chất thối nát của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, bản tuyên cáo được công bốtrước báo giới, phơi bày sự thật về chế độ Việt Nam Cộng hòa: “ Chính trị độc tài,dân chủ trò hề nhà lao ngập tràn không chứa người bị bắt,kinh tế suy thoái, thấtnghiệp tràn lan, nông sản ế ẩm, nạn đầu cơ độc quyền hoành hành, hàng vạn dân laođộng bị bắt đi làm khổ sai ở các khu trù mật, quân sự tàn bạo, bất công, chỉ huythăng chức tước không phải vì tài năng mà vì biết nịnh bợ quân đội chỉ là công cụđàn áp của phe cản Diệm, của gia đình Diệm, hành chính nặng nề, tê liệt, lạm quyền,tham nhũng” [71, 159] Bản tuyên ngôn Caravalle như những lời tiên tri báo trước sựsụp đổ của chính quyền Ngô Đình Diệm và có tiếng vang ở quốc ngoại và trong quânđội Một chuỗi biến cố liên tiếp xảy ra sau đó: Cuối tháng 10/1960, Tổng thống Diệmcải tổ nội các vì có bất đồng nội bộ, bốn bộ trưởng ra đi: Nội vụ (Lâm Lễ Trinh),Quốc phòng (Trần Trung Dung), Thông tin (Trần Chánh Thành) và Tư pháp (NguyễnVăn Sĩ) sau một thủ tục điều tra do các bộ này khởi xướng về những lạm quyền củađảng Cần lao Hai tuần sau, ngày 11/11/1960, xảy ra cuộc đảo chính dưới sự chỉ huycủa Đại tá Nguyễn Chánh Thi, lữ đoàn trưởng lữ đoàn dù biệt khu thủ đô của Quânlực Việt Nam Cộng hòa Cuộc đảo chính bất thành vào tháng 11/1960 được coi làmột diễn biến có tính bước ngoặc trong lịch sử nền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa.Đánh dấu nguy cơ bị lật đổ của ông Diệm bởi các lực lượng vũ trang Qua nhữngcuộc binh biến đó, cho thấy những mâu thuẫn từ nội bộ chính quyền, và sự nổi dậy

Trang 34

của chính tay chân ông Diệm Việc quyền hành nhà nước bị chi phối quá nhiều trongtay những người trong gia đình tổng thống Diệm, cộng với sự lộng quyền của một sốĐảng viên Cần lao và chính sách đàn áp của Chính phủ gây bất mãn trong quầnchúng Ngay chính trong những người đồng chí thuở ban đầu của Diệm cũng cảmthấy bị phản bội và chuyển dần sang thế đối lập với người mà họ đã ủng hộ Họ liêntục công kích chính sách độc tài chính trị của Tổng thống Mùa thu năm 1960, thái

độ bất bình trong hàng ngũ sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa trở nên gay gắt.Bên cạnh đó, sự oán giận của các tướng Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim và Dương VănMinh đối với anh em nhà họ Ngô đã bắt đầu nhen nhóm từ năm 1960, khi họ bị thẩmvấn từ sau vụ việc đảo chính hụt Riêng Trần Văn Đôn, từ 1962, bị bãi chức Tư lệnhQuân đoàn I, và được bổ nhiệm vào vị trí Tư lệnh quân đội Việt Nam Cộng hòa - mộtchức vụ mới được tạo ra [43, 378] Nội bộ chính giới miền Nam thêm sâu sắc, căngthẳng lên đến đỉnh điểm vào ngày 27/2/1962, hai phi công Nguyễn Văn Cử và PhạmPhú Quốc ném bom Dinh Độc Lập, cho thấy sự bất lực của Diệm đối với tình hìnhchính trị ở miền Nam Việt Nam Sự căng thẳng ở miền Nam Việt Nam khiến chínhsách của Mỹ rơi vào khủng hoảng, lực lượng cách mạng ở miền Nam không nhữngkhông bị đè bẹp, mà chính trong nội bộ chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã cónhững mâu thuẫn không thể cứu vãn

