Tuy vậy, để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến giữa Ta với thực dân Pháp; Với tầm nhìn chiến lược, Hồ Chủ tịch và Đảng ta đã dày công chuẩn bị về mọi mặt như ngoại giao, chính trị, quân sự, k
Trang 1CÔNG TÁC CHUẨN BỊ CỦA ĐẢNG TRƯỚC NGÀY “TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN” 19/12/1946
Tóm tắt: Ngày 19/12/1946 của 75 năm về trước, lời “Kêu gọi toàn quốc kháng chiến”
của Hồ Chủ tịch như lời “hịch của non sông”, đưa dân tộc Việt Nam bước vào giai đoạn cách mạng phát triển cao mới: Giữ gìn nền độc lập của Tổ quốc Tuy vậy, để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến giữa Ta với thực dân Pháp; Với tầm nhìn chiến lược, Hồ Chủ tịch và Đảng ta đã dày công chuẩn bị về mọi mặt như ngoại giao, chính trị, quân sự, kinh tế…bằng tất cả sự chu toàn, cho cuộc kháng chiến trường kỳ sau này; mà thực chất, sự chuẩn bị được bắt đầu từ ngay sau Cách mạng Tháng Tám.
Summary: On December 19, 1946 of 75 years ago, the President Ho Chi Minh's "call for
national resistance" was like a "hump of a river", bringing the Vietnamese people into a new period of high development: To preserve the independence of the Fatherland However, to prepare for the war between Ta and the French colonialism; With a strategic vision, President Ho Chi Minh and our Party have diligently prepared in all aspects such as diplomacy, politics, military, economy with all care, for the long-term resistance war in the future; in fact, preparation started right after the August Revolution
Đặt vấn đề
Ngay khi vừa giành được độc lập,
đất nước phải đối mặt với muôn vàn khó
khăn, thử thách Sự hiện diện của quân
Tưởng, quân Anh, Pháp, Nhật…, trên lãnh thổ nước ta đều nuôi dưỡng ý đồ tiêu diệt Đảng Cộng sản Đông Dương, thành lập chính quyền phản động tay sai
1 Trường CĐ Công nghiệp Hưng Yên
Trang 2Trong khi đó, tình hình “nội trị”
trong nước rơi vào khủng hoảng trầm trọng:
sản xuất trì trệ, ngân khố quốc gia trống
rỗng, nạn đói năm 1945 làm 2 triệu người
chết chưa khắc phục xong, hơn 90% dân số
mù chữ, tệ nạn xã hội còn rất phổ biến, các
thế lực phản động ra sức hoạt động chống
phá… vận mệnh dân tộc nguy nan như
“ngàn cân treo sợi tóc”.
Đất nước đứng trước tình thế vô
cùng hiểm nghèo, Đảng và Chính phủ do Hồ
Chủ tịch đứng đầu đã đề ra những quyết
sách đúng đắn, sáng tạo, chuẩn bị cho một
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mà
theo Người nhất định sẽ xảy ra, “…vì chúng
quyết tâm cướp nước ta lần nữa”2
Công tác chuẩn bị tiềm lực cho
cuộc kháng chiến trường kỳ của Đảng ta
Thực chất, công tác chuẩn bị kháng
chiến chống thực dân Pháp của Đảng, Chính
phủ đã được chuẩn bị ngay từ sau Cách
mạng Tháng Tám Với tầm nhìn chiến lược,
sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng
ta đã chuẩn mọi điều kiện tốt nhất có thể về
ngoại giao, chính trị, quân sự, kinh tế…
cùng với nhân dân đánh đuổi kẻ thù, bảo vệ
nền độc lập cho dân tộc
2 Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Hồ Chí Minh,
T4, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
* Về ngoại giao
Ngày 02/09/1945 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được ra đời, trong bối cảnh tình hình quốc tế hết sức phức tạp Các nước lớn đã bàn cách phân chia vùng ảnh hưởng Các dân tộc thuộc địa mới giành được độc lập trở thành đối tượng thỏa thuận giữa các nước Việt Nam bị cuốn vào vòng xoáy cạnh tranh - thỏa hiệp này
Trong thời điểm khó khăn đó, Đảng
ta, đứng đầu là Hồ Chủ tịch đã sử dụng
ngoại giao như một vũ khí sắc bén để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chính quyền nhân dân, phục vụ kháng chiến, kiến quốc.
