CDV Tài chính – Ngân hàng là một ngành khá là rộng, liên quan đến tất cả các dịch vụ giao dịch, luân chuyển tiền tệ. Vì vậy có rất nhiều các lĩnh vực chuyên ngành hẹp. Ngành Tài chính – Ngân hàng chia thành nhiều lĩnh vực khác nhau: Chuyên ngành Tài chính, chuyên ngành Ngân hàng, chuyên ngành Phân tích tài chính, Quỹ tín dụng…
Trang 1NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
TP.HCM,ngày… tháng… năm ………
Người hướng dẫn
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
TP.HCM,ngày… tháng… năm ………
Giảng viên hướng dẫn
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
LỜI CẢM ƠN 3
NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP 4
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN 5
MỤC LỤC 6
CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG,TÍN DỤNG VÀ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TM CP ĐẠI Á 9
I.Khái quát vềngân hàng thương mại (NHTM) và hoạt động cho vay của NHTM 1.Khái niệm và đặc điểm của NHTM 9
1.1.Chức năng của NHTM trong nền kinh tế thị trường 10
1.1.1.Trung gian tài chính 10
1.1.2.Tạo phương tiện thanh toán 11
1.1.3.Trung gian thanh toán 13
1.2.Hoạt động cho vay của NHTM 14
1.2.1 Khái niệm và vai trò cho vay của NHTM trong nền kinh tế 14
1.2.2.Các hình thức cho vay của NHTM 16
II Tổng quan về tín dụng và hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại 1/ Kh¸i niƯm chung vỊ tÝn dơng 17
1.1/ TÝn dơng 17
1.2/ §Ỉc trng vµ b¶n chÊt cđa tÝn dơng 18
1.2.1/ §Ỉc trng cđa tÝn dơng 18
1.2.1/ §Ỉc trng cđa tÝn dơng 19
1.3/ C¸c lo¹i h×nh tÝn dơng trong lÞch sư 20
Trang 4III/ Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhà nước 21
1/ Một số vấn đề về doanh nghiệp nhà nước (DNNN) 21
1.1/ Khái niệm DNNN 22
1.2/ Vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường 22
2/ Thực trạng hoạt động của các DNNN 24
2.1/ Tình hình hoạt động của các DNNN ở nước ta trong những năm qua 24
3/ Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với DNNN 26
3.1/ TDNH góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp 26
CHệễNG II: HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIEÂU DUỉNG VÀ THỰC TRẠNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNNN TẠI PGD NGAÂN HAỉNG THệễNG MAẽI ĐẠI Á I.Khaựi nieọm vaứ ủaởc ủieồm cho vay tieõu duứng 28
II.Vai troứ cuỷa cho vay tieõu duứng 29
III.Quy trỡnh cho vay tieõu duứng 31
IV.Phaõn loaùi cho vay tieõu duứng 33
1.Dửùa vaứo muùc ủớch sửỷ duùng tieàn vay cuỷa khaựch haứng 33
2.Dửùa vaứo caựch thửực hoaứn traỷ 34
3.Dửùa vaứo phửụng thửực cho vay 35
THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DNNN TẠI PGD NGÂN HÀNG TMCP ĐẠI Á 39
I Quá trình hình thành và phát triển củaNHTMCPĐại Á 39
II SƠ ĐỒ TỔ CHỨC TẠI NGÂN HÀNG ĐẠI Á 42
2.1/ Công tác huy động vốn 43
2.2/ Hoạt động tín dụng 43
2.3/ Hoạt động kinh doanh đối ngoại 46
III Thực trạng hoạt động tín dụng đối với DNNN tại PGD NHTMCPĐại Á 47
1/ Đặc điểm đội ngũ khách hàng là DNNN tại PGD 47
2/ Hoạt động tín dụng đối với DNNN 47
Trang 5Chương III : cho vay tiấU DÙNG VÀ GIải pháp nâng cao chất
lượng tín dụng đối với DNNN tại PGD TÂN PHÚ 52
I/ Phương hướng đổi mới hoạt động của các Dnnn trên địa bàn TPHCM và mục tiêu cho vay đối với DNNN của NHTMCP Đại ỏ 52
1/ Hướng đổi mới hoạt động của DNNN trên địa bàn Thành phố HCM 52
2/Phương hướng và mục tiêu cho vay đối với DNNN tạiNHTMCP Đại ỏ 52
II/Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNNN tại PGD NHTMCPĐẠI Á 54
1/ Các giải pháp về phía PGD NHTMCPĐại Á 54
1.1/ Giải pháp về tăng cường vốn để cho vay DNNN 54
1.2/ Tuân thủ thực hiện nghiêm túc qui trình tín dụng, trong đó chú trọng việc nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng 55
2/ Một số ý kiến và kiến nghị đối với DNNN, NHCT Việt Nam, NHNN, Chính phủ nhằm tạo điều kiện thực hiện nâng cao chất lượng tín dụng tại NHTMCPĐại Á 60 2.1/ ý kiến với DNNN 60
2.2/ Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 63
2.3/ Kiến nghị với Chính phủ 63
Kết luận 65
66
Trang 6MỞ ĐẦU
Khi nền kinh tế phát triển, đặc biệt là khi Việt Nam đã gia nhập WTO thì cơhội việc làm cũng như thu nhập của người dân tăng lên, đời sống của nhân dân đangngày càng được cải thiện rõ rệt Vì vậy nhu cầu về tiêu dùng trong nền kinh tế nóichung và người dân nói riêng ngày càng tăng cao Đối với người dân có thu nhập ổnđịnh thì nhu cầu đó có thể là một căn hộ đầy đủ tiện nghi hay thậm chí là một chiếc
xe hơi đời mới
Tuy nhiên, không phải lúc nào nhu cầu tiêu dùng của người dân cũng đượcthoả mãn do có nhiều mặt hàng giá quá đắt so với thu nhập của họ Việc đáp ứngcác nhu cầu này đòi hỏi một nguồn tài chính tương đối lớn Nhận thấy thực tiễn đó,một số ngân hàng đã và đang cố gắng nỗ lực tung ra những chính sách cho vay tiêudùng, chất lượng tín dung phù hợp với bản thân ngân hàng, phù hợp với khách hàngmọi tầng lớp nhưng vẫn đảm bảo lợi nhuận và lợi ích khác cho chính ngân hàng.Các ngân hàng đã liên tục phát triển và trở thành một trong những tổ chức cấp tíndụng chính trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng
Một trong những nguyên nhân cơ bản khiến cho ngành ngân hàng có được vị tríthống lĩnh trên lĩnh vực này là các ngân hàng đã không ngừng khai thác nguồn tiềngửi của dân cư và đẩy mạnh cơng tác tín dụng coi đây là nguồn vốn hoạt động quantrọng nhất Nhiều người sẽ không muốn gửi tiền vào một ngân hàng nếu họ khôngthấy được rằng mình sẽ có triển vọng vay lại tiền từ chính ngân hàng đó khi có nhucầu
Xuất phát từ nhận định đĩ em đã chọn đề tài: “Thực trạng cho vay tiêu dùng và
giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đại Á”.
Trang 7Nội dung của đề tài gồm ba phần:
Chương 1: Những lí luận cơ bản về hoạt động cho vay tiêu dùng, tín dụng ngân hàng và chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của Ngân hàng TMCP Đại Á.
