1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Ảnh Hưởng Của Thông Tin Bất Cân Xứng Trong Quản Lý Phương Tiện

89 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 3,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • BÌA

  • TÓM TẮT

  • MỤC LỤC

  • DANH MỤC BẢNG BIỂU

  • DANH MỤC HÌNH VẼ

  • DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

  • Chương I. GIỚI THIỆU

  • Chương II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT

    • 2.1. Lý thuyết về thông tin bất cân xứng

      • 2.1.1. Giới thiệu sơ lược về thông tin bất cân xứng

      • 2.1.2. Các khái niệm về thông tin bất cân xứng

      • 2.1.3. Hệ quả của thông tin bất cân xứng

      • 2.1.4. Giải pháp lý thuyết hạn chế thông tin bất cân xứng

      • 2.3. Một số sản phẩm của hệ thống thiết bị định vị toàn cầu

        • 2.3.1. Sơ lược về phần cứng thiết bị GPS:

        • 2.3.2. Phần mềm trang chủ

        • 2.3.3. Phần mềm trang web người sử dụng6

        • 2.3.4. Cơ chế vận hành7

    • 2.2. Lý thuyết về hệ thống thiết bị định vị toàn cầu ( GPS: Global Positioning System)

      • 2.2.1.Định nghĩa 1:

      • 2.2.2. Định nghĩa 2

    • 2.3. Một số sản phẩm của hệ thống thiết bị định vị toàn cầu.

      • 2.3.1. Sơ lược về phần cứng thiết bị GPS:

      • 2.3.2. Phần mềm trang chủ

      • 2.3.3. Phần mềm trang web người sử dụng6

      • 2.3.4. Cơ chế vận hành7

    • 2.4. Một số ứng dụng hệ thống thiết bị định vị toàn cầu vào ngành quản lý phương tiệnvận tải ở Việt Nam và trên thế giới

      • 2.4.1. Một số ứng dụng hệ thống thiết bị định vị toàn vào ngành quản lý phương tiệnvận tải ở Việt Nam8

      • 2.4.2. Một số ứng dụng hệ thống thiết bị định vị toàn cầu vào hệ thống dẫn đường trênThế giới

  • Chương III. KHẢO SÁT THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ PHƯƠNG TIỆN VẬNCHUYỂN ĐƯỜNG BỘ THEO PHƯƠNG PHÁP TRUYỀN THỐNG

    • 3.1. Bối cảnh:

    • 3.2. Kinh nghiệm làm việc và ý kiến của các nhà quản lý phương tiện vận tải đường bộtrong những năm qua

    • 3.3. Thực trạng quản lý phương tiện vận chuyển đường bộ

      • 3.3.1. Phương pháp phân tích và thu thập thông tin.

      • 3.3.2. Kết quả khảo sát

  • Chương IV. GỢI Ý MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KẾT LUẬN

    • 4.1. Thông tin của Bộ Giao Thông Vận Tải

    • 4.2. Những qui định mới14

    • 4.3. Gợi ý một số chính sách chính của đề tài:

      • 4.3.1. Quản trị trạng thái của phương tiện

      • 4.3.2. Quản trị lịch làm việc từng ngày của phương tiện( Nhật ký điều động từngphương tiện )

      • 4.3.3. Quản trị nhật ký hành trình làm việc của phương tiện

      • 4.3.4. Quản trị số kilomet vận hành từng ngày của từng phương tiện

      • 4.3.5. Ứng dụng khác của GPS trong việc quản trị phương tiện vận chuyển

  • KẾT LUẬN

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • PHỤ LỤC 1

  • PHỤ LỤC 2

  • PHỤ LỤC 3BẢNG CÂU HỎI THU THẬP THÔNG TIN

Nội dung

GIỚI THIỆU

Mở đầu

Quản trị phương tiện vận chuyển đường bộ đòi hỏi thông tin chính xác về trạng thái, vị trí hiện tại, vị trí khởi hành và lộ trình đã đi qua Khi thông tin giữa nhà quản trị và người vận hành không trung thực, sẽ dẫn đến nhiều vấn đề nghiêm trọng như tâm lý ỷ lại, tự ý điều chỉnh lộ trình, đi sai tuyến, đến trễ và báo cáo không chính xác Những hậu quả này không chỉ làm tăng chi phí cho doanh nghiệp mà còn giảm năng lực cạnh tranh và năng suất hoạt động trong ngành vận tải tại Việt Nam.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, sự xuất hiện của các tập đoàn cung ứng quốc tế và quản lý chuyên nghiệp đã tạo ra sự cạnh tranh gay gắt cho các doanh nghiệp trong nước Do đó, các doanh nghiệp cần đánh giá lại hiệu quả quản trị phương tiện vận chuyển, cũng như xem xét chi phí và năng suất của mình để phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế thế kỷ 21.

Các nhà quản lý phương tiện vận chuyển đường bộ thường sử dụng đồng hồ kilomet để đo khoảng cách và điện thoại để liên lạc với người vận hành nhằm nắm bắt giờ đi, giờ đến và vị trí hiện tại Phương pháp này được xem là phương pháp truyền thống trong quản lý vận tải.

Ngày nay, sự phát triển của công nghệ thông tin và khoa học kỹ thuật số đã dẫn đến việc ra đời nhiều thiết bị giám sát phương tiện vận chuyển, nổi bật là hệ thống GPS Các phương tiện được trang bị GPS có khả năng cung cấp thông tin về trạng thái và vị trí hiện tại của chúng.

Vị trí khởi hành, lộ trình đã đi qua,… Phương pháp quản lý này tạm gọi là phương pháp hiện đại.

Vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng quản lý phương tiện vận chuyển đường bộ cho thấy sự tồn tại của thông tin không cân xứng giữa người quản lý và người vận hành Thiếu cơ chế giám sát hiệu quả sẽ ảnh hưởng đến mức độ hợp tác trong quản lý Do đó, tôi chọn đề tài cho bài luận văn của mình là: “ẢNH HƯỞNG CỦA THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG TRONG QUẢN LÝ PHƯƠNG TIỆN VẬN CHUYỂN ĐƯỜNG BỘ”.

