1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lý luận tích lũy và ý nghĩa của việc nghiên cứu lý luận tích lũy. Liên hệ vấn đề này ở Việt Nam

19 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 193,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý luận tích lũy và ý nghĩa của việc nghiên cứu lý luận tích lũy. Liên hệ vấn đề này ở Việt Nam Lý luận tích lũy và ý nghĩa của việc nghiên cứu lý luận tích lũy. Liên hệ vấn đề này ở Việt Nam Lý luận tích lũy và ý nghĩa của việc nghiên cứu lý luận tích lũy. Liên hệ vấn đề này ở Việt Nam Lý luận tích lũy và ý nghĩa của việc nghiên cứu lý luận tích lũy. Liên hệ vấn đề này ở Việt Nam Lý luận tích lũy và ý nghĩa của việc nghiên cứu lý luận tích lũy. Liên hệ vấn đề này ở Việt Nam Lý luận tích lũy và ý nghĩa của việc nghiên cứu lý luận tích lũy. Liên hệ vấn đề này ở Việt Nam Lý luận tích lũy và ý nghĩa của việc nghiên cứu lý luận tích lũy. Liên hệ vấn đề này ở Việt Nam

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

.

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN

Lý luận tích lũy và ý nghĩa của việc nghiên cứu lý luận tích lũy Liên hệ vấn đề này ở Việt Nam

Giảng viên hướng dẫn:Tiến sĩ Đặng Thị Hoài Lớp học phần : 2080RLCP1211

Nhóm trình bày : Nhóm 8

Hà Nội – 10/2020

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

Trang 2

1.1 LÝ LUẬN CHUNG 4

1.1.1 Cơ sở về lý luận tích lũy tư bản 4

1.1.1.1 Khái niệm về tích lũy tư bản 4

1.1.1.2 Bản chất của tích lũy tư bản 4

1.1.1.3 Những nhân tố góp phần làm tăng quy mô tích lũy 5

1.1.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu tích lũy tư bản 8

1.1.2.1 Ý nghĩa về mặt lí luận 8

1.1.2.2 Ý nghĩa thực tế 9

2.2 LIÊN HỆ VẤN ĐỀ TÍCH LŨY TƯ BẢN Ở VIỆT NAM 12

2.2.1 Thực trạng … 12

2.2.2 Thuận lợi 14

2.2.3 Khó khăn 15

2.2.4 Giải pháp 17

PHẦN KẾT THÚC .19

Tài liệu tham khảo 20

PHẦN MỞ ĐẦU

Đất nước ta đang trong quá trình hội nhập, phát triển năng động nhất từ trước đến

Trang 3

vị thế đất nước trên trường quốc tế Đó là những thành quả rất đáng tự hào mà chúng

ta có được nhờ sự lựa chọn đúng đắn đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) và sự vận dụng sáng tạo các phương pháp, nguyên lí

cơ bản của phát triển kinh tế vào điều kiện nền kinh tế của Việt Nam Chúng ta có xuất phát điểm thấp, tiềm lực kinh tế yếu nên ta đổi mới với thực tế trình độ kĩ thuật thấp và năng suất lao động chưa cao

Với mô hình nền kinh tế hiện đại, vốn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tăng trưởng kinh tế Vốn là cơ sở để tạo ra việc làm, tạo ra công nghệ tiên tiến, tăng năng lực sản xuất của các doanh nghiệp và của cả nền kinh tế, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất theo chiều sâu Cơ cấu sử dụng vốn có tác động quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước Để giữ được nhịp độ phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, một trong những khó khăn lớn đặt ra là phương thức huy động vốn Nguồn vốn có thể được huy động từ tích lũy trong nước và vốn vay nước ngoài Bài thảo luận “Lý luận tích lũy và ý nghĩa của việc nghiên cứu lý luận tích lũy

và liên hệ vào thực tiễn Việt Nam’’dưới đây sẽ nêu lên những lý luận chung về tích lũy và việc vận dụng lý luận đó vào thực tễn ở nước ta, với nhận thức sâu sắc về vai trò của việc tích lũy vốn phục vụ phát triển kinh tế đất nước