Quả thật, với chủ trương độc tài và gia đình trị, chính phủ Ngô Đình Diệm ngàycàng bị phản đối, chính quyền lâm vào khủng hoảng chính trị sâu sắc Chỉ sau 5 nămthiết lập nền Cộng hòa, giữa Mỹ và Diệm đã nổi lên những mâu thuẫn lớn Mỹ hoàntoàn không đồng ý đến cách lãnh đạo độc tài - gia đình trị của dòng họ Ngô, bêncạnh cặp đôi quyền lực bậc nhất “Diệm - Nhu” còn có thêm những bậc cận thân nhưNgô Đình Cẩn, Trần Lệ Xuân cũng thường xuyên can dự vào các vấn đề Chính trị

Mỹ thấy rõ sự chi phối của vợ chồng “ông cố vấn” là quá lớn và đã nhiều lần muốngạt cặp đôi này ra khỏi chính trường nhưng mỗi lần như vậy đều vấp phải sự phảnđối mãnh liệt của dòng họ Ngô, đặc biệt những phát biểu của bà Trần Lệ Xuân làmmất lòng và mất thể diện của người Mỹ, khiến cho Mỹ muốn tìm phương kế khác đểthoát khỏi bế tắc

Trong những năm 1959 - 1960, dưới ách đô hộ, kìm kẹp của chính quyền NgôĐình Diệm, phong trào Đồng Khởi của nhân dân miền Nam phát triển mạnh mẽ, làm

Trang 35

chủ nhiều thôn, xã, mở ra cục diện mới cho cách mạng miền Nam Mặt trận giảiphóng miền Nam Việt Nam ra đời, đưa cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân miềnNam giành thắng lợi từng bước, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn Đồng nghĩa vớiviệc, chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa phải đối mặt với những thất bại.

Trên mặt quân sự: Khi Kennedy lên cầm quyền ở Mỹ, ông ta tin rằng bằngchiến lược “chiến tranh đặc biệt” với kế hoạch nổi dậy, miền Nam Việt Nam sẽ trở lạithời kỳ ổn định, sự căng thẳng trong quan hệ Mỹ - Diệm tạm lắng xuống Nhưng đếnnăm 1962, mọi cố gắng của Mỹ - Diệm vẫn không ngăn được sự phát triển ngày cànglớn mạnh của lực lượng cách mạng, không hãm được đà xuống dốc của Việt NamCộng hòa Đặc biệt, tháng 01/1963, quân dân miền Nam đã giành chiến thắng vangdội ở Ấp Bắc - Mĩ Tho Chiến thắng Ấp Bắc chứng tỏ quân dân miền Nam có khảnăng đánh bại hoàn toàn chiến lược chiến tranh đặc biệt và chiến thuật “thiết xavận”, “trực thăng vận” của Mĩ - Ngụy và làm bùng lên phong trào “thi đua Ấp Bắc,giết giặc lập công ” trên khắp miền Nam Sự kiện Ấp Bắc làm chính giới Mỹ bànghoàng, lần đầu tiên Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đánh bại chiến lược “trựcthăng vận”, “thiết xạ vận” của Mỹ - Diệm, mở ra khả năng đánh bại hoàn toàn chiếnthuật chiến tranh được coi là hiện đại của Mỹ thời điểm này Sau chiến thắng ẤpBắc, hàng loạt các chiến dịch hành quân càn quét quy mô lớn, nhỏ của quân đội SàiGòn lần lượt bị thất bại, với số thương vong cao Năm 1962, quân giải phóng cùngvới nhân dân đã liên tiếp đánh bại nhiều cuộc hành quân càn quét của Ngụy vàochiến khu Đ, Tây Ninh, phía Bắc và Tây Bắc Sài Gòn

Những thất bại trên chiến trường của quân đội Việt Nam Cộng hòa cho thấykhả năng tác chiến của quân đội Sài Gòn còn rất hạn chế dù có cố vấn và trang bịhiện đại của Mỹ Thực tế trong năm 1963, để tăng cường khả năng quân sự và lấy lạitinh thần quân đội tiếp tục kế hoạch Staley - Taylor, lực lượng “quân đội Việt NamCộng hòa đã được gia tăng từ 210 000 lên 220 020 người thành lập những đơn vịmới trong phạm vi quân số được gia tăng” [9] Với lực lượng hùng hậu được tăngcường, phối hợp với Hải - Lục - Không quân, song “quân đội Sài Gòn đã phải gánhchịu những tổn thất nặng nề: nhân mạng 5611 tử thương; 11820 bị thương; mất tích3762”[9]

