1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bài thu hoạch TCCT phát triển kinh tế số ở việt nam lý luận và thực tiễn tại huyện chơn thành

15 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 47,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay nền kinh tế thế giới đang thay đổi một cách sâu rộng dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Hoạt động kinh tế không chỉ là việc trao đổi hàng hóa một cách đơn thuần mà được dựa trên nền tảng kỹ thuật số, đó chính là nền kinh tế số (còn được gọi là kinh tế web, kinh tế internet hay kinh tế mới). Theo các nhà nghiên cứu, kinh tế số là “một nền kinh tế vận hành chủ yếu dựa trên công nghệ số”, đặc biệt là các giao dịch điện tử tiến hành thông qua Internet. Kinh tế số bao gồm tất cả các lĩnh vực và nền kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; sản xuất, phân phối, lưu thông hàng hóa, giao thông vận tải, logistic, tài chính ngân hàng...) mà công nghệ số được áp dụng. Về bản chất, đây là các mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của nền kinh tế dựa trên ứng dụng công nghệ số, như các trang thương mại điện tử, quảng cáo trực tuyến hay các ứng dụng về ăn uống, vận chuyển...

Trang 1

TRƯỜNG CHÍNH TRỊ

*

BÀI THU HOẠCH HẾT HỌC PHẦN Chương trình Trung cấp lý luận chính trị - hành chính

CHỦ ĐỀ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ

Ở VIỆT NAM – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TẠI HUYỆN CHƠN THÀNH

Họ tên học viên:

Lớp:……….,……….

Phần:………

Bình Phước, năm 2021

Trang 2

Hiện nay nền kinh tế thế giới đang thay đổi một cách sâu rộng dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư Hoạt động kinh tế không chỉ

là việc trao đổi hàng hóa một cách đơn thuần mà được dựa trên nền tảng kỹ thuật số, đó chính là nền kinh tế số (còn được gọi là kinh tế web, kinh

tế internet hay kinh tế mới) Theo các nhà nghiên cứu, kinh tế số là “một nền

kinh tế vận hành chủ yếu dựa trên công nghệ số”, đặc biệt là các giao dịch

điện tử tiến hành thông qua Internet Kinh tế số bao gồm tất cả các lĩnh vực và nền kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; sản xuất, phân phối, lưu thông hàng hóa, giao thông vận tải, logistic, tài chính ngân hàng ) mà công nghệ

số được áp dụng Về bản chất, đây là các mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của nền kinh tế dựa trên ứng dụng công nghệ số, như các trang thương mại điện tử, quảng cáo trực tuyến hay các ứng dụng về ăn uống, vận chuyển

Trong 10 năm qua, kinh tế số Việt Nam đã phát triển nhanh chóng cả nền tảng hạ tầng lẫn thị trường kinh doanh Với dân số gần 100 triệu người, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế số ở mức khá trong khu vực ASEAN Việt Nam đã ghi nhận sự xuất hiện xu hướng

số hóa ở nhiều lĩnh vực, ngành kinh tế, từ thương mại, thanh toán cho đến giao thông, giáo dục, y tế Phát triển kinh tế số sẽ nâng quy mô và tốc độ tăng trưởng cho nền kinh tế, vì đây là cách thức tốt nhất để tăng năng suất lao động -một yếu tố mà Việt Nam còn thấp so với các nước trong khu vực Bên cạnh đó, kinh tế số còn làm cho nền kinh tế thay đổi phương thức sản xuất (nguồn lực, hạ tầng, cách thức vận hành sản xuất kinh doanh) và thay đổi cấu trúc kinh tế Trong đó, đáng chú ý là bên cạnh các nguồn lực truyền thống, đã xuất hiện nguồn lực phát triển mới là tài nguyên số, của cải số Quyền lực tài chính đang dần chuyển sang quyền lực thông tin Sức mạnh của một quốc gia được đo bằng

sự phát triển của công nghệ cao, thông tin và trí tuệ con người Ngoài ra, kinh tế

số cũng giúp tăng trưởng bền vững hơn, bởi phát triển công nghệ sẽ cho những

Trang 3

giải pháp tốt, hiệu quả hơn đối với việc sử dụng tài nguyên, xử lý các vấn đề ô nhiễm môi trường Đồng thời, với chi phí tham gia thấp và dễ tiếp cận, kinh tế