Chương II: Thực trạng về hoạt động cho vay tiêu dùng và hoạt động tín dụng đối với các Doanh nghiệp nhà nước tại PGD Ngân hàng Thương mại
Chương III: Cho vay tiêu dùng và giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp nhà nước tại PGD Ngân hàng TMCP Đại Á.
Mặc dù đã cố gắng nổ lực song thời gian thực tập ngắn và trình độ bản thân cịn hạn chếnên đề tài của em khơng tránh khỏi những thiếu sĩt Em rất mong nhận được sự gĩp ýcủa thầy cơ và các anh chị trong phịng giao dich để đề tài của em được hồn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 8CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG,TÍN DỤNG VÀ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNG TM CP ĐẠI Á
I.Khái quát vềngân hàng thương mại (NHTM) và hoạt động cho vay của NHTM
1 Khái niệm và đặc điểm của NHTM
Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với sự phát triển củanền sản xuất hàng hoá Quá trình phát triển kinh tế là điều kiện và đòi hỏi sự pháttriển của ngân hàng; đến lượt mình, sự phát triển của hệ thống ngân hàng trở thànhđộng lực thúc đẩy phát triển kinh tế
Trước thế kỷ XV, người ta không thấy có cơ quan nào được xem như là mộtngân hàng thật sự; mãi đến nửa thế kỷ XVI ở châu Âu mới ra đời ngân hàng đầutiên Trong thời gian đó, ngân hàng phát triển với tốc độ rất chậm, hoạt động củangân hàng rất hạn chế, chỉ bao gồm gửi và cho vay Sau đó ngân hàng dần dần từngbước phát triển, nhất là nửa sau thế kỷ XIX – song song với sự phát triển kinh tế vàthương mại
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động của ngân hàng cũng được cảithiện và nâng cao, chuyển hoá dần theo hướng đa năng Tuy nhiên đến nay cũngchưa có một khái niệm thống nhất nào về ngân hàng thương mại Lý do là có rấtnhiều nhà kinh tế có quan điểm khác nhau, đứng trên giác độ khác nhau nên mỗingười lại có định nghĩa không giống nhau Mặt khác, các ngân hàng có thể được
Trang 9định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà chúng thực hiện trong nềnkinh tế Cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét ngân hàng trên phương
diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp: “Ngân hàng là các tổ chức tài
chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” Theo Luật các tổ chức tín
dụng của Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá
X, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 12/12/1997 thì: “Ngân hàng là loại tổ chức tín dụng
được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Theo tính chất và hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác”.
1.1.Chức năng của NHTM trong nền kinh tế thị trường
Tầm quan trọng của NHTM được thể hiện rõ nét nhất qua các chức năng củanó Các chuyên gia kinh tế đã tượng trưng cho ngân hàng là trái tim của nền kinh tế.Ngân hàng đã làm cho những nguồn vốn nhàn rỗi được khơi thông, đưa tiền từ ngườithừa tiền đến người cần tiền, từ nơi thừa đến nơi thiếu giúp cho xã hội lưu chuyểntiền tệ một cách hiệu quả hơn NHTM trong nền kinh tế có các chức năng sau:
1.1.1.Trung gian tài chính
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyểntiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sụ tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức trong nềnkinh tế: (1) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêudùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần bổ sung vốn; và(2) các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họlớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hoá, dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm.Sự tồn tại hai loại cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn độc lập với ngân hàng.Điều này tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ (2) sang nhóm thứ (1) nếu cả hai
Trang 10cùng có lợi Như vậy thu nhập gia tăng là động lực tạo ra mối quan hệ tài chính giữahai nhóm Nếu dòng tiền di chuyển với điều kiện phải quay trở lại với một lượnglớn hơn trong một khoảng thời gian nhất định thì đó là quan hệ tín dụng Nếu khôngthì đó là quan hệ cấp phát hoặc hùn vốn.
Những chủ thể tạm thời thừa vốn sẽ là những người cho vay đầu tiên và ngượclại là những chủ thể tạm thời thiếu vốn cũng sẽ là những người đi vay cuối cùng củahệ thống tài chính Trong nền kinh tế, có những cá nhân, tổ chức có nhu cầu vốnvào các thời điểm khác nhau gây hiện tượng thừa, thiếu vốn tạm thời Ngân hàng làngười trung gian có vai trò huy động và tập trung các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗicủa các chủ thể trong nền kinh tế để hình thành nguồn vốn cho vay, đáp ứng nhucầu vốn sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng…đảm bảo sự vận động liên tục của nền kinhtế và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Như vậy trung gian tài chính đã làm tăng thunhập cho người tiết kiệm, từ đó mà khuyến khích tiết kiệm, đồng thời giảm phí tổntín dụng cho người đầu tư (tăng thu nhập cho người đầu tư) từ đó mà khuyến khíchđầu tư
Một đóng góp khác của ngân hàng là họ sẵn sàng chấp nhận các khoản chovay nhiều rủi ro trong khi lại phát hành các chứng khoán ít rủi ro cho người gửi tiền.Thực tế các ngân hàng tham gia vào kinh doanh rủi ro Ngân hàng cũng thoả mãnnhu cầu thanh khoản của nhiều khách hàng
Một lý do nữa làm cho ngân hàng phát triển và thịnh vượng là khả năng thẩmđịnh thông tin Sự phân bổ không đồng đều thông tin và năng lực phân tích thông tinđược gọi là tình trạng “thông tin không cân xứng” làm giảm tính hiệu quả của thitrường nhưng tạo ra một khả năng sinh lợi cho ngân hàng, nơi có chuyên môn vàkinh nghiệm đánh giá các công cụ tài chính và có khả năng lựa chọn những công cụvới các yếu tố rủi ro - lợi nhuận hấp dẫn nhất
1.1.2.Tạo phương tiện thanh toán
Trang 11Tiền – vàng có một chức năng quan trọng là làm phương tiện thanh toán Cácngân hàng đã không tạo được tiền kim loại Các ngân hàng thợ vàng tạo phươngtiện thanh toán khi phát hành giấy nhận nợ với khách hàng Giấy nhận nợ do ngânhàng phát hành với ưu điểm nhất định đã trở thành phương tiện thanh toán rộng rãiđược nhiều người chấp nhận Như vậy, ban đầu các ngân hàng đã tạo ra phương tiệnthanh toán thay cho tiền kim loại dựa trên số lượng tiền kim loại đang nắm giữ Vớinhiều ưu thế, dần dần giấy nợ của ngân hàng đã thay thế tiền kim loại làm phươngtiện lưu thông và phương tiện cất trữ; nó trở thành tiền giấy.
Việc in tiền mang lại lợi nhuận rất lớn, đồng thời với nhu cầu có đồng tiềnquốc gia duy nhất đã dẫn đến việc Nhà nước tập trung quyền lực phát hành (in) tiềngiấy vào một tổ chức hoặc là Bộ tài chính hoặc là Ngân hàng Trung ương (NHTW).Từ đó chấm dứt việc các NHTM tạo ra các giấy bạc của riêng mình
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhậnthấy nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả để cóđược hàng hoá và các dịch vụ theo yêu cầu Theo quan điểm hiện đại, đại lượngtiền tệ bao gồm nhiều bộ phận Thứ nhất là tiền giấy trong lưu thông (Mo), thứ hailà số dư trên tài khoản tiền gửi giao dịch của các khách hàng tại các ngân hàng, thứ
ba là tiền gửi trên các tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kì hạn…
Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của kháchhàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng và dịch vụ Do đó, bằng việccho vay (hay tạo tín dụng) các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán
Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo phương tiện thanh toán khi các khoảntiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ sở cho vay Khikhách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì sẽ tạo nênkhoản thu (tức làm tăng số dư tiền gửi) của một khách hàng khác tại một ngân hàngkhác từ đó tạo ra các khoản cho vay mới Trong khi không một ngân hàng riêng lẻ
Trang 12nào có thể cho vay lớn hơn dự trữ dư thừa, toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo rakhối lượng tiền gửi (tạo phương tiện thanh toán) gấp bội thông qua hoạt động chovay (tạo tín dụng).