Trên mặt chính trị: Cùng với các thất bại về quân sự, quốc sách ấp chiến lược

Trang 36

của Mỹ - Diệm cũng gặp thất bại nặng nề Cuộc đấu tranh giữa ta và địch trong việclập và phá “ấp chiến lược” diễn ra gay go và quyết liệt Đến cuối năm 1962, gần

8000 ấp chiến lược với 70% nông dân toàn miền Nam vẫn còn do cách mạng kiểmsoát Nhân dân đã phá hoàn toàn 2.895 “ấp chiến lược” trong số 6.164 ấp do địch lập

ra, số còn lại đã bị phá đi phá lại 5.950 lần ấp Nhân dân cũng đã phá được thế kìmkẹp, giành quyền làm chủ ở 12.000 thôn trong tổng số 17.000 thôn toàn miền Nam,giải phóng hơn 5 triệu dân trong tổng số 14 triệu dân toàn miền Nam Hơn 1,5 triệu

ha trên tổng số 3,5 triệu ha ruộng đất đã về tay nông dân; hơn 23.000 thanh niên đãtòng quân Hàng nghìn “ấp chiến lược” đã biến thành làng chiến đấu [73, 497]

Đi đôi với cuộc đấu tranh về quân sự, phá “ấp chiến lược” là những cuộc đấutranh chính trị rộng lớn, mãnh liệt, thu hút mọi tầng lớp nhân dân tham gia Trongnăm 1963, toàn miền Nam có 34 triệu lượt người tham gia đấu tranh Chính trị Trongkhi liên tiếp thất bại trên chiến trường, tháng 5/1963 tình hình các đô thị miền Namtrở nên rất nóng bỏng Do tác động của đấu tranh vũ trang và phong trào phá “ấpchiến lược” ở các vùng nông thôn, phong trào đấu tranh chính trị của công nhân,nhân dân lao động, học sinh, sinh viên, tín đồ Phật giáo ở đô thị phát triển rộng khắp.Mỹ-Diệm lún sâu vào thế bị động, lúng túng, mâu thuẫn trong nội bộ chính quyềnSài Gòn càng thêm sâu sắc Nổi bật trong phong trào đô thị thời gian này là cuộc đấutranh của tín đồ Phật giáo Chế độ Ngô Đình Diệm đối đầu với phong trào đấu tranhcủa Phật giáo - sự kiện mở đầu cho phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân ởhầu hết các đô thị miền Nam Điển hình là cuộc đấu tranh ở Huế ngày 8/5/1963, 2vạn tăng ni, Phật tử ở Huế biểu tình phản đối chính quyền Diệm cấm treo cờ phật.Diệm đàn áp làm cho phong trào lan rộng khắp cả nước Ngày 11/6/1963, tại SàiGòn, hòa thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu để phản đối Diệm đàn áp Phật giáo,gây xúc động lớn trong mọi tầng lớp nhân dân, tác động đến cả ngụy quân, ngụyquyền Đỉnh cao của phong trào đấu tranh chính trị ở các đô thị miền Nam là cuộcxuống đường đấu tranh của 70 vạn nhân dân Sài Gòn ngày 16/6/1963, và cuộc tổngbãi khoá của học sinh, sinh viên Sài Gòn tháng 8/1963 Dư luận thế giới, đặc biệt là

dư luận Mỹ có những phản ứng gay gắt Họ đả kích Diệm và chỉ trích chính sách Mỹủng hộ Diệm Ngày 16/1963, 70 vạn quần chúng Sài Gòn biểu tình làm cho chế độ

