TÓM TẮT TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ HỒ SƠ HÀNH CHÍNH 12BÀ NGUYỄN THỊ TUYẾT KIỆN HỦY QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT CỦA CHÁNH THANH TRA SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH1.Đơn khởi kiện ngày 02052014Quyết định trái pháp luật, bởi lẽ:Về hành vi vi phạm: Quyết định XPVPHC trong hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo số 23QĐVPHC cho rằng bà Tuyết có hành vi “Tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm” là hoàn toàn không đúng sự thật vì tại thời điểm kiểm tra cơ sở kinh doanh của bà Tuyết không có những hành vi vi phạm nêu trên => Việc áp dụng khoản 1 Điều 25 NĐ 1672013NĐCP để phạt bà với mức 15.000.000đ là hoàn toàn không có căn cứ.Về thời hạn ban hành QĐXPVPHC: trái quy định tại Điều 66 Luật XLVPHC, quá thời hạn ban hành QĐXPVPHC (quá 60 ngày kể cả thời gian xin gia hạn).2.Bản cam kết ngày 13112012 thực hiện các quy định, điều kiện về an ninh trật tụ để làm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện do bà Tuyết gửi CA phường Đông Lân thì cơ sở kinh doanh nhà trọ bình dân Hoàng Lan cam kết chấp hành NĐ số 722009NĐCP3.Giấy chứng nhận ĐKKD hộ cá thể ngày 19112012, vốn 100 triệu, đại diện bà Tuyết4.Biên bản VPHC số 11BBVPHC ngày 23122013Thành phần gồm 4 người, trong đó có Chánh Thanh tra, phó CTT, CV TTS và Cán bộ phòng PA 25 CA tỉnh, không có người chứng kiến tiến hành lập biên bản kiểm tra: VPHC trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch đối với bà Tuyết dịch vụ nhà trọ bình dân đã có hành vi VPHC: phòng 11 có ông Thường và bà Lành không có giấy đăng ký kết hôn đang quan hệ vợ chồng, phòng số 9 có ông Văn và bà Thùy không có giấy ĐKKH đang ở chung phòng xem ti vi. Tại thời điểm kiểm tra chủ cơ sở Hoàng Lan không vào sổ bà Lành. KL chủ cơ sở Hoàng Lan thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra hành vi vi phạm như trên.Các hành vi trên đã vi phạm NĐ 1582013NĐCP ngày 12112013 Quy định về XPVPHC trong lĩnh vực hoạt động văn hóa thông tin. (có phải biên bản mẫu không)Ý kiến của bà Tuyết: cơ sở Hoàng Lan mới mở nên có sai sót mong cơ quan chiếu cố, tôi hứa lần sau không vi phạm nữa.Căn cứ Luật XLVPHC 2012 và NĐ 1582013NĐCP yêu cầu bà Tuyết có mặt lúc 9h ngày 29122013 tại 06 Trần Hưng Đạo, TP. P, tỉnh G.L.Tạm giữ tang vật phương tiện GCN ĐKKD hộ cá thể.Ký tên: bà Tuyết, 4 người chứng kiến là những người trong phòng 9, 11. Thành viên có Bình, Thành (có 1 người ký không ghi tên), Minh – trưởng đoàn, Mạnh – lập BB ký.5.Tại Bản tường trình ngày 23122013, Nguyễn Văn Thường: ngày 23122013 có thuê phòng trọ tại nhà nghỉ Hoàng Lan để ở cùng với vợ tên là Nguyễn Thị Lành. Vợ tôi đang làm việc tại thị trấn Đ.C xuống thăm chồng. Thường, Lành ký.6.Tại bản tường trình, Phan Văn: Thùy tới thuê phòng trước rồi Văn tới chơi sau: Thùy thuê phòng nhà nghỉ Hoàng Lan. Văn xuống chơi rồi chút nữa về. Tôi và Thùy đám hỏi rồi chuẩn bị cưới nhưng ông ngoại chết nên đình lại. Vợ tôi đang có bầu. Tôi và Thùy ở phòng 9.7.Tại Bản tường trình, Nguyễn Thị Thùy: Vào ngày 22 tôi có tới thuê phòng trọ tại HL và bạn trai tôi tới chơi. Tới 10 giờ về. Hai vợ chồng có đámhỏi rồi nhưng do ông ngoại mất nên đình lại và tôi đang có thai. Tôi và Văn ở chung một phòng số 9.8.Tại Bản tường trình ngày 29122013, bà Tuyết gửi Sở VHTTDL: Qua đợt kiểm tra của Sở vào ngày 23122013 cơ sở đã vi phạm 02 TH nam, nữ không có GĐKKH cho ở chung 1 phòng (phòng 9 và 11) và không vào sổ 01 TH phòng 11. Do cơ sở mới mở kính mong chiếu cố và bỏ qua sai sót. Tôi hứa lần sau không vi phạm nữa.9.TTS có CV 02TTTTr ngày 16012014 theo đó: Thực hiện ý kiến chỉ đjao của GĐ Sở về việc triển khai thực hiện KH thanh tra trước, trong và sau tết nguyên đán kỷ sửu 2014 theo QĐTT số 01 ngày 08012014 và KH số 05KHTr ngày 6112013 đã được phê duyệt, TTS đã tiến hành đi kiểm tra thực tế các cơ sở hđ văn hóa và kinh doanh dịch vụ VH, TT và DL trên địa bàn tỉnh. Qua kiểm tra phát hiện nhiều cơ sở có hành vi vi phạm hành chính trong ffos có một số cơ sở vi phạm rất phức tạp, cần phải có thời gian xác minh làm rõ để có đủ cơ sở kết luận, làm căn cứ ra QĐXPVPHC. Khi kiểm tra TTS đã tiến hành lập BBVPHC đối với những cơ sở kinh doanh có hành vi vi phạm. Tuy nhiên việc kiểm tra đã hoàn thành đúngt thời gian quy định nhưng việc ra QĐXPVPHC đối với một số cơ sở chưa thực hiện được. Vì đây là các trường hợp phức tạp xét thấy cần có thêm thời gian để xác minh. Hơn nữa để đảm bảo thời gian và thủ tục xử lý vi phạm hành chính theo đúng quy định của pháp luật.TTS lập tờ trình này kính đề nghị GĐ sở cho gia hạn thời hạn ra QĐXP đến hết ngày 1132014.10.Tại bản tường trình ngày 1222014, bà Tuyết: hôm nay ngày 1222014 tôi làm bản tường trình này tường trình lại việc ngày 23122013 bên Sở VH cùng CA Phòng PA 25 kiểm tra tại cơ sở nhà nghỉ Hoàng Lan. Bên cơ sở có vi phạm chưa vào sổ đăng ký một phòng 11 và phòng 09 không có giấy ĐKKH. Do cơ sở mới mở nên có một số vđ chưa hiểu biết hết về luật cũng như việc quản lý cơ sở. Kính mong Sở cùng các ban ngành giải quyết và bỏ qua cho cơ sở11.Tại Đơn đề nghị gửi Sở VHTTDL ngày 932014, bà Tuyết: qua đợt kiểm tra vừa qua cơ sở đã vi phạm một số vấn đề chưa biết, do cơ sở mới kinh doanh