số cũng tạo ra cơ hội cho nhiều người hơn, cho mọi thành phần và khu vực, qua

đó góp phần làm giảm khoảng cách giàu nghèo, giải quyết các vấn đề xã hội

Do đó, nghiên cứu vấn đề “Phát triển kinh tế số ở Việt Nam - lý luận và thực

tiễn tại huyện Chơn Thành” làm đề tài tiểu luận có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

sâu sắc

Trang 4

NỘI DUNG Phần 1 Cơ sở lý luận phát triển kinh tế số ở Việt Nam

1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin

Hơn một thế kỷ rưỡi trước đây, C Mác và Ph.Ăngghen đã dự báo rằng, trong nền văn minh mới của nhân loại, khoa học và công nghệ sẽ phát triển như

vũ bão, nó sẽ tạo ra những đột biến đáng kể trong lực lượng sản xuất; các thế hệ máy móc mà nền công nghiệp cơ khí tạo ra sẽ không còn chỗ đứng bởi sự xuất hiện những loại máy móc đặc biệt tinh khôn, có thể thay thế sức lao động của hàng trăm con người và những dây chuyền được coi là hiện đại nhất để làm ra khối lượng sản phẩm hàng hóa khổng lồ với giá thành rẻ nhất, nhưng chất lượng tốt nhất

Theo C Mác và Ph.Ăngghen, những phát minh mới do con người tạo ra và chính nó đưa loài người bước vào kỷ nguyên mới, mà ở đó, sẽ xuất hiện những điều khác biệt đến mức đặc biệt phức tạp, mà ngay những người phát minh ra nó cũng không thể đoán định, lường hết những ưu thế, sức mạnh và tác hại do nó tạo ra [1, tr.189]

Thực tiễn sản xuất xã hội sản sinh ra những công cụ lao động mới nhờ sự phát triển vượt bậc của khoa học, kỹ thuật và công nghệ; song nó cũng đặt ra những vấn đề mới đòi hỏi các nhà triết học - khoa học tự nhiên phải có cách nhìn mới và sự giải thích cặn kẽ nguyên nhân xuất hiện các vấn đề mới trên lập trường duy vật biện chứng - không có cách nào khác; bởi lẽ, đứng trước phép biện chứng duy vật thì mọi sự vật, hiện tượng đều vận động và phát triển theo quy luật vốn có của nó và do đó, khoa học và công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thay thế sức mạnh của con người trong khám phá, chinh phục thế giới, cũng là một lẽ đương nhiên Điều đó buộc chúng ta phải nhận thức đúng và có lời giải đáp

Với cách nhìn như vậy, sự xuất hiện cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (4.0) với sự thay đổi mang tính bước ngoặt, làm đảo lộn tất cả quan điểm, cách nhìn nhận cũ của con người về thế giới đương đại và những điều tất yếu mà nó

Trang 5

tạo ra với những chuyển biến, những xáo trộn chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại cũng là một lẽ đương nhiên Vấn đề là chúng ta nhận thức quy luật vận động, phát triển của nó đến đâu và cách ứng xử như thế nào cho phù hợp

1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta

Tại các văn kiện Đại hội XI, XII, khái niệm kinh tế số chưa được nhắc đến, thay vào đó là khái niệm kinh tế tri thức Thế nhưng ở các Dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIII, kinh tế số đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong cả mục tiêu lẫn chiến lược Từ kinh tế tri thức tới kinh tế số là một bước chuyển đổi mang tính rõ ràng, cụ thể hơn, dễ định lượng và dễ thực hiện, phù hợp với xu thế hơn

Với ý nghĩa đó, Đại hội Đảng lần thứ XIII đã nhất trí thông qua Nghị quyết của Đại hội, khẳng định rõ “đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế là một khâu đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội” [2, tr.189] Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ

tư, đặt mục tiêu đến năm 2025, nền kinh tế số Việt Nam sẽ đạt 20% GDP, phát triển được một cộng đồng doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam lớn mạnh Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 phê duyệt

“Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” với mục tiêu Việt Nam thuộc nhóm 50 nước dẫn đầu về chính phủ điện

tử, liên quan đến phát triển kinh tế số, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, mục tiêu đến năm 2025 là kinh tế số chiếm 20% GDP; tỷ trọng kinh tế

số trong từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu 10%; đến năm 2030, kinh tế số chiếm 30% GDP