Mĩ Diệm lay chuyển

Cuộc “khủng hoảng Phật giáo” giáng thêm một đòn mạnh vào chính sách thực

Trang 37

dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam đứng trước nguy cơ thất bại, Kennedy đãphải nghĩ tới việc thay thế Diệm Tháng 1/8/1963, Kennedy bổ nhiệm Henry CabotLodge làm đại sứ Mỹ tại Việt Nam Cộng hòa, ngày 22/8/1963 ông ta có mặt ở SàiGòn Tiếp ngay sau đó CIA Hoa Kỳ được tung vào kích động các phe phái, các nhómđối lập đả kích anh em Ngô Đình Diệm Các dân biểu, chính trị gia, tướng lĩnh quânđội Sài Gòn đưa kiến nghị, kêu gọi thống thiết trước dư luận thúc bách Diệm phải cải

tổ chính quyền Phong trào đấu tranh của Phật tử và đồng bào các đô thị miền Namtrong năm 1963 là giọt nước cuối cùng làm tràn ly nước đã đầy Mở đường chophong trào đấu tranh chính trị công khai hợp pháp ở miền Nam

Như vậy, đến cuối năm 1963, phong trào đấu tranh của nhân dân đã làm phásản kế hoạch Stalay - Taylo nhằm bình định miền Nam trong vòng 18 tháng, Quốcsách “ấp chiến lược” của địch, các chiến thuật “ trực thăng vận”, “thiết xa vận” bịđánh bại Cuộc đấu tranh của quần chúng ở các đô thị miền Nam trở thành cái cớ trựctiếp cho Mỹ công khai biện pháp “thay ngựa giữa đường”

Sau một năm rưỡi thực hiện kế hoạch Xtaley-Taylor vẫn không cứu vãn đượctình thế nguy ngập của ngụy quân, ngụy quyền, những thất bại của chính quyền NgôĐình Diệm trên nhiều lĩnh vực từ cuối năm 1960 và nhất là trong năm 1963 khiếncho nhiều chính khách Mỹ đặt lại vấn đề đòi thay đổi Diệm Đặc biệt, sau khi phongtrào đấu tranh của Phật tử và đồng bào các đô thị nổ ra, dư luận thế giới và dư luậnnhân dân Mỹ phê phán chính phủ Mỹ đã ủng hộ chế độc tài gia đình trị, chà đạp lên

tự do dân chủ Mỹ cho rằng nguyên nhân chính của tình hình đó là do bọn tay saiNgô Đình Diệm bất tài, bất lực Mâu thuẫn giữa Mỹ và tay sai trở nên gay gắt Trongnội bộ ngụy quyền, ngụy quân, mâu thuẫn cũng không thể dàn xếp được Năm 1963

do các tướng lĩnh Việt nam Cộng hòa bất mãn trước cách cai trị của chính quyền NgôĐình Diệm, muốn thực hiện đảo chính để chấm dứt cuộc khủng hoảng Phật giáo.Cuộc đảo chính được Mỹ ủng hộ do chính quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệmkhông thực hiện những thay đổi chính trị theo khuyến cáo của Mỹ dẫn đến mâuthuẫn với chính phủ Mỹ do đó Mỹ bật đèn xanh cho các tướng lĩnh đảo chính Một lý

do khác được quy kết nữa là vì chính phủ của ông chủ trương độc lập với người Mỹ,trong khi người Mỹ muốn kiểm soát chính phủ Việt Nam Cộng hòa Ngày 5/10/

1963, Kennedy phê duyệt gói cắt giảm chương trình viện trợ kinh tế cho chính quyền

Trang 38

Việt Nam Cộng hòa Những cắt giảm này là hành động thực thi cụ thể đầu tiên trongchương chiến lược „gây sức ép và thuyết phục’của Kennedy Sức ép của Mỹ đối vớichính quyền Ngô Đình Diệm được gia tăng, viện trở kinh tế bị cắt giảm Chínhquyền Diệm buộc phải thực hiện chính sách “thắt lưng buộc bụng”, giảm 30% lươngcông chức và binh lính Ở Sài Gòn, tướng lĩnh quân đội Việt Nam Cộng hòa lên kếhoạch đảo chính Ngày 5/10/1963, đặc vụ CIA Conein sau khi gặp Trần Văn Đôn,đến gặp Dương Văn Minh để nắm tình hình Ngày 28/10/1963, Trần Văn Đôn xácnhận hoàn tất kế hoạch đảo chính với Conein tại Bộ Tổng tham mưu quân đội SàiGòn.

