bà Tuyết do ông Trần Ngọc Minh – Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh GL làm trưởng đoàn đã lập biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC đối với hành vi vi phạm: “Thiếu
Trang 1THU HOẠCH DIỄN ÁN
HỒ SƠ TÌNH HUỐNG LS.HC 12 KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
VAI TRÒ LUẬT SƯ: BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP
CHO NGƯỜI BỊ KIỆN –CHÁNH THANH TRA SỞ VH, TT & DL TỈNH GL –
ÔNG TRẦN NGỌC MINH
I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN
1 Tóm tắt vụ án
1.1 Tư cách đương sự:
Người khởi kiện: Nguyễn Thị Tuyết, sinh năm 1982.
(Người có quyền lợi bị QĐHC 23 xâm hại, Điều 3, khoản 6 LTTHC 2010)
Địa chỉ: Tổ 9, phường Đông Lân, thành phố P, tỉnh G.L
Đại diện theo ủy quyền: ông Mai Anh Tuấn.
Ng
ườ i b ị ki ệ n : Chánh Thanh tra Sở VH, TT & DL tỉnh G.L – ông Trần Ngọc Minh
(Chức danh có thẩm quyền ra QĐHC về xử phạt vi phạm hành chính theo Đ.46 k.2 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 ; Đ.3 k.7 LTTHC 2010)
Đại diện theo ủy quyền : ông Dương Văn Thành
Người chứng kiến:
- ông Nguyễn Văn Thường.
- bà Nguyễn Thị Lành.
- ông Phan Văn.
- bà Nguyễn Thị Thùy.
1.2 Nội dung hồ sơ:
Bà Tuyết là chủ kinh doanh dịch vụ nhà trọ bình dân Hoàng Lan, địa chỉ 241, đường Lê Lai, thành phố P, tỉnh GL Vào 21h10’ ngày 23/12/2013, Đoàn kiểm tra của Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh GL đến kiểm tra cơ sở kinh doanh của
Trang 2bà Tuyết do ông Trần Ngọc Minh – Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh GL làm trưởng đoàn đã lập biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC đối với
hành vi vi phạm: “Thiếu tinh thần trách nhiệm, tạo điều kiện cho người khác lợi dụng
cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm” (áp
dụng khoản 1 Điều 25 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính Phủ) của bà Tuyết – chủ cơ sở kinh doanh
Ngày 09/3/2014, Thanh tra Sở có mời bà Tuyết đến làm việc và lập biên bản làm việc, bà Tuyết thừa nhận hành vi vi phạm
Ngày 10/3/2014, trên cơ sở Biên bản số 11/BB-VPHC, ông Trần Ngọc Minh (Phó Giám đốc kiêm Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh GL) đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC với mức phạt 15.000.000đ Ngày 24/3/2014 bà Tuyết khiếu nại lần đầu Quyết định xử phạt hành chính số 23/ QĐ-XP do bà không chấp nhận việc xử phạt của cơ sở
Ngày 07/4/2014, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Công văn
số 167/CV-VHTTDL trả lời đơn khiếu nại của bà Tuyết Tiếp đến, ngày 11/4/2014, bà Tuyết tiếp tục làm đơn khiếu nại lần 2 do không đồng ý với công văn trả lời của Giám đốc Sở Sau đó, ngày 20/4/2014 Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định về việc giải quyết đơn khiếu nại lần đầu số 01/QĐ-TTr
Ngày 02/5/2014, bà Tuyết gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh G.L yêu cầu hủy Quyết định xử phạt hành chính trong hoạt động văn hóa thể thao và du lịch số 23/QĐ-XP ngày 10/3/2015 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh GL
Ngày 13/05/2014, Tòa án nhân dân tỉnh GL thụ lý vụ án hành chính sơ thẩm số 01/2014/TL-HCST
Ngày 10/9/2014, Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử
2 Đối tượng khởi kiện
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch số 23/QĐ-XPHC ngày 10/03/2014 do Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L ban hành (gọi tắt là Quyết định 23), đây là quyết định hành chính cá biệt
thuộc đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính (Điều 46, khoản 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012).
