1.1. Khái niệm dân tộc Hiện nay, khái niệm dân tộc thường được hiểu theo hai nghĩa phổ biến như sau: Thứ nhất, dân tộc (tộc người) là một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung nguồn gốc, đặc điểm sinh hoạt kinh tế, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặc thù, có ý thức tự giác tộc người. Ví dụ: dân tộc Kinh (Việt), dân tộc Tày, dân tộc Thái ở Việt Nam… Thứ hai, dân tộc (quốc gia dân tộc) là một cộng đồng người ổn định được hình thành trong lịch sử; trên cơ sở cộng đồng về lãnh thổ, ngôn ngữ, kinh tế, văn hoá, có chung ý thức về dân tộc và tên tự gọi của dân tộc mình. Ví dụ: dân tộc Việt Nam (có 54 tộc người), dân tộc Trung Hoa, dân tộc Lào… Dân tộc là cộng đồng người bao gồm nhiều thành phần, tộc người sinh sống trong một quốc gia mang tính ổn định và có sự cấu kết bền vững. Tính ổn định, bền vững đó được xác định trên các cơ sở: Cùng chung một lãnh thổ, cùng nhau lao động sản xuất để phát triển. Dân tộc có chung một phương thức sản xuất sinh hoạt kinh tế, cộng đồng về kinh tế là cơ sở liên kết các bộ phận, các thành viên của dân tộc lại, tạo nền tảng vững chắc của dân tộc. Dân tộc có ngôn ngữ chung làm công cụ giao tiếp giữa các thành viên của cộng đồng trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, tình cảm… Dân tộc có chung một nền văn hoá, tinh thần, phản ánh sự ổn định, bản sắc văn hoá truyền thống của mỗi dân tộc.
Trang 1BÀI THU HOẠCH HẾT HỌC PHẦN Chương trình Trung cấp lý luận chính trị - hành chính
CHỦ ĐỀ: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ NIN
VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC TẠI TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY
Họ tên học viên:
Lớp:
Phần: Đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về các lĩnh vực của đời sống xã hội
, năm 2021
Trang 2Phần 1 Dân tộc và vấn đề dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê Nin
1.1 Khái niệm dân tộc
Hiện nay, khái niệm dân tộc thường được hiểu theo hai nghĩa phổ biến như sau:
Thứ nhất, dân tộc (tộc người) là một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung nguồn gốc, đặc điểm sinh hoạt kinh tế, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặc thù, có ý thức tự giác tộc người Ví dụ: dân tộc Kinh (Việt), dân tộc Tày, dân tộc Thái ở Việt Nam…
Thứ hai, dân tộc (quốc gia dân tộc) là một cộng đồng người ổn định được hình thành trong lịch sử; trên cơ sở cộng đồng về lãnh thổ, ngôn ngữ, kinh tế, văn hoá, có chung ý thức về dân tộc và tên tự gọi của dân tộc mình Ví dụ: dân tộc Việt Nam (có 54 tộc người), dân tộc Trung Hoa, dân tộc Lào…
Dân tộc là cộng đồng người bao gồm nhiều thành phần, tộc người sinh sống trong một quốc gia mang tính ổn định và có sự cấu kết bền vững Tính ổn định, bền vững đó được xác định trên các cơ sở: Cùng chung một lãnh thổ, cùng nhau lao động sản xuất để phát triển Dân tộc có chung một phương thức sản xuất sinh hoạt kinh tế, cộng đồng về kinh tế là cơ sở liên kết các bộ phận, các thành viên của dân tộc lại, tạo nền tảng vững chắc của dân tộc Dân tộc có ngôn ngữ chung làm công cụ giao tiếp giữa các thành viên của cộng đồng trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, tình cảm… Dân tộc có chung một nền văn hoá, tinh thần, phản ánh sự ổn định, bản sắc văn hoá truyền thống của mỗi dân tộc
1.2 Vấn đề dân tộc, và giải quyết vấn đề dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê Nin
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin: Vấn đề dân tộc vừa là vấn đề sống còn trước mắt, vừa là vấn đề cơ bản, quan trọng, lâu dài trong suốt tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa
Vấn đề dân tộc là vấn đề chiến lược của cách mạng xã hội chủ nghĩa trước hết được thể hiện ở chỗ, giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc sẽ tạo ra một động
Trang 3lực cách mạng to lớn để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Vấn đề dân tộc là vấn đề chiến lược còn được thể hiện ở chỗ là, trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp luôn luôn gắn bó chặt chẽ với nhau Cách mạng xã hội chủ nghĩa trước hết là cuộc cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động nhằm đánh đổ và thủ tiêu giai cấp tư sản và chế độ tư bản chủ nghĩa Nhưng mục đích của cuộc cách mạng đó không chỉ dừng lại ở chỗ giải phóng giai cấp công nhân, mà còn là giải phóng các dân tộc và toàn thể nhân dân lao động