nên chưa có nhiều kinh nghiệm quản lý. Vậy kính xin Sở tạo điều kiện cho cơ sở tôi được nộp phạt với khung thấp nhất. Qua đó chúng tôi nhận thấy sai sót của mình và xin hứa khắc phục.12.Ngày 09032014 , TTS có Biên bản làm việc với đương sự VPHC trong lĩnh vực VH, TT DL: tiến hành lập BBLV theo nội dung BBVPHC số 11 ngày 23112013 với bà Tuyết đã có vi phạm hc trong hđ kinh doanh dịch vụ nhà trọ bình dân, kết luận: đến 932014 bà Tuyết không bổ sung được giấy gì, cơ sở kinh doanh có hành vi vi phạm thiếu trách nhiệm thiếu tinh thần trách nhiệm, tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm Các hành vi trên vi phạm khoản 1 Điều 25 NĐ 1672013NĐCP, bà Tuyết xin nhận khuyết điểm và phạt mức đầu khung., bà Tuyết đã ký.13.QĐ XPVPHC số 23 ngày 10032014Căn cứ Điều 25 NĐ 1672013NĐCPCăn cứ BBVPHC lập hồi 21h ngày 21122013.Chánh Thanh tra Sở VH, TT DL ban hành QĐXPVPHC đối với bà Tuyết, phạt tiền 15.000.000 đ, lý do đã có hành vi vi phạm hành chính thiếu tinh thần trách nhiệm, tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm (áp dụng khoản 1 Điều 25 Nghị định 1672013NĐCP).Nghiêm túc chấp hành trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được giao quyết định xử phạt là ngày 1432014 (nhận ngày 1732014 qua bưu điện)Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày … tháng … năm 2014: để trống ngày tháng.14.Tại công văn số 022014CVTTr ngày 1832014, TT Sở VH TT và DL tỉnh GL: quá trình đánh máy quyết định có sơ suất, sai sót về mặt hình thức văn bản, nay xin đính chính như sau:1. Phần căn cứ ra QĐ số 23QĐXPVPHC ngày 1032014Tại căn cứ thứ hai dòng 11 từ trên xuống có ghi: Căn cứ Điều 25 NĐ 1672013 quy định XPVPHC trong hoạt động văn hóa – thông tinNay đính chính lại như sau: Căn cứ vào Điều 25 NĐ 167 trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội.Tại căn cứ thứ ban dòng thứ 13 từ trên xuống có ghi như sau: “Căn cứ BBVPHC do … lập hồi 21 giờ 00 ngày 21122013 tại 241 Lê Lai…”Đính chính: Căn cứ BBVPHC số 11BBVPHC do Thanh tra Sở lập hồi 21 giờ 00 ngày 23122013 tại số 241 Lê Lai…”2. Điều 2 ghi thiếu kể từ ngày được giao quyết định là ngày … tháng … năm …Nay đính chính lại như sau: Bà Tuyết phải nghiêm chỉnh chấp hành, … kể từ ngày được giao QĐXP là 17032014.3. Tại Điều 3 ghi thiếu như sau: QĐ này có hiệu lực kể từ ngày … tháng … năm 2014Đính chính: QĐ này có hiệu lực kể từ ngày ký.Gửi kèm công văn này là bản chính QĐ 23 ngày 1032014 đã được đính chính như trên.Ngày 1832014 gửi Công văn này cho bà Tuyết nhưng bà Tuyết đi vắng có gửi lại tại nhà nghỉ cho nhân viên để đưa cho bà Tuyết – kèm quyết định đã chỉnh sửa.15.Tại đơn khiếu nại ngày 2432014, bà Tuyết khiếu nại đến GĐ Sở VH, TP CSĐT – Công an tỉnh G.LQua đợt kiểm tra vào ngày 21122013 mà đến ngày 19032014 bà Tuyết mới nhận được QĐXPVPHX là sai với Điều 66 Luật XLVPHC.QĐ không đề hiệu lực ngày tháng năm nàoBên cạnh đó, nhà nghỉ của bà không tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm. Nhà nghỉ chỉ cho thuê khi khách lưu trú có chứng minh nhân dân và viết giấy bảo lãnh là có thể ở trọ.Theo QđXP áp dụng NĐ 1672013 trong hoạt động văn hóa thông tin là sai mà đây là NĐ 167 XPHC trong lĩnh vực ANTT – ATXH. Cơ sở bà Tuyết không tổ chức hoạt động mại dâm đề nghị đưa ra chứng cứ.Đề nghị xem xét và giải quyết hợp lý mức phạt cho cơ sở chúng tôi.16.Tại Biên bản về việc gặp gỡ, đối thoại số 01BBTTr ngày 27032014 tại TTS VHTTDLĐc Minh: QĐXP đúng, căn cứ Điều 25 NĐ 167NĐCP, tiền phạt 15trđ la mức phạt đầu khungĐc Thành: Biên bản VPHC số 11 ngày 23122013 là đúng (có xác nhận của chủ cơ sở): chủ cơ sở không đăng ký tạm trú, tạm vắng, cho đăng ký 2 người chung một phòng (không phải là vợ chồng) là không đúng quy định. Để ông Thường và bà Lành quan hệ trong phòng 11 không có giấy kết hôn.Thanh tra sở đã tạo điều kiện cho cơ sở đưa giấy đăng ký kết hôn củ khách nhưng đến 932014 cơ sở vẫn chưa được giấy ĐKKH. Đến ngày 1032014 TTS đã ra QĐXPVPHC.Bà Tuyết: Thông qua 1 người bạn biết về luật nên đã gửi đơn đến TTS. Mục đích viết đơn của tôi để xem lại các khoản tiền phạt có đúng không.Hội đồng họp thống nhất: đây là mức phạt đầu khung, mức nhẹ nhất đối với hành vi vi phạm trên nên đề nghị bà Tuyết xem xét, có khiếu nại nữa hay không.Bà Tuyết ký17.Tại Phiếu hướng dẫn giải quyết khiếu nại đén cơ quan có thẩm quyền giải quyết, VP UBND: đơn khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND tỉnh (trả lại đơn). Đề nghị bà Tuyết gửi đơn đến Sở VHTTDL để được giải quyết theo quy định của pháp luật.18.Thông báo về việc thụ lý giải quyết khiếu nại ngày 2732014 của Chánh thanh tra SVH, TT DL: ngày 2432014 nhận đơn khiếu nại QĐ 23 về mức tiền đối với cơ sở (nhà nghỉ Hoàng Lan)19.Công văn số 167CVVHTTDL ngày 07042014 của Giám đốc Sở VHTTDL gửi bà Tuyết: ngày 2552014, GĐ Sở nhận được đơn khiếu nại của bà Tuyết gửi ngày 2432014 nội dung chính là đề nghị xem xét lại mức xử phạt VPHC đối với hành vi VPHC của nhà nghỉ Hoàng Lan tại QĐ số 23 ngày 1032014 của CTTS.Sở VHTTDL trả lời như sau:1.Thời hạn ra QĐ xử phạt đối với hành vi vi phạm của nhà nghỉ Hoàng Lan (kể từ ngày lập BBVPHC là ngày 23122013 đến ngày 1032014 ra QĐ XP là hoàn toàn đúng với quy định của pháp luật.Lý do: a.