- Đối tượng khởi kiện hành chính theo khoản 1 Điều 28 Luật TTHC 2010
3 Về tố tụng:
3.1 Thẩm quyền giải quyết:
Trang 3Tòa án cấp sơ thẩm: Khởi kiện Quyết định hành chính của cơ quan hành chính cấp tỉnh nên căn cứ quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 30 LTTHC 2010, thì khiếu kiện này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp tỉnh
Nếu có kháng cáo, kháng nghị, Tòa Hành chính TAND Cấp cao – khu vực – sẽ
xử phúc thẩm
3.2 Thời hiệu khởi kiện:
Ngày 10/3/2014 Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh GL ban hành Quyết định 23 về việc xử lý vi phạm hành chính trên cơ sở Biên bản 11/BB-VPHC ngày 23/12/2013 đối với bà Tuyết Sau đó bà Tuyết khiếu nại lần đầu nhưng khiếu nại đến Giám đốc Sở Văn hóa (sai đối tượng giải quyết khiếu nại lần đầu theo quy định tại điều 19 Luật khiếu nại 2011)
Ngày ban hành Quyết định xử phạt là ngày 10/3/2014 đến ngày 02/5/2014 bà Tuyết khởi kiện ra Tòa án nhân dân tỉnh GL, theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều
104 Luật TTHC 2010 thì thời hiệu khởi kiện đối với quyết định hành chính là 01 năm
kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc
Như vậy, bà Tuyết làm Đơn khởi kiện ngày 02/05/2014 là phù hợp với quy định của pháp luật, còn trong thời hiệu khởi kiện
4 Ý kiến đương sự và các tài liệu, chứng cứ cần cung cấp
4.1 Yêu cầu của người khởi kiện :
Hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPVPHC ngày 10/3/2014 đối với bà Nguyễn Thị Tuyết Bởi bà Tuyết cho rằng Quyết định 23 căn cứ vào Biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC là không đúng do bà không có hành vi “Thiếu tinh thần trách nhiệm, tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm” (Điều 163 LTTHC 2010).
-> Tài liệu chứng cứ cần cung cấp:
- Giấy ủy quyền ngày 19/5/2014 của bà Tuyết và ông Tuấn
- Quyết định XPVPHC số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014
- Biên bản VPHC số 11/BB-VPHC ngày 23/12/2013
- Quyết định 01/QĐ-TTr ngày 20/4/2014 về việc giải quyết khiếu nại lần đầu
- Công văn 167/CV-VHTTDL ngày 7/4/2014 của Sở VH, TT & DL
4.2 Ý kiến Người bị kiện:
Trang 4Giữ nguyên Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPVPHC ngày 10/3/2014 đối với bà Nguyễn Thị Tuyết Do việc ban hành Quyết định xử phạt số 23 là hoàn toàn đúng quy định pháp luật đối với hành vi vi phạm của bà Tuyết
-> Tài liệu chứng cứ cần cung cấp:
- Giấy ủy quyền của ông Minh với ông Thành; (còn thiếu)
- Bản tường trình ngày 29/12/2013 và 12/02/2014 của bà Tuyết; (còn thiếu)
- Tờ trình số 02/TT-TTr ngày 16/01/2014 về việc xin gia hạn thời hạn ra Quyết định xử phạt;
- Biên bản làm việc 11/BB-LV ngày 09/3/2014
- Văn bản phê duyệt gia hạn của Giám đốc Sở (còn thiếu).
