HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN VẬN DỤNG THUYẾT VÙNG PHÁT TRIỂN GẦN NHẤT VÀ THUYẾT HÌNH THÀNH HÀNH ĐỘNG TRÍ TUỆ THEO GIAI ĐOẠN VÀO GIẢNG DẠY SINH HỌC Tiểu luận Tâm lý học ứ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
VẬN DỤNG THUYẾT VÙNG PHÁT TRIỂN GẦN NHẤT VÀ THUYẾT HÌNH THÀNH HÀNH ĐỘNG TRÍ TUỆ THEO GIAI ĐOẠN
VÀO GIẢNG DẠY SINH HỌC
Tiểu luận Tâm lý học ứng dụng
TP HỒ CHÍ MINH - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
VẬN DỤNG THUYẾT VÙNG PHÁT TRIỂN GẦN NHẤT VÀ THUYẾT HÌNH THÀNH HÀNH ĐỘNG TRÍ TUỆ THEO GIAI ĐOẠN
VÀO GIẢNG DẠY SINH HỌC
Tiểu luận Tâm lý học ứng dụng
TP HỒ CHÍ MINH - 2020
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 GIỚI THIỆU THUYẾT VÙNG PHÁT TRIỂN GẦN NHẤT VÀ HÌNH THÀNH HÀNH ĐỘNG TRÍ TUỆ THEO GIAI ĐOẠN 1
1.1 Vygotsky và thuyết vùng phát triển gần nhất 1
1.1.1 Giới thiệu về Vygotsky 1
1.1.2 Thuyết Vùng phát triển gần nhất 1
1.2 Galperin và thuyết Hình thành hành động trí tuệ theo giai đoạn 5
1.2.1 Giới thiệu về Galperin 5
1.2.2 Cấu trúc và đặc điểm của hành động [4] 5
1.2.3 Các bước hình thành hành động trí tuệ [4] 6
1.2.4 Phương pháp định hướng hình thành hành động trí tuệ cho trẻ em [4] 11
Chương 2 VẬN DỤNG THUYẾT VÙNG PHÁT TRIỂN GẦN NHẤT VÀ THUYẾT HÌNH THÀNH HÀNH ĐỘNG TRÍ TUỆ THEO GIAI ĐOẠN VÀO GIẢNG DẠY SINH HỌC 13
2.1 Vận dụng thuyết Vùng phát triển gần nhất vào giảng dạy Sinh học 13
2.1.1 Giảng dạy bài tập về Quy luật phân li độc lập - Sinh học 12 13
2.1.2 Giảng dạy nội dung Quang hợp ở thực vật CAM - Sinh học 11 14
2.2 Vận dụng thuyết Hình thành hành động trí tuệ theo giai đoạn vào giảng dạy Sinh học 15
2.2.1 Giảng dạy nội dung Vai trò của các nguyên tố khoáng - Sinh học 11 15
Chương 3 KẾT LUẬN 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
Tâm lý học là ngành khoa học nghiên cứu các hiện tượng và quy luật tâm lýcủa con người Tâm lý học là một khoa học cơ bản vừa già và vừa trẻ Do phạm virộng của các lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng rất rộng, do đó sự phân chia khoahọc cũng rất nhiều và có sự liên quan mật thiết đến công tác giáo dục bao gồm: tâm
lý học phổ thông, tâm lý học nhi đồng, tâm lý học giáo dục, tâm lý học nhân cách,tâm lý học phát triển Có thể nói “Tâm lý học là gốc của giáo dục” Tâm lý họcgiúp chúng ta hiểu rõ hơn các mục tiêu giáo dục, giúp hiểu điều gì làm được (dạyhọc phát triển nhận thức của trẻ…) và điều gì không làm được (biến trẻ thành thầnđồng…)
Ngoài ra, tâm lý học cũng giúp hiểu biết những phương tiện dùng vào giáodục, đặc biệt trí năng (trí tuệ) và tính nết (tính cách, đặc trưng nhân cách) của cácbậc phụ huynh, các giáo viên và bạn bè của trẻ Đây là phương tiện rất quan trọng
để giáo dục trẻ Tâm lý học đóng góp vào việc am hiểu các phương pháp dạy họctheo ba cách Thứ nhất, các phương pháp có thể được trực tiếp suy ra từ các quy luật
về bản chất con người Thứ hai, phương pháp dạy học xuất phát từ kinh nghiệmthực tế và tâm lý học sẽ giúp hiểu vì sao phương pháp này lại hiệu quả hơn phươngpháp kia bằng cách giải thích mang tính khoa học Thứ ba, tâm lý học từ khi trởthành một khoa học độc lập thì nó có thể gợi ra những phương tiện đo lường, xácminh hoặc trau chuốt các loại phương pháp dạy học