Đối phó với tình hình, Diệm - Nhu một mặt tìm kiếm sự ủng hộ của chính phủ

Mỹ thống qua đại sứ Lodge Mặt khác Ngô Đình Nhu vạch ra kế hoạch đảo chính giảnhằm nhận diện và tiêu diệt lực lượng đảo chính Theo kế hoạch, Ngô Đình Nhu chocác lực lượng trung thành thực hiện cuộc đảo chính giả bằng việc tấn công một sốmục tiêu định sẵn, nhằm làm lộ diện lực lượng đảo chính thật Để sau đó tiêu diệtnhanh chóng bằng kế hoạch “phản đảo chính” Trưa ngày 1/11/1963, theo lời mờicủa Trần Thiện Khiêm quyền Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Việt Nam Cộng hòa,toàn bộ tướng lĩnh quân đội Sài Gòn tập trung tại Bộ Tổng Tham mưu Dương VănMinh cố vấn quân sự Phủ Tổng thống tuyên bố lực lượng quân đội tiến hành đảochính, quân cảnh lập tức bao vây văn phòng Bộ Tổng tham mưu Tướng lĩnh quânđội Sài Gòn, gồm cả tay chân của Ngô Đình Nhu bị khống chế, kế hoạch đảo chínhgiả thất bại Vào 13 giờ 30 chiều 1/11/1963, lực lượng đảo chính nổ súng, trong khiNgô Đình Nhu vẫn tỏ ra lạc quan và cho rằng kế hoạch đảo chính giả đang được thựchiện, lực lượng đảo chính đã nhanh chóng chiếm được các vị trí trọng yếu Đêm1/11/1963, Diệm - Nhu trốn khỏi dinh Gia Long, về ẩn náu tại nhà thờ Cha Tam (chợLớn) Vào 3 giờ sáng ngày 2/11/1963, đại tá Nguyễn Văn Thiệu tấn công dinh GiaLong và phát hiện anh em Diệm đã chạy trốn, nhưng sau đó Diệm đã liên lạc với lựclượng đảo chính và được đón về bằng xe thiết giáp Trên đường về Bộ Tổng Thammưu Diệm - Nhu bị sát hại Cuộc đảo chính do tướng lĩnh quân đội Việt Nam Cộnghòa thực hiện lật đổ chế độ Việt Nam Cộng hòa do Diệm cầm đầu ở miền Nam ViệtNam

Cuộc đảo chính đã làm cho chế độ tay sai thực dân mới Mỹ ở miền Nam ViệtNam sụp đổ, đây là sự thừa nhận thất bại của mô hình nhà nước thuộc địa kiểu mới

Trang 39

của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1955-1963) Tuy nhiên, cái chết của Ngô Đình Diệmtrong thời điểm Mỹ chưa tìm được “con bài” thay thế phù hợp đã làm cho chínhquyền tay sai Mỹ ở miền Nam Việt Nam rơi vào khủng hoảng trầm trọng.

***

Ngay từ khi Hội nghị Genevơ năm 1954 về Đông Dương còn đang trong quátrình đàm phán, Mỹ đã từng bước hiện thực âm mưu thiết lập chế độ thuộc địa thựcdân kiểu mới tại miền Nam Việt Nam, đưa Ngô Đình Diệm về làm Thủ tướng Quốcgia Việt Nam Từ khi lên nắm quyền ở miền Nam Việt Nam, Ngô Đình Diệm dưới sự

hỗ trợ của Mỹ đã từng bước thực hiện các biện pháp như tiến hành cưỡng bức đồngbào giáo dân miền Bắc di cư vào Nam, triệt tiêu các thế lực thân Pháp, tiến hành xâydựng các thế lực thân với chế độ Ngô Đình Diệm và cuối cùng là thực hiện cuộctrưng cầu dân ý để thành lập một Chính phủ Việt Nam Cộng hòa