1.1 LÝ LUẬN CHUNG 1.1.1 Cơ sở về lý luận tích lũy tư bản

1.1.1.1 Khái niệm về tích lũy tư bản

Trang 4

Tích lũy tư bản là một yếu tố quan trọng quyết định đối với sự hình thành phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, một hệ thống các nước tư bản đầu tiên trên thế giới đã hình thành và phát triển vô cùng mạnh mẽ mà lịch sử đã cho thấy rằng cuối thế

kỷ XV đầu thế kỷ XVI, tích lũy nguyên thủy đã diễn ra sôi động ở các nước phương Tây và nền kinh tế- xã hội của các nước này phát triển vô cùng mạnh mẽ Người ta còn gọi quá trình tích lũy tư bản là hình thành tư bản

Tích lũy tư bản là biến một phần giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm hay là tư bản hóa giá trị thặng dư

Giá trị thặng dư là một bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do người bán sức lao động (người lao động làm thuê) tạo ra và thuộc về nhà tư bản (người mua hàng hóa sức lao động)

Xét ví dụ: Tháng 1/N Một công ty sản xuất ô tô có vốn bỏ ra là 400 triệu thuê thiết bị tư liệu sản xuất, thuê công nhân 100 triệu và có giá trị thặng dư là 100 triệu Ông chủ dùng 50 triệu cho tiêu dùng và 50 triệu tích lũy

Ta có: Tháng 1/N thì: 400c+100v+100m = w

Giá trị thặng dư là 100 triệu chia làm 50 triệu tiêu dùng và 50 triệu tích lũy, thì 50 triệu tích lũy đó chính là tích lũy tư bản

Tích lũy tư bản đó sẽ được dùng cho các kì sản xuất tiếp theo nếu sử dụng 50 triệu tích lũy tư bản đó thì:

Tháng 2/N thì: 440c+110v+110m = w

Khi đó giá trị thặng dư đã tăng lên 110 triệu và quy mô của công ty đó ngày càng tăng và phát triển lớn hơn so với tháng trước

Trong đó: c: tư bản bất biến

v: tư bản khả biến

m: giá trị thặng dư

1.1.1.2 Bản chất của tích lũy tư bản

Trong thực tế nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, quá trình sản xuất liên tục được lặp đi lặp lại không ngừng Hiện tượng đó được gọi là tái sản xuất

Trang 5

Tái sản xuất có thể được thực hiện dưới hình thức tái sản xuất giản đơn Đó là sự lặp lại quá trình sản xuất với quy mô như cũ Trong trường hợp này, toàn bộ giá trị thặng dư đã được nhà tư bản tiêu dùng cho cá nhân

Kết quả nghiên cứu tái sản xuất giản đơn cho thấy, không phải nhà tư bản ứng trước tiền công cho công nhân làm thuê, mà ngược lại chính công nhân làm thuê ứng trước tư bản khả biến cho nhà tư bản

Tuy nhiên, tư bản không những được bảo tồn mà còn không ngừng lớn lên, thể hiện thông qua tích lũy tư bản trong quá trình tái sản xuất mở rộng Tái sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa là sự lặp đi lặp lại quá trình sản xuất với quy mô và trình độ ngày càng tăng lên

Để thực hiện tái sản xuất mở rộng, nhà tư bản phải biến một bộ phận giá trị thặng

dư thành tư bản phụ thêm, do đó tích lũy tư bản là tư bản hóa giá trị thặng dư.