Tâm lý học giáo dục còn được coi là Tâm lý học sư phạm là sự kết hợp giữatâm lý học và sư phạm, tức là các vấn đề liên quan đến phát triển tâm lý và vấn đềhọc tập Tâm lý học sư phạm hay tâm lý học giáo dục còn dựa trên cả tâm lý họcnhận thức và tâm lý học phát triển bao hàm sự phát triển ở trẻ em về sự thành thụcnhững kỹ năng vận động, trí tuệ và tình cảm Do đó, phân ngành này đề xuất lýthuyết về sự phát triển và học tập để phát triển phương pháp giảng dạy có tính đến
sự phát triển tâm lý
Các nghiên cứu về sự phát triển tâm lý, nhận thức của trẻ em bằng các tiếp cậnkhác nhau đã cung cấp những lý luận dạy học hay các nguyên lý học tập trong giáodục Chẳng hạn: Thuyết hành vi với các đại diện tiêu biểu như J Watson, B.FSkinner, E.L Thorndike giải thích về các phản xạ có điều kiện là kết quả của việchọc tập thông qua luyện tập, củng cố hành vi cơ chế thưởng - phạt hay điều kiệnthao tác Chúng được ứng dụng vào giáo dục như: Người lớn cần hướng dẫn nhữnghành vi mẫu mực mà chúng ta muốn con em thể hiện thật rõ ràng, không nói giáođiều, chung chung, đại khái; luôn tạo ra những cơ hội củng cố liên tục nhằm tạo ra
Trang 5một thói quen, một hình thức tư duy định hướng để trẻ có thể tạo được một thóiquen tốt, một thói quen tích cực cho bản thân Thuyết học tập xã hội của A.Banduracòn cung cấp lý luận học tập thông qua quan sát, bắt chước hay noi gương Vì vậy,
để giáo dục trẻ, người lớn hoặc thầy cô cần là những tấm gương làm mẫu các hành
vi một cách cẩn thận, có mục đích và cảnh giác
Học thuyết phát triển nhận thức trong môi trường văn hóa xã hội của nhà tâm
lý Nga L.V Vygosky với khám phá về vùng phát triển gần nhất đã cung cấp một cơ
sở lý thuyết vô cùng quan trọng cho lý luận dạy học Khái niệm này bắt nguồn ởchỗ với sự giúp đỡ của người khác, đứa trẻ có thể hoàn thành được một nhiệm vụ
mà trước đó chính nó không thể tự hoàn thành được Vì vậy, trong giáo dục, nhà sưphạm cần phải thiết kế nội dung dạy học làm sao để vừa sức với học sinh và sửdụng phương pháp dạy học phù hợp để hướng người học đạt đến vùng phát triểngần nhất với sự nỗ lực cao nhất cả về sức lực và trí tuệ dưới sự tổ chức, hướng dẫn
và trợ giúp của người dạy
Bên Vygotsky thì Galperin với học thuyết Hình thành hành động trí tuệ theogiai đoạn cũng đã mở đường cho nhiều nghiên cứu tâm lý học sau này trong tâm lýhọc trẻ em cũng như tâm lý học sư phạm
Chính vì nhận thấy sự quan trọng của Tâm lý học trong giảng dạy như vậy nêntrong nhiều năm, các nhà nghiên cứu tâm lý học đã tìm nhiều cách để vận dụng cáchọc thuyết tâm lý này vào trong dạy học giúp đạt được hiệu quả học tập tốt nhất.Nhưng trên thực tế, hiện nay, ở nước ta, rất nhiều giáo viên vẫn còn chưa hiểu rõ vềcác học thuyết tâm lý và cách vận dụng chúng vào quá trình dạy học Do đó, việctìm hiểu về các học thuyết tâm lý học và vận dụng chúng vào trong quá trình giảngdạy nhằm cải thiện hứng thú của học sinh và tăng hiệu quả học tập là vấn đề rất cần
thiết Vì những lí do đó, đề tài tiểu luận “Vận dụng thuyết vùng phát triển gần
nhất và thuyết hình thành hành động trí tuệ theo giai đoạn vào giảng dạy Sinh học” được thực hiện.