LÝ PHƯƠNG TIỆN VẬN CHUYỂN ĐƯỜNG BỘ VÀ PHƯƠNG PHÁP QUẢN

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Bài luận văn này nhằm khảo sát và đánh giá tình trạng quản lý phương tiện vận chuyển đường bộ theo phương pháp truyền thống, từ đó đề xuất các giải pháp quản trị hợp lý Mục tiêu là tăng cường khả năng cạnh tranh, đặc biệt là về chi phí và năng suất, nhằm hỗ trợ phát triển bền vững cho các doanh nghiệp Việt Nam.

1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu: Để tập trung giải quyết mục tiêu của đề tài luận văn, câu hỏi sau đây cần được trả lời là: Những ảnh hưởng của thông tin bất cân xứng theo phương pháp quản lý truyền thống hiện nay đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp như thế nào?

1GPS:Global Positioning System = Hệ thống định vị toàn cầu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1.Đối tượng nghiên cứu: Các nhà quản trị phương tiện vận chuyển đường bộ ở các công ty vận tải hàng hóa hay vận chuyển hành khách hay các công ty phân phối, công ty sản xuất và kinh doanh, cho thuê xe du lịch,… đối tượng nghiên cứu được chọn lọc dựa theo tỷ lệ phân bổ các chủ phương tiện từ các quận huyện

1.4.2.Phạm vi nghiên cứu: Trên các quận của địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh, trong không gian nước Việt Nam

Giới hạn của nghiên cứu:

Nghiên cứu này không bao gồm các đối tượng quản trị phương tiện vận chuyển đường thủy, đường không và đường sắt Ngoài ra, các phương tiện như xe máy, xe thô sơ, xe quân sự, xe cứu thương, xe chở tù nhân, xe chở quan chức cấp cao, xe tang và xe cảnh sát cũng không được xem xét trong phạm vi nghiên cứu.

Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu

về hệ thống định vị toàn cầu GPS,…

Kết cấu của đề tài

Bài viết được cấu trúc theo trình tự sau: Chương II trình bày về thông tin bất cân xứng, các khái niệm liên quan và lý thuyết hệ thống định vị toàn cầu GPS, cùng với những ứng dụng của GPS trong quản trị phương tiện vận chuyển đường bộ Chương III đánh giá thực trạng quản trị phương tiện vận chuyển đường bộ bằng phương pháp truyền thống Cuối cùng, Chương IV đưa ra kết luận về các vấn đề nghiên cứu và đề xuất những gợi ý chính sách.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Lý thuyết về thông tin bất cân xứng

2.1.1 Giới thiệu sơ lược về thông tin bất cân xứng

Lý thuyết thông tin bất cân xứng được G.A Akerlof giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1970, trong nghiên cứu về giao dịch mua bán xe ô tô Akerlof chỉ ra rằng người bán thường có lợi thế thông tin hơn người mua, vì họ hiểu rõ đặc tính của chiếc xe và thường muốn bán với giá cao hơn.

G.A Akerlof giả định rằng: xác suất để mua xe tốt là q thì xác suất mua xe xấu là (1-q) (thị trường được phân loại xe tốt và xấu) Khi đó mức giá trung bình (P) được giả định mua xe là: P = P1q + P2(1-q)

Trong thị trường ô tô, người mua thường không phân biệt được giữa xe tốt và xe xấu, dẫn đến việc họ chỉ mua xe ở mức giá trung bình Tuy nhiên, giá của xe tốt thường cao hơn mức giá trung bình, khiến cho chỉ những xe xấu được giao dịch ở mức giá này Do đó, xác suất mua được xe tốt giảm xuống, dẫn đến tình trạng lựa chọn bất lợi, khi người mua có thể trả giá cao cho xe xấu, trong khi người bán không thể bán xe tốt với giá hợp lý.

Một cách hiệu quả để giảm thiểu thông tin bất cân xứng trên thị trường là thông qua các tổ chức trung gian Những tổ chức này giúp cung cấp thông tin sản phẩm rõ ràng hơn cho người mua, bao gồm bảo hành, nhãn mác và thông số kỹ thuật Nhờ đó, các bên giao dịch có thể tiếp cận thông tin cân bằng hơn, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện giao dịch.

Michael Spence (1973): Phát tín hi ệu

M Spence, tiếp nối lý thuyết của G.A Akerlof, đã nghiên cứu thị trường lao động và xem việc thuê lao động như một quyết định đầu tư không chắc chắn, bởi người chủ không thể biết trước khả năng đóng góp và năng suất của người lao động Điều này dẫn đến rủi ro trong việc thuê lao động có chất lượng hoặc không Để giảm thiểu rủi ro này, người chủ có thể xem xét các tín hiệu như bằng cấp và kinh nghiệm của ứng viên, giúp giảm thiểu thông tin bất cân xứng giữa lao động và nhà tuyển dụng.

Joseph Stiglitz (1975): Cơ chế s àng l ọc

Cơ chế sàng lọc của J Stiglitz, phát triển từ lý thuyết của Michael Spence, nhấn mạnh rằng hàng hóa và lao động có những đặc tính khác nhau, đòi hỏi phải phân loại chúng Lao động có tay nghề cao cần được trả lương cao để khuyến khích năng suất lao động, trong khi lao động tay nghề thấp sẽ gặp khó khăn trong việc đạt được mức năng suất tương tự Việc phân nhóm lao động và điều chỉnh lương là cần thiết để khuyến khích nâng cao trình độ, từ đó mang lại hiệu quả cao cho xã hội.

2.1.2 Các khái niệm về thông tin bất cân xứng

1) Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có nhiều thông tin hơn một bên khác Điển hình là người bán biết nhiều về sản phẩm hơn đối với người mua hoặc ngược lại (Trang từ điển Wikipedia)

Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên đối tác sở hữu thông tin trong khi bên kia không nắm rõ mức độ thông tin đó.

2.1.3 Hệ quả của thông tin bất cân xứng

Thông tin bất cân xứng (Asymmetry Information - AI) là tình trạng mà một bên nắm giữ thông tin nhiều hơn bên còn lại trong thị trường, dẫn đến sự xa rời thực tế của các lý thuyết kinh tế học tân cổ điển Những giả định như thông tin hoàn hảo, không có chi phí giao dịch, và thị trường cạnh tranh hoàn hảo rất khó xảy ra, đặc biệt ở các nước đang phát triển như Việt Nam, nơi tính minh bạch và cơ sở hạ tầng thông tin còn yếu kém Trong thị trường tài chính, ba vấn đề thường gặp là rủi ro, sự bất trắc và thông tin bất cân xứng, trong đó AI làm tăng chi phí giao dịch và có thể khiến một số thị trường không tồn tại.