Đây là TH cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ, TTS dã xin gia hạn thời gian ra QĐ XPVPHC và có sự đồng ý của người có thẩm quyền.b.Quán trình xử lý vụ việc vi phạm, TTS đã tạo điều kiện cho bà chứng minh hành vi của bà là không vi phạm, nhưng đã đến 3 lần đến làm việc bà vẫn không bổ sung được giấy tờ gì. Do đó để đảm bảo đúng thời hạn ra QĐXP, ngày 1032014 TT Sở đã ra QĐ XPVPHX đối với hành vi của nhà nghỉ Hoàng Lan.2. QĐ XPVPHC không ghi ngày tháng năm kể từ ngày giao QĐXP và không ghi ngày có hiệu lực: đã nhiều lần TTS gọi điện mời bà Tuyết đến nhận QĐ tại 06 Trần Hưng Đạo nhưng bà Tuyết không đến nhận nên Sở gửi QĐ qua đường bưu điện. Do sơ suất, không biết khi nào nhận QĐ nên đã không ghi ngày tháng năm nhận QĐ. Ngày 3132014 TTS đã gửi QĐ số 23 ngày 1032014, QĐ đã có đầy đủ các thông tin theo quy định3. Việc áp dụng Khoản 1 Điều 25 NĐ 1672013 đối với hành vi của nhà nghỉ Hoàng Lan theo BBVPHC ngày 23122013 là đúng quy định.Qua nội dung trên, xử phạt đúng quy định. Trong quá trình xử lý có xem xét hồ sơ và các bản tường trình, đơn kiến nghị của bà Tuyết. Tại đơn và bản tường trình bà Tuyết đã nhận thấy khuyết điểm, hứa sửa chữa và xin nộp phạt với khung tiền phạt thấp nhất, TTS đã áp dụng mức phạt đầu khung đối với HVVP của nhà nghỉ Hoàng Lan.20.Tại đơn khiếu nại ngày 11042014 bà Tuyết khiếu nại đến Chủ tịch UBND Tỉnh, Giám đốc SVH, GĐ sở CA. Nội dung: 1. Căn cứ phía trước là NĐ 167, phía sau là NĐ 158 như thế thì quyết định không có giá trị pháp lý. Trong CV 167 ngày 842014 không thấy trả lời cho bà Tuyết về căn cứ mà bà nêu ra đúng hay sai.2. Ngày 3132014 bà Tuyết nhận được QĐ đã được sửa căn cứ nêu trên nhưng Điều 5 ghi QĐ XP ngày 1732014, số tiền phạt nộp trong 10 ngày kể từ ngày được giao QDDXP; Điều 3 QĐ ghi: QĐ này có hiệu lực kể từ ngày ký, trong thời hạn 3 ngày QĐ phải dược gửi cho bà Tuyết, như vậy QĐ trên phải có hiệu lực từ 1032014 như vậy là trái Điều 70 Luật XLVPHC (trong thời hạn 2 ngày làm việc, phải gửi cho người vi phạm để thi hành). Như vậy ngày 313 QĐ mới được sửa, nà Tuyết mới nhận nhưng đến nay QĐXP vẫn sai. Cụ thể: Căn cứ lập biên bản ngày 21122013 trong QĐ là sai mà phải là 23122013.3. Hành vi vi phạm hành chính không đúng: Tại thười điểm kiểm tra đôi nam nữ viết bản tường trình là vợ chồng. Vì vậy không đủ chứng cứ ra QDXP Cơ sở kinh doanh của bà. Mại dâm phía nữ phải tường trình nhận lỗi có bán dâm với số tiền bao nhiêu? Đã thừa nhận đã nhận tiền và gọi ai đến và phải trả cho cơ sở của bà bao nhiêu tiền, về phía nam phải có bản tường trình là nhận về hành động mua dâm của mình là bao nhiêu tiền và đã đưa cho cô ấy số tiền cụ thể là bao nhiêu.4. Đã hết thời hạn ra QĐ XPVPHC, cụ thể: đến 1142014 đã gần 4 tháng mà QĐ vẫn còn sai thì đã hết thời hạn ra QĐXPVPHC với bà, theo CV 167 TTS có xin gia hạn nhưng theo khoản 1 Điều 166 Luật XLVPHC gia hạn tối đa không quá 30 ngày. BBVPHC được lập ngày 23122013 mà đến 1142014 đã gần 4 tháng vẫn chưa hoàn chỉnh và chưa đầy đủ tính pháp lý, bởi vì căn cứ thứ 3 trong QĐ sai ngày với BBVPHC số 11.Theo CV 167 ghi đã nhiều lần TTS điện thoaij mời bà lên nhận QDDXP là không đúng. Thwujc tế 3 lần mời lên làm việc bằng điện thoại không có giấy mời mà bà vẫn chấp hành.21.CA tỉnh G.L có văn bản số 166PA25 ngày 2042014 trả lời thư khiếu nại của bà Tuyết: không thuộc thẩm quyền giải quyết của CA tỉnh.22.Quyết định về việc giải quyết đơn khiếu nại xử phạt VPHC (lần đầu) số 01QĐTTr ngày 20042014, kết luận nội dung khiếu nại không có cơ sở, giữ nguyên QĐ. 23.Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí HCST số 032014TBTUWAP ngày 08052014, trong thời hạn 7 ngày đến THADS tỉnh GL nộp 200.000đ24.Ngày 11052014, biên lai thu tiền tạm ứng án phí của Cục thuế tỉnh G.L, theo VB số 022014TBTUWAP ngày 852014 của TA tỉnh G.L25.Ngày 13052014, Thông báo thụ lý vụ án hành chính số 032014TBTHC26.GUQ TGTT của bà tuyết cho ông Tuấn ngày 1952014.27.Ngày 2952014, Chánh Thanh Tra SVH, TT DL tỉnh GL có CV 042014CVTTr gửi TAND tinh G.L nội dung: Ngày 23122013 TTS và CA tỉnh G.L kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan, phát hiện cơ sở có hành VPHC trong lĩnh vực AN, TT, ATXH, Đoàn lập BBVPHC số 11 theo mẫu biên bản VPHC trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch.Ngày 29122013 Thanh tra Sở mời bà Tuyết đến làm việc, tại buổi làm việc bà Tuyết viết tường trình, thừa nhận hành vi vi phạm trên và xin sửa chữa, không bổ sung được GĐKKH của các đối tượng trên.Ngày 16012014 Thanh tra Sở xét thấy đây là vụ việc rất phức tạp cần có thêm thời gian xác minh, làm rõ để có đủ cơ sở kết luận, làm căn cứ ra QĐXPVP hành chính hoặc chuyển sang CQĐT để truy tố theo quy định của pháp luât. TTS đã có Tờ trình 02TTTTr ngày 16012014 xin gia hạn thời gian ra quyết định XPVPHC, tờ trình đã được GĐ sở phê duyệt.Ngày 1222014, TTS mời bà Tuyết đến làm việc và yêu cầu bổ sung giấy ĐKKH của cac đối tượng trên nhưng bà Tuyết vẫn không chứng minh được họ là vợ chồng. Tại bản tường trình bà vẫn thừa nhận hành vi VP của cơ sở, đồng thời xin thêm thời gian để bổ sung giấy tờ cần thiết.Ngày 932014 TTS tiếp tục mời bà Tuyết đến làm việc để bổ sung các giấy tờ cần thiết nhưng bà Tuyết không bổ sung thêm được giấy tờ gì. Tại bản