Trang 6Chương 1 GIỚI THIỆU THUYẾT VÙNG PHÁT TRIỂN GẦN NHẤT
VÀ HÌNH THÀNH HÀNH ĐỘNG TRÍ TUỆ THEO GIAI ĐOẠN1.1 Vygotsky và thuyết vùng phát triển gần nhất
1.1.1 Giới thiệu về Vygotsky
Lev Vygotsky (1896 - 1984) - nhà tâm lý học Nga vĩ đại Ông là người đặt nềnmóng cho tâm lý học hoạt động là nền tâm lý học lấy khái niệm hoạt động trong họcthuyết Marcist làm khái niệm công cụ then chốt nhất để đưa nền tâm lý học thoátkhỏi tình trạng khủng hoảng, bế tắc do đường lối duy tâm, nội quan, thần bí hoá tâm
lý người và đường lối duy vật máy móc, sinh vật hoá tâm lý người tạo nên hồi cuốithế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX Vygotsky và Piaget được coi là hai cột trụ lớn nhất củatâm lý học hiện đại
Trong các công trình của mình, ông đã phân tích một cách khoa học sự đónggóp tích cực của các dòng tâm lý học thời kì đó như tâm lý học hành vi chủ nghĩa,tâm lý học phân tâm, phản xạ học Nhưng các nền tâm lý học vừa nêu đều có mộthạn chế chung là chưa tính đến một cách đầy đủ tính xã hội, tính lịch sử tâm lý conngười Vygotsky đã đề xuất phải xây dựng nền tâm lý học thực sự của con ngườilàm mô hình để nghiên cứu và phát triển tâm lý con người; coi tâm lý như một hoạtđộng, nghĩa là nó cũng có công cụ, có chủ thể lao động và sản phẩm Tương tự nhưtrong hoạt động lao động có công cụ lao động, trong hoạt động tâm lý có công cụtâm lý Tác phẩm “Công cụ và dấu hiệu” của ông sau này được Leonchiev pháttriển, xây dựng thành mô hình cấu trúc vĩ mô bao gồm một bên là hoạt động, hànhđộng, thao tác và một bên là động cơ, mục đích, điều kiện Vyggotsky đưa ranguyên tắc gián tiếp: các chức năng tâm lý giữ vai trò công cụ trong quá trình conngười làm chủ bản thân và tác động vào môi trường Từ đó, các nhà khoa học đãthực hiện một loạt các công trình nghiên cứu về chú ý, trí nhớ, tư duy và công bốtrong cuối những năm 20 và đầu những năm 30 của thế kỉ XX [2]
1.1.2 Thuyết Vùng phát triển gần nhất
Lý thuyết của Vygotsky đã được ứng dụng rộng rãi vào nghệ thuật và cuôcsống Đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục với thuyết “Vùng phát triển gần nhất”.Trong lý thuyết này, ông cho rằng với sự giúp đỡ của người lớn và các hình thức tổchức hoạt động phù hợp, trẻ có thể thể hiện năng lực cao hơn “điểm phát triểndừng” trước đó
Để hiểu được những học thuyết của Vygotsky về sự phát triển nhận thức,chúng ta cần phải hiểu hai trong số những nguyên tắc chính trong công trình của
Trang 7ông: Người hiểu biết hơn (More Knowledgeable Other - MKO) và Vùng phát triểngần nhất (Zone of Proximal Development - ZPD).