AI dẫn đến hai hành vi phổ biến trong thị trường là lựa chọn bất lợi (Adverse

Seclection – AS) và tâm lý ỷ lại (Moral Hazard – MH) AS không phải là một quyết

Thông tin bất cân xứng, theo Nguyễn Trọng Hoài (2006), xảy ra khi một bên trong thị trường che giấu thông tin, dẫn đến sự lựa chọn không công bằng và gây bất lợi cho bên còn lại trước khi giao dịch diễn ra Sự lựa chọn này có thể khiến một phân khúc thị trường trở nên rủi ro, thậm chí dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàn Chẳng hạn, trong thị trường hàng hóa có sự pha trộn giữa hàng thật và hàng giả, việc che đậy thông tin từ người bán khiến người mua chỉ willing to pay mức giá trung bình thấp hơn giá hàng thật, từ đó gây thiệt hại cho những người bán hàng chân chính.

Trong ngành vận tải đường bộ, sự thiếu chính xác và rõ ràng trong thông tin giữa tài xế và người quản lý, đặc biệt khi khoảng cách xa, tương tự như các giao dịch trên thị trường chứng khoán hoặc trong ngân hàng Do thông tin khác nhau giữa các bên giao dịch, tồn tại hai hệ quả chính: lựa chọn bất lợi và tâm lý ỷ lại.

Lựa chọn bất lợi xuất phát từ thông tin bị che giấu và thường xảy ra trước khi giao dịch hoặc ký hợp đồng (Nguyễn Trọng Hoài, 2006) Một yếu tố quan trọng trong tình huống này là tâm lý ỷ lại, nơi mà các bên liên quan có thể không đánh giá đúng thông tin có sẵn, dẫn đến quyết định không tối ưu.

Thông tin bất cân xứng dẫn đến tâm lý ỷ lại, thường xuất hiện khi hành vi bị che đậy và sau khi ký hợp đồng (Nguyễn Trọng Hoài, 2006) Để khắc phục tình trạng này, cần áp dụng các giải pháp lý thuyết nhằm hạn chế thông tin bất cân xứng.

Trong các lĩnh vực có thông tin bất cân xứng, các giải pháp phổ biến để giảm thiểu tình trạng này bao gồm cơ chế phát tín hiệu, cơ chế sàng lọc và cơ chế giám sát (Nguyễn Trọng Hoài, 2006).

Phát tín hiệu trong thị trường hàng hóa có thể được cải thiện thông qua việc xây dựng thương hiệu bền vững, kết hợp với các chế độ hậu mãi và quảng cáo để giảm thiểu vấn đề lựa chọn bất lợi từ AI Tuy nhiên, việc quảng cáo quá mức có thể phản tác dụng, và tại Việt Nam, việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ vẫn còn nhiều hạn chế, khiến doanh nghiệp gặp khó khăn dù đã đăng ký thương hiệu Trong thị trường lao động, tín hiệu được phát đi thông qua yêu cầu về bằng cấp tin cậy và thư giới thiệu từ những người có uy tín, đồng thời nhà tuyển dụng cũng cần tạo cơ hội cho ứng viên thông qua các hình thức như tuyển dụng thử và sát hạch bởi hội đồng tuyển dụng.

Lý thuyết về hệ thống thiết bị định vị toàn cầu

G: Global( Toàn cầu) P: Positioning( Định vị) S: System( Hệ thống)

Hệ thống định vị toàn cầu do Bộ Quốc phòng Mỹ phát triển và điều hành 3

Hệ thống gồm 3 phần : Phần vũ trụ ( Space segment ) Phần điều khiển ( Control Segment ) Phần sử dụng ( Use Segment )

2.2.1.1.Phần vũ trụ ( Space segment )

Gồm 24 vệ tinh quay xung quanh trái đất hai lần trong ngày trong quỹ đạo rất chính xác Độ cao vệ tinh so với mặt đất là 20.183 km, chu kỳ quay quanh trái đất là 11 giờ 57’58”

Hình 1: Vệ tinh quay xung quanh trái đất

3 vocw.edu.vn/content/m10595/latest/

Phần vũ trụ đảm bảo rằng mọi vị trí trên trái đất đều có thể quan sát ít nhất 4 vệ tinh ở góc trên 15 độ Nếu giảm góc quan sát xuống 10 độ, số lượng vệ tinh có thể quan sát tăng lên 10, và ở góc 5 độ, có thể quan sát được 12 vệ tinh.

Ghi nhận và lưu trữ các thông tin được truyền đi từ phần điều khiển

Xử lý dữ liệu có chọn lọc trên vệ tinh

Duy trì chính xác cao của thời gian bằng các đồng hồ nguyên tử

Chuyển tiếp thông tin đến người sử dụng

Thay đổi quỹ đạo bay của vệ tinh theo sự điều khiển từ mặt đất

2.2.1.2 Phần điều khiển ( Control Segment )

Gồm một trạm điều khiển chính, 5 trạm thu số liệu, 3 trạm truyền số liệu

Trạm điều khiển chính tại Colorado Springs (Mỹ) có chức năng thu thập và xử lý dữ liệu theo dõi vệ tinh từ các trạm thu số liệu.

Công nghệ xử lý bao gồm các yếu tố quan trọng như tính toán lịch thiên văn, hiệu chỉnh đồng hồ, điều chỉnh quỹ đạo điều khiển và thay thế các vệ tinh ngừng hoạt động bằng các vệ tinh dự phòng.

Có năm trạm thu số liệu được đặt tại Hawaii, Colorado Springs, Ascension (Nam Đại Tây Dương), Diago Garia (Ấn Độ Dương) và Kwayalein (Nam Thái Bình Dương) với nhiệm vụ theo dõi tín hiệu vệ tinh để kiểm soát và dự đoán quỹ đạo của chúng Mỗi trạm được trang bị máy thu P-code để thu nhận tín hiệu từ vệ tinh, sau đó truyền về trạm điều khiển chính.