Thực chất giải quyết vấn đề dân tộc: Là giải quyết lợi ích hài hòa giữa các dân tộc: tức là xác lập những quan hệ công bằng, bình đẳng giữa các tộc người trong một quốc gia, giữa các quốc gia dân tộc về các lĩnh vực lãnh thổ, kinh tế,
xã hội, sinh hoạt văn hóa ngôn ngữ và những vấn đề đó thường gắn liền với lợi ích giai cấp và do đó cách thức giải quyết vấn đề dân tộc trong các phong trào dân tộc đều mang tính giai cấp sâu sắc V.I Lê – Nin đã khẳng định; “Hãy xóa
bỏ nạn người bóc lột người thì nạn dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ”
1.3 Những nguyên tắc giải quyết vấn đề dân tộc
* Một là tuân thủ cương lĩnh dân tộc của Lênin
-Thứ nhất, các dân tộc đều có quyền bình đẳng
Các dân tộc có quyền bình đẳng có nghĩa là: Các dân tộc dù lớn hay nhỏ,
ở các trình độ phát triển khác nhau đều có quyền bình đẳng như nhau trong mọi mối quan hệ; đều có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau; không một dân tộc nào được giữ đặc quyền đặc lợi và đi áp bức dân tộc khác Thực chất của bình đẳng dân tộc là xoá bỏ nạn nô dịch của dân tộc này đối với dân tộc khác,
để trên cơ sở đó mà dần dần xoá bỏ sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc, và để các dân tộc được tham gia bình đẳng vào các hoạt động của cộng đồng quốc gia và quốc tế
- Thứ hai, các dân tộc đều có quyền tự quyết.
Trang 4Quyền tự quyết là quyền làm chủ của mỗi dân tộc đối với vận mệnh dân
tộc mình, quyền tự quyết định chế độ chính trị – xã hội và con đường phát triển của dân tộc mình
- Thứ ba, đoàn kết giai cấp công nhân các dân tộc.
Đây là một nội dung cơ bản trong cương lĩnh dân tộc của Lênin Nó phản
ánh bản chất quốc tế của phong trào công nhân, phản ánh sự thống nhất giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp Nó đảm bảo cho phong trào dân tộc có đủ sức mạnh để giành thắng lợi Để chiến thắng các thế lực áp bức, bóc lột, một tất yếu khách quan là phải tổ chức sự liên minh giai cấp công nhân các dân tộc trong từng quốc gia cũng như trên phạm vi thế giới
* Hai là giải quyết đúng đắn mối quan hệ dân tộc và giai cấp
Để giải quyết tốt vấn đề dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa thì nhất thiết phải giải quyết đúng đắn, khoa học mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp.Tuy nhiên, tính độc lập tương đối và sự tác động trở lại của dân tộc đối với giai cấp cũng có giá trị thực tiễn to lớn, đó là: Sự tồn tại và tác động của các yếu
tố tâm lý, tình cảm, ý thức dân tộc nói riêng và truyền thống văn hoá nói chung, nhất là các yếu tố thuộc phong tục, tập quán; trong một số khu vực địa lý – dân
cư còn có một số dân tộc – tộc người còn ở tình trạng phân hoá xã hội – giai cấp
ở mức thấp, nhưng nơi đó yếu tố dân tộc giữ vai trò nổi trội; các yếu tố của quá trình phát triển tộc người thường xuyên tác động đến quá trình phát triển kinh tế – xã hội và các quan hệ giai cấp trong các quốc gia, dân tộc cụ thể
* Ba là Kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc
tế của giai cấp công nhân
Cuộc cách mạng ở đó trong từng nước lại vừa đồng thời giải quyết hai vấn
đề có quan hệ chặt chẽ với nhau là vấn đề giải phóng dân tộc và vấn đề giải phóng giai cấp
Phần 2: Quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước, thực tiễn tại tỉnh Bình Phước
2.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc
Trang 5Trong bất cứ hoàn cảnh nào, giai đoạn nào của cách mạng, Đảng cộng sản Việt Nam luôn coi vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam Quan điểm, chủ trương đó được thể hiện trên một số nội dung cơ bản sau:
Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc
Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh - quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi ; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết
các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc ; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực ; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất
Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi,
trước hết, tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xóa đói, giảm nghèo ; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo
vệ bền vững môi trường sinh thái ; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước
Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị
Đảng ta luôn khẳng định: “Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự
nghiệp cách mạng của nước ta Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng bảo vệ và tổ quốc ví dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
2.2 Thực tiễn thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước tại tỉnh Bình Phước
Trang 62.2.1 Những kết quả đạt được:
Là một tỉnh miền núi thuộc miền Đông Nam bộ, có diện tích tự nhiên là 6.876,76 km2, dân số là 997.766 khẩu, trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số có 193.860 khẩu, chiếm 20,14% dân số toàn tỉnh; 41 dân tộc sinh sống phân tán, đann xen trên địa bàn 111 xã, phường, thị trấn của 11 huyện, thị xã, thành phố, chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp, tập trung ở những địa bàn miền núi, vùng sâu, biên giới (15 xã biên giới, thuộc 03 huyện Lộc Ninh, Bù Đốp, Bù Gia Mập).Trong những năm qua, Hệ thống chính trị tỉnh Bình Phước luôn quan tâm
và tập trung mọi nguồn lực thực hiện tốt các chính sách dân tộc
Việc triển khai sớm các chương trình, chính sách, dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBDTTS đã đem lại hiệu quả rõ rệt Đặc biệt, chương trình giảm 1.000 hộ nghèo là ĐBDTTS phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng, nhận được sự đồng tình ủng hộ của bà con Kết quả về giảm nghèo năm 2020, cả tỉnh giảm được 1.755 hộ ĐBDTTS nghèo, chiếm 56,20% tổng số hộ giảm nghèo của năm Nhiều chính sách về công tác dân tộc của trung ương và chính sách đặc thù của tỉnh được triển khai hiệu quả.1
Tính riêng năm 2020, Quỹ “Vì người nghèo” tỉnh hỗ trợ xây dựng 719 căn nhà đại đoàn kết với tổng trị giá khoảng 57,52 tỷ đồng cho 8 huyện, thị xã Trong đó, dự kiến hỗ trợ chương trình xóa 1.000 hộ nghèo DTTS sẽ xây dựng
451 căn nhà Bên cạnh đó, các chương trình như hỗ trợ nhà vệ sinh, nước sinh hoạt, điện lưới, vay vốn chính sách đến tạo việc làm cũng được thực hiện đồng thời và mang lại hiệu quả thiết thực Tính đến tháng 9-2020, toàn tỉnh đã hỗ trợ 190/511 nhà vệ sinh; 220/574 hộ có nhu cầu nước sinh hoạt; hỗ trợ kéo điện cho 20/413 hộ; 33/497 cái tivi; vay vốn ưu đãi tín dụng từ Ngân hàng Chính sách xã hội 146/192 hộ; tạo việc làm cho 782/1.629 nhu cầu
Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ người ĐBDTTS cũng là một điểm nhấn trong công tác dân tộc những năm qua ở tỉnh Bình Phước Đặc biệt, vai trò của người có uy tín, già làng được phát huy Các vấn đề chính đáng trong đời sống, sản xuất được quan tâm giải quyết, chính sách hỗ trợ ảnh hưởng của
1 https://binhphuoc.gov.vn/vi/news/tin-noi-bat/nhieu-ket-qua-noi-bat-trong-cong-tac-dan-toc-o-binh-phuoc-24042.html
Trang 7dịch bệnh Covid-19 được thực hiện kịp thời Nhìn chung, Đời sống của ĐBDTTS có nhiều thay đổi tích cực về mọi mặt, diện mạo nông thôn vùng ĐBDTTS ngày càng đổi mới, khối đại đoàn kết các dân tộc được giữ vững
2.2.2 Hạn chế và nguyên nhân:
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện chính sách dân tộc và đoàn kết dân tộc ở Phước còn một số hạn chế, đó là
Một là, việc quán triệt chính sách đoàn kết các dân tộc của Đảng, Nhà nước
ở tỉnh Bình Phước hiện nay có lúc chưa kịp thời; nhận thức trách nhiệm của một
bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa thật sâu sắc
Trong những năm qua, công tác tuyên truyền giáo dục được các cấp, các ngành trong tỉnh tích cực triển khai nghiêm túc, chặt chẽ Tuy nhiên, việc thực hiện vẫn còn thiếu thống nhất, đồng bộ; tuyên truyền có lức chưa thường xuyên, hiệu quả còn thấp dẫn đến sự quan tâm của nhân dân đến hoạt động chung của đời sống xã hội còn thấp Ở đây, một vài địa phương, một số cán bộ vẫn còn nhận thức