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra lượng tiền gửi mà hệ thống ngân hàng tạo ra chịutác động trực tiếp của các nhân tố như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ vượt bắtbuộc, tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt qua ngân hàng, tỷ lệ tiền gửi không phải là tiềngửi thanh toán…
1.1.3.Trung gian thanh toán
Bên cạnh chức năng trung gian tài chính và tạo phương tiện thanh toán, cácNHTM còn thực hiện một chức năng quan trọng khác nữa là trung gian thanh toángiữa các cá nhân, tổ chức hoặc đơn vị kinh tế trong xã hội Việc làm trung gianthanh toán của NHTM đã phát triển đến tầm mức đa dạng và hầu hết các quốc giatrên thế giới đều nhận thấy ngân hàng là trung tâm thanh toán lớn nhất hiện nay.Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá và dịch vụ.Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa chokhách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờthu, các loại thẻ…cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cungcấp tiền giấy khi khách hàng cần Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừvới nhau thông qua NHTW hoặc thông qua các trung tâm thanh toán Công nghệthanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi qui mô sử dụng công nghệ đócàng được mở rộng Vì vậy, công nghệ thanh toán hiện đại qua ngân hàng thườngđược các nhà quản lí tìm cách áp dụng rộng rãi Nhiều hình thức thanh toán đượcchuẩn hoá góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các ngânhàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên toàn thế giới Các trungtâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả của thanh toán qua ngânhàng, biến ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả,phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu
Trang 131.2.Hoạt động cho vay của NHTM
1.2.1.Khái niệm và vai trò cho vay của NHTM trong nền kinh tế
Trong thực tế, thuật ngữ cho vay được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau ngay cảtrong quan hệ tài chính, tuỳ theo từng bối cảnh Trong quan hệ tài chính, cho vay cóthể hiểu theo các nghĩa sau:
Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sangchủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì cho vay được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ từngười cho vay sang người đi vay
Trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì cho vay làmột giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng) và bên
đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác); trong đó bên cho vay chuyểngiao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận,bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên vay khi đếnhạn thanh toán
Cho vay (tín dụng) là hoạt động quan trọng nhất của các NHTM Ngay từ khimới bắt đầu, các NHTM đã luôn tìm kiếm các cơ hội để thực hiện việc cho vay.Hình thức tín dụng truyền thống của NHTM là cho vay ngắn hạn có bảo đảm bằngtài sản, giúp khách hàng mua hàng hoá, nguyên, nhiên, vật liệu; sau đó mở rộngthành nhiều hình thức khác nhau như cho vay thế chấp bằng bất động sản, bằng cácchứng khoán, bằng giấy tờ lưu kho hoặc không cần thế chấp Các NHTM lớn hiệnnay thực hiện đa dạng các hình thức tín dụng từ cho vay (tiền) ngắn, trung và dàihạn, bảo lãnh cho khách (để khách hàng có thể phát hành các chứng khoán huyđộng vốn, mua hàng mà chưa cần trả tiền ngay, hoặc vay của người thứ ba…), muacác tài sản để cho thuê…Đối với các NHTM Việt Nam thì hoạt động cho vay đang làlĩnh vực chủ đạo chiếm tỷ trọng từ 70% - 80% doanh thu
Trang 14Vai trò hoạt động cho vay của NHTM trong nền kinh tế bao gồm:
Trong quá trình luân chuyển vốn của các doanh nghiệp thực hiện quá trìnhsản xuất kinh doanh, hoạt động cho vay của ngân hàng đóng vai trò trung gian lúctạm thời thiếu vốn và trung gian để giải quyết vốn ứ đọng ở nơi này bù đắp sự tạmthời thiếu hụt ở nơi khác Trong phạm vi đó, hoạt động cho vay đóng vai trò điềuhoà vốn từ nơi tạm thời thừa vốn đến nơi thiếu vốn mà không làm tăng thêm haygiảm bớt tổng thu nhập trong nền kinh tế
Hoạt động cho vay của ngân hàng góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế Trongnền kinh tế, doanh nghiệp chủ động chọn lĩnh vực đầu tư để mang lại hiệu quả caonhất nhưng trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế phải có sự cân đối trong cơ cấu kinh tếgiữa các vùng lãnh thổ, các ngành và trong nội bộ từng ngành kinh tế nhất là nhữngngành kinh tế mũi nhọn, những ngành kém phát triển nhưng cần thiết cho nền kinhtế Thông qua chính sách tín dụng, lãi suất sẽ là đòn bẩy kích thích đầu tư phát triển,góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế nói chung
Cho vay tác động đến chế độ hạch toán kinh tế Các doanh nghiệp có sử dụngphải trả lãi nên phải tính đúng, tính đủ, hạch toán kịp thời, tính toán giảm giá thành,tăng vòng quay vốn, nâng cao chất lượng sử dụng vốn, lợi nhuận đầu tư vào cácngành có lợi nhuận cao… giúp các doanh nghiệp chuyển hướng sản xuất đúng đắn.Có thể nói rằng, hoạt động cho vay của các NHTM có ý nghĩa quan trọng đốivới toàn bộ nền kinh tế Nó giúp cho ngành công nghiệp có vốn mua trang thiết bị,máy móc, dây chuyền công nghệ tiên tiến, quyền sở hữu công nghiệp…; giúp chongười nông dân có khả năng mua hạt giống, thức ăn, phân bón…; các sản phẩm sảnxuất ra có thể được vận chuyển từ người sản xuất đến người tiêu dùng nhờ sự tài trợcủa ngân hàng đối với các xí nghiệp vận tải…
Trang 151.2.2.Các hình thức cho vay của NHTM
Theo mục đích sử dụng: cho vay được chia thành 4 loại
Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xâydựng bất động sản nhà ở, đất đai; bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thươngmại và dịch vụ
Cho vay công nghiệp: là những khoản vay để bổ sung và sử dụng cho cácdoanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp
Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như:phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu…