Trước hết, dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoại giao Việt Nam đã
vận dụng nhuần nhuyễn phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” Xuyên suốt toàn bộ
cuộc đấu tranh ngoại giao của ta thời kỳ này
là: “Đối với Pháp, độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế”3
Để triển khai quyết sách ấy, Chính phủ ta đã ký kết với Pháp hai văn kiện hết sức quan trọng là Hiệp định Sơ bộ 06/3/1946 và Tạm ước 14/9/1946 Ta nhân nhượng với Pháp một số điều kiện để kéo
dài thời gian hòa hoãn “biến thời gian thành
3ĐCSVN - Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 8, Nxb
CTQG, H 2001, tr 27.
Trang 3lực lượng vật chất”, củng cố và chuẩn bị lực
lượng cho cuộc kháng chiến trường kỳ về
sau
Ngoài ra, để tranh thủ sự ủng hộ của
bạn bè quốc tế, các nước trên thế giới, Hồ
Chủ tịch nhân danh Chính phủ, tiến hành
nhiều giao thiệp ngoại giao qua thư, công
hàm,… với người đứng đầu Chính phủ các
nước, như: Mỹ, Anh, Liên Xô, Trung Quốc,
Đại hội đồng Liên Hợp quốc,… thông báo
về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa Bằng nghệ thuật ngoại giao khéo
léo của mình, Hồ Chủ tịch nhằm: “Mục đích
của ta lúc này là tự do, độc lập Ý chí của ta
lúc này là dân chủ, hòa bình Là bạn của ta
trong giai đoạn này là tất cả những nước
nào, những dân tộc hay lực lượng nào trên
thế giới tán thành mục đích ấy, cùng ta
chung một ý chí ấy”4
Nhờ những sách lược ngoại giao
mềm dẻo, linh hoạt, trong tình thế hoàn toàn
bất lợi, chúng ta đã kéo dài thời gian chuẩn
bị những điều kiện để đảm bảo thắng lợi
trong cuộc chiến với Pháp sau này
* Về Chính trị
4 ĐCSVN - Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 8, Nxb
CTQG, H 2001, tr 434- 437
Trước Cách mạng Tháng Tám năm
1945, nước ta là nước thuộc địa nửa phong kiến, nhân dân ta bị cai trị bởi bộ máy của thực dân và triều đình nhà Nguyễn Vì vậy,
để xây dựng nhà nước độc lập, tự chủ, hợp hiến, hợp pháp, ngay sau khi giành được chính quyền, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành nhiều chỉ thị; trong đó
nêu rõ: Về nội chính, xúc tiến ngay bầu cử Quốc hội để quy định Hiến pháp, bầu Chính phủ và định ra hệ thống chính quyền.
Theo đó, cùng với Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I thành công, Chính phủ ban hành và thực hiện Sắc lệnh về tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân hành chính ở các cấp Đến đầu tháng
3-1946, việc bầu cử Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính đã cơ bản hoàn thành ở Bắc
Bộ và Trung Bộ
Đặc biệt, ngày 09/11/946, Quốc hội khóa I thông qua bản Hiến pháp đầu tiên (Hiến pháp 1946) đã hiến định những tư tưởng cơ bản của nhà nước mới - Nhà nước độc lập, tự chủ, dân chủ cộng hòa Đánh giá
về Hiến pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ
rõ: “Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới biết dân tộc Việt Nam
đã có đủ mọi quyền tự do,… Hiến pháp đó
đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa
Trang 4các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm
khiết, công bình của các giai cấp”5
* Về quân sự
Ngày 05/11/1946, Hồ Chí Minh viết
“ Công việc khẩn cấp bây giờ” yêu cầu: Về
quân sự, phải chuẩn bị tốt việc tổ chức bộ
đội và tự vệ, dân quân, bao gồm cả việc chỉ
huy, chế tạo vũ khí, cung cấp lương thực,
trong đó lưu ý phải “tổ chức du kích khắp
nơi” Cuối năm 1945 bộ đội tập trung tăng
từ 5 vạn lên 8,2 vạn, cùng với lực lượng vũ
trang địa phương hàng triệu người Quân và
dân cả nước sẵn sàng bước vào cuộc kháng
chiến mới
Trong bài "Chiến lược của quân ta
và của quân Pháp", Hồ Chủ tịch nhấn mạnh
phải tổ chức đội cảm tử, đội phá hoại, đội
đánh úp, đội đánh mai phục, đội cướp lương
thực, súng đạn, đội trinh sát, đồng thời phải
triệt để thực hiện "vườn không nhà trống"
Trong thành phố "phải biến mỗi nhà
thành một ổ kháng chiến" Ở các địa phương
phải "mỗi làng ngay từ bây giờ phải biến ra
một thành lũy kháng chiến" Trên các đường
giao thông phải đắp nhiều đất, đặt nhiều địa
lôi Nếu có xe tăng, thiết giáp của địch qua,
ta sẽ dùng địa lôi để phá hủy cầu, đường và
phá hủy xe tăng địch
5Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, H
2011, tr 491.