5 Văn bản pháp luật áp dụng:
- Pháp lệnh phòng, chống mại dâm năm 2003
- Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008
- Luật tố tụng hành chính 2010
- Luật khiếu nại 2011
- Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012
- Nghị định 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012
- Nghị định 72/NĐ-CP ngày 03/9/2009 và Thông tư hướng dẫn của Bộ Công an số 33 ngày 05/10/2010
- Nghị định 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 hướng dẫn thi hành luật Xử lý vi phạm hành chính
- Nghị định 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013
- Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013
II KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA
1 Hỏi người khởi kiện : ông Mai Anh Tuấn – đại diện theo ủy quyền của bà Tuyết
(Để làm rõ có hành vi vi phạm khi Đoàn kiểm tra đến kiểm tra tại cơ sở, có tạo điều kiện để bà Tuyết nộp các giấy tờ bổ sung nhưng bà không thực hiện, đồng thời để khẳng định tại biên bản làm việc ngày 09/3/2014, bà Tuyết có thừa nhận hành vi vi phạm của mình)
Trang 5- Ngày 23/12/2013, khi Đoàn kiểm tra đến lập biên bản, bà Tuyết có mặt ở đó
không? (Có)
- Khi đoàn kiểm tra thì phòng 11 ai đang thuê ? (ông Thường và bà Lành)
- khi đoàn kiểm tra mở cửa thì ông Thường và bà Lành đang làm gì? (đang quan
hệ vợ chồng)
-Bà có biết ông Thường và bà Lành có mối quan hệ thế nào không? (được biết là
vợ chồng)
- Khi đó cán bộ kiểm tra có báo hành vi vi phạm của cơ sở không? (có)
- Lúc đó Bà Tuyết có ý kiến gì không? (không có)
- Cán bộ có yêu cầu cung cấp giấy tờ gì không? (có yêu cầu cung cấp Giấy kết hôn của khách thuê phòng).
- Và bà có cung cấp không? Tại sao? (Tôi không cung cấp được, do khách thuê
họ không cung cấp cho tôi).
- Tại biên bản làm việc ngày 09/3/2014, kết luận bà vi phạm khoản 1 Điều 25 Nghị định 167/2013/NĐ-CP về hành vi thiếu trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm
phải không? (phải).
- Bà có xin nhận khuyết điểm và phạt mức đầu khung hay không? (có).
2 Hỏi người bị kiện : ông Dương Văn Thành – Đại diện theo ủy quyền ông Trần
Ngọc Minh – Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh GL
- Ông Thành cho HĐXX biết Bà Tuyết có thừa nhận hành vi vi phạm của mình với Sở hay không? Cụ thể tại văn bản nào?
- Ông Thành cho HĐXX biết việc Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch kiểm tra đối với loại hình kinh doanh của cơ sở bà Tuyết là có đúng thẩm quyền không?
- Ông Thành cho HĐXX biết thời hạn ra Quyết định xử phạt chậm nhất là thời gian nào? – Có văn bản phê duyệt thời hạn hay không?
– Ông Thành cho HĐXX biết Ngày ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XP là ngày mấy?
- Trình tự thủ tục ra Quyết định xử phạt có đúng quy định không?
Trang 6- Khi lập biên bản cơ sở kinh doanh của bà Tuyết gồm có những ai là người chứng kiến?
3 Hỏi người chứng kiến
Bà Nguyễn Thị Lành
- Thời điểm Đoàn kiểm tra lập biên bản chị có chứng kiến sự việc hay không?
- Bà Lành Chủ cơ sở có yêu cầu và xuất trình giấy tờ hay không?
- Tại sao bà không cung cấp?
- Tại phiên tòa hôm nay có chứng minh được mối quan hệ vợ chồng hay không?
Trang 7III LUẬN CỨ BẢO VỆ NGƯỜI BỊ KIỆN
Kính thưa Hội đồng xét xử, vị đại diện Viện kiểm sát và các vị Luật sư đồng nghiệp!