và cho rằng việc đi vận động nhân dân các dân tộc là nhiệm vụ của đội ngũ làm công tác dân vận, dân tộc, và của mặt trận tổ quốc các cấp
Hai là, việc thực hiện các chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh còn nhiều khó
khăn vướng mắc như : Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề chưa phù hợp với điều kiện
thực tế của đồng bào nên đa số các đối tượng thụ hưởng không đăng ký tham gia và
một số chính sách hỗ trợ chưa được thực hiện Theo Báo cáo Ủy ban nhân dân
tỉnh, toàn tỉnh có 3.625 hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất, với tổng diện tích dự kiến 2.258 ha Thế nhưng hiện nay, việc quy hoạch đất để hỗ trợ theo các chính sách đang gặp nhiều khó khăn Ủy ban nhân dân các huyện báo cáo không còn quỹ đất sản xuất (đất sạch) để hỗ trợ, trong khi đó, các hộ đồng bào rất cần sự hỗ trợ đất sản xuất để ổn định cuộc sống
Ba là, tổ chức hoạt động xây dựng đoàn kết dân tộc trên địa bàn tỉnh Bình Phước hiện nay có lúc hiệu quả chưa cao, chưa thật sát hợp với thực tiễn
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” một số nơi hoạt động còn hình thức Việc tập hợp các tầng lớp nhân dân vào các tổ chức đoàn - hội chiếm tỷ lệ thấp, đặc biệt là tổ chức đoàn thanh
Trang 8niên Theo Ủy Ban nhân dân tỉnh Bình Phước tổng số thanh niên công nhân trong các khu, cụm công nghiệp của tỉnh là 11.239 lao động trong độ tuổi thanh niên nhưng gần như các tổ chức chưa thể tiếp cận và tập hợp các đối tượng thanh niên vào tổ chức đoàn, hội để chăm lo, rèn luyện giáo dục chính trị, tư tưởng cho lực lượng hùng hậu này
Bình Phước là tỉnh “đất rộng, người thưa”, tiềm năng kinh tế và tài nguyên dồi dào Tuy nhiên, việc chủ động, sáng tạo, nhân rộng các mô hình để nâng cao hiệu quả sản xuất, chuyển đổi cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp còn nhiều hạn chế; hoạt động của các cấp các ngành của tỉnh có lúc vẫn còn lúng túng trong việc ổn định sắp xếp dân di cư tự do, số dân đến trước chưa được giải quyết thì số dân mới đến không ngừng gia tăng gây áp lực rất lớn trong phát triển kinh tế - xã hội cũng như giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa các dân tộc trong tỉnh hiện nay
* Nguyên nhân của những hạn chế
Ở một số địa phương cơ sở, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các
tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế, năng lực điều hành của chính quyền còn yếu kém, thiếu năng động dẫn đến sự thiếu đồng bộ trong tổ chức thực hiện chính sách đoàn kết các dân tộc Một số cán bộ, đảng viên là cán bộ chủ chốt
ở địa phương chưa thật sự gương mẫu, còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Đảng và Nhà nước;
Một bộ phận đồng bào các dân tộc ở Bình Phước còn có tâm lý tự ti, chưa có nhiều cố gắng vươn lên, đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số còn thiếu và yếu về chuyên môn, trình độ Bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ người Kinh vẫn còn tư tưởng dân tộc lớn, áp đặt đối với đồng bào dân tộc thiểu số; hẹp hòi không giúp đỡ, không thực sự tôn trọng dân tộc thiểu số, tạo ra bất bình đẳng trong quan hệ giữa các dân tộc Một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số vẫn thụ động nên có tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự bao cấp của Nhà nước, giảm sút ý thức tự lực, tự vươn lên trong phát triển, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của mình
Mặc dù được Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị cơ sở rất quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ, nhưng do điều kiện địa lý phức tạp nên việc phát triển kinh tế
Trang 9-xã hội, giao lưu, quan hệ của các tộc người ở Bình Phước hạn chế nên trình độ
phát triển kinh tế - xã hội và phân công lao động xã hội ở Bình Phước diễn ra
muộn hơn so với các vùng khác; các tộc người có phong tục, tập quán khác nhau, trình độ phát triển khá chênh lệch, nên đời sống đồng bào nói chung, đồng bào các dân tộc thiểu số trong tỉnh còn nhiều khó khăn đã ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện đoàn kết các dân tộc của địa phương
Hiện nay các thế lực thù địch đang đẩy mạnh chiến lược “Diến biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, đặc biệt Bình Phước là tỉnh giáp với biên giới Campuchia,