Sau cuộc trưng cầu dân ý, Ngô Đình Diệm tuyên bố thành lập nền Cộng hòa,

và tự mình lên làm Tổng thống Ngày 26/10/1956, Ngô Đình Diệm ban hành Hiếnpháp Việt Nam Cộng hòa, ấn định triết lí chính trị của Quốc gia là thuyết Nhân vị,tạo ra một khung pháp lý cần thiết cho việc thiết lập một chế độ chuyên chế, quyềnlực tập trung vào Tổng thống Mặt khác, nhằm thâu tóm quyền lực vào tay mình,Ngô Đình Diệm cho thành lập một Đảng chính trị là Cần Lao Nhân vị Cách mạngĐảng và các tổ chức chính trị khác như Phong trào Cách mạng Quốc gia, Phong tràoLiên đới Phụ nữ Tiếp theo đó, Ngô Đình Diệm thực hiện hàng loạt các kế hoạchbình định nông thôn miền Nam, trong đó chính sách dinh điền, khu trù mật và ấpchiến lược, đây là những chính sách đóng vai trò quan trọng hàng đầu và được chínhquyền Ngô Đình Diệm xem là chìa khóa cho chiến thắng trước các lực lượng cáchmạng miền Nam Bên cạnh các chính sách về kinh tế, chính quyền Ngô Đình Diệmđẩy mạnh các chính sách độc tài về chính trị, văn hóa Từ đây, mâu thuẫn của ngườidân và chính quyền ngày càng trở nên sâu sắc, đưa đến những cuộc đấu tranh, biểutình chống lại chế độ

Có thể nói, trong khoảng thời gian 9 năm cầm quyền ở miền Nam Việt Nam,chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa đã thực hiện các chính sách có tác động đachiều đến tình hình miền Nam trên nhiều lĩnh vực Là một tổ chức chính trị lớn mạnhcủa chế độ, Đảng Cần Lao Nhân vị đã tham gia vào việc hoạch định các chính sáchcai trị miền Nam, phục vụ cho chế độ trong suốt quá trình tồn tại Hầu hết, cán bộ

Trang 40

Cần Lao và giáo dân Công giáo được đưa vào những chức vụ quan trọng và chủ chốttrong bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương Dẫn đến hậu quả gây ranhững mâu thuẫn không thể hàn gắn trong nội bộ chính quyền Kết quả là cuộc đảochính năm 1963 đã làm lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm - chế độ thực dân kiểu mớiđiển hình do Mỹ dựng lên ở miền Nam Việt Nam.