Tôi là Luật sư Nguyễn Cẩm N thuộc Văn phòng luật sư T.T.L, Đoàn luật sư tỉnh
Cà Mau Hôm nay tôi tham gia phiên tòa với tư cách Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Trần Ngọc Minh – Chánh Thanh tra Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh GL
là người bị kiện trong vụ án hành chính với người khởi kiện là bà Nguyễn Thị Tuyết khởi kiện yêu cầu Hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh GL
Vụ án hiện đang được TAND tỉnh GL thụ lý và giải quyết theo thủ tục sơ thẩm theo hồ sơ thụ lý số 01/2014/TL-HCST ngày 13/5/2014
Nay được đưa ra xét xử theo Quyết định số 04/2014/QĐST-XX ký ngày 10/9/2014
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu với các quy định pháp luật hiện hành và qua diễn biến thực tế của phiên tòa hôm nay, tôi xin đưa ra quan điểm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện là ông Trần Ngọc Minh – Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh GL như sau:
Đối với yêu cầu Hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của bà Tuyết là không có cơ sở Bởi:
Thứ nhất: Bà Tuyết đã thừa nhận hành vi vi phạm
Vào lúc 21h10’ ngày 23/12/2014, khi Đoàn kiểm tra tiến hành kiểm tra nhà nghỉ Hoàng Lan do bà Tuyết làm chủ, tại phòng số 9 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy đang cùng nằm trong phòng xem tivi và tại phòng số 11 có ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị Lành đang quan hệ vợ chồng nhưng không có giấy đăng ký kết hôn, trong đó bà Nguyễn Thị Lành không được chủ cơ sở ghi tên vào sổ lưu trú Trên cơ sở kiểm tra, Đoàn kiểm tra đã lập biên bản vi phạm hành chính số 11 đối với bà Tuyết ghi nhận các hành vi vi phạm và bà Tuyết có tự đọc lại sau đó ký tên vào biên bản, Thời điểm lập biên bản có người chứng kiến
Tại bản tường trình những người liên quan thuê lưu trú tại phòng 11 trình bày là có mối quan hệ vợ chồng, bà Tuyết yêu cầu cho thời gian để giải trình, bổ sung giấy tờ, do
đó Đoàn kiểm tra tạo điều kiện để người vi phạm giải trình, cung cấp bổ sung giấy tờ chứng minh Thế nhưng sau các lần đến làm việc vào 29/12/2013, 12/02/2014 bà Tuyết vẫn không bổ sung được giấy tờ và đến ngày làm việc 9/3/2014 Thanh tra Sở đưa ra kết
luận hành vi vi phạm của bà Tuyết thuộc khoản 1 Điều 25 Nghị định 167: “thiếu tinh
Trang 8thần, trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện
về an ninh trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm”, sau khi lập biên bản thì bà Tuyết có
tự đọc lại và thừa nhận là đúng, ký tên vào biên bản Nội dung cụ thể thể hiện ở Biên bản làm việc ngày 09/3/2014 (bút lục 27)
Sau khi có Quyết định xử phạt ngày 10/3/2014 kết luận bà Tuyết có hành vi vi phạm khoản 1 Điều 25 Nghị định 167, với mức xử phạt 15.000.000đ thì ngày 24/3/2014, bà Tuyết có đơn khiếu nại Quyết định 23 đến Giám đốc Sở tuy nhiên bà chỉ yêu cầu về vấn đề xem xét giải quyết hợp lý mức phạt (thể hiện ở bút lục 36)
Bên cạnh đó, vào ngày 27/3/2014 tại Biên bản gặp gỡ đối thoại, bà Tuyết cũng chỉ muốn xem xét lại về khoản tiền phạt có đúng hay không (thể hiện ở bút lục 37-38) Điều này càng cho thấy, hành vi vi phạm của bà Tuyết là có và bà Tuyết cũng đã thừa nhận hành vi vi phạm, tự đọc lại các biên bản và đồng ý ký tên
Thứ hai: Việc Quyết định 23 có sai sót về mặt hình thức.