Bản chất của tích lũy tư bản là quá trình tái sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa thông qua việc biến giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm để tiếp tục mở rộng sản xuất kinh doanh thông qua mua thêm hàng hóa sức lao động, mở mang nhà xưởng, mua thêm nguyên vật liệu, trang bị thêm máy móc thiết bị Nghĩa là nhà tư bản không

sử dụng hết giá trị thặng dư thu được cho tiêu dùng cá nhân mà biến nó thành tư bản phụ thêm Cho nên, khi thị trường thuận lợi, nhà tư bản bán được hàng hóa, giá trị thặng dư vì thế sẽ ngày càng nhiều, nhà tư bản trở nên giàu có hơn

Tư bản chính là vốn Tích tụ và tập trung tư bản thực chất là tích tụ và tập trung vốn vào trong sản xuất.Vốn là một nhân tố đầu vào không thể thiếu trong các hoạt động kinh tế Thiếu vốn, nền kinh tế không thể tăng trưởng được Vì vậy, để nền kinh

tế tăng trưởng cao thì nhu cầu về vốn càng lớn và đòi hỏi phải sử dụng hiệu quả nguồn vốn đó Vốn không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn đóng góp vào chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo ngành và vùng

1.1.1.3 Những nhân tố góp phần làm tăng quy mô tích lũy

Quy mô tích lũy phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư và tỷ lệ phân chia giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm và tư bản tiêu dùng của nhà tư bản

Trang 6

Với một khối lượng giá trị thặng dư nhất định thì quy mô tích lũy phụ thuộc vào tỷ

lệ phân chia khối lượng giá trị thặng dư đó thành quỹ tích lũy và quỹ tiêu dùng của nhà

tư bản Nếu nhà tư bản sử dụng khối lượng giá trị thặng dư đó quá nhiều cho chi tiêu

cá nhân thì lượng tích lũy ít đi Khi đó quy mô tích lũy của nhà tư bản sẽ giảm đi Ngược lại, việc tiêu dùng ít sẽ làm tăng khối lượng tư bản tích lũy, khi đó nhà tư bản

có vốn mở rộng thêm sản xuất, nâng cao kĩ thuật giành phần thắng lợi trên thương trường Tuy nhiên khó đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của bản thân nhà tư bản Do đó, vấn

đề cân đối giữa nhu cầu tiêu dùng của bản thân và lượng tư bản phụ thêm bỏ vào sản xuất là vấn đề đầu tiên phải giải quyết của nhà tư bản

Nhưng nếu tỷ lệ phân chia đó đã được xác định thì quy mô của tích lũy tư bản phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư Do đó những nhân tố ảnh hưởng đến khối lượng giá trị thặng dư cũng chính là những nhân tố quyết định quy mô của tích lũy tư bản

+ Tỷ suất tích lũy

Trên thực tế, các nhà tư bản không chỉ quan tâm đến lợi nhuận, mà còn quan tâm đến tỷ suất tích lũy

Tỷ suất tích lũy là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư và toàn bộ tư bản ứng trước

Tỷ suất tích lũy chỉ cho nhà tư bản biết tư bản của họ đầu tư vào đâu thì có lợi hơn Do đó, việc thu lợi nhuận và theo đuổi tỷ suất tích lũy là động lực thúc đẩy các nhà tư bản, là mục tiêu cạnh tranh của các nhà tư bản

+ Nâng cao tỷ suất giá trị thặng dư

Tỷ suất giá trị thặng dư tăng sẽ tạo tiền đề để tăng quy mô giá trị thặng dư Từ đó

mà tạo điều kiện để tăng quy mô tích lũy Để nâng cao tỷ suất giá trị thặng dư, ngoài

sử dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng

dư tương đối, nhà tư bản còn có thể sử dụng các biện pháp cắt xén tiền công, tăng ca tăng kíp

Trình độ bóc lột sức lao động là tỉ lệ giữa lượng tư bản ứng ra mua sức lao động công nhân và lượng giá trị thu về từ lao động đó Nhà tư bản nâng cao trình độ bóc lột bằng cách cắt xén vào tiền công của công nhân Như vậy công nhân không những bị