tường trình ngày 0932014 bà Tuyết vẫn thừa nhận hành vi vi phạm của cơ sở là VPPL nên bà xin chịu nộp phạt với khung thấp nhất.Vì thời hạn ra QĐ XPVPHC không còn nhiều,TTS đã phân tích cho bà Tuyết thấy hành vi vi phạm và bà Tuyết đã ký BB làm việc số 11 ngày 932014 xin chịu nộp phạt với mức phạt 15 trđ.Do công việc kiểm tra và XLVPHC trong quý I2014 (nhất là trong dịp Tết nguyên đán) quá nhiều, TTS nhiều lần mời bà Tuyết đến nhận QĐXP nhưng bà Tuyết không đến nhận. TTS phải gửi qua bưu điện.Sau khi gửi QĐ 23 TTS phát hiện quá trình đánh máy có sai sót về mặt hình thức văn bản nên đã có công văn đính chính và QĐ XP số 23QĐXP ngày 1032014 đã được điều chỉnh gửi kèm theo cho cơ sở vào ngày 1832014.Ngày 2432014 nhận đơn khiếu nại cả bà Tuyết.Qua đối thoại bà Tuyết trình bày mục đích viết đơn để xem lại khoản phạt tiền có đúng không. Ngoài ra bà Tuyết không thắc mắc hay khiếu kiện về mặt hình thức QĐ 23 ngày 1032014.Mặc dù TTS đã phân tích nhưng bà Tuyết có thái độ thiếu hợp tác, vẫn gửi đơn khiếu nại đến rất nhiều cơ quan không đúng theo quy định của pháp luật về khiếu nại.28.Ngày 1862014, Biên bản lấy lời khai ông Dương Văn Thủy, đại diện theo UQ của người bị kiện.Căn cứ ra QĐ 23 là BBVPHC số 11 ngày 23122013Bà Tuyết có hành vi vi phạm NĐ 72NĐCP và TT 332010TTBCA thì nghề cho thuê lưu trú phải bố trí phòng nghỉ nam riêng, nữ riêng trừ TH gia đình là vợ chồng. Đối với TH của bà Tuyết sau khi lập BB thì đã tạo điều kiện cho bafTuyeest có thời gian để cung cấp giấy tờ chứng minh các cặp nam nữ thuê chung phòng là vợ chồng nhưng qua 3 lần làm việc bà Tuyết đều không cung cấp được. Vì vậy, hành vi của bà Tuyết là tạo điều kiện cho người khác ….Tại các biên bản làm việc và bản tự khai bà Tuyết đều thừa nhận hành vi vi phạm. Sau khi giải quyết khiếu nại lần 1 bà Tuyết cũng đã khiếu nại lần 2 đến GĐ Sở. Việc bà Tuyết khởi kiện ra Tòa là vi phạm. Quan điểm giữ nguyên QĐXP.29.Bản tự khai ngày 2362014 của bà Tuyết gửi TAND G.LQĐ 23 là trái pháp luật bởi lẽ:Thứ nhất, QĐ 23 cho rằng bà có hành vi “tạo điều kiện …” là hoàn toàn không đúng sự thật và không có căn cứ vì tại thời điểm tra CSKD của bà hoàn toàn không có hành vi vp nêu trên mà chỉ vi phạm là không vào sổ bà Thùy tại phòng 9. Vì vậy QĐ 23 phạt 15 trđ không có căn cứ.Thứ hai, Biên bản VPHC số 11 lập ngày 23122013 nhưng đến ngày 1032014 thì mới ban hành QĐXP là trái với quy định tại Điều 66 Luật XLVPHC 2012.30.Tại Biên bản lấy lời khai ngày 1072014Lấy lời khai ông Mai Anh Tuấn, đại diện theo UQ của bà TuyếtBà Tuyết yêu cầu hủy QĐ 23, bà Tuyết nhận QĐ này ngày 1732014 theo đường bưu điện. Bà Tuyết chưa thi hành, có khiếu nại và đã được giải quyết KN. Bà Tuyết không tiếp tục khiếu nại, bà Tuyết yêu cầu hủy QĐ do CCPL mà Chánh TTS ra QĐXP không đúng, bà Tuyết không có hành vi vi phạm tại khoản 1 Điều 25 NĐ 1672013. Bà Tuyết kinh doanh loại hình kinh doanh có điều kiện. Bà Tuyết có hành vi vi phạm là không vào sổ theo dõi 1 khách tới ở là bà Lợi mà thôi chứ không có hành vi thể hiện trong BB và QĐ.31.Tại Biên bản lấy lời khai ngày 2472014Lấy lời khai ông Dương Văn Thành, đại diện theo UQ của người bị kiện trong VA “Yêu cầu hủy QĐXPVPHC số 23”Căn cứ ra QĐ 23: kiểm tra phát hiện, căn cứ khoản 1 Điều 25 NĐ 1672013NĐCP.Điều 2, Điều 3 không thể hiện ngày tháng: sau khi gửi QĐ phát hiện có nhiều thiếu sót nên ngày 1832014 đã có văn bản đính chính, sửa đổi rồi.Bà Tuyết khiếu nại ngày 2432014Vì sao cần gia hạn: vì cần thời gian để điều tra, xác minh làm rõ việc có mại dâm hay không vì vậy mới xin gia hạn và được GĐ Sở gia hạn bằng văn bản.Quan điểm của người bị kiện: Đề nghị TA xem xét giữ nguyên QDXP 23 đối với bà Tuyết32.Tại Biên bản lấy lời khai ngày 1782014: lập biên bản làm việc giữa ông Tuấn và ông Thủy là đại diện theo UQ của 2 bên:Bà Tuyết khởi kiện thừa nhận hành vi vi phạm của bà là không vào sổ theo dõi đối với bà Lợi và có cho cặp nam nữ thuê phòng mà không yêu cầu họ xuất trình GĐKKH. Tuy nhiên bà Tuyết không đồng ý với CCPL mà CTTS vì bà tuyết không chứa chấp mại dâm và cũng không tạo điều kiện cho người khác mại dâm. Yêu cầu hủy QĐ 23.Người bị kiện: bà Tuyết đã hoàn toàn thừa nhận hành vi vi phạm của mình, hành vi của bà Tuyết là tạo điều kiện cho người khác thực hiện hành vi trái pháp luật khác. Vì vậy CCPL ra QĐ 23 là đúng pháp luật. Ý kiến của của người bị kiện là đề nghị TA đưa VA ra XX giữ nguyên QĐ 23.33.Tại đơn kiến nghị ngày 05092014, bà Tuyết gửi Chánh TTS:Kiến nghị sửa đổi một phần QDXP 23 với lý do:Hành vi vi phạm như trên là không đúng và đã khiếu nại, đang khởi kiện.Tôi thừa nhận cơ sở kinh doanh của tôi có vi phạm như tại BB số 11 nhưng cơ sở của bà không có hành vi tạo điều kiện cho người khác hoạt động mại dâm hoặc các hoạt động trái pháp luật khác. Vì vậy QĐ 23 xử phạt bà chưa thỏa đáng, ảnh hưởng uy tín danh dự của bà. Cơ sở bà chỉ vi phạm “không thực hiện đsung những yêu cầu về các điều kiện đảm bảo an ninh, trật tự” theo khoản 1 Điều 25 sang điểm c khoản 3 Điều 11 NĐ 1672013. Nếu được chấp nhận lý do kiến nghị, cơ sở bà sẽ nghiêm túc chấp hành QĐXP.34.QĐ đưa vụ án ra xét xử số 042014QĐSTXX ngày 1092014 của TAND Tỉnh G.L: 7h30 ngày 3092014.Chỉ ghi tên TP, không ghi tên hội thẩm, đại diện VKS.