*Người hiểu biết hơn (More Knowledgeable Other – MKO)
MKO được hiểu là khả năng tự giải thích Khái niệm này đề cập đến mộtngười có hiểu biết hoặc trình độ năng lực cao hơn so với người học đối với mộtnhiệm vụ, quá trình hay khái niệm mới [5]
Tuy ngụ ý ám chỉ đến người giáo viên hay người lớn, MKO không nhất thiếtchỉ giới hạn trong phạm vi đó Trong nhiều trường hợp, bạn đồng trang lứa của trẻhay chính trẻ so với người lớn có thể là những cá nhân có nhiều hiểu biết, kinhnghiệm hơn Ví dụ, giữa trẻ và cha mẹ, ai là người am hiểu hơn về những ban nhạctuổi teen, về cách phá màn trò chơi điện tử mới nhất, hoặc làm thế nào thực hiệnchính xác điệu nhảy đang rất hot trong thời gian gần đây? [5]
Thực tế, MKO không nhất thiết phải là một người nào cả Để hỗ trợ nhân viêntrong quá trình học tập, một số công ty hiện đang sử dụng hệ thống hỗ trợ công việcđiện tử Các gia sư điện tử này cũng được sử dụng trong hệ thống giáo dục để tạođiều kiện và hướng dẫn học sinh xuyên suốt quá trình học tập Điểm mấu chốt củaMKO là phải có (hoặc được lập trình với) nhiều kiến thức hơn về chủ đề được học
so với người học [5]
*Vùng phát triển gần nhất (Zone of Proximal Development – ZPD)
Nội dung của MKO có liên quan đến nguyên tắc quan trọng thứ hai trong cáctác phẩm của Vygotsky, đó là Vùng phát triển gần nhất Đây là nội dung then chốt,liên hệ đến sự khác biệt giữa những điều mà trẻ có thể hoàn thành một cách độc lập
và những điều mà trẻ có thể đạt được với sự hướng dẫn và khích lệ từ người cộngtác có chuyên môn [5]
Theo ông, vùng phát triển gần nhất (ZPD) là vùng được giới hạn giữa trình độphát triển thực sự của người học được xác định bởi khả năng giải quyết vấn đề mộtcách độc lập và trình độ phát triển tiềm năng được xác định bởi khả năng giải quyếtvấn đề với sự hướng dẫn, trợ giúp hay hợp tác của người khác
Ngoài vùng phát triển gần nhất có thể là vùng mà học sinh có thể dễ dàng thựchiện các nhiệm vụ học tập của mình hoặc cũng có thể là vùng mà học sinh khôngthể thực hiện được nhiệm vụ học tập của mình ngay cả khi có sự trợ giúp từ ngườikhác Do vậy, việc dạy học cần tập trung vào vùng phát triển gần nhất, ở đó họcsinh không tự mình thực hiện nhiệm vụ nhưng họ có thể làm được nếu có sự trợgiúp từ bên ngoài Sau khi học sinh hoàn thành được nhiệm vụ của mình trong vùngphát triển gần nhất thì vùng phát triển gần nhất này lập tức được mở rộng ra phía
mà học sinh có thể làm được
Trang 8Ví dụ, một đứa trẻ có thể không tự mình giải được câu đố lắp hình (như ví dụtrên) và sẽ mất một khoảng thời gian khá lâu để thực hiện được việc đó Nhưng trẻ
có thể thực hiện được nếu có tương tác với người cha Từ đó, trẻ sẽ phát triển được
kỹ năng này và có khả năng ứng dụng vào những lần chơi lắp hình trong tương lai.Thông qua hoạt động trí tuệ, học sinh sẽ phát triển dần từng bước từ thấp đếncao Bởi vậy các biện pháp giáo dục của thầy cũng phải thay đổi cho phù hợp vớitừng bậc thang của sự phát triển Theo lí thuyết của Vygotsky, trình độ ban đầu củahọc sinh tương ứng với “vùng phát triển hiện tại” Trình độ này cho phép học sinh
có thể thu được những kiến thức gần gũi nhất với kiến thức cũ để đạt được trình độmới cao hơn Vygotsky gọi đó là “vùng phát triển gần nhất” Sau đó thầy giáo lạitiếp tục tổ chức và giúp đỡ học sinh đưa học sinh tới “vùng phát triển gần nhất” mới
để sau đó nó lại trở về “vùng phát triển hiện tại” Cứ tiếp tục như vậy sự phát triểncủa học sinh đi từ nấc thang này đến nấc thang khác cao hơn [3]