Cho vay tiêu dùng: là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như muasắm các vật dụng đắt tiền, cho vay để trang trải các chi phí thông thường của cuộcsống
Theo thời hạn cho vay
Cho vay ngắn hạn: là các khoản cho vay có thời hạn đến 12 tháng, được sửdụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chitiêu ngắn hạn của cá nhân Đối với các NHTM thì cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọngcao nhất
Cho vay trung và dài hạn: là các khoản vay có thời hạn trên 1 năm, khi chovay trung và dài hạn cần chú ý một số điểm sau:
Một là Vốn chủ sở hữu tham gia vào dự án, phương án Cho vay trung và dài
hạn để giảm bớt rủi ro thì ngoài việc quy định vay phải có tài sản đảm bảo, ngânhàng còn quy định khách hàng phải có vốn chủ sở hữu tham gia vào quá trình sảnxuất, kinh doanh và đời sống Tỷ lệ vốn chủ sở hữu tham gia vào dự án cao hay thấptuỳ thuộc vào mức độ rủi ro và hiệu quả của dự án
Trang 16Hai laứ Thụứi haùn traỷ nụù vaứ nguoàn traỷ nụù phuù thuoọc vaứo tớnh chaỏt, ủaởc ủieồm cuỷa
dửù aựn ủaàu tử Tuy nhieõn, thụứi haùn traỷ nụù cuừng coự theồ ruựt ngaộn trong trửụứng hụùp hieọuquaỷ cuỷa dửù aựn mang laùi cao Vieọc traỷ nụù trửụực haùn seừ giuựp ngaõn haứng thu ủửụùc nụùchaộc chaộn nhửng ủoõi khi aỷnh hửụỷng ủeỏn keỏ hoaùch sửỷ duùng voỏn cuỷa ngaõn haứng Caựckhoaỷn cho vay trung vaứ daứi haùn ủửụùc duứng chuỷ yeỏu cho nhu caàu mua saộm taứi saỷn coỏủũnh neõn nguoàn traỷ nụù chớnh cuỷa khoaỷn vay naứy laứ tửứ nguoàn khaỏu hao vaứ moọt phaànlụùi nhuaọn do dửù aựn ủaàu tử mang laùi
Ba laứ Giaỷi ngaõn trong cho vay trung vaứ daứi haùn: ủoỏi vụựi khoaỷn cho vay naứy coự
theồ giaỷi ngaõn moọt hoaởc nhieàu laàn nhaốm ủaỷm baỷo cho khaựch haứng sửỷ duùng tieàn vayủuựng muùc ủớch Ngaõn haứng khoõng cho ruựt voỏn khi caực nhu caàu chi tieõu lieõn quan ủeỏndửù aựn chửa phaựt sinh
Boỏn laứ Laừi suaỏt cho vay trung vaứ daứi haùn thửụứng cao hụn laừi suaỏt cho vay
ngaộn haùn Noự coự theồ laứ laừi suaỏt coỏ ủũnh trong suoỏt thụứi kyứ vay voỏn, cuừng coự theồ laứ laừisuaỏt bieỏn ủoồi tuyứ thuoọc vaứo sửù bieỏn ủoọng cuỷa thũ trửụứng Vieọc thu tieàn laừi coự theồ theokyứ haùn thaựng, quyự, naờm dửùa vaứo soỏ dử ụỷ moói kyứ haùn traỷ nụù vaứ laừi suaỏt cho vay.Khaựch haứng coự theồ traỷ tieàn laừi cuứng nụù goỏc taùi moói kyứ haùn traỷ nụù hoaởc traỷ tieàn laừivaứo moọt ngaứy naứo ủoự trong kyứ
II Tổng quan về tớn dụng và hoạt động tớn dụng của Ngõn hàng thương mại
1/ Khái niệm chung về tín dụng
“ Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủthể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia được sử dụng
Trang 17trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kết hoàn trả theo thờihạn đã thoả thuận.”
Mối quan hệ giao dịch này thể hiện các nội dung sau:
- Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định Giá trị này
có thể dưới hình thái tiền tệ hoặc dưới hình thái hiện vật như: hàng hoá, máy móc, thiết
Có thể nhận thấy về thực chất tín dụng là một quan hệ kinh tế giữa người cho vay
và người đi vay, giữa họ có mối quan hệ với nhau thông qua sự vận động của giá trị vốntín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ và hàng hoá từ người cho vay chuyểnsang người đi vay và sau một thời gian nhất định quay về với người cho vay với lượnggiá trị lớn hơn ban đầu Tín dụng được cấu thành nên từ sự kết hợp của ba yếu tố chínhlà: lòng tin (sự tin tưởng vào khả năng hoàn trả đầy đủ và đúng hạn của người cho vay
đối với người đi vay); thời hạn của quan hệ tín dụng (thời gian người vay sử dụng tiềnvay); sự hứa hẹn hoàn trả Và như vậy, phạm trù tín dụng có các đặc trưng chủ yếu sau:
Tín dụng là có lòng tin: bản thân từ tín dụng xuất phát từ tiếng la-tinh “creditum”
có nghĩa là “sự giao phó” hay “sự tín nhiệm” Nghiên cứu khái niệm tín dụng cũng cho
ta thấy tín dụng là sự cho vay có hứa hẹn thời gian hoàn trả Sự hứa hẹn biểu hiện “mứctín nhiệm” hay “lòng tin” của người cho vay vào người đi vay Yếu tố lòng tin tuy vôhình nhưng không thể thiếu trong quan hệ tín dụng, đây là yếu tố bao trùm trong hoạt
động tín dụng, là điều liện cần cho quan hệ tín dụng phát sinh
Trong quan hệ tín dụng “lòng tin” được biểu hiện từ nhiều phía, không chỉ có lòngtin từ một phía của người cho vay đối với người đi vay Nếu người cho vay không tintưởng vào khả năng hoàn trả của người đi vay thì quan hệ tín dụng có thể không phát
Trang 18sinh và ngược lại, nếu người đi vay cảm nhận thấy người cho vay không thể đáp ứng
được yêu cầu về khối lượng tín dụng, về thời hạn vay,…thì quan hệ tín dụng cũng có thểkhông phát sinh Tuy nhiên, trong quan hệ tín dụng lòng tin của người cho vay đối vớingười đi vay quan trong hơn nhiều bởi lẽ người cho vay là người giao phó tiền bạc hoặctài sản của họ cho người khác sử dụng
Tín dụng là có tính thời hạn: khác với các quan hệ mua bán thông thường khác(sau khi trả tiền người mua trở thành chủ sở hữu của vật mua hay còn gọi là “mua đứtbán đoạn”), quan hệ tín dụng chỉ trao đổi quyền sử dụng giá trị khoản vay chứ khôngtrao đổi quyền sở hữu khoản vay Người cho vay giao giá trị khoản vay dưới dạng hànghoá hay tiền tệ cho người kia sử dụng trong một thời gian nhất định Sau khi khai thácgiá trị sử dụng của khoản vay trong thời hạn cam kết, người đi vay phải hoàn trả toàn bộgiá trị khoản vay cộng thêm khoản lợi tức hợp lý kèm theo như cam kết đã giao ước vớingười cho vay
Mọi khoản vay dưới dạng hiện vật hay tiền tệ cũng đều là hàng hoá và vì thế nócũng có giá trị và giá trị sử dụng Trong kinh doanh tín dụng người cho vay chỉ bán “giátrị (quyền) sử dụng của khoản vay” chứ không bán “giá trị của khoản vay”, nên sau khihết thời gian sử dụng theo cam kết, khoản vay đó được hoàn trả về và vẫn giữ nguyêngiá trị của nó, phần lợi tức theo thoả thuận nếu có là “giá bán” quyền sử dụng khoản vaytrong thời gian nhất định Như vây, khối lượng hàng hoá hay tiền tệ (phần gốc) cho vayban đầu chỉ là vật chuyên trở giá trị sử dụng của chúng, nó được phát ra qua các thờigian nhất định rồi sẽ thu về chứ không được bán đứt