Ngày 17/3/2014, Thanh tra Sở gửi Quyết định 23 đề ngày 10/3/2014, sau khi gửi
đã phát hiện có những sai sót về mặt hình thức nên ngày 18/3/2014 Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ra công văn 02/2014/CV-TTr (thể hiện ở bút lục 34-35) đính chính sai sót và gửi cho người vi phạm kèm theo bản chính Quyết định 23/QĐ_XPHC đề ngày 10/3/2014 Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng đây chỉ là sai sót nhỏ
về mặt hình thức, về bản chất nội dung biên bản, việc ghi nhận hành vi vẫn được đảm bảo
Thứ ba: Về nội dung hành vi vi phạm trong Biên bản và Quyết định 23 khác
nhau:
Nội dung biên bản 11/BB-VPHC ngày 23/12/2013 kết luận “chủ cơ sở Hoàng Lan thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra hành vi vi phạm như trên” do tại thời điểm đó vẫn
chưa kết luận được chính xác hành vi vi phạm mà chỉ ghi nhận hành vi thực tế tại thời điểm lập biên bản nên cần phải có thời gian điều tra, xác minh và người vi phạm giải trình, bổ sung các giấy tờ
Và sau các lần đến làm việc, thì Biên bản làm việc ngày 09/3/2014 bà Tuyết không
bổ sung được giấy tờ cũng như thừa nhận hành vi vi phạm nên mới kết luận hành vi vi
phạm của bà Tuyết thuộc khoản 1 Điều 25 Nghị định 167/2013/NĐ-CP “thiếu tinh thần, trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện
về an ninh trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm”, sau khi lập biên bản thì bà Tuyết có
tự đọc lại và thừa nhận là đúng, ký tên vào biên bản
Trang 9Thời điểm lập Biên bản vi phạm ngày 23/12/2013 do chỉ ghi nhận hành vi thực tế tại thời điểm lập biên bản, đến biên bản làm việc ngày 09/3/2014, bà Tuyết không cung cấp được gì để chứng minh sau quá trình làm việc, Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch tỉnh GL mới đưa ra kết luận hành vi vi phạm thuộc khoản 1 Điều 25 Nghị định 167/2013/NĐ-CP, thời điểm này thì Nghị định 167/2013/NĐ-CP đang có hiệu lực
Do đó, việc áp dụng Nghị định 167/2013/NĐ-CP là có cơ sở
Thứ tư: Thời hạn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23 ngày
10/3/2014 là còn trong thời hạn cho phép:
Vào ngày 23/12/2013, Đoàn kiểm tra của Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh GL lập Biên bản vi phạm số 11/BB-VPHC đối với cơ sở kinh doanh của bà Tuyết, theo lời khai tại bản tường trình của những người liên quan tại thời điểm kiểm tra họ khai là có mối quan hệ vợ chồng, thời gian này cũng có rất nhiều cơ sở có hành vi
vi phạm khá phức tạp nên xét thấy cần có thời gian điều tra, xác minh làm rõ để có đủ
cơ sở kết luận, làm căn cứ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nhưng khoảng thời gian này bị rơi vào các ngày nghỉ Tết dương lịch, Tết âm lịch cho nên Thanh tra Sở
đã xin ý kiến Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh GL theo nội dung tờ Tường trình số 02/TT-TTr về việc gia hạn thời hạn ra Quyết định xử phạt hành chính và
đã được Giám đốc Sở phê duyệt, thời hạn xin gia hạn chậm nhất là đến 11/3/2014
Do đó, Thanh tra Sở ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 là đúng thời hạn quy định
Thứ năm: Thẩm quyền của Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
- Việc kiểm tra cơ sở kinh doanh của bà Tuyết là Đoàn kiểm tra liên ngành được thành lập để tiến hành thanh tra, kiểm tra việc thực tế các cơ sở hoạt động văn hóa và
kinh doanh dịch vụ văn hóa, thể thao và du lịch trên địa bàn tỉnh (điều này pháp luật quy định tại Điều 12 Nghị định 178/2004/NĐ-CP ngày 15/10/2004) và ông Trần Ngọc
Minh –Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch được giao làm trưởng Đoàn kiểm tra
Bên cạnh đó, Cơ sở kinh doanh của bà Tuyết là kinh doanh dịch vụ cho thuê lưu trú thuộc ngành, nghề kinh doanh có điều kiện chịu quản lý của Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch
Do đó, Thanh tra Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch tỉnh GL có đủ thẩm quyền để tiến hành kiểm tra, lập biên bản, ra Quyết định xử phạt đối với cơ sở của bà Tuyết theo quy định tại Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012, hướng dẫn tại Điều 6, Nghị định 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013
Trang 10Từ các lập luận nêu trên, căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 2 Điều 104; điểm a khoản
2 Điều 163 Luật tố tụng hành chính 2010; tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết
Phần trình bày luận cứ của tôi đã kết thúc
Cám ơn Hội đồng xét xử đã lắng nghe
Luật sư Nguyễn Cẩm N