Vygotsky cũng chỉ ra rằng ở những trẻ em khác nhau có vùng phát triển gầnnhất khác nhau và ZPD của mỗi đứa trẻ sẽ phát triển thế nào phụ thuộc rất nhiềuvào trình độ, năng lực của người thầy Nội dung dạy học, quy trình dạy học và cáchhọc sinh thể hiện những gì được học khi tiến hành dạy học theo định hướng phânhóa cần phù hợp với vùng phát triển gần nhất của mỗi cá nhân
Hình 1 Mô hình về vùng phát triển gần nhấtVai trò của giáo dục là giúp cho học sinh có những trải nghiệm trong vùngphát triển gần nhất của mình Do đó sẽ khuyến khích và nâng cao khả năng học tập
cá nhân của mỗi học sinh Khi đó thì vùng phát triển gần nhất của học sinh sẽ được
mở rộng ra phía vùng học sinh có thể làm được
Trang 9Vygotsky nhìn nhận ZPD là khu vực mà các hướng dẫn/chỉ dẫn nhạy cảm nhấtcần được cung cấp cho trẻ - điều này cho phép trẻ phát triển những kỹ năng trẻ sẽ tự
sử dụng sau này - giúp phát triển các chức năng tinh thần bậc cao hơn
Vygotsky cũng cho rằng tương tác với bạn cùng trang lứa là cách thức hữuhiệu để phát triển các kỹ năng và chiến lược Ông khuyến khích các giáo viên, trongphạm vi vùng phát triển gần, sử dụng những bài tập hợp tác, trong đó, trẻ phát triểnnhững năng lực còn yếu với sự giúp đỡ từ những bạn đồng trang lứa có năng lựchơn
Vùng phát triển gần nhất đặc trưng bởi sự khác biệt giữa khả năng mà trẻ cóthể tự giải quyết và cái mà nó sẽ làm được nhờ sự giúp đỡ của người lớn, của giáoviên Từ tất cả những nghiên cứu của Lev Vygotsky về sự phát triển trẻ em đã giúpông phân biệt trình độ hiện tại và vùng phát triển gần nhất trong quá trình phát triểncủa trẻ và đã khẳng định phương hướng chuẩn đoán sự phát triển và vai trò của dạyhọc nhằm thúc đẩy tối đa sự phát triển đó: dạy học phát triển Những vấn đề màtheo ông, có ý nghĩa thực tiễn to lớn
Lev Vygotsky cho rằng, trong suốt quá trình phát triển của trẻ thường xuyêndiễn ra hai trình độ: hiện tại và vùng phát triển gần nhất Trình độ hiện tại là trình độ
mà ở đó các chức năng tâm lý đã đạt tới độ chín muồi, còn vùng phát triển gầntrong đó các chức năng tâm lý đang trưởng thành nhưng chưa chín Về phương diệnthực tiễn, trình độ hiện tại biểu hiện qua tình huống tự trẻ em độc lập giải quyếtnhiệm vụ, không cần bất cứ sự giúp đỡ nào từ bên ngoài, còn trình độ phát triển gầnnhất được thể hiện trong tình huống trẻ hoàn thành nhiệm vụ khi có sự hợp tác, giúp
đỡ của người khác, còn nếu tự mình thì đứa trẻ sẽ không thực hiện được Như vậy,hai trình độ phát triển của trẻ, thể hiện hai mức độ chín muồi của các chức năng tâm
lý ở các thời điểm khác nhau Đồng thời chúng luôn vận động, vùng phát triển gầnnhất hôm nay thì ngày mai sẽ trở thành trình độ hiện tại và xuất hiện vùng phát triểnmới
Khác với quan điểm cũ, học thuyết về vùng phát triển gần nhất cho phép đưa
ra công thức ngược lại: chỉ có việc giảng dạy nào đi trước sự phát triển mới là việcgiảng dạy tốt Trong sự phát triển của học sinh các chức năng tâm lý cấp cao đềuxuất hiện hai lần: lúc đầu như là một hoạt động tập thể, xã hội, tức là như là chứcnăng tâm lý bên ngoài; sau đó lần thứ hai như là một hoạt động cá thể, như phươngthức nội tại của tư duy, như là chức năng tâm lý bên trong Từ đó, ta thấy một đặcđiểm cơ bản của giảng dạy là tạo ra, kiến thiết vùng phát triển gần, tức là kích thíchhọc sinh hoạt động, thức tỉnh một loại các quá trình nội tại và đưa chúng vào cuộcchuyển động; các quá trình phát triển nội tại này hiện giờ đang là khả năng chỉ trong
Trang 10phạm vi quan hệ qua lại với người khác và các quá trình nội tại này trải qua một tiếntrình phát trình phát triển, sau đó trở thành thành tựu bên trong của chính học sinh[1].