Ngày đăng: 02/09/2021, 16:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
19. Hồ sơ 5119, Công văn số 172/TTP/VP ngày 3/12/1957 của Tổng thống Phủ VNCH về những khóa huấn luyện Nhân vị năm 1958, PTT-ĐI, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 172/TTP/VP ngày 3/12/1957 của Tổng thống PhủVNCH về những khóa huấn luyện Nhân vị năm 1958
20. Hồ sơ 641, Hiến ước tạm thời của VNCH ngày 26/10/1955, PTT-ĐI, TTII 21. Hồ sơ 935, Tài liệuPT/TTM Bản tổng kết toàn thể quân số thuộc Hải-Lục-Không quân tính đến tháng 11-1956, PTT-ĐI, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến ước tạm thời của VNCH ngày 26/10/1955", PTT-ĐI, TTII21. Hồ sơ 935, "Tài liệuPT/TTM Bản tổng kết toàn thể quân số thuộc Hải-Lục-"Không quân tính đến tháng 11-1956
22. Hồ sơ số 125, Tài liệu nghiên cứu của HĐQNCM về tờ trình của nhân viên tình báo gửi cố vấn Ngô Đình Nhu về các hoạt động gián điệp 1960 - 1963, Phông HĐQNCM, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu của HĐQNCM về tờ trình của nhân viêntình báo gửi cố vấn Ngô Đình Nhu về các hoạt động gián điệp 1960 - 1963
23. Hồ sơ số 13099, Hồ sơ Trần Kim Tuyến - giám đốc sở Nghiên cứu Chính trị - xã hội, phông Thủ tướng VNCH (1954 - 1975), TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ Trần Kim Tuyến - giám đốc sở Nghiên cứu Chính trị -xã hội
24. Hồ sơ số 14685, Hồ sơ hoạt động, trợ cấp cho các lực lượng giáo phái và sáp nhập vào quân đội Quốc gia Việt Nam năm 1953- 1955, phông Thủ tướng VNCH (1954 - 1975), TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ hoạt động, trợ cấp cho các lực lượng giáo phái và sápnhập vào quân đội Quốc gia Việt Nam năm 1953- 1955
25. Hồ sơ số 188, Tài liệu nghiên cứu của HĐQNCM về tổ chức và hoạt động của Đảng Cần Lao Nhân vị năm 1956 - 1964, Phông HĐQNCM, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu của HĐQNCM về tổ chức và hoạt độngcủa Đảng Cần Lao Nhân vị năm 1956 - 1964
26. Hồ sơ số 22032, Tài liệu ông Huỳnh Văn Lang đệ trình tổng thống về vấn đề Kinh tế- tài chính năm 1956, PTT-ĐI, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu ông Huỳnh Văn Lang đệ trình tổng thống về vấn đềKinh tế- tài chính năm 1956
27. Hồ sơ số 29361, Hồ sơ hoạt động của Đảng Cần Lao năm 1953 - 1964 , phông Thủ tướng VNCH (1954 - 1975), TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ hoạt động của Đảng Cần Lao năm 1953 - 1964
29. Hồ sơ số 3916, Tổ chức chính phủ Ngô Đình Diệm 1955 - 1958, phông Thủ tướng VNCH (1954 - 1975), TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức chính phủ Ngô Đình Diệm 1955 - 1958
30. Hồ sơ số 7749, Sở khai thác địa hình về tổ chức và hoạt động các lực lượng nhân dân võ trang chiến đấu năm 1962, PTT-ĐI, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở khai thác địa hình về tổ chức và hoạt động các lực lượngnhân dân võ trang chiến đấu năm 1962
31. Hồ sơ số 83, Tài liệu nghiên cứu của HĐQNCM về tờ trình của đại tá Lê Quang Trung về hoạt động lực lượng đặc biệt năm 1963, Phông HĐQNCM, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu của HĐQNCM về tờ trình của đại tá LêQuang Trung về hoạt động lực lượng đặc biệt năm 1963
32. Hồ sơ số 92, Hồ sơ điều tra các quân nhân thân tín của Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu có hành vi chống đối cuộc cách mạng ngày 1/11/1963, Phông HĐQNCM, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ điều tra các quân nhân thân tín của Ngô Đình Diệm - NgôĐình Nhu có hành vi chống đối cuộc cách mạng ngày 1/11/1963
33. Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh (1995), Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước: thắng lợi và bài học, Nxb CTQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết cuộc kháng chiến chốngMỹ cứu nước: thắng lợi và bài học
Tác giả: Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
34. Bộ quốc phòng (2013), lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954- 1975, tập II, nxb Chính Trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954- 1975
Tác giả: Bộ quốc phòng
Nhà XB: nxb Chính Trị
Năm: 2013
35. Phạm Xuân Cầu (1958), Nhân vị chủ nghĩa, Vn 275, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân vị chủ nghĩa
Tác giả: Phạm Xuân Cầu
Năm: 1958
36. Lê Cung (2001), Phong trào đô thị Huế trong kháng chiến chống Hoa Kỳ (1954 - 1975), Nxb Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào đô thị Huế trong kháng chiến chống Hoa Kỳ(1954 - 1975)
Tác giả: Lê Cung
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2001
37. Lê Cung (2003), Phong trào Phật giáo miền Nam năm 1963, NXB Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào Phật giáo miền Nam năm 1963
Tác giả: Lê Cung
Nhà XB: NXB ThuậnHóa
Năm: 2003
38. Trương Văn Chung (2013), Nhìn lại phong trào Phật giáo miền Nam năm 1963, NXB Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại phong trào Phật giáo miền Nam năm1963
Tác giả: Trương Văn Chung
Nhà XB: NXB Phương Đông
Năm: 2013
39. Lê Duẩn (1970), Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi lớn, Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩaxã hội, tiến lên giành những thắng lợi lớn
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1970
40. Lê Duẫn (2015), Thư vào Nam, Nxb Tổng hợp-TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thư vào Nam
Tác giả: Lê Duẫn
Nhà XB: Nxb Tổng hợp-TP.HCM
Năm: 2015

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng-đồn Chánh-quỵín - Cần lao nhân vị cách mạng đảng trong chính thể đệ nhất việt nam cộng hòa
ng đồn Chánh-quỵín (Trang 96)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w