Trang 1TÓM TẮT TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ HỒ SƠ HÀNH CHÍNH 12
BÀ NGUYỄN THỊ TUYẾT KIỆN HỦY QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT CỦA CHÁNH THANH TRA SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
1 Đơn khởi kiện ngày 02/05/2014
Quyết định trái pháp luật, bởi lẽ:
- Về hành vi vi phạm: Quyết định XPVPHC trong hoạt động văn hóa, thể thao,
du lịch và quảng cáo số 23/QĐ-VPHC cho rằng bà Tuyết có hành vi “Tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự
để tổ chức hoạt động mại dâm” là hoàn toàn không đúng sự thật vì tại thời
điểm kiểm tra cơ sở kinh doanh của bà Tuyết không có những hành vi vi phạm nêu trên => Việc áp dụng khoản 1 Điều 25 NĐ 167/2013/NĐ-CP để
phạt bà với mức 15.000.000đ là hoàn toàn không có căn cứ
- Về thời hạn ban hành QĐXPVPHC: trái quy định tại Điều 66 Luật
XLVPHC, quá thời hạn ban hành QĐXPVPHC (quá 60 ngày kể cả thời gian xin gia hạn)
2 Bản cam kết ngày 13/11/2012 thực hiện các quy định, điều kiện về an ninh trật
tụ để làm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện do bà Tuyết gửi CA phường Đông Lân thì cơ sở kinh doanh nhà trọ bình dân Hoàng Lan cam kết chấp hành
NĐ số 72/2009/NĐ-CP
3 Giấy chứng nhận ĐKKD hộ cá thể ngày 19/11/2012, vốn 100 triệu, đại diện bà
Tuyết
4 Biên bản VPHC số 11/BB/VPHC ngày 23/12/2013
Thành phần gồm 4 người, trong đó có Chánh Thanh tra, phó CTT, CV TTS và Cán bộ phòng PA 25 CA tỉnh, không có người chứng kiến tiến hành lập biên bản kiểm tra: VPHC trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch đối với bà Tuyết dịch vụ nhà trọ bình dân đã có hành vi VPHC: phòng 11 có ông Thường và bà Lành không có giấy đăng ký kết hôn đang quan hệ vợ chồng, phòng số 9 có ông Văn và bà Thùy không có giấy ĐKKH đang ở chung phòng xem ti vi Tại thời điểm kiểm tra chủ cơ sở Hoàng Lan không vào sổ bà Lành KL chủ cơ sở Hoàng Lan thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra hành vi vi phạm như trên
Các hành vi trên đã vi phạm NĐ 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 Quy định về XPVPHC trong lĩnh vực hoạt động văn hóa thông tin (có phải biên bản mẫu không)
Trang 2Ý kiến của bà Tuyết: cơ sở Hoàng Lan mới mở nên có sai sót mong cơ quan chiếu cố, tôi hứa lần sau không vi phạm nữa
Căn cứ Luật XLVPHC 2012 và NĐ 158/2013/NĐ-CP yêu cầu bà Tuyết có mặt lúc 9h ngày 29/12/2013 tại 06 Trần Hưng Đạo, TP P, tỉnh G.L
Tạm giữ tang vật phương tiện GCN ĐKKD hộ cá thể
Ký tên: bà Tuyết, 4 người chứng kiến là những người trong phòng 9, 11 Thành viên có Bình, Thành (có 1 người ký không ghi tên), Minh – trưởng đoàn, Mạnh – lập BB ký
5 Tại Bản tường trình ngày 23/12/2013, Nguyễn Văn Thường: ngày 23/12/2013
có thuê phòng trọ tại nhà nghỉ Hoàng Lan để ở cùng với vợ tên là Nguyễn Thị Lành Vợ tôi đang làm việc tại thị trấn Đ.C xuống thăm chồng Thường, Lành ký
6 Tại bản tường trình, Phan Văn: Thùy tới thuê phòng trước rồi Văn tới chơi sau:
Thùy thuê phòng nhà nghỉ Hoàng Lan Văn xuống chơi rồi chút nữa về Tôi và Thùy đám hỏi rồi chuẩn bị cưới nhưng ông ngoại chết nên đình lại Vợ tôi đang
có bầu Tôi và Thùy ở phòng 9
7 Tại Bản tường trình, Nguyễn Thị Thùy: Vào ngày 22 tôi có tới thuê phòng trọ
tại HL và bạn trai tôi tới chơi Tới 10 giờ về Hai vợ chồng có đámhỏi rồi nhưng
do ông ngoại mất nên đình lại và tôi đang có thai Tôi và Văn ở chung một phòng
số 9
8 Tại Bản tường trình ngày 29/12/2013, bà Tuyết gửi Sở VHTTDL: Qua đợt
kiểm tra của Sở vào ngày 23/12/2013 cơ sở đã vi phạm 02 TH nam, nữ không có GĐKKH cho ở chung 1 phòng (phòng 9 và 11) và không vào sổ 01 TH phòng
11 Do cơ sở mới mở kính mong chiếu cố và bỏ qua sai sót Tôi hứa lần sau không vi phạm nữa
9 TTS có CV 02/TT-TTr ngày 16/01/2014 theo đó: Thực hiện ý kiến chỉ đjao của
GĐ Sở về việc triển khai thực hiện KH thanh tra trước, trong và sau tết nguyên đán kỷ sửu 2014 theo QĐTT số 01 ngày 08/01/2014 và KH số 05/KH-Tr ngày 6/11/2013 đã được phê duyệt, TTS đã tiến hành đi kiểm tra thực tế các cơ sở hđ văn hóa và kinh doanh dịch vụ VH, TT và DL trên địa bàn tỉnh Qua kiểm tra phát hiện nhiều cơ sở có hành vi vi phạm hành chính trong ffos có một số cơ sở
vi phạm rất phức tạp, cần phải có thời gian xác minh làm rõ để có đủ cơ sở kết luận, làm căn cứ ra QĐXPVPHC Khi kiểm tra TTS đã tiến hành lập BBVPHC đối với những cơ sở kinh doanh có hành vi vi phạm Tuy nhiên việc kiểm tra đã hoàn thành đúngt thời gian quy định nhưng việc ra QĐXPVPHC đối với một số
cơ sở chưa thực hiện được Vì đây là các trường hợp phức tạp xét thấy cần có
Trang 3thêm thời gian để xác minh Hơn nữa để đảm bảo thời gian và thủ tục xử lý vi phạm hành chính theo đúng quy định của pháp luật
TTS lập tờ trình này kính đề nghị GĐ sở cho gia hạn thời hạn ra QĐXP đến hết ngày 11/3/2014
10 Tại bản tường trình ngày 12/2/2014, bà Tuyết: hôm nay ngày 12/2/2014 tôi làm
bản tường trình này tường trình lại việc ngày 23/12/2013 bên Sở VH cùng CA Phòng PA 25 kiểm tra tại cơ sở nhà nghỉ Hoàng Lan Bên cơ sở có vi phạm chưa vào sổ đăng ký một phòng 11 và phòng 09 không có giấy ĐKKH Do cơ sở mới
mở nên có một số vđ chưa hiểu biết hết về luật cũng như việc quản lý cơ sở Kính mong Sở cùng các ban ngành giải quyết và bỏ qua cho cơ sở
11 Tại Đơn đề nghị gửi Sở VHTTDL ngày 9/3/2014, bà Tuyết: qua đợt kiểm tra
vừa qua cơ sở đã vi phạm một số vấn đề chưa biết, do cơ sở mới kinh doanh nên chưa có nhiều kinh nghiệm quản lý Vậy kính xin Sở tạo điều kiện cho cơ sở tôi được nộp phạt với khung thấp nhất Qua đó chúng tôi nhận thấy sai sót của mình
và xin hứa khắc phục
12 Ngày 09/03/2014 , TTS có Biên bản làm việc với đương sự VPHC trong lĩnh
vực VH, TT & DL: tiến hành lập BBLV theo nội dung BBVPHC số 11 ngày 23/11/2013 với bà Tuyết đã có vi phạm hc trong hđ kinh doanh dịch vụ nhà trọ bình dân, kết luận: đến 9/3/2014 bà Tuyết không bổ sung được giấy gì, cơ sở kinh doanh có hành vi vi phạm thiếu trách nhiệm thiếu tinh thần trách nhiệm, tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật
tự để tổ chức hoạt động mại dâm Các hành vi trên vi phạm khoản 1 Điều 25 NĐ 167/2013/NĐ-CP, bà Tuyết xin nhận khuyết điểm và phạt mức đầu khung., bà Tuyết đã ký
13 QĐ XPVPHC số 23 ngày 10/03/2014
Căn cứ Điều 25 NĐ 167/2013/NĐ-CP
Căn cứ BBVPHC lập hồi 21h ngày 21/12/2013.