Tín dụng là có tính hoàn trả: đây là đặc trưng thuộc về bản chất vận động của tíndụng và là dấu ấn để phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù kinh tế khác Sau khikết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng, hoàn thành một chu kỳ sản xuất trở về trạngthái tiền tệ, vốn tín dụng được người đi vay hoàn trả cho người cho vay kèm theo mộtphần lãi như đã thoả thuận
Một mối quan hệ tín dụng được gọi là hoàn hảo nếu được thực hiện với đầy đủ các
đặc trưng trên, nghĩa là người đi vay hoàn trả được đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn.1.2.2/ Bản chất và chức năng của tín dụng
Tín dụng là một phạm trù của nền kinh tế hàng hoá, bản chất của tín dụng là quan
hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn lẫn lãi sau một thời gian nhất định, quan hệ chuyển
Trang 19nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng hai bên cùng có lợi Tíndụng nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng đều có hai chức năng cơ bản là:
- Huy động vốn và cho vay vốn tiền tệ trên nguyên tắc hoàn trả có lãi Chức năngnày gồm hai loại nghiệp vụ được tách hẳn ra là huy động vốn tạm thời nhàn rỗi và chovay vốn đối với các nhu cầu cần thiết của nền kinh tế
- Kiểm soát các hoạt động kinh tế thông qua các quan hệ tín dụng đối với các tổchức và cá nhân
1.3/ Các loại hình tín dụng trong lịch sử
Cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá, tín dụng ngày càng phát triển cả
về nội dụng lẫn hình thức Các quan hệ tín dụng ngày càng được mở rộng hơn, ban đầu
là quan hệ giữa các cá nhân với nhau, sau đó là giữa cá nhân với tổ chức, tổ chức với tổchức, quan hệ với nhà nước và cao nhất là tín dụng quốc tế Trong quá trình phát triểnlâu dài đó quan hệ tín dụng đã hình thành và phảt triển qua các hình thức sau:
- Tín dụng nặng lãi
Tín dụng nặng lãi hình thành khi xuất hiện sự phân chia giai cấp dẫn đến kẻ giàu,người nghèo Đặc điểm nổi bật của tín dụng này là lãi suất cho vay rất cao Chính vì vậy,tiền vay chỉ được sử dụng vào mục đích tiêu dùng cấp bách, hoàn toàn không mang mục
đích sản xuất nên đã làm giảm sức sản xuất xã hội Nhưng đánh giá một cách công bằngthì tín dụng nặng lãi lại góp phần quan trọng làm tan rã kinh tế tự nhiên, mở rộng quan
hệ hàng hoá tiền tệ, tạo tiền đề cho chủ nghĩa tư bản ra đời
- Tín dụng thương mại
Đây là hình thức tín dụng giữa các nhà sản xuất kinh doanh với nhau Công cụ củahình thức tín dụng này là các thương phiếu thương mại (gồm có kỳ phiếu và hối phiếuthương mại) Tín dụng thương mại có đặc điểm là: đối tượng cho vay là hàng hoá vìhình thức tín dụng được dựa trên cơ sở mua bán chịu hàng hoá giữa các nhà sản xuất vớinhau và do đó các chủ thể tham gia vào quá trình vay mượn cũng là các nhà sản xuấtkinh doanh Qui mô tín dụng bị hạn chế bởi nguồn vốn cho vay là của từng chủ thể sảnxuất kinh doanh
- Tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng (TDNH) là hình thức phản ánh quan hệ vay và trả nợ giữa mộtbên là các ngân hàng, các tổ chức tín dụng và một bên là các nhà sản xuất kinh doanh
Trang 20Hình thức TDNH thể hiện rõ ưu thế của mình so với hai hình thức tín dụng trên ở chỗ:
đây là hình thức tín dụng rất linh hoạt vì đối tượng cho vay mượn là tiền tệ; chiều vận
động nhiều do ngân hàng có thể vay với mọi thành phần kinh tế, thoả mãn nhu cầu củakhách hàng từ các món vay nhỏ để trang trải chi tiêu trong gia đình đến các khoản vaylớn hơn để mở rộng sản xuất kinh doanh, phục vụ cho phát triển kinh tế-xã hội; qui môtín dụng lớn hơn vì nguồn vốn cho vay là nguồn vốn mà ngân hàng có thể tập trung vàhuy động được trong nền kinh tế TDNH là hình thức tín dụng chủ yếu của nền kinh tếthị trường, nó đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế linh hoạt, kịp thời, khắc phục
được nhược điểm của các hình thức tín dụng khác trong lịch sử
III/ Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhànước
1/ Một số vấn đề về doanh nghiệp nhà nước (DNNN)
1.1/ Khái niệm DNNN
Nói đến doanh nghiệp chúng ta có thể có một khái niệm chung nhất: doanh nghiệp
là một tổ chức kinh tế được thành lập để tiến hành các hoạt động kinh doanh, thực hiệncác chức năng sản xuất, chế biến, chế tạo sản phẩm hoặc mua bán hàng hoá, làm dịch
vụ cung ứng nhằm thoả mãn nhu cầu của thị trường, xã hội Thông qua các hoạt độnghữu ích đó, doanh nghiệp có thể đạt được nhiều mục đích khác nhau trong đó có mục
đích căn bản là thu lợi nhuận hoặc lãi
DNNN là một bộ phận của doanh nghiệp nói chung được hình thành và phát triểntrong nền kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới Nhưng tiêu thức cụ thể để phân loại
và nhận biết về DNNN ở nhiều nước trên thế giới còn rất khác nhau Mỗi quốc gia trongquan niệm của mình có thể nhấn mạnh tiêu chí này hay tiêu chí khác
ở việt Nam trong những năm trước đây, khi nền kinh tế phát triển dựa trên quanniệm về mô hình kinh tế xã hội chủ yếu bao gồm hai thành phần kinh tế quốc doanh vàtập thể Chúng ta thường có quan niệm về các XN quốc doanh, Công ty quốc doanh,Mậu dịch quốc doanh, đó là những tổ chức do nhà nước: đầu tư vốn (100%), quyết địnhthành lập, quyết định phương hướng hoạt động, quyết định bộ máy quản lý và tuyểndụng người lao động theo chế độ biên chế ổn định Sau quá trình đổi mới những nămvừa qua, chúng ta đã hoàn thiện dần quan niệm về DNNN Điều này thể hiện rõ trong
Trang 21các văn bản pháp quy: nhiều Luật, Nghị định đều có đề cập đến khái niệm DNNN Tiêubiểu như Luật DNNN được Quốc hội thông qua, ban hành ngày 20/04/1995.
Điều 1 của Luật qui định:” DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn,thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh, hoặc hoạt động công ích nhằm thựchiện các mục tiêu kinh tế, xã hội do nhà nước giao.”
DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu tráchnhiệm về toàn bộ các hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản
lý DNNN có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam
Tại điều 3 của Luật: xác định vốn nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý là vốnngân sách cấp, vốn có nguồn gốc vốn ngân sách cấp và vốn của doanh nghiệp tự tích lũy.Tóm lại: DNNN là một thực thể kinh tế thuộc sở hữu nhà nước, ra đời và hoạt
động kinh doanh độc lập chịu sự quản lý vĩ mô của nhà nước DNNN là một tổ chứckinh tế khác với tổ chức hành chính và tổ chức sự nghiệp nhà nước, không chỉ lấy hoạt
động kinh doanh, hoạt động công ích làm chủ yếu Điều cơ bản là DNNN phải chịutrách nhiệm quản lý, sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn, các nguồn lực donhà nước là chủ sở hữu giao cho doanh nghiệp
1.2/ Vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường
0Để đánh giá vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường, có thể nêu nhữngnét chủ yếu sau
* Vai trò kinh tế
Với một quốc gia đang trong quá trình quá độ lên CNXH, vấn đề quyết định là cầnnhanh chóng đưa nền kinh tế từ trình độ lạc hậu chuyển lên trình độ tiên tiến hiện đại cóquan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất Thực hiện công cuộc đổimới, chúng ta đã phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhànước vẫn giữ vai trò chủ đạo, điều tiết, định hướng cho các thành phần khác Như vậytrong hệ thống doanh nghiệp của nền kinh tế nhiều thành phần, DNNN có vai trò là một
bộ phận cấu thành của kinh tế nhà nước, kinh tế nhà nước và DNNN tiếp tục nắm giữvai trò chủ đạo để thúc đẩy nền kinh tế phát triển đi lên CNXH
Đặc điểm của các nước chậm phát triển là cơ cấu kinh tế bất hợp lý, công nghiệpchưa phát triển, nông nghiệp lạc hậu, thị trường giao lưu trao đổi hàng hóa hạn hẹp, tổchức sản xuất phân tán, mức thu nhập bình quân của người dân thấp,…Để thực hiện
Trang 22chiến lược tăng tốc, rút ngắn và tạo dựng cơ sở kinh tế, nhà nước tất yếu phải lựa chọngiải pháp phát triển các DNNN, tăng cường kinh tế nhà nước Việc phát triển cácDNNN có hai ưu thế: thứ nhất, đó là ưu thế về khả năng huy động vốn và khả năng cạnhtranh để tham gia vào thị trường quốc tế; Thứ hai, với ưu thế về qui mô tập trung sảnxuất, các DNNN có lợi thế hơn trong việc áp dụng công nghệ hiện đại DNNN trở thànhcác đối tác chính để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài trong hoạt động liên doanh liênkết.
Có nhiều khả năng để tập trung nguồn vốn, tổ chức sản xuất hiện đại, qui mô lớn
và lợi thế về chuyển giao công nghệ, hội nhập với nền kinh tế thế giới…DNNN có vaitrò quyết định trong quá trình thực hiện chiến lược phát triển tăng tốc, rút ngắn khoảngcách giữa các nước chậm phát triển với các nước phát triển Như vậy, xét ở cả hai khíacạnh, khía cạnh tạo lập những cơ sở kinh tế của lực lượng kinh tế nhà nước và khía cạnhphát triển thì DNNN là giải pháp tốt nhất để thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, tại các nước phát triển DNNN không thểhiện rõ vai trò của một công cụ để Chính phủ can thiệp trực tiếp vào nền kinh tế Nhưngtại các nước chậm phát triển, thực trạng hệ thống doanh nghiệp còn kém phát triển, khuvực doanh nghiệp tư nhân còn nhỏ bé, lực lượng kinh tế vĩ mô của nhà nước còn hạn chếthì việc phát triển hệ thống DNNN với nhiều doanh nghiệp qui mô lớn, trình độ côngnghệ cao, là một giải pháp có tính quyết định đến việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển,chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng nhiều thành phần và mở cửa hội nhập.DNNN có thể trở thành những công cụ trực tiếp để tham gia khắc phục những hạn chếcủa kinh tế thị trường, khi nó có đủ khả năng cung cấp những hàng hoá và dịch vụ côngcộng có ý nghĩa đặc biệt đôí với sinh hoạt chung của xã hội mà tư nhân và các thànhphần kinh tế khác không muốn hoặc không có khả năng đầu tư
Bên cạnh các ưu thế kể trên, DNNN vẫn còn có những nhược điểm, đó là: kémnăng động trong kinh doanh, nếu DNNN phát triển mở rộng bao trùm toàn bộ nền kinh
tế nó sẽ làm cho nền kinh tế rơi vào trạng thái thiếu tính đa dạng, trì trệ và kém hiệu quả
* Vai trò chính tri
Đối với một quốc gia, các DNNN luôn có ý nghĩa chính trị đặc biệt quan trọng, nó
là bộ phận định hướng về mặt kinh tế và là công cụ thực hiện các chính sách của nhànước Thực sự, hệ thống DNNN cung cấp cho nhà nước một cơ sở kinh tế để nhà nước
Trang 23đó, ở giai đoạn đầu của tiến trình phát triển, DNNN là bộ phận tạo nền tảng của kinh tếnhà nước Nó cung cấp nguồn lực chính, chủ yếu cho hoạt động của nhà nước, đồng thời
là công cụ trực tiếp hữu hiệu để thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo đúng định hướng vàthực hiện những mục tiêu kinh tế-xã hội do Chính phủ đề ra Các DNNN còn đóng vaitrò đặc biệt quan trọng trong việc tăng cường củng cố quốc phòng và an ninh đối vớimỗi quốc gia
* Vai trò xã hội
Bên cạnh các mặt tích cực của mình nền kinh tế thị trường luôn có những khuyếttật như tạo ra sự phân hoá giàu nghèo, thất nghiệp,…Vì vậy, sự tồn tại của DNNN vớiviệc sử dụng nhiều lao động, tăng công ăn việc làm và tăng thu nhập sẽ làm giảm bớt áplực của sự bất bình đẳng Và thông thường DNNN thực hiện các quyền, nghĩa vụ bảohiểm cho người lao động tốt hơn các thành phần khác Ngoài ra, mỗi quốc gia thường
có những vùng xa xôi hẻo lánh, tại đó trình độ dân trí còn thấp, dân cư ở những vùngnày phải chịu nhiều thiệt thòi vì sự phát triển kinh tế thấp hơn các vùng khác Việc đầutư cho các DNNN ở các vùng này có vai trò quyết định bảo đảm cung cấp các nhu cầu
về dịch vụ công cộng, thiết yếu cho đời sống của dân cư vùng sâu, vùng xa; đảm bảothực hiện đầy đủ và hiệu quả các chủ trương chính sách hỗ trợ phát triển của Chính phủdành cho những vùng này
2/ Thực trạng hoạt động của các DNNN
2.1/ Tình hình hoạt động của các DNNN ở nước ta trong những năm qua
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chỉ thị,nghị quyết về công tác sắp xếp DNNN, thể hiện quyết tâm đổi mới hệ thống DNNN.Quá trình thực hiện sắp xếp DNNN sau gần 10 năm đổi mới (bắt đầu từ NĐ 388/HĐBTngày 20/11/1991) đã làm thay đổi và tạo ra nhiều chuyển biến đáng kể, góp phần tíchcực vào sự phát triển của nền kinh tế nước ta những năm qua Công cuộc đổi mớiDNNN đã thu được những thành tựu nhất định, góp phần tích cực vào việc nâng caohiệu quả hoạt động kinh doanh của các DNNN, tiến tới thực hiện vai trò chủ đạo củakinh tế nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành phần
Những yếu kém tồn tại và khó khăn của DNNN trong thời gian qua
Mặc dù trong những năm qua, khu vực kinh tế nhà nước hay cụ thể hơn là cácDNNN đã đạt được những chuyển biến tích cực và có những kết quả nhất định Song