Trang 7

nhà tư bản chiếm đoạt lao động thặng dư, mà còn bị chiếm đoạt một phần lao động tất yếu, bị cắt xén một phần tiền công

Ngoài ra việc nâng cao bóc lột được thực hiện bằng cách tăng cường độ lao động

và kéo dài thời gian lao động Việc làm này rõ ràng làm tăng giá trị thặng dư, do đó làm tăng bộ phận giá trị thặng dư tư bản hóa, tức làm tăng tích lũy Cái lợi ở đây còn thể hiện ở chỗ nhà tư bản không cần ứng thêm tư bản để mua thêm máy móc, thiết bị

mà chỉ cần ứng tư bản để mua thêm nguyên liệu là có thể tăng được khối lượng sản xuất, tận dụng được công suất máy móc, thiết bị, nên giảm được hao mòn vô hình và chi phí bảo quản máy móc, thiết bị

+ Nâng cao năng suất lao động

Năng suất lao động tăng làm cho giá trị tư liệu sinh hoạt giảm xuống, làm giảm giá trị sức lao động giúp cho nhà tư bản thu được nhiều giá trị thặng dư hơn, góp phần tạo điều kiện cho phép tăng quy mô tích lũy

Năng suất lao động xã hội tăng lên, thì giá cả tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng giảm xuống Sự giảm này đem lại hai hệ quả cho tích lũy tư bản: một là, với khối lượng giá trị thặng dư nhất định, phần giành cho tích lũy có thể tăng lên, nhưng tiêu dùng của các nhà tư bản không giảm, thậm chí có thể cao hơn trước, hai là, một lượng giá trị thặng dư nhất định dành cho tích lũy có thể chuyển hóa thành một khối lượng tư liệu sản xuất và sức lao động phụ thêm lớn Như vậy, năng suất lao động tăng sẽ làm tăng thêm những yếu tố vật chất của tư bản, do đó làm tăng quy mô tích lũy

Năng suất lao động cao thì lao động sống sử dụng được nhiều lao động quá khứ hơn, lao động quá khứ đó lại tái hiện dưới hình thái có ích mới, chúng làm chức năng

tư bản càng nhiều, do đó cũng làm tăng quy mô của tích lũy tư bản

+ Sử dụng hiệu quả máy móc

C Mác gọi việc này là chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng Theo

C Mác, máy móc được sử dụng toàn bộ tính năng của nó, song giá trị chỉ được tính dần vào giá trị sản phẩm qua khấu hao Sau mỗi chu kỳ như thế, máy móc vẫn hoạt động toàn bộ nhưng giá trị của bản thân nó đã giảm dần do tính giá khấu hao để chuyển vào giá trị sản phẩm Hệ quả là, mặc dù giá trị đã bị khấu hao, song tính năng hay giá trị sử dụng thì vẫn nguyên như cũ, như lực lượng phục vụ không công trong sản xuất Sự phục vụ không công đấy được lao động sống nắm lấy và làm cho chúng

Trang 8

hoạt động Chúng được tích lũy lại cùng với tăng quy mô tích lũy tư bản Đồng thời,

sự lớn lên không ngừng của quỹ khấu hao trong khi chưa cần thiết phải đổi mới tư bản

cố định cũng trở thành nguồn tài chính có thể sử dụng cho mở rộng sản xuất

+ Đại lượng tư bản ứng trước

Nếu thị trường thuận lợi, hàng hóa luôn bán được, tư bản ứng trước càng lớn sẽ là tiền đề cho tăng quy mô tích lũy

Với trình độ bóc lột không thay đổi thì khối lượng giá trị thặng dư do khối lượng

tư bản khả biến quyết định Do đó quy mô của tư bản ứng trước càng lớn, nhất là bộ phận tư bản khả biến thì khối lượng giá trị thặng dư bóc lột được càng nhiều, tạo điều kiện tăng thêm quy mô của tích luỹ tư bản