Chánh Thanh tra Sở VH, TT & DL ban hành QĐXPVPHC đối với bà Tuyết, phạt tiền 15.000.000 đ, lý do đã có hành vi vi phạm hành chính thiếu tinh thần trách nhiệm, tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về
an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm (áp dụng khoản 1 Điều 25 Nghị định 167/2013/NĐ-CP)
Nghiêm túc chấp hành trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được giao quyết định
xử phạt là ngày 14/3/2014 (nhận ngày 17/3/2014 qua bưu điện)
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày … tháng … năm 2014: để trống ngày
Trang 414 Tại công văn số 02/2014/CV-TTr ngày 18/3/2014, TT Sở VH TT và DL tỉnh
GL: quá trình đánh máy quyết định có sơ suất, sai sót về mặt hình thức văn bản, nay xin đính chính như sau:
1 Phần căn cứ ra QĐ số 23/QĐ-XPVPHC ngày 10/3/2014
- Tại căn cứ thứ hai dòng 11 từ trên xuống có ghi: Căn cứ Điều 25 NĐ 167/2013 quy định XPVPHC trong hoạt động văn hóa – thông tin
- Nay đính chính lại như sau: Căn cứ vào Điều 25 NĐ 167 trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội
- Tại căn cứ thứ ban dòng thứ 13 từ trên xuống có ghi như sau: “Căn cứ BBVPHC do … lập hồi 21 giờ 00 ngày 21/12/2013 tại 241 Lê Lai…”
Đính chính: Căn cứ BBVPHC số 11/BB-VPHC do Thanh tra Sở lập hồi 21 giờ
00 ngày 23/12/2013 tại số 241 Lê Lai…”
2 Điều 2 ghi thiếu kể từ ngày được giao quyết định là ngày … tháng … năm
…
Nay đính chính lại như sau: Bà Tuyết phải nghiêm chỉnh chấp hành, … kể từ ngày được giao QĐXP là 17/03/2014
3 Tại Điều 3 ghi thiếu như sau: QĐ này có hiệu lực kể từ ngày … tháng …
năm 2014
Đính chính: QĐ này có hiệu lực kể từ ngày ký
Gửi kèm công văn này là bản chính QĐ 23 ngày 10/3/2014 đã được đính chính như trên
Ngày 18/3/2014 gửi Công văn này cho bà Tuyết nhưng bà Tuyết đi vắng có gửi
lại tại nhà nghỉ cho nhân viên để đưa cho bà Tuyết – kèm quyết định đã chỉnh sửa
15 Tại đơn khiếu nại ngày 24/3/2014, bà Tuyết khiếu nại đến GĐ Sở VH, TP
CSĐT – Công an tỉnh G.L
Qua đợt kiểm tra vào ngày 21/12/2013 mà đến ngày 19/03/2014 bà Tuyết mới nhận được QĐXPVPHX là sai với Điều 66 Luật XLVPHC
QĐ không đề hiệu lực ngày tháng năm nào
Bên cạnh đó, nhà nghỉ của bà không tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm Nhà nghỉ chỉ cho thuê khi khách lưu trú có chứng minh nhân dân và viết giấy bảo
Trang 5lãnh là có thể ở trọ.
Theo QđXP áp dụng NĐ 167/2013 trong hoạt động văn hóa thông tin là sai mà đây là NĐ 167 XPHC trong lĩnh vực ANTT – ATXH Cơ sở bà Tuyết không tổ chức hoạt động mại dâm đề nghị đưa ra chứng cứ
Đề nghị xem xét và giải quyết hợp lý mức phạt cho cơ sở chúng tôi
16 Tại Biên bản về việc gặp gỡ, đối thoại số 01/BB-TTr ngày 27/03/2014 tại TTS
VHTTDL
Đ/c Minh: QĐXP đúng, căn cứ Điều 25 NĐ 167/NĐ-CP, tiền phạt 15trđ la mức phạt đầu khung
Đ/c Thành: Biên bản VPHC số 11 ngày 23/12/2013 là đúng (có xác nhận của chủ
cơ sở): chủ cơ sở không đăng ký tạm trú, tạm vắng, cho đăng ký 2 người chung một phòng (không phải là vợ chồng) là không đúng quy định Để ông Thường và
bà Lành quan hệ trong phòng 11 không có giấy kết hôn
Thanh tra sở đã tạo điều kiện cho cơ sở đưa giấy đăng ký kết hôn củ khách nhưng đến 9/3/2014 cơ sở vẫn chưa được giấy ĐKKH Đến ngày 10/3/2014 TTS
đã ra QĐXPVPHC
Bà Tuyết: Thông qua 1 người bạn biết về luật nên đã gửi đơn đến TTS Mục đích viết đơn của tôi để xem lại các khoản tiền phạt có đúng không
Hội đồng họp thống nhất: đây là mức phạt đầu khung, mức nhẹ nhất đối với hành
vi vi phạm trên nên đề nghị bà Tuyết xem xét, có khiếu nại nữa hay không
Bà Tuyết ký
17 Tại Phiếu hướng dẫn giải quyết khiếu nại đén cơ quan có thẩm quyền giải
quyết, VP UBND: đơn khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND tỉnh (trả lại đơn) Đề nghị bà Tuyết gửi đơn đến Sở VHTTDL để được giải quyết theo quy định của pháp luật
18 Thông báo về việc thụ lý giải quyết khiếu nại ngày 27/3/2014 của Chánh thanh
tra SVH, TT & DL: ngày 24/3/2014 nhận đơn khiếu nại QĐ 23 về mức tiền đối với cơ sở (nhà nghỉ Hoàng Lan)
19 Công văn số 167/CV-VHTTDL ngày 07/04/2014 của Giám đốc Sở VHTTDL