Trang 24vẫn còn có những trở ngại, yếu kém làm cản trở các DNNN thực hiện vai trò chủ đạocủa mình trong nền kinh tế Có thể nêu ra các điểm chính sau:
- Từ năm 1996 đến nay mức tăng trưởng của DNNN cũng như toàn bộ nền kinh tế
đã chững lại, có dấu hiệu trì trệ thấp hơn so với thời kỳ 1990-1994 Số DNNN hoạt độngkém hiệu quả, làm ăn thua lỗ tăng lên Tính đến đầu năm 1997 trong hơn 5000 DNNNchỉ có khoảng 300 doanh nghiệp là hoạt động có hiệu quả và đóng góp hơn 80% tổng sốnộp ngân sách của tất cả các DNNN Số còn lại hoạt động kém hiệu quả, thậm chí códoanh nghiệp đứng trên bờ vực phá sản Trong một báo cáo năm 1998 thì số doanhnghiệp làm ăn có hiệu quả khoảng 40%, 20% không có lãi và 40% kinh doanh chưa cóhiệu quả khi lỗ, khi lãi Có doanh nghiệp được coi là làm ăn có lãi nhưng cả năm 1999tổng số lãi làm ra chỉ có 195.000 đồng Đến năm 2000, kiểm tra các quyết toán tàichính của DNNN đã đưa ra con số: khoảng 30% doanh nghiệp bị thua lỗ hoặc không cólãi
- Cơ cấu DNNN trong các ngành nghề còn bất hợp lý và có sự dàn trải tại nhiều
địa phương Cơ cấu ngành và vùng vẫn có sự chồng chéo, số lượng các DNNN cònnhiều và nhỏ về qui mô Theo thống kê của Ban chỉ đạo sắp xếp và phát triển doanhnghiệp trung ương thì trong tổng số các DNNN hiện nay số doanh nghiệp có vốn dưới 5
tỷ đồng chiếm tới 65,45%, tại 14 Tỉnh loại doanh nghiệp có vốn như vậy chiếm 90% vàchủ yếu ở các lĩnh vực dịch vụ, thương mại, du lịch Số DNNN có vốn trên 10 tỷ đồngcũng chỉ chiếm 21%
- Các DNNN hiện đang ở trong tình trạng thiếu vốn trầm trọng Có tới 60%DNNN không đủ vốn pháp định theo quy định tại Nghị định số 50/CP, vốn thực tế hoạt
động chỉ đạt 80% Phần lớn các doanh nghiệp hiện nay chỉ bảo đảm khoảng 10% vốnlưu động, tức còn thiếu 20% để đạt được mức tối thiểu về vốn lưu động hoạt động.Thêm vào đó, vốn lưu động chỉ có 50% được huy động vào kinh doanh, còn lại nằmtrong tài sản, vật tư bị mất mát, kém phẩm chất, công nợ không thu hồi được, lỗ chưa
được bù đắp Tình trạng này dẫn tới các doanh nghiệp phải vay vốn ngân hàng với lãisuất cao nên hiệu quả đầu tư thấp, khó thu hồi vốn, khó trả nợ đến hạn, nhiều doanhnghiệp đứng trước nguy cơ mất khả năng thanh toán
Những thành quả và tồn tại trên đây đang là thực trạng chung, phản ánh tình hìnhhoạt động của hầu hết các DNNN ở nước ta hiện nay Trong quá trình đổi mới các
Trang 25DNNN chúng ta cần phải tiếp tục đẩy mạnh cuộc cải cách, tổ chức và sắp xếp lại cácdoanh nghiệp để bảo đảm cho các DNNN tiếp tục đảm nhận tốt vai trò của mình trongnền kinh tế Trước mắt phải hình thành một cơ cấu hợp lý và đổi mới triệt để cả về sốlượng, chất lượng và cơ chế hoạt động của các DNNN Thực tiễn cho thấy, vấn đề khókhăn nhất cho hầu hết các doanh nghiệp hiện nay vẫn là vốn cho quá trình hoạt độngsản xuất kinh doanh Vốn tín dụng ngân hàng rất cần thiết cho quá trình tăng trưởng vốnkinh doanh của các doanh nghiệp Chính vì vậy, ngân hàng phải sử dụng đồng vốn củamình có hiệu quả, phục vụ phát triển kinh tế đất nước nhất là đối với các DNNN đóngvai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, tạo điều kiện thực hiện công nghiệp hoá vàhiện đại hoá đất nước.
3/ Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với DNNN
3.1/ TDNH góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường hiếm có doanh nghiệp nào chỉ sử dụng vốn tự có đểhoạt động sản xuất kinh doanh Việc này không những hạn chế khả năng mở rộng sảnxuất của doanh nghiệp mà còn tăng giá vốn của doanh nghiệp đó Hiện nay, để thựchiện các quyết định đầu tư, một doanh nghiệp có thể sử dụng hai nhóm nguồn vốn: vốn
tự có (hay vốn cổ phần) hoặc vốn đi vay Nếu gọi:
Ke : giá vốn cổ phần thể hiện bằng mức lợi nhuận mà người sở hữu cổ phần đượchưởng với tư cách là người góp vốn
Kd : giá vốn vay, chính là lãi suất của khoản tiền vay
Ve,Vd : tương ứng là tỷ lệ sử dụng vốn cổ phần và vốn vay
Ko : giá vốn bình quân của doanh nghiệp
Ko = KeVe + KdVdVì lãi suất tiền vay không phụ thuộc thu nhập để tính thuế, ta có:
Ko = KeVe + Kd(1-T)Vd với T: tỷ lệ thuế TNDN
Rõ ràng càng sử dụng nhiều vốn vay, doanh nghiệp càng lợi dụng được nguồn vốn
đang rẻ đi do ảnh hưởng của chính sách thuế Mặc dù giá vốn cổ phần có thể tăng lênnhằm bù đắp sự tăng lên của rủi ro tài chính nhưng mức tăng của nó nhỏ hơn sự giảm đicủa giá vốn vay, vì trong con mắt của các cổ đông mức rủi ro này đã được bù đắp bởicác lợi thế về thuế
Trang 26Về mặt lý thuyết, mặc dù vốn vay có nhiều lợi thế nhưng không phải lúc nàodoanh nghiệp cũng vay được và muốn vay bao nhiêu tuỳ ý, vì khi vốn vay vượt quá mứcnào đó giá vốn vay sẽ tăng lên và làm tăng chi phí vốn Chính vì vậy, doanh nghệp phảixây dựng một cơ cấu vốn tối ưu, đó là sự kết hợp hợp lý nhất các nguồn tài trợ cho kinhdoanh của một doanh nghiệp nhằm mục đích đạt tối đa hoá giá trị thị trường của cácdoanh nghiệp tại mức giá vốn bình quân rẻ nhất Để có thể tận dụng tối đa lợi thế củanguồn vốn vay và đảm bảo một mức chi phí vốn rẻ nhất tại mức rủi ro có thể chấp nhận
được
Tuy nhiên, trong điều kiện ở nước ta hiện nay, các DNNN có thể đạt mức giá vốnbình quân rẻ hơn vì theo Quyết định 324 của Thống đốc NHNN về quy chế cho vay đốivới khách hàng thì tỷ trọng vốn vay trong tổng số vốn kinh doanh của doanh nghiệpkhông còn được coi là căn cứ để giới hạn mức cho vay Đặc biệt đối với DNNN có thểvay vốn ngân hàng với tỷ lệ lớn hơn vốn tự có nhiều lần, chỉ cần có phương án kinhdoanh khả thi Điều đó có nghĩa là vốn TDNH giúp các DNNN giảm chi phí vốn, tạo cơhội giảm giá thành, tăng sức cạnh tranh trên thị trường
CHệễNG II: HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIEÂU DUỉNG VÀ THỰC TRẠNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI
Trang 27DNNN TẠI PGD NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
ĐẠI ÁI/Khái niệm và đặc điểm cho vay tiêu dùng
Tín dụng là hoạt động tài trợ của ngân hàng cho khách hàng trên cơ sở tínnhiệm, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản của ngân hàng, tạo ra thu nhập từlãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất Chính vì vậy đa dạng hoácác hoạt động là xu hướng giảm thiểu rủi ro của các NHTM hiện nay Trong đó chovay là tài sản lớn nhất trong khoản mục tín dụng: “Cho vay là việc ngân hàng đưatiền cho khách hàng vay với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trongmột khoảng thời gian xác định”
Xuất phát từ đó, “Cho vay tiêu dùng là quan hệ kinh tế giữa một bên là ngân
hàng và một bên là các cá nhân, người tiêu dùng trong đó ngân hàng chuyển giao tiền cho khách hàng với nguyên tắc người đi vay (khách hàng) sẽ hoàn trả cả gốc cộng lãi tại một thời điểm xác định trong tương lai, nhằm giúp khách hàng có thể sử dụng hàng hoá, dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo điều kiện cho họ có thể hưởng mức sống cao hơn”.