Ba trạm truyền số liệu tại Ascension, Diago Garcia và Kwayalein có khả năng chuyển dữ liệu lên vệ tinh, bao gồm lịch thiên văn mới, hiệu chỉnh đồng hồ, thông điệp cần phát và các lệnh điều khiển từ xa.

2.2.1.3 Phần sử dụng ( Use Segment )

 Những máy thu tín hiệu GPS có anten riêng ( máy định vị )

 Các thiết bị tự ghi ( bộ ghi số liệu )

 Máy tính ( phần mềm xử lý số liệu )

Máy thu GPS tính toán đơn vị với tần suất mỗi giây một vị trí và cho độ chính xác từ dưới 1m – 5m

Khi di chuyển hoặc dừng lại, máy thu GPS nhận tín hiệu từ vệ tinh để tính toán vị trí Kết quả này được hiển thị dưới dạng tọa độ trên màn hình của bộ ghi số liệu.

Bộ ghi số liệu là thiết bị cầm tay tích hợp phần mềm thu thập dữ liệu, cho phép ghi lại vị trí và gắn thông tin thuộc tính liên quan đến vị trí đó.

Hệ thống GPS đi kèm với phần mềm xử lý số liệu, cho phép thu thập dữ liệu từ thực địa Sau khi thu thập, phần mềm sẽ chuyển đổi thông tin vị trí và thuộc tính sang máy tính (PC), đồng thời nâng cao độ chính xác thông qua kỹ thuật phân sai.

Phần mềm xử lý số liệu GPS không chỉ có khả năng biên tập và vẽ mà còn hỗ trợ thu thập các yếu tố địa lý cùng thông tin thuộc tính cho GPS và các cơ sở dữ liệu khác.

GPS, hay hệ thống định vị toàn cầu, bao gồm một chòm sao vệ tinh kết hợp với thiết bị mặt đất, cho phép người dùng xác định vị trí chính xác trên bề mặt trái đất bất kỳ lúc nào Hệ thống này hoạt động với 24 vệ tinh đang bay trên quỹ đạo.

2.2.2.1.Các thành phần của GPS

Hệ thống GPS bao gồm vệ tinh, máy thu và hệ thống điều khiển mặt đất Các vệ tinh phát tín hiệu ở tần số 1575,42 MHz, giúp máy thu GPS dưới mặt đất tách ra được Máy thu này có thể lắp đặt trên tàu, máy bay và ô tô, cung cấp thông tin định vị chính xác trong mọi điều kiện thời tiết Chúng phát hiện, giải mã và xử lý tín hiệu vệ tinh GPS để xác định vị trí người dùng một cách chính xác.

2.2.2.2.Hoạt động của hệ thống 4

GPS sử dụng tín hiệu từ vệ tinh để xác định vị trí chính xác của người dùng thông qua phép tam giác đạc Khoảng cách được đo dựa trên thời gian tín hiệu vô tuyến từ vệ tinh đến máy thu mặt đất, với sự hỗ trợ của các đồng hồ chính xác trên vệ tinh Khi khoảng cách đã được xác định, vị trí của các vệ tinh trong không gian sẽ được sử dụng để hoàn thiện tính toán Các máy thu GPS có một "cuốn niên giám" lưu trữ thông tin về vị trí của từng vệ tinh trên bầu trời tại bất kỳ thời điểm nào Để nâng cao độ chính xác, các máy thu cũng tính toán thời gian trễ qua tầng đối lưu và khí quyển Mỗi vệ tinh được trang bị bốn đồng hồ nguyên tử chính xác đến ba phần tỷ giây, trong khi đồng hồ trên máy thu mặt đất có độ chính xác thấp hơn một chút để tiết kiệm chi phí, nhưng vẫn đảm bảo khả năng đo tầm hoạt động vệ tinh.

Khối mặt đất nhận tín hiệu vệ tinh với tốc độ ánh sáng, nhưng tín hiệu vẫn cần một khoảng thời gian nhất định để đến máy thu Sự chênh lệch giữa thời điểm gửi và nhận tín hiệu giúp máy thu xác định khoảng cách tới vệ tinh Để đo chính xác độ cao, kinh độ và vĩ độ, máy thu thực hiện việc đo thời gian tín hiệu từ nhiều vệ tinh khác nhau.

4www.tapchibcvt.gov.vn/News/PrintView.aspx?ID626

Một số sản phẩm của hệ thống thiết bị định vị toàn cầu

2.3.1 Sơ lược về phần cứng thiết bị GPS:

Một số sản phẩm tiêu biểu 5 : a) XBX-M : A Compact GPS BlackBox For Fleet Management - Thiết bị hộp đen quản lý đội xe:

XBX-M là thiết bị hộp đen GPS thông minh, được thiết kế với nhiều tính năng mạnh mẽ, giúp chủ phương tiện quản lý xe của mình một cách hiệu quả và tiện lợi mọi lúc, mọi nơi.

Thiết bị nhỏ gọn, có thể lắp trên xe hai bánh hoặc Xe Ôtô dễ dàng

VECOM giới thiệu giải pháp quản lý Ôtô thông minh và hiệu quả với hộp đen XBX-M, thông qua hệ thống quản lý Ôtô VECOM FMS.

Hệ thống VECOM FMS đã được tập đoàn Đa Quốc Gia Unilever lựa chọn cho việc quản lý đội xe kinh doanh Marketting của họ tại Việt Nam

Chức năng Tracking-On demand của thiết bị XBX-M đã hỗ trợ nhiều chủ phương tiện cá nhân trong việc xác định vị trí xe của họ khi bị mang đi "thế chấp" tại các dịch vụ cầm đồ.

XBX-M thực sự mạnh mẽ và hữu ích với bộ lệnh giao tiếp SMS Người - Máy

Hệ thống "Human-Machine" của Hộp đen GPS VECOM mang lại sự tiện lợi và dễ dàng sử dụng cho mọi người sở hữu điện thoại di động Đây chính là ưu điểm nổi bật mà các sản phẩm tương tự không có được Sản phẩm XBX-A - XblackBox không chỉ đảm bảo an toàn khi lái xe mà còn hỗ trợ quản lý đội xe hiệu quả.