gửi bà Tuyết: ngày 25/5/2014, GĐ Sở nhận được đơn khiếu nại của bà Tuyết gửi ngày 24/3/2014 nội dung chính là đề nghị xem xét lại mức xử phạt VPHC đối với hành vi VPHC của nhà nghỉ Hoàng Lan tại QĐ số 23 ngày 10/3/2014 của CTTS
Sở VHTTDL trả lời như sau:
1 Thời hạn ra QĐ xử phạt đối với hành vi vi phạm của nhà nghỉ Hoàng Lan
Trang 6(kể từ ngày lập BBVPHC là ngày 23/12/2013 đến ngày 10/3/2014 ra QĐ
XP là hoàn toàn đúng với quy định của pháp luật
Lý do:
a Đây là TH cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ, TTS
dã xin gia hạn thời gian ra QĐ XPVPHC và có sự đồng ý của người có thẩm quyền
b Quán trình xử lý vụ việc vi phạm, TTS đã tạo điều kiện cho bà chứng minh hành vi của bà là không vi phạm, nhưng đã đến 3 lần đến làm việc
bà vẫn không bổ sung được giấy tờ gì Do đó để đảm bảo đúng thời hạn
ra QĐXP, ngày 10/3/2014 TT Sở đã ra QĐ XPVPHX đối với hành vi của nhà nghỉ Hoàng Lan
2 QĐ XPVPHC không ghi ngày tháng năm kể từ ngày giao QĐXP và không ghi ngày có hiệu lực: đã nhiều lần TTS gọi điện mời bà Tuyết đến nhận QĐ tại 06 Trần Hưng Đạo nhưng bà Tuyết không đến nhận nên Sở gửi
QĐ qua đường bưu điện Do sơ suất, không biết khi nào nhận QĐ nên đã không ghi ngày tháng năm nhận QĐ Ngày 31/3/2014 TTS đã gửi QĐ số 23 ngày 10/3/2014, QĐ đã có đầy đủ các thông tin theo quy định
3 Việc áp dụng Khoản 1 Điều 25 NĐ 167/2013 đối với hành vi của nhà nghỉ Hoàng Lan theo BBVPHC ngày 23/12/2013 là đúng quy định
Qua nội dung trên, xử phạt đúng quy định Trong quá trình xử lý có xem xét
hồ sơ và các bản tường trình, đơn kiến nghị của bà Tuyết Tại đơn và bản tường trình bà Tuyết đã nhận thấy khuyết điểm, hứa sửa chữa và xin nộp phạt với khung tiền phạt thấp nhất, TTS đã áp dụng mức phạt đầu khung đối với HVVP của nhà nghỉ Hoàng Lan
20 Tại đơn khiếu nại ngày 11/04/2014 bà Tuyết khiếu nại đến Chủ tịch UBND
Tỉnh, Giám đốc SVH, GĐ sở CA Nội dung:
1 Căn cứ phía trước là NĐ 167, phía sau là NĐ 158 như thế thì quyết định không
có giá trị pháp lý Trong CV 167 ngày 8/4/2014 không thấy trả lời cho bà Tuyết
về căn cứ mà bà nêu ra đúng hay sai
2 Ngày 31/3/2014 bà Tuyết nhận được QĐ đã được sửa căn cứ nêu trên nhưng Điều 5 ghi QĐ XP ngày 17/3/2014, số tiền phạt nộp trong 10 ngày kể từ ngày được giao QDDXP; Điều 3 QĐ ghi: QĐ này có hiệu lực kể từ ngày ký, trong thời hạn 3 ngày QĐ phải dược gửi cho bà Tuyết, như vậy QĐ trên phải có hiệu lực từ 10/3/2014 như vậy là trái Điều 70 Luật XLVPHC (trong thời hạn 2 ngày làm việc, phải gửi cho người vi phạm để thi hành) Như vậy ngày 31/3 QĐ mới được
Trang 7sửa, nà Tuyết mới nhận nhưng đến nay QĐXP vẫn sai Cụ thể: Căn cứ lập biên bản ngày 21/12/2013 trong QĐ là sai mà phải là 23/12/2013
3 Hành vi vi phạm hành chính không đúng: Tại thười điểm kiểm tra đôi nam nữ viết bản tường trình là vợ chồng Vì vậy không đủ chứng cứ ra QDXP Cơ sở kinh doanh của bà Mại dâm phía nữ phải tường trình nhận lỗi có bán dâm với số tiền bao nhiêu? Đã thừa nhận đã nhận tiền và gọi ai đến và phải trả cho cơ sở của bà bao nhiêu tiền, về phía nam phải có bản tường trình là nhận về hành động mua dâm của mình là bao nhiêu tiền và đã đưa cho cô ấy số tiền cụ thể là bao nhiêu
4 Đã hết thời hạn ra QĐ XPVPHC, cụ thể: đến 11/4/2014 đã gần 4 tháng mà QĐ vẫn còn sai thì đã hết thời hạn ra QĐXPVPHC với bà, theo CV 167 TTS có xin gia hạn nhưng theo khoản 1 Điều 166 Luật XLVPHC gia hạn tối đa không quá
30 ngày BBVPHC được lập ngày 23/12/2013 mà đến 11/4/2014 đã gần 4 tháng vẫn chưa hoàn chỉnh và chưa đầy đủ tính pháp lý, bởi vì căn cứ thứ 3 trong QĐ sai ngày với BBVPHC số 11
Theo CV 167 ghi đã nhiều lần TTS điện thoaij mời bà lên nhận QDDXP là không đúng Thwujc tế 3 lần mời lên làm việc bằng điện thoại không có giấy mời
mà bà vẫn chấp hành
21 CA tỉnh G.L có văn bản số 166/PA25 ngày 20/4/2014 trả lời thư khiếu nại của
bà Tuyết: không thuộc thẩm quyền giải quyết của CA tỉnh
22 Quyết định về việc giải quyết đơn khiếu nại xử phạt VPHC (lần đầu) số 01/QĐ-TTr ngày 20/04/2014, kết luận nội dung khiếu nại không có cơ sở, giữ
nguyên QĐ
23 Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí HCST số 03/2014/TB-TUWAP ngày 08/05/2014, trong thời hạn 7 ngày đến THADS tỉnh GL nộp 200.000đ