1.1.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu tích lũy tư bản

1.1.2.1 Ý nghĩa về mặt lí luận

* Nghiên cứu tích lũy tư bản cho thấy rõ hơn bản chất bóc lột của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa

- Thứ nhất, nguồn gốc duy nhất của tư bản tích lũy là giá trị thặng dư và tư bản tích lũy chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong toàn bộ tư bản C.Mac nói rằng, tư bản ứng trước chỉ là một giọt nước trong dòng sông của tích lũy mà thôi Trong quá trình tái sản xuất, lãi (m) cứ đập vào vốn, vốn càng lớn thì lãi càng lớn, do đó lao động của công nhân trong quá khứ lại trở thành những phương tiện để bóc lột chính người công nhân

- Thứ hai, quá trình tích lũy đã làm cho quyền sở hữu trong nền kinh tế hàng hóa biến thành quyền chiếm đoạt tư bản chủ nghĩa Trong sản xuất hàng hóa giản đơn, sự trao đổi giữa những người sản xuất hàng hóa theo nguyên tắc ngang giá về cơ bản không dẫn tới người này chiếm đoạt lao động không công của người kia Trái lại, nền sản xuất tư bản chủ nghĩa dẫn đến kết quả là nhà tư bản chẳng những chiếm đoạt một phần lao động của công nhân mà còn là người sở hữu hợp pháp lao động không công đó

* Tích lũy tư bản vừa với vai trò xuất phát điểm của chủ nghĩa tư bản gọi là tích lũy nguyên thủy tư bản đồng thời với vai trò là đòn bẩy cho sự phát triển quy mô của chủ nghĩa tư bản hiện nay

Trang 9

Sự ra đời cũng như sự tồn tại phát triển của chủ nghĩa tư bản được các nhà tư bản luôn tìm cách che đậy bản chất của nó bằng cách họ không ngớt ca ngợi chế độ này Chủ nghĩa tư bản được sinh ra, tồn tại và phát triển dựa trên sự bóc lột người công nhân Trong khi đó, phương thức sản xuất mà xã hội loài người vươn tới là phương thức chủ nghĩa cộng sản mà Việt Nam đang trên đường vươn tới phương thức này Tích lũy nguyên thủy tư bản được thực hiện bằng bạo lực và cướp bóc Tiếp đó tích lũy tư bản góp phần mở rộng quy mô bóc lộc Một phương thức sản xuất mà dựa trên chế độ tư hữu, người có quyền(ít người) bóc lột công nhân và nhân dân lao động(nhiều người) thì chắc chắn không phải phương thức sản xuất gương mẫu mặc dù

nó đã có công lao to lớn trong công việc phát triển lực lượng sản xuất xã hội Bản chất của chủ nghĩa tư bản là bóc lột, là không công bằng, xã hội tư bản đầy rẫy những bất công và tích lũy tư bản có nhiệm vụ sinh ra chủ nghĩa tư bản và đồng thời cũng phủ định chính bản thân chủ nghĩa này Khi đó ta càng thấy rõ được bản chất của chủ nghĩa

tư bản, càng khẳng định con đường mà Đảng ta chọn là tiến lên chủ nghĩa xã hội là hoàn toàn đúng đắn

Vai trò của tích lũy tư bản thì ta không thể phủ nhận được Nó đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, xã hội hóa nền sản xuất Nó tạo tiền đề ra đời chủ nghĩa tư bản rồi lại phủ định chủ nghĩa tư bản và tạo tiền đề cho phương thức sản xuất tiến bộ của xã hội loài người đó là chủ nghĩa xã hội Và khi chủ nghĩa xã hội ra đời thì tích lũy vẫn còn đầy đủ vai trò của nó và khi đó nó được gọi là tích lũy vốn Ta không nên đánh đồng tích lũy với chủ nghĩa tư bản mà loại trừ nó Bởi như thế cũng có nghĩa là ta triệt tiêu sự phát triển của lực lượng sản xuất Tích lũy vốn được sử dụng trong xã hội chủ nghĩa với hình thái thay đổi phù hợp