Hộp đen ô tô là thiết bị với bộ nhớ lớn, được thiết kế cho hệ thống quản lý ô tô và lái xe an toàn Tích hợp công nghệ GPS của Mỹ và GSM/GPRS của EU, thiết bị cho phép chủ xe xác định vị trí ô tô mọi lúc, mọi nơi có sóng di động Bên cạnh đó, nó còn có chức năng thông báo khẩn cấp và khả năng chống trộm, giúp quản lý xe hiệu quả và đảm bảo an toàn cho người sử dụng.

2.3.3 Phần mềm trang web người sử dụng 6

2.3.5 Thuyết minh qui trình vận hành:

Hệ thống GPS hoạt động thông qua hộp đen gắn thẻ SIM (như Viettel, Mobifone, Vina, S-phone) để thu sóng GPRS từ vệ tinh Tín hiệu GPRS này được gửi về phần mềm chủ, nơi nó được mã hóa thành cơ sở dữ liệu của Vietmap, Google Map, cho phép người dùng xác định vị trí chính xác của phương tiện được gắn thiết bị GPS trên bản đồ.

2.4 Một số ứng dụng hệ thống thiết bị định vị toàn cầu vào ngành quản lý phương tiện vận tải ở Việt Nam và trên thế giới

2.4.1 Một số ứng dụng hệ thống thiết bị định vị toàn vào ngành quản lý phương tiện vận tải ở Việt Nam 8 a) Các nhà khoa học dựa vào tính năng chính xác của GPS để thiết lập các bản đồ, khảo sát các công trình, tuyến kênh, tuyến đường, xác định vị trí chính xác của các trụ điện, đường dây tải điện, quản lý các tuyến xe… Các xe hơi hiện nay đều có xu hướng cài đặt hệ thống dẫn đường (Navigation)

Hệ thống GPS cho phép hiển thị thông tin về vị trí và tọa độ của xe trên màn hình, giúp người lái dễ dàng tìm kiếm và điều chỉnh lộ trình nhanh chóng Ngoài ra, GPS còn được ứng dụng trong việc quản lý động vật hoang dã thông qua việc gắn chip GPS lên chúng, từ đó kiểm soát hoạt động của chúng một cách chặt chẽ Hiện tại, Việt Nam đang tiến hành thử nghiệm áp dụng công nghệ này để quản lý đàn sếu đầu đỏ tại miền Tây.

Tại TP Hồ Chí Minh, việc áp dụng công nghệ GPS trong quản lý tuyến xe buýt đang được triển khai hiệu quả Hệ thống hạ tầng đã được hoàn thiện, các doanh nghiệp vận tải chỉ cần trang bị đầu thu với chi phí khoảng 30 - 60 USD cho mỗi xe để theo dõi và quản lý phương tiện.

Xe buýt có thể bị theo dõi tình trạng như bỏ trạm, chạy quá tốc độ hoặc đi sai tuyến thông qua việc nắm bắt tọa độ của từng xe Việc kiểm tra hộp đen (Black Box) lưu trữ thông tin giúp phát hiện các hành vi sai phạm của nhân viên một cách dễ dàng.

Cải thiện chất lượng phục vụ trên xe buýt sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng, thu hút người dân lựa chọn phương tiện giao thông công cộng, từ đó giúp giảm chi phí trợ giá hàng năm cho các dịch vụ vận chuyển hành khách.

8 Sài Gòn Giải phóng, 26/06/2007 b) Bài toán quản lý xe bưu chính: Quản lý theo phương thức trực tuyến

Quản lý trực tuyến trong ngành bưu chính là quá trình liên lạc và trao đổi dữ liệu giữa trung tâm điều hành và xe bưu chính thông qua hệ thống trực tuyến.

Tại trung tâm điều khiển:

1 Màn hình hiện thị bản đồ số từng khu vực địa lý

2 Máy chủ và các máy trạm tùy theo nhu cầu quản lý với hệ thống thông tin quản lý GIS 9 bằng phần mềm MapInfo với phương thức lập trình bằng ngôn ngữ MapBasic

2 Thiết bị thu thập và truyền dữ liệu GPS thông qua phương thức SMS nhờ Modem GPRS 10

Các phương thức truyền dẫn ở đây thông qua mạng di động GPRS, các ID của từng xe bưu chính được thể hiện qua các ID của SMS nhận về

Hình 5: Minh họa phương thức truyền dữ liệu trực tuyến

10 GPRS: General Packet Radio Service

2.4.2 Một số ứng dụng hệ thống thiết bị định vị toàn cầu vào hệ thống dẫn đường trên

Phương pháp dẫn đường vô tuyến điện sử dụng thiết bị phát sóng vô tuyến từ một trạm cố định với vị trí đã biết Tại điểm thu sóng, máy thu sẽ tính toán thời gian và khoảng cách để xác định vị trí của nó Ngoài ra, phương pháp GPS/GNSS cũng được xem là một hình thức dẫn đường vô tuyến, trong đó các vệ tinh của hệ thống định vị toàn cầu hoạt động như các trạm phát sóng vô tuyến trong không gian.

Hình 6: Một loại máy dẫn đường GPS trên xe hơi (Vision Engineer, 2005)

Hình 7: Máy dẫn đường GPS trên xe taxi ở Nhật (Wikipedia, 2006)

Hệ thống dẫn đường tại Nhật Bản sử dụng ứng dụng GPS gắn trực tiếp trên phương tiện, kết nối với nguồn điện của xe Hệ thống này cung cấp thông tin về vị trí và tọa độ của xe trên màn hình, giúp người lái dễ dàng tìm kiếm và điều chỉnh lộ trình một cách nhanh chóng và hiệu quả.

Ứng dụng GPS trong quản lý phương tiện vận tải ở Việt Nam và trên thế giới

Khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã dẫn đến sự giảm sút rõ rệt trong khối lượng vận tải hàng hóa và hành khách tại Việt Nam Tại TP Hồ Chí Minh, ông Đinh Nam Dinh, Phó chủ tịch Hiệp hội vận tải hàng hóa TP HCM, cho biết rằng các khách hàng lớn đang trải qua mức giảm trung bình khoảng 40%, với một số khách hàng giảm tới 60-70%.

Các doanh nghiệp vận tải hiện đang đối mặt với tình trạng 30-50% số lượng xe ngừng hoạt động Mặc dù đã tự hạ giá cước từ 10-15%, một số tuyến đường dài còn giảm hơn 20%, nhiều doanh nghiệp vẫn thua lỗ và buộc phải bán xe, đứng trước nguy cơ phá sản.