Chỉ thị 01/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 14/1/2020 về

“Thúc đẩy phát triển công nghệ số Việt Nam” đã đưa ra nhận định: Dựa trên nền tảng của nhiều công nghệ mới mà cốt lõi là công nghệ số (trí tuệ nhân tạo, học

Trang 6

máy sâu, dữ liệu lớn, chuỗi khối, điện toán đám mây, internet vạn vật, ), chuyển đổi số đang tạo ra không gian phát triển mới - kinh tế số, xã hội số, Chính phủ điện tử Đặc biệt, chuyển đổi số mở ra cơ hội to lớn cho Việt Nam phát triển đột phá, nhanh chóng bắt kịp các nước phát triển cũng chỉ mới bắt đầu quá trình chuyển đổi số

Phần 2 Thực trạng phát triển kinh tế số ở Việt Nam và huyện Chơn Thành hiện nay

2.1 Thực trạng phát triển kinh tế số ở Việt Nam

* Ưu điểm

Ở Việt Nam, kinh tế số mặc dù mới được phát triển trong một vài thập kỷ gần đây, một khoảng thời gian không dài trong quá trình công nghiệp hóa và nhất là trong lịch sử phát triển kinh tế đất nước, phát triển của các ngành, lĩnh vực kinh tế, nhưng đã có bước phát triển mạnh mẽ, đạt được những kết quả rất tích cực, ở một số lĩnh vực có sự phát triển mang tính đột phá; đồng thời, tạo ra nền tảng làm thay đổi phương thức quản lý, phương thức hoạt động, làm xuất hiện nhiều mô hình sản xuất, kinh doanh mới ở nhiều ngành, lĩnh vực kinh tế

Hạ tầng số, một cách đầy đủ nhất bao gồm: hạ tầng thiết bị số (gồm hệ thống máy tính, máy chủ các cảm biến ), hạ tầng kết nối (có dây hoặc không dây, kết nối các thiết bị), hạ tầng dữ liệu (các cơ sở dữ liệu then chốt của một quốc gia, một ngành, lĩnh vực), hạ tầng ứng dụng hay nền tảng số (các công nghệ số tạo nền tảng cho các mô hình kinh doanh trong các lĩnh vực), hạ tầng thể chế (các quy định luật pháp, chính sách), hạ tầng nhân lực (số lượng, chất lượng lao động trong ngành)

Hạ tầng kết nối đóng vai trò kết nối quan trọng trong sự phát triển của cuộc cách mạng công nghệ số, thực hiện chuyển đổi số, phát triển kinh tế số Do

đó, đây là lĩnh vực luôn được các nước quan tâm đầu tư xây dựng, phát triển, hoàn thiện, đi trước một bước Ở nước ta, đây cũng là lĩnh vực được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm phát triển Nhà nước ta có các chính sách khuyến khích, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng, phát triển hạ tầng số, bao gồm cả hạ tầng có dây và không dây,

Trang 7

tham gia vào thị trường công nghệ thông tin và viễn thông với nhiều hoạt động, nhiều loại hình dịch vụ phong phú, đa dạng Theo số liệu của Vụ Công nghiệp, Ban Kinh tế Trung ương, đến nay (năm 2020), có 11 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông di động (trong đó, cố định mặt đất: 7 doanh nghiệp; di động

vệ tinh: 3 doanh nghiệp; di động hàng hải: 1 doanh nghiệp) và 77 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cố định (trong đó, cố định mặt đất: 74 doanh nghiệp, cố định vệ tinh: 3 doanh nghiệp) Đến nay, gần như 100% lãnh thổ Việt Nam đã được phủ sóng di động và mạng cáp quang

Việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông phục vụ cho nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ số, thực hiện chuyển đổi số, phát triển kinh tế số ở nước ta được quan tâm đẩy mạnh Cả nước hiện có hơn 400 trường đại học và cao đẳng (cả công lập, dân lập, liên doanh với nước ngoài và cơ sở đào tạo của nước ngoài), thì trong đó 2/3 số trường có chuyên ngành đào tạo công nghệ thông tin Một số trường đại học lớn, một số Viện nghiên cứu khoa học của quốc gia còn đào tạo các chuyên ngành máy tính, công nghệ thông tin đến trình độ thạc sỹ, tiến sỹ Ngoài ra còn nhiều trung tâm đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về công nghệ thông tin (cả phần cứng và phần mềm) nhất là ở các thành phố lớn, như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, ở các trung tâm công nghiệp, các doanh nghiệp, tập đoàn kinh