Theo quan điểm này, giảng dạy không phải là phát triển, nhưng giảng dạyđược tổ chức đứng đắn dẫn dắt sự phát triển trí tuệ, làm cho một loại quá trình pháttriển đó là sống động lên, mà đứng ngoài giảng dạy có lẽ nói chung không diễn ra.Tóm lại, giảng dạy là một mặt phổ biến, tất yếu trong quá trình phát triển ở học sinhnhững đặc điểm lịch sử, chứ không phải là tự nhiên của con người
Như vậy, các quá trình phát triển không trùng khớp với quá trình giảng dạy màcác quá trình phát triển đi sau các quá trình giảng dạy, các quá trình giảng dạy tạo ravùng phát triển gần Tuy giảng dạy có liên quan trực tiếp đến tiến trình phát triểncủa HS nhưng nó không khi nào diễn ra đồng đều và song song với nhau Giữa quátrình phát triển và quá trình giảng dạy có các mốc lệ thuộc cơ động rất phức tạp, màkhông thể dung một công thức nào có sẵn, tiên nghiệm, trừu tượng để lí giải [4]
1.2 Galperin và thuyết Hình thành hành động trí tuệ theo giai đoạn
1.2.1 Giới thiệu về Galperin
Galperin, nhà tâm lý học Xô Viết - sinh ngày 2/10/1902, Tiến sĩ tâm lý học(1965), chuyên ngành tâm lý thần kinh (1926), Phó giáo sư (1943), sau đó là Giáo
sư bộ môn tâm lý MGU (1965), Chủ nhiệm bộ môn tâm lý học trẻ em và tâm lý học
di truyền, Khoa tâm lý MGU (từ 1970) [4]
Khởi đầu hoạt động khoa học của ông gắn liền với lịch sử phát triển lý thuyếttâm lý học đại cương về hoạt động Ông là một cộng sự thân cận nhất củaA.N.Leonchev Dựa trên cơ sở các luận điểm căn bản của tâm lý học hoạt động,trước hết là sự giống nhau của cấu trúc hoạt động bên ngoài, hoạt động thực tiễn vàhoạt động bên trong, hoạt động trí tuệ, ông đã đề xuất và thực nghiệm phương pháphình thành các hành động trí tuệ và khái niệm theo giai đoạn Đồng thời đã đưa racách giải thích mối quan hệ qua lại giữa dạy học và sự phát triển trí tuệ của trẻ em.Các công trình của ông đã mở đầu cho một chu trình lớn nghiên cứu thực nghiệmtrong tâm lý học trẻ em và tâm lý học sư phạm, làm cơ sở cho việc soạn thảo cácphương pháp cụ thể trong thực tiễn sư phạm
1.2.2 Cấu trúc và đặc điểm của hành động [4]
Galperin cho rằng, trước hết phải hiểu được cấu trúc của hành động và các đặcđiểm của nó Sau đó mới có thể phân tích logic của các bước hình thành nó trongđời sống cá nhân
Trang 11Có thể phân tích một hành động theo hai phương diện và cả hai phương diệnnày đều liên quan trực tiếp tới các bước hình thành nó: phân tích theo cấu trúc vàtheo đặc điểm.
3 Kiểm tra hành động để điều chỉnh nó cho phù hợp với kế hoạch đã xác định.Phần thực hiện là triển khai các bước để hình thành hành động trí óc Trong lýluận của Galperin, các bước thực hiện hành động không phải đơn thuần là kỹ thuật,
là thao tác để triển khai một hành động, mà thực chất chúng là các hành động được
"tái diễn" và cải tổ hành động dưới một hình thức mới, vật liệu mới Các hành độngnày liên kết với nhau theo tiến trình có trật tự tuyến tính cả quá trình chuyển vàotrong của hành động ban đầu, vật chất, ở bên ngoài Vì vậy, có thể gọi tên các hànhđộng theo hình thức và vật liệu của chúng: hành động vật thật, hành động ngôn ngữnói to, hành động ngôn ngữ bên trong v.v… Nếu căn cứ vào vị trí của hành độngtrong chuỗi logic chuyển vào ta có thể gọi đó là các mức, các bước của hành động
*Theo đặc điểm
Galperin dựa vào một số dấu hiệu đặc trưng để xác định mức độ hình thành vàchất lượng của một hành động Ông gọi đó là thông số (parametres):1 Hình thứchay mức độ thực hiện; 2 Độ khái quát của hành động; 3 Độ khai triển hành động;
4 Độ thành thạo của hành động Thông số thứ nhất xác định mức độ thực hiện mộthành động và được thể hiện bởi ba chỉ số (3 mức): hành động với vật thật (hay vớidạng vật chất hoá của chúng); với lời nói to (không còn dựa trực tiếp vào vật thật)
và hành động trong đầu Ba thông số còn lại xác định chất lượng của hành động:hành động càng khái quát, rút gọn và thành thạo hơn thì chất lượng của nó càng cao.Căn cứ vào thành phần và các thông số đặc trưng của hành động, Galperin đãxác lập và mô tả các bước của một hành động trí óc, hay nói cách khác, quá trìnhchuyển hoá và cải tổ các hành động từ bên ngoài thành hành động trí óc bên trong