* Về kinh tế
Dưới nhan đề "Động viên kinh tế", Người viết: "Một cuộc kháng chiến lâu dài
để giữ vững chủ quyền của đất nước không thể không chú ý vấn đề động viên kinh tế" Người nêu lên sáu phương pháp
động viên kinh tế: 1: Động viên lao động, nghĩa là phải huy động, phân bố, chú trọng trưng dụng nhân tài để tăng thêm lực lượng kháng chiến 2: Động viên giao thông, là huy động, phát triển các phương tiện giao thông… phục vụ kháng chiến, kiến quốc 3: Động viên công nghệ là mở nhiều xưởng sản xuất đáp ứng nhu cầu kháng chiến; sẵn sàng
di chuyển máy móc thiết bị, nguyên liệu đến vùng hẻo lánh
4: Động viên nông nghiệp, là có chính sách khuyến khích nhân dân mở mang nông nghiệp, tăng thêm diện tích cày cấy, khai khẩn đất hoang 5: Động viên tài chính,
là biết huy động vàng bạc trong nhân dân, phát hành công trái, thu ngân sách để bảo đảm quốc phòng 6: Tiết kiệm, phải lập ủy ban để kiểm soát việc cung cấp, tiêu dùng lương thực, định giá cả, phân phối hợp lý; tiết kiệm tiền bạc, lương thực, 6
* Chọn căn cứ kháng chiến chống Pháp
6 "Động viên kinh tế" - Q.T, Báo Cứu quốc, số 434, ngày 13-12-1946.
Trang 5Công việc lựa chọn căn cứ kháng
chiến đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh suy
nghĩ và chuẩn bị từ trước
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám
thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao
nhiệm vụ cho đồng chí Phạm Văn Đồng
cùng một số cán bộ ở lại một thời gian để
củng cố khu căn cứ Cuối tháng 10/1946,
Người phái đồng chí Nguyễn Lương Bằng
lên Việt Bắc để chỉ đạo việc chuẩn bị các
mặt cho kháng chiến
Việt Bắc là một vùng núi hiểm trở
gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn,
Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang…
phù hợp với yếu tố “gần dân không gần
người” của căn cứ cách mạng kháng chiến.
Phía bắc, Việt Bắc giáp Trung Quốc,
có thể liên lạc với phong trào cộng sản quốc
tế Việt Bắc lại là cửa ngõ của miền xuôi lên
miền ngược Khi có thời cơ thuận lợi, lực
lượng vũ trang có thể tiến nhanh phát huy
thắng lợi, nếu gặp khó khăn có thể kịp thời
lui về bảo toàn lực lượng Tóm lại, Việt Bắc
có vị trí cơ động, theo Bác Hồ, là nơi “tiến
khả dĩ công, thoát khả dĩ thủ” (tiến có thể
đánh, lui có thể giữ)
Kết luận
Như vậy, trong giai đoạn từ 1945 –
1946, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ ra đời, dưới sự chèo lái của Đảng ta, đứng đầu là Hồ Chủ tịch đã cùng một lúc chống lại nhiều kẻ thù xâm lược, bằng những sách lược linh hoạt, chủ động, chúng ta đã kéo dài thời gian hòa bình đến mức có thể; đồng thời từng bước chuẩn bị mọi điều kiện tốt nhất cho một cuộc kháng chiến sẽ xảy ra giữa ta và Pháp
20 giờ ngày 19/12/1946, tín hiệu kháng chiến toàn quốc được phát ra, đồng thời quân và dân Thủ đô Hà Nội nổ súng mở đầu cuộc kháng chiến trong toàn quốc Cách mạng Việt Nam bước vào giai đoạn mới:
Kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp.
Họ và Tên: Lương Đức Hiển
Chức vụ: Giảng viên
Nơi công tác: Khoa Lý luận Chính trị, trường Cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên
SĐT: 0985 639.284
Trang 6Email: Hienluongat88@gmail.com