tế lớn trong nước và nước ngoài

Việt Nam trở thành một trong những nước dẫn đầu thế giới về công nghiệp sản xuất phần cứng, thiết bị điện tử; viễn thông; cụ thể là: đứng thứ 2 về sản xuất điện thoại di động và linh kiện, đứng thứ 10 về sản xuất thiết bị điện tử

và linh kiện Đây cũng là 2 mặt hàng chiếm vị trí số 1 và số 3 trong số 10 sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Đây cũng là những sản phẩm xuất siêu lớn nhất trong xuất khẩu của Việt Nam (năm 2019, xuất siêu 28 tỷ USD)

Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ số của đất nước

đã tạo nền tảng cho việc thực hiện chuyển đổi số, phát triển kinh tế số trong các ngành, lĩnh vực, như: cho sự phát triển thương mại điện tử, các mô hình kinh tế chia sẻ (gọi xe công nghệ, cho vay ngân hàng P2P ), các ví điện tử, thanh toán

Trang 8

trực tuyến; cho phát triển du lịch trực tuyến (thông minh), quảng cáo trực tuyến, truyền thông xã hội (Việt Nam, hiện nay, có hơn 300 trang mạng xã hội, trang thông tin điện tử tổng hợp, rất nhiều forum, diễn đàn ), dịch vụ OTT (như Zalo, Viber, Skype ), trò chơi điện tử; cho xây dựng chính phủ điện tử [3, tr.15]

* Một số hạn chế

Mức độ chủ động tham gia phát triển nền kinh tế số nước ta hiện nay còn không ít hạn chế, có phần tự phát Hiện tại, hệ thống thể chế, chính sách cũng như các thiết chế thực thi, giải quyết tranh chấp và hiệu lực của cơ quan thực thi liên quan đến phát triển kinh tế số còn yếu, chưa đồng bộ và hiệu quả nên chưa khai thác hết tiềm năng để phát triển kinh tế số Thói quen giao dịch, thanh toán dùng tiền mặt, trả tiền khi nhận hàng của đa số người tiêu dùng là trở ngại lớn, làm tăng chí phí cho cả xã hội, doanh nghiệp và người dân Nhận thức của người dân về kinh tế số còn hạn chế, kỹ năng sử dụng internet an toàn thấp và chưa theo kịp với tốc độ phát triển của công nghệ Cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu Khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thực sự là động lực phát triển kinh tế - xã hội; hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia mới được hình thành, chưa đồng bộ và hiệu quả Quá trình chuyển đổi số quốc gia còn chậm, thiếu chủ động do hạ tầng phục vụ quá trình chuyển đổi số còn nhiều hạn chế; nhiều doanh nghiệp còn bị động, năng lực tiếp cận, ứng dụng, phát triển công nghệ hiện đại còn thấp Kinh tế số có quy mô còn nhỏ Việc đấu tranh với tội phạm, bảo đảm an ninh mạng còn nhiều thách thức

2.2 Thực trạng phát triển kinh tế số ở huyện Chơn Thành hiện nay Huyện Chơn Thành có vị trí chiến lược về an ninh quốc phòng, có nhiều

lợi thế về đất đai, khí hậu để phát triển các sản phẩm nông sản chất lượng cao gắn với công nghiệp chế biến Trong những năm qua, nhờ ứng dụng các tiến bộ

khoa học kỹ thuật vào sản xuất, từ một huyện khó khăn, Huyện Chơn Thành đã

nỗ lực làm bật dậy những tiềm năng, tạo những bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội Nền kinh tế của huyện luôn giữ được thế ổn định và có nhiều mặt phát triển và tiến bộ

Trang 9

Những năm qua, chuyển đổi số trên địa bàn Huyện Chơn Thành bước đầu

đã có đóng góp vào sự phát triển chung của huyện Cụ thể, các cấp ủy Đảng, Chính quyền từ huyện đến cơ sở đã tích cực ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác chỉ đạo, điều hành Trung tâm điều hành thông minh, trung tâm tích hợp dữ liệu của huyện được đầu tư, xây dựng; các hệ thống dùng chung như: thư điện tử, quản lý văn bản đi đến, cổng, trang thông tin điện tử, cổng dịch vụ công

và một cửa điện tử, giao ban điện tử Mạng truyền số liệu chuyên dùng của cơ quan Đảng, Nhà nước trên địa bàn toàn huyện được triển khai liên thông 3 cấp hành chính, từ huyện đến xã và kết nối với tỉnh