Năm 2009 được dự báo một số lĩnh vực vận tải hàng hóa, đặc biệt vận tải hàng xuất nhập khẩu sẽ còn khó khăn gay gắt hơn năm 2008

Trong năm 2009 và thời gian tới, các doanh nghiệp không chỉ phải đối mặt với những khó khăn khách quan mà còn gặp nhiều thách thức trong việc quản lý phương tiện vận chuyển Quản lý kém sẽ dẫn đến tăng chi phí và giảm năng lực cạnh tranh, từ đó có thể dẫn đến nguy cơ phá sản.

12 giaothongvantai.com.vn: 02:36' PM - Thứ bảy, 07/03/2009

KHẢO SÁT THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ PHƯƠNG TIỆN VẬN CHUYỂN ĐƯỜNG BỘ THEO PHƯƠNG PHÁP TRUYỀN THỐNG

Bối cảnh

Khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã dẫn đến sự sụt giảm rõ rệt trong khối lượng vận tải hàng hóa và hành khách trong nước Tại TP Hồ Chí Minh, ông Đinh Nam Dinh, Phó chủ tịch Hiệp hội vận tải hàng hóa TP HCM, cho biết rằng những khách hàng lớn đã ghi nhận mức giảm trung bình lên đến 40%, trong khi một số khách hàng giảm tới 60-70%.

Các doanh nghiệp vận tải hiện đang đối mặt với tình trạng 30-50% xe ngừng hoạt động Dù đã hạ giá cước từ 10-15%, một số tuyến đường dài còn giảm hơn 20% Nhiều doanh nghiệp thua lỗ buộc phải bán xe và đứng trước nguy cơ phá sản.

Năm 2009 được dự báo một số lĩnh vực vận tải hàng hóa, đặc biệt vận tải hàng xuất nhập khẩu sẽ còn khó khăn gay gắt hơn năm 2008

Trong bối cảnh năm 2009 và thời gian tới, các doanh nghiệp đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, không chỉ từ yếu tố khách quan mà còn từ việc quản lý phương tiện vận chuyển Quản lý kém có thể dẫn đến tăng chi phí và giảm năng lực cạnh tranh, từ đó đẩy doanh nghiệp đến nguy cơ phá sản.

12 giaothongvantai.com.vn: 02:36' PM - Thứ bảy, 07/03/2009

Kinh nghiệm làm việc và ý kiến của các nhà quản lý

Kinh nghiệm thực tế cho thấy rằng khi điều động xe chở hàng từ kho đến các đại lý, khách hàng thường phàn nàn về việc giao hàng không đúng hẹn Thời gian giao hàng không đúng như đã hứa là một trong những điểm quan trọng khiến khách hàng không hài lòng.

Khi thực hiện cuộc gọi để thu thập thông tin phục vụ cho việc điều phối tuyến đường hoặc trả lời khách hàng về thời gian giao hàng, người vận hành phương tiện thường không cung cấp thông tin trung thực hoặc không hợp tác, dẫn đến những tranh cãi không cần thiết.

Cuối cùng, những rủi ro liên quan đến lộ trình và trạng thái của phương tiện có thể dẫn đến việc đi sai tuyến hoặc không đúng lộ trình quy định, gây phát sinh chi phí không cần thiết Hơn nữa, việc người vận hành sử dụng phương tiện cho công việc riêng trong giờ làm việc cũng làm gia tăng chi phí vận hành.

Theo khảo sát ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực này, hầu hết đều bày tỏ sự không hài lòng với thông tin công việc Sự thiếu trung thực và không chính xác của thông tin đã ảnh hưởng tiêu cực đến kế hoạch làm việc, quyết định và cam kết với khách hàng.

Trong quản lý phương tiện vận tải đường bộ, sự thiếu hoàn hảo trong thông tin giữa người vận hành và người quản lý dẫn đến tâm lý ỷ lại và hành vi che giấu thông tin Hệ quả là hiệu quả vận hành giảm sút, gây tăng chi phí kế toán, mất cơ hội, giảm năng suất làm việc, giảm khả năng cạnh tranh và làm giảm sự hài lòng của khách hàng.

Thông tin quý báu trên cho thấy rằng cơ chế hợp tác giữa người vận hành và người quản lý đang gặp phải sự kém hiệu quả, dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng trong quá trình làm việc.

Trong ngành quản lý phương tiện vận tải đường bộ tại Thành Phố Hồ Chí Minh, việc thu thập thông tin từ các nhà quản lý là cần thiết để xây dựng cơ sở dữ liệu đầy đủ và đưa ra kết luận khoa học Nghiên cứu này nhằm khắc phục tình trạng thông tin bất cân xứng, từ đó đề xuất các giải pháp hiệu quả Dưới đây là kết quả xử lý thông tin và ý kiến từ các đối tượng nghiên cứu trong thời gian qua.

Thực trạng quản lý phương tiện vận chuyển đường bộ

3.3.1 Phương pháp phân tích và thu thập thông tin

Phương pháp thống kê mô tả: Phân bổ tần số, số trung bình, max, min,…Phân tích định tính và định lượng

3.3.1.1 Nguồn số liệu: Số liệu sử dụng trong phân tích đề tài thu thập từ hai nguồn, nguồn thông tin thứ cấp và nguồn thông tin sơ cấp

• Sẵn có từ các doanh nghiệp 13

• Các tài liệu có liên quan

• Phỏng vấn những người làm quản lý phương tiện vận chuyển tại các doanh nghiệp bằng cách sử dụng bảng câu hỏi

13 282 Nơ Trăng Long Phường 12, Quân Bình Thạnh: Tại trụ sở Công an giao thông

Quy trình thu thập thông tin từ bảng câu hỏi bao gồm ba giai đoạn chính: đầu tiên là thiết kế bảng câu hỏi, tiếp theo là thực hiện điều tra thử và điều chỉnh nội dung câu hỏi, và cuối cùng là tiến hành phỏng vấn chính thức.