và Tây Nguyên - nơi được coi là thủ phủ của cái gọi là “Nhà nước Đề Ga tự trị” nên những mầm mống bất ổn trong mối quan hệ giữa các dân tộc luôn hiện hữu trong cộng đồng dân cư
Phần 3: Giải pháp thực hiện chính sách dân tộc và đoàn kết các dân tộc ở tỉnh Bình Phước hiện nay
Một là, đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ,
đảng viên, lãnh đạo các cấp, các ngành và đồng bào dân tộc thiểu số về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với công tác giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số
và miền núi Đổi mới hơn nữa nội dung thông tin, tuyên truyền, bảo đảm thiết thực, hiệu quả, để đồng bào hiểu rõ mục đích, ý nghĩa và tin tưởng thực hiện chính sách giảm nghèo; nhân rộng mô hình điển hình tiên tiến, đồng thời khơi dậy truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, ý chí tự lực, tự cường, nỗ lực vươn lên thoát nghèo bền vững, làm giàu chính đáng Phát huy vai trò tích cực của già làng, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số trong công tác tuyên truyền, vận động quần chúng
Hai là, Phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong thực hiện đoàn
kết các dân tộc ở tỉnh Bình Phước hiện nay
Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng và cấp bách, tác động trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả việc thực hiện đoàn kết các dân tộc ở Bình Phước hiện nay Hệ thống chính trị cơ sở không những là nơi trực tiếp tuyên truyền, giáo dục, đưa đường lối, chủ trương, chính sách đoàn kết của Đảng, Nhà nước đến với nhân dân, mà còn trực tiếp lãnh đạo, quản lý, tổ chức, triển khai, vận động và cùng với nhân dân các dân tộc thực hiện
Trang 10Ba là, Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế xã - hội, kịp thời phát hiện và
giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực hiện đoàn kết các dân tộc ở tỉnh Bình Phước hiện nay
Suy cho cùng các hoạt động thực hiện đoàn kết các dân tộc là để đạt được hai mục đích quan trọng đó là đoàn kết đồng bào và nâng cao đời sống đồng bào Thực hiện tốt các chương trình phát triển kinh tế - xã hội chính là tạo ra những tiền đề vật chất, yếu tố suy đến cùng quyết định đến chất lượng và hiệu quả của việc thực hiện đoàn kết dân tộc; chỉ khi nào kinh tế- xã hội phát triển, đời sống mọi mặt của đồng bào được đảm bảo trên thực tế thì đồng bào mới thật sự tin tưởng vào Đảng, Nhà nước Do đó, thực hiện tốt các chương trình phát triển kinh
tế - xã hội, kịp thời giải quyết những vấn đề gây mất đoàn kết trong đồng bào các dân tộc mới có cơ sở xây dựng khối đoàn kết các dân tộc ngày càng bền chặt,
“không gì phá vỡ nổi” Hiện nay, cần tập trung giải quyết những vấn đề bức
thiết về đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số, như: tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt; thực hiện các giải pháp hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo sinh kế như: Hỗ trợ trồng rừng, bảo vệ rừng; hỗ trợ phát triển sản xuất, xác định
cơ cấu cây trồng, vật nuôi chủ lực để sản xuất hàng hóa tập trung, tạo ra các sản phẩm có giá trị cao; kết nối tiêu thụ hàng hóa giữa vùng dân tộc thiểu số với thị trường trong nước và quốc tế để đồng bào ổn định cuộc sống; đồng thời, chú trọng việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao vùng dân tộc thiểu số và miền núi trong nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững
KẾT LUẬN
Dân tộc là một vấn đề lớn đối với mỗi quốc gia cũng như phạm vi quốc tế Việc giải quyết tốt hoặc không tốt ảnh hưởng đến sự ổn định hay tan rã của một quốc gia dân tộc Chính vì vậy đòi hỏi các nước xã hội chủ nghĩa nói chung và nước ta nói riêng cần phải quán triệt và thực hiện nhất quán cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin, đề ra chính sách dân tộc một cách đúng đắn, hiệu quả góp phần thúc đẩy sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa đi đến thắng lợi cuối cùng Trong tất cả các quan hệ xã hội phong phú và phức tạp giữa người và người, quan hệ giai cấp và quan hệ dân tộc có tác động mạnh mẽ, sâu sắc đến sự định