Kinh tế số đang từng bước được ứng dụng trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp, y tế, giáo dục và dịch vụ; xuất hiện nhiều hình thức kinh doanh, dịch vụ mới, dựa trên nền tảng công nghệ số và Internet

Bên cạnh những thành tựu bước đầu, quá trình chuyển đổi số và phát triển kinh tế số của Huyện Chơn Thành còn bộc lộ một số hạn chế: Hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin chưa được đầu tư đồng; nhiều doanh nghiệp của Huyện Chơn Thành còn chưa chủ động tiếp cận, ứng dụng, phát triển công nghệ hiện đại; quy mô kinh tế số còn nhỏ; chuyển đổi số đặt ra nhiều thách thức cả về kinh

tế và xã hội, nhất là ở các vùng khó khăn, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu

số, Công tác đấu tranh với tội phạm trên không gian mạng, bảo đảm an toàn,

an ninh mạng còn khó khăn, thách thức

Cùng với đó, cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực công nghệ thông tin còn thấp; số doanh nghiệp công nghệ thông tin phục vụ quá trình chuyển đổi số chưa nhiều, toàn huyện có 53 doanh nghiệp có đăng ký ngành nghề kinh doanh liên quan đến công nghệ thông tin với 1.218 lao động trong lĩnh vực công nghệ thông tin (mức thu nhập sản xuất sản phẩm công nghệ thông tin trung bình 80 triệu đồng/người/năm và thu nhập kinh doanh, phân phối trung bình 62 triệu đồng/người/năm)

Phần 3 Giải pháp phát triển kinh tế số ở Việt Nam và huyện Chơn Thành hiện nay

Trang 10

3.1 Giải pháp phát triển kinh tế số ở Việt Nam

Thứ nhất, đổi mới tư duy, thống nhất nhận thức của các cấp, các ngành và

các đơn vị kinh tế về sự cấp thiết phải chủ động tham gia tích cực và có hiệu quả cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với nội dung cốt lõi là thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên tất cả các ngành, lĩnh vực và thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, trọng tâm là phát triển kinh tế số, xây dựng đô thị thông minh, chính quyền điện tử, tiến tới chính quyền số Nhà nước ưu tiên chuyển giao và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ mới trong các ngành, lĩnh vực; có trách nhiệm thúc đẩy nghiên cứu khoa học, công nghệ, tạo môi trường thuận lợi

và hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm để người dân và doanh nghiệp là các chủ thể quyết định tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư Xây dựng cơ chế hợp tác giữa Nhà nước và các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp trong xây dựng và thực thi các chính sách

Thứ hai,cần hoàn thiện thể chế, xây dựng cơ chế quản lý phù hợp với môi

trường kinh doanh số, tạo thuận lợi cho đổi mới sáng tạo Các chính sách và quy định xuyên suốt để định hình nền kinh tế số cần bao gồm các chính sách và quy định liên quan đến các luồng dữ liệu xuyên quốc gia, bảo mật dữ liệu, an ninh mạng, bảo vệ khách hàng, giao dịch điện tử và pháp luật về thương mại điện tử

và thuế Việt Nam cần chủ động tham gia vào các khuôn khổ pháp lý khu vực và toàn cầu để phát triển kinh tế số Có chính sách khuyến khích phát triển, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển giao và ứng dụng các công nghệ mới; chú trọng tới các chính sách để tiếp cận với dịch vụ thanh toán an toàn và bảo đảm mang lại cơ hội thực hiện thanh toán điện tử cho cả khách hàng, doanh nghiệp trong nước cũng như nước ngoài

Thứ ba, phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng thiết yếu, bao gồm triển khai

băng thông rộng chất lượng cao trên phạm vi toàn quốc; xây dựng và phát triển đồng bộ hạ tầng dữ liệu quốc gia; đầu tư nâng cấp hạ tầng kỹ thuật bảo đảm an toàn, an ninh mạng; nâng cấp hạ tầng các ngành, lĩnh vực quan trọng, thiết yếu một cách đồng bộ, hiện đại Trong lĩnh vực truyền thông, cần hoàn thiện khuôn

Ngày đăng: 02/09/2021, 15:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w