3.3.1.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng là những chủ xe hoặc làm công việc quản lý đội ngũ lái xe đường bộ Phạm vi nghiên cứu trên địa bàn các quận huyện Thành Phố Hồ Chí Minh; đối tượng nghiên cứu được chọn lọc dựa theo tỷ lệ phân bổ các chủ phương tiện từ các quận huyện 3.3.1.3 Phương pháp chọn mẫu

Bảng 1: Danh sách số lượng chủ sở hữu phương tiện vận tải trên khu vực Thành Phố

Hồ Chí Minh, đến thời điểm tháng 02 năm 2009

Tên Quận Chủ phương tiện Tên Quận, Huyện Chủ phương tiện

Nguồn số liệu: Tại trụ sở Công an giao thông 282 Nơ Trang Long, phường 12, quận Bình Thạnh, nơi đăng ký biển số xe cho 10 quận, và các huyện,…

Chọn mẫu điều tra khảo sát trong tổng thể trên phạm vi nghiên cứu, các quận 1,

Khu vực 6, 10, Gò Vấp, Tân Bình và Bình Thạnh có số lượng chủ phương tiện đông đảo, cho thấy tính đại diện cho tổng thể Theo tính toán, số mẫu tối thiểu cho khảo sát là 83 mẫu, nhưng thực tế đã thu thập được 110 mẫu do sự sẵn lòng tham gia phỏng vấn của các đối tượng ở các quận, huyện.

Bảng 2: Số mẫu điều tra tính toán và thực tế

Quận Số mẫu tính toán Số mẫu điều tra thực tế

Sau khi xác định mẫu để thu thập thông tin, các phương pháp được sử dụng bao gồm phỏng vấn trực tiếp (47 mẫu), phỏng vấn qua điện thoại (20 mẫu) và gửi thư/email (43 mẫu) Tổng số mẫu điều tra là 110, tuy nhiên, sau khi kiểm tra, phát hiện 10 mẫu bị sai hỏng do thông tin không đầy đủ và không đúng yêu cầu Do đó, số mẫu còn lại để phân tích là 100 Sau khi sàng lọc, mã hóa, nhập liệu và xử lý, chúng tôi đã có các kết quả và báo cáo cuối cùng.

3.3.2.1 Phương tiện vận tải sử dụng vào những mục đích công việc:

Bảng 3 Bảng số liệu thống kê phương tiện khảo sát được chọn

Mục đích công việc Số lựa chọn Tỷ lệ phần trăm

1 Vận chuyển hàng hóa cho khách hàng 36 36%

2 Vận chuyển hàng hóa cho công ty 44 44%

3 Vận chuyển hành khách du lịch 26 26%

4 Vận chuyển hành khách theo tuyến cố định 27 27%

5 Vận chuyển hành khách theo họp đồng 33 33%

6 Vận chuyển nhân viên công ty 16 16%

Nguồn: Kết quả khảo sát

Kết quả khảo sát cho thấy, việc vận chuyển nhân viên công ty không được chú trọng nhiều, do xe đi và về thường theo lịch trình và lộ trình cố định Thông tin giữa quản lý và người vận hành thường không có sự sai lệch lớn.

1 Vận chuyển hàng hóa cho khách hàng

2 Vận chuyển hàng hóa cho công ty

3 Vận chuyển hành khách du lịch

4 Vận chuyển hành khách theo tuyến cố định

5 Vận chuyển hành khách theo họp đồng

6 Vận chuyển nhân viên công ty

Hình 8 Tỷ lệ(%) phương tiện khảo sát

3.3.2.2 Mức độ hài lòng về công việc đang làm:

Bảng 4 Mức độ hài lòng về công việc đang làm

Nguồn: Kết quả khảo sát

Hiện nay, mức độ hài lòng của các nhà quản lý về công việc hiện tại gần như đồng đều, với phần lớn cảm thấy bình thường do yêu thích và đam mê với ngành nghề Tuy nhiên, một số ít nhà quản lý không hài lòng và có xu hướng tìm kiếm cơ hội việc làm mới trong thời gian tới.

Không hài lòng về công việc đang làm , 32%

Không hài lòng về công việc đang làm , 32%

Hình 9 Mức độ hài lòng về công việc đang làm 3.3.2.3 Mức độ hài lòng về thái độ họp tác:

Bảng 5 Mức độ hài lòng về thái độ họp tác

Mức độ Số lựa chọn Tỷ lệ

Nguồn: Kết quả khảo sát

Hình 10 Mức độ hài lòng về thái độ họp tác

Theo khảo sát, 42% người dùng không hài lòng với thái độ hợp tác của tài xế, trong khi 3% rất không hài lòng Nguyên nhân chính là do thông tin không đầy đủ, dẫn đến sự hợp tác kém từ phía tài xế Họ thường nắm giữ nhiều thông tin hơn và có xu hướng che giấu để bảo vệ lợi ích cá nhân trong giờ làm việc chung, điều này góp phần làm tăng mức độ không hài lòng về thái độ hợp tác.

3.3.2.4 Sự họp tác của tài xế

Bảng 6 Tỷ lệ (%) sự họp tác của tài xế

Mức độ Số lựa chọn Tỷ lệ

Nguồn: Kết quả khảo sát

Hình 11 Tỷ lệ (%) sự họp tác của tài xế

Tỷ lệ không hợp tác lên tới 43% cho thấy thái độ và tinh thần hợp tác giữa nhân viên vận hành và người quản lý đang ở mức thấp Sự thiếu hợp tác này cản trở việc giải quyết vấn đề, dẫn đến năng suất làm việc không cao và có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh.

3.3.2.5 Mức độ tin tưởng khi nhận được sự phản hồi của tài xế:

Bảng 7 Tỷ lệ (%) mức độ tin tưởng khi nhận được sự phản hồi của tài xế

Mức độ Số lựa chọn Tỷ lệ

Nguồn: Kết quả khảo sát

Hình 12 Tỷ lệ (%) mức độ tin tưởng khi nhận được sự phản hồi của tài xế

Sự phản hồi từ người vận hành cho thấy 65% câu trả lời thể hiện sự không tin tưởng, điều này gây ra sự hoài nghi từ phía người quản lý Thiếu niềm tin này trở thành rào cản, làm giảm tính chặt chẽ trong sự hợp tác công việc.