Như vậy, CVTD là một sản phẩm tín dụng rất cần thiết trong cuộc sống Nógiúp cho người tiêu dùng có thể sử dụng hàng hoá trước khi họ có thể chi trả nhưmua xe, nhà, các vật dụng gia đình cao cấp… mà trong tương lai họ có khả năng chitrả
Đặc điểm của CVTD
Quy mô mỗi khoản vay nhỏ lẻ nhưng số lượng người vay nhiều: các cá nhânhoặc hộ gia đình đến ngân hàng cần vay một khoản tiền nào đó thì thường có nhucầu về vốn không lớn lắm vì những hàng hoá tiêu dùng có giá trị không lớn so vớinhững loại nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ dùng trong sản xuất kinh doanh Tuy
Trang 28nhiên các khoản CVTD lại có số lượng rất lớn, đa dạng do nhu cầu của con ngườikhông bao giờ có giới hạn.
Lãi suất của các khoản CVTD hầu hết là đều cao so với những khoản vay kháctrong ngân hàng do độ rủi ro của khoản vay này cao và khó kiểm soát Người đi vaycó thể bị thất nghiệp đột ngột, bị tai nạn… không một ngân hàng nào có thể tránhđược những rủi ro này, họ phải học cách chấp nhận và tìm mọi cách để giảm thiểurủi ro mà khoản vay gây ra mà lãi suất cho vay cao là một trong những cách bù đắprủi ro hữu hiệu
Các khoản CVTD có chi phí khá lớn, việc thẩm định khoản cho vay thường làtốn nhiều thời gian và tiền bạc Thực tế điều này do quy mô một khoản vay manglại Chi phí cho bất kỳ một khoản vay nào cũng bao gồm phần thẩm định kháchhàng, chi phí đi lại, chi phí thông tin…; ngoài ra ngân hàng còn phải chịu chi phíquản lý các khoản vay, theo dõi và kiểm tra khách hàng nhưng do khoản vay nhỏnên tính bình quân ra, chi phí của nó không kém với chi phí của việc cho vay mộtkhoản lớn khác
II.Vai trò của cho vay tiêu dùng
Từ sau cuộc khủng hoảng 1929 – 1931, nền kinh tế thế giới có những sự thayđổi đáng kể, thị trường tài chính tín dụng phát triển mạnh, đặc biệt là sau thế chiếnlần thứ hai Các ngân hàng đã phát triển vượt bậc, nguồn vốn dồi dào, tín dụng tăngmạnh Trong lĩnh vực cấp tín dụng tiêu dùng, các ngân hàng Châu Âu, Mỹ đã đi đầuvà cho thấy kết quả thật khả quan Họ không ngừng khai thác nguồn tiền gửi trongdân cư trong khi đó các gia đình có lúc muốn gửi tiền vào ngân hàng nhưng cũng cólúc cần vay để đáp ứng nhu cầu chi tiêu Ngân hàng đã khai thác triệt để nhu cầu đó.Đồng thời, lợi nhuận từ hoạt động CVTD lớn hơn rất nhiều so với số tiền họ phải trảlãi cho việc huy động vốn Chính vì vậy, CVTD ngày càng được các ngân hàng coitrọng và đóng vai trò quan trọng trong chiến lược kinh doanh của bất kỳ NHTM nào
a.Vai trò của CVTD đối với NHTM
Trang 29Xu hướng hoạt động của các NHTM ngày nay là đa dạng hoá các hoạt độngnghiệp vụ, đưa ra thị trường các sản phẩm tín dụng mới để đáp ứng nhu cầu ngàycàng cao của khách hàng CVTDđáp ứng đủ các yêu cầu phát triển đó của ngânhàng và cũng làm tăng sức cạnh tranh với các đối thủ tiềm năng khác.
Các ngân hàng hiện nay còn tăng lượng khách hàng vay tiêu dùng của mìnhthông qua các cửa hàng bán lẻ Khách hàng có thể nhận được sự hỗ trợ tiêu dùngcủa ngân hàng thông qua một số đại lý bán lẻ như mua trả góp với lãi suất hấp dẫn,mua ưu đãi…Hình thức này vừa kích thích nhu cầu mua sắm, vừa giúp ngân hàng mởrộng khách hàng của mình Việc này có ý nghĩa rất lớn trong việc chia sẻ rủi ro chongân hàng và ngay cả bản thân người bán lẻ
CVTD giúp chia sẻ rủi ro, đa dạng hoá hoạt động ngân hàng, vừa thiết lậpđược mối quan hệ mật thiết giữa ngân hàng với khách hàng, làm cho khả năng thíchứng của ngân hàng với thị trường ngày càng cao Điều này được thể hiện rõ trongnền kinh tế phát triển hiện nay với vô vàn đối thủ cạnh tranh, các NHTM luôn pháttriển và ngày càng phát triển
Như vậy, tác dụng của CVTD đối với các NHTM là không thể phủ nhận Ngàycàng phát huy được vai trò trung gian trong nền kinh tế mà ngân hàng còn mang lạicho người tiêu dùng cách tiếp cận với cuộc sống mới đầy đủ và tiện nghi hơn, đó làmục đích của toàn xã hội chúng ta
b.Vai trò của CVTD đối với bản thân người tiêu dùng
Người tiêu dùng có thể hưởng lợi ích trực tiếp của dịch vụ ngân hàng này Họđược hưởng các tiện ích trước khi tích luỹ đủ tiền và đặc biệt quan trọng hơn, nó rấtcần thiết cho những trường hợp chi tiêu có tính cấp bách như nhu cầu chi tiêu chogiáo dục và y tế Tuy nhiên, nếu lạm dụng CVTD thì cũng rất tai hại vì nó cũng