Tóm lại con đường mà chúng ta lựa chọn không thể khẳng định là hoàn toàn đúng đắn Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác Lê-nin cùng tư tưởng Hồ Chí Minh đang rọi con đường đúng đắn cho chúng ta Chỉ có xây dựng chủ nghĩa xã hội mới có sự công bằng mới không có người bóc lột người

1.1.2.2 Ý nghĩa thực tế

Thứ nhất: Quá trình tích lũy tư bản là quá trình tăng cấu tạo hữu cơ của tư bản

Trang 10

Sản xuất bao giờ cũng là sự kết hợp giữa hai yếu tố: tư liệu sản xuất và sức lao động Sự kết hợp của chúng dưới hình thái hiện vật gọi là cấu tạo kỹ thuật Cấu tạo kỹ thuật của tư bản là tỷ lệ giữa số lượng tư liệu lao động và khối lượng tư bản cần thiết

để sử dụng các tư liệu đó Cấu tạo kỹ thuật là cấu tạo hiện vật, nên nó biểu hiện dưới hình thức: số lượng máy móc, nguyên liệu, năng lượng do công nhân sử dụng trong một thời gian nào đó Cấu tạo kỹ thuật phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Cấu tạo giá trị của tư bản là tỷ lệ theo đó tư bản phân thành tư bản bất biến và tư bản khả biến (hay giá trị của sức lao động) cần thiết để tiến hành sản xuất Cấu tạo kỹ thuật thay đổi sẽ làm cấu tạo giá trị thay đổi C.Mac đã dùng phạm trù cấu tạo hữu cơ của tư bản để phản ánh mối quan hệ đó Cấu tạo hữu cơ của tư bản là cấu tạo giá trị tư bản, do cấu tạo kỹ thuật quyết định và phản ánh sự thay đổi của cấu tạo kỹ thuật của tư bản Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, do tác động thường xuyên của tiến

bộ khoa học, cấu tạo hữu cơ của tư bản cũng không ngừng biến đổi theo hướng ngày càng tăng lên Sự tăng lên đó biểu hiện ở chỗ: bộ phận tư bản bất biến tăng nhanh hơn

bộ phận tư bản khả biến, tư bản bất biến tăng tương đối và tăng tuyệt đối, còn tư bản khả biến có thể tăng tuyệt đối nhưng lại giảm xuống tương đối

Sự tăng lên của cấu tạo hữu cơ của tư bản làm cho khối lượng tư liệu sản xuất tăng lên, trong đó sự tăng lên của máy móc thiết bị là điều kiện để tăng năng suất lao động, còn nguyên liệu tăng theo năng suất lao động Nó đòi hỏi việc sử dụng lao động mới được đào tạo với giá trị sức lao động cao nhưng năng suất lao động tăng cao lại làm cho hàng hóa kỹ thuật hiện đại giảm xuống Xu hướng chung là tỷ trọng người lao động có trình độ cao, lao động trí tuệ ngày càng tăng lên, gây nên những hậu quả xã hội tiêu cực đối với toàn bộ đội ngũ người lao động làm thuê

Thứ hai: Quá trình tích lũy tư bản là quá trình tích tụ và tập trung tư bản ngày

càng tăng

Tích tụ và tập trung tư bản là quy luật phát triển của nền sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa Tích tụ tư bản và việc tăng quy mô của tư bản cá biệt bằng cách tích lũy của từng nhà tư bản riêng rẽ, nó là kết quả tất nhiên của tích lũy

Tích tụ tư bản một mặt là yêu cầu của việc mở rộng sản xuất, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, mặt khác sự tăng lên của khối lượng giá trị thặng dư trong quá trình phát triển

Ngày đăng: 01/09/2021, 22:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w