3.3.2.6 Kiểm tra trạng thái của xe đang chạy hay đang dừng:

Bảng 8 Tỷ lệ (%) câu trả lời biết hoặc không biết

Trả lời Số lựa chọn Tỷ lệ

Nguồn: Kết quả khảo sát

Hình 13 Tỷ lệ (%) lựa chọn trả lời về trạng thái xe dừng hay chạy tại một thời điểm

Quản lý phương tiện vận chuyển gặp khó khăn trong việc kiểm tra trạng thái của phương tiện, với 91% không biết phương tiện đang chạy hay dừng, cũng như vị trí hiện tại Điều này cho thấy thông tin về trạng thái phương tiện đang bị quản lý một cách bất cân xứng và cần cải thiện để đáp ứng nhanh chóng cho khách hàng và thực hiện các bước chuẩn bị tiếp theo.

3.3.2.7 Phương pháp kiểm tra trang thái xe tại một thời điểm:

Bảng 9 Tỷ lệ (%) phương pháp kiểm tra trạng thái xe

Cách kiểm tra Số lựa chọn Tỷ lệ

1 Điện thoại hoặc nhắn tin cho tài xế 85 85%

2 Điện thoại hoặc nhắn tin cho khách hàng 14 14%

Nguồn: Kết quả khảo sát

Hình 14 phương pháp kiểm tra trạng thái xe

Kết quả cho thấy 80% người quản lý thường liên lạc qua điện thoại hoặc nhắn tin với tài xế để cập nhật thông tin về phương tiện Việc kiểm tra xe vào thời điểm nhất định nhằm đảm bảo thời gian giao hàng đúng như cam kết với khách hàng Tuy nhiên, thông tin này phụ thuộc vào người vận hành phương tiện trên đường, dẫn đến nguy cơ thông tin bất cân xứng, có thể làm cho phương tiện không đến nơi giao hàng đúng thời điểm như đã hứa.

3.3.2.8 Phương pháp kiểm tra số kilomet đi được:

Bảng 10 Phương pháp kiểm tra số kilomet đi được

Cách kiểm tra Số lựa chọn Tỷ lệ

1 Bảng báo cáo của tài xế 59 59%

2 Đồng hồ congtơmet gắn trên xe 54 54%

3 Ước chừng( khoán cho tài xế) 9 9%

Nguồn: Kết quả khảo sát

1 Bảng báo cáo của tài xế

2 Đồng hồ congtơmet gắn trên xe

3 Ước chừng( khoán cho tài xế)

Hình 15 Phương pháp kiểm tra số kilomet đi được

Kết quả khảo sát cho thấy 59% tài xế sử dụng báo cáo để kiểm tra số kilomet đã đi, trong khi 54% khác dựa vào các công tơ mét gắn trên xe Điều này cho thấy việc điều chỉnh công tơ mét theo ý muốn của tài xế không quá khó khăn.

3.3.2.9 Phương pháp kiểm tra tất cả xe môt ngày mới hoặc tai một thời điềm bất kỳ:

Bảng 11 Phương pháp kiểm tra tất cả xe vào môt ngày

Cách kiểm tra Số lựa chọn Tỷ lệ

1 Điện thoại hỏi tài xế

2 Điện thoại hỏi quản lý kho bãi xe

Nguồn: Kết quả khảo sát

1 Điện thoại hỏi tài xế

2 Điện thoại hỏi quản lý kho bãi xe

Hình 16 Phương pháp kiểm tra tất cả xe vào môt ngày

Kết quả khảo sát cho thấy rằng việc kiểm tra tất cả phương tiện trong một ngày mới hoặc vào bất kỳ thời điểm nào phụ thuộc vào thông tin từ tài xế, với tỷ lệ lên đến 68% Điều này ảnh hưởng đáng kể đến khả năng khai thác công suất làm việc và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

3.3.2.10 Phương pháp kiểm tra phương tiện từ điểm A đến B theo thời gian:

Bảng 12 Phương pháp kiểm tra phương tiện từ điểm A đến B

Cách kiểm tra Số lựa chọn Tỷ lệ

1 Gọi điện hỏi tài xế 76 76%

2 Gọi điện hỏi bảo vệ( nếu công ty có bảo vệ) 18 18%

3 Xem lệnh điều động ( Nếu có biểm mẫu) 13 13%

4 Gọi điện hỏi khách hàng 11 11%

Nguồn: Kết quả khảo sát

1 Gọi điện hỏi tài xế

2 Gọi điện hỏi bảo vệ( nếu công ty có bảo vệ)

3 Xem lệnh điều động ( Nếu có biểm mẫu)

4 Gọi điện hỏi khách hàng

Hình 17 Phương pháp kiểm tra phương tiện từ điểm A đến B

Kiểm tra hành trình của phương tiện là cần thiết để xác định điểm khởi đầu và kết thúc, cũng như các tuyến đường đã đi qua Kết quả khảo sát cho thấy, việc gọi điện cho tài xế chiếm tỷ lệ cao nhất, lên tới 76%, cho thấy mức độ ảnh hưởng của thông tin bất cân xứng rất lớn Điều này phản ánh rằng, chi phí vận hành của doanh nghiệp sẽ tăng lên khi tài xế sử dụng phương tiện để làm thêm.

3.3.2.11 Ưu tiên xếp loại điều động:

Bảng 13 Ưu tiên xếp loại điều động Ưu tiên điều động Số lựa chọn Tỷ lệ

1 Vị trí gần chỗ làm việc nhất

2 Có chuyến đi có chuyến về 36 36%

4 Tài xế quen đường đi 34 34%

Nguồn: Kết quả khảo sát

1 Vị trí gần chỗ làm việc nhất

2 Có chuyến đi có chuyến về

4 Tài xế quen đường đi

Hình 18 Ưu tiên xếp loại điều động

Kết quả khảo sát cho thấy 34% tài xế cho rằng việc phân công và bố trí công việc ảnh hưởng đến việc quen đường đi của họ Điều này cho thấy rằng việc quản lý công việc không hoàn toàn phụ thuộc vào tài xế, mà chủ yếu dựa trên các tiêu chí như hiệu quả kinh doanh, tiết kiệm nhiên liệu và khai thác cơ hội nhằm tối ưu hóa lợi nhuận cho đơn vị.

3.3.2.12 Mức độ tin tưởng báo cáo:

Bảng 14 Mức độ tin tưởng báo cáo

Mức độ Số lựa chọn Tỷ lệ

Nguồn: Kết quả khảo sát

Hình 19 Mức độ tin tưởng báo cáo

GỢI Ý MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KẾT LUẬN

Ngày đăng: 02/09/2021, 14:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w