24 Ngày 11/05/2014, biên lai thu tiền tạm ứng án phí của Cục thuế tỉnh G.L, theo
VB số 02/2014/TB-TUWAP ngày 8/5/2014 của TA tỉnh G.L
25 Ngày 13/05/2014, Thông báo thụ lý vụ án hành chính số 03/2014/TB-THC
26 GUQ TGTT của bà tuyết cho ông Tuấn ngày 19/5/2014.
27 Ngày 29/5/2014, Chánh Thanh Tra SVH, TT & DL tỉnh GL có CV 04/2014/ CV-TTr gửi TAND tinh G.L nội dung:
Ngày 23/12/2013 TTS và CA tỉnh G.L kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan, phát hiện cơ
sở có hành VPHC trong lĩnh vực AN, TT, ATXH, Đoàn lập BBVPHC số 11 theo mẫu biên bản VPHC trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch
Ngày 29/12/2013 Thanh tra Sở mời bà Tuyết đến làm việc, tại buổi làm việc bà
Trang 8Tuyết viết tường trình, thừa nhận hành vi vi phạm trên và xin sửa chữa, không bổ sung được GĐKKH của các đối tượng trên
Ngày 16/01/2014 Thanh tra Sở xét thấy đây là vụ việc rất phức tạp cần có thêm thời gian xác minh, làm rõ để có đủ cơ sở kết luận, làm căn cứ ra QĐXPVP hành chính hoặc chuyển sang CQĐT để truy tố theo quy định của pháp luât TTS đã có
Tờ trình 02/TT-TTr ngày 16/01/2014 xin gia hạn thời gian ra quyết định XPVPHC, tờ trình đã được GĐ sở phê duyệt
Ngày 12/2/2014, TTS mời bà Tuyết đến làm việc và yêu cầu bổ sung giấy ĐKKH của cac đối tượng trên nhưng bà Tuyết vẫn không chứng minh được họ là
vợ chồng Tại bản tường trình bà vẫn thừa nhận hành vi VP của cơ sở, đồng thời xin thêm thời gian để bổ sung giấy tờ cần thiết
Ngày 9/3/2014 TTS tiếp tục mời bà Tuyết đến làm việc để bổ sung các giấy tờ cần thiết nhưng bà Tuyết không bổ sung thêm được giấy tờ gì Tại bản tường trình ngày 09/3/2014 bà Tuyết vẫn thừa nhận hành vi vi phạm của cơ sở là VPPL nên bà xin chịu nộp phạt với khung thấp nhất
Vì thời hạn ra QĐ XPVPHC không còn nhiều,TTS đã phân tích cho bà Tuyết thấy hành vi vi phạm và bà Tuyết đã ký BB làm việc số 11 ngày 9/3/2014 xin chịu nộp phạt với mức phạt 15 trđ
Do công việc kiểm tra và XLVPHC trong quý I/2014 (nhất là trong dịp Tết nguyên đán) quá nhiều, TTS nhiều lần mời bà Tuyết đến nhận QĐXP nhưng bà Tuyết không đến nhận TTS phải gửi qua bưu điện
Sau khi gửi QĐ 23 TTS phát hiện quá trình đánh máy có sai sót về mặt hình thức văn bản nên đã có công văn đính chính và QĐ XP số 23/QĐ-XP ngày 10/3/2014
đã được điều chỉnh gửi kèm theo cho cơ sở vào ngày 18/3/2014
Ngày 24/3/2014 nhận đơn khiếu nại cả bà Tuyết
Qua đối thoại bà Tuyết trình bày mục đích viết đơn để xem lại khoản phạt tiền có đúng không Ngoài ra bà Tuyết không thắc mắc hay khiếu kiện về mặt hình thức
QĐ 23/ ngày 10/3/2014
Mặc dù TTS đã phân tích nhưng bà Tuyết có thái độ thiếu hợp tác, vẫn gửi đơn khiếu nại đến rất nhiều cơ quan không đúng theo quy định của pháp luật về khiếu nại
28 Ngày 18/6/2014, Biên bản lấy lời khai ông Dương Văn Thủy, đại diện theo
UQ của người bị kiện
Căn cứ ra QĐ 23 là BBVPHC số 11 ngày 23/12/2013
Trang 9Bà Tuyết có hành vi vi phạm NĐ 72/NĐ-CP và TT 33/2010/TT-BCA thì nghề cho thuê lưu trú phải bố trí phòng nghỉ nam riêng, nữ riêng trừ TH gia đình là vợ chồng Đối với TH của bà Tuyết sau khi lập BB thì đã tạo điều kiện cho bafTuyeest có thời gian để cung cấp giấy tờ chứng minh các cặp nam nữ thuê chung phòng là vợ chồng nhưng qua 3 lần làm việc bà Tuyết đều không cung cấp được Vì vậy, hành vi của bà Tuyết là tạo điều kiện cho người khác …
Tại các biên bản làm việc và bản tự khai bà Tuyết đều thừa nhận hành vi vi phạm Sau khi giải quyết khiếu nại lần 1 bà Tuyết cũng đã khiếu nại lần 2 đến
GĐ Sở Việc bà Tuyết khởi kiện ra Tòa là vi phạm Quan điểm giữ nguyên QĐXP
29 Bản tự khai ngày 23/6/2014 của bà Tuyết gửi TAND G.L
QĐ 23 là trái pháp luật bởi lẽ:
Thứ nhất, QĐ 23 cho rằng bà có hành vi “tạo điều kiện …” là hoàn toàn không
đúng sự thật và không có căn cứ vì tại thời điểm tra CSKD của bà hoàn toàn không có hành vi vp nêu trên mà chỉ vi phạm là không vào sổ bà Thùy tại phòng
9 Vì vậy QĐ 23 phạt 15 trđ không có căn cứ
Thứ hai, Biên bản VPHC số 11 lập ngày 23/12/2013 nhưng đến ngày 10/3/2014
thì mới ban hành QĐXP là trái với quy định tại Điều 66 Luật XLVPHC 2012.
30 Tại Biên bản lấy lời khai ngày 10/7/2014
Lấy lời khai ông Mai Anh Tuấn, đại diện theo UQ của bà Tuyết
Bà Tuyết yêu cầu hủy QĐ 23, bà Tuyết nhận QĐ này ngày 17/3/2014 theo đường bưu điện Bà Tuyết chưa thi hành, có khiếu nại và đã được giải quyết KN Bà Tuyết không tiếp tục khiếu nại, bà Tuyết yêu cầu hủy QĐ do CCPL mà Chánh TTS ra QĐXP không đúng, bà Tuyết không có hành vi vi phạm tại khoản 1 Điều
25 NĐ 167/2013 Bà Tuyết kinh doanh loại hình kinh doanh có điều kiện
Bà Tuyết có hành vi vi phạm là không vào sổ theo dõi 1 khách tới ở là bà Lợi mà thôi chứ không có hành vi thể hiện trong BB và QĐ
31 Tại Biên bản lấy lời khai ngày 24/7/2014
Lấy lời khai ông Dương Văn Thành, đại diện theo UQ của người bị kiện trong
VA “Yêu cầu hủy QĐXPVPHC số 23”
- Căn cứ ra QĐ 23: kiểm tra phát hiện, căn cứ khoản 1 Điều 25 NĐ 167/2013/ NĐ-CP
- Điều 2, Điều 3 không thể hiện ngày tháng: sau khi gửi QĐ phát hiện có nhiều thiếu sót nên ngày 18/3/2014 đã có văn bản đính chính, sửa đổi rồi
Trang 10- Bà Tuyết khiếu nại ngày 24/3/2014
- Vì sao cần gia hạn: vì cần thời gian để điều tra, xác minh làm rõ việc có mại dâm hay không vì vậy mới xin gia hạn và được GĐ Sở gia hạn bằng văn bản
- Quan điểm của người bị kiện: Đề nghị TA xem xét giữ nguyên QDXP 23 đối với bà Tuyết
32 Tại Biên bản lấy lời khai ngày 17/8/2014: lập biên bản làm việc giữa ông Tuấn
và ông Thủy là đại diện theo UQ của 2 bên:
Bà Tuyết khởi kiện thừa nhận hành vi vi phạm của bà là không vào sổ theo dõi đối với bà Lợi và có cho cặp nam nữ thuê phòng mà không yêu cầu họ xuất trình GĐKKH Tuy nhiên bà Tuyết không đồng ý với CCPL mà CTTS vì bà tuyết không chứa chấp mại dâm và cũng không tạo điều kiện cho người khác mại dâm Yêu cầu hủy QĐ 23
Người bị kiện: bà Tuyết đã hoàn toàn thừa nhận hành vi vi phạm của mình, hành
vi của bà Tuyết là tạo điều kiện cho người khác thực hiện hành vi trái pháp luật khác Vì vậy CCPL ra QĐ 23 là đúng pháp luật Ý kiến của của người bị kiện là
đề nghị TA đưa VA ra XX giữ nguyên QĐ 23
33 Tại đơn kiến nghị ngày 05/09/2014, bà Tuyết gửi Chánh TTS:
Kiến nghị sửa đổi một phần QDXP 23 với lý do:
Hành vi vi phạm như trên là không đúng và đã khiếu nại, đang khởi kiện
Tôi thừa nhận cơ sở kinh doanh của tôi có vi phạm như tại BB số 11 nhưng cơ sở của bà không có hành vi tạo điều kiện cho người khác hoạt động mại dâm hoặc các hoạt động trái pháp luật khác Vì vậy QĐ 23 xử phạt bà chưa thỏa đáng, ảnh hưởng uy tín danh dự của bà Cơ sở bà chỉ vi phạm “không thực hiện đsung những yêu cầu về các điều kiện đảm bảo an ninh, trật tự” theo khoản 1 Điều 25 sang điểm c khoản 3 Điều 11 NĐ 167/2013 Nếu được chấp nhận lý do kiến nghị,
cơ sở bà sẽ nghiêm túc chấp hành QĐXP
34 QĐ đưa vụ án ra xét xử số 04/2014/QĐST-XX ngày 10/9/2014 của TAND
Tỉnh G.L: 7h30 ngày 30/9/2014
Chỉ ghi tên TP, không ghi tên hội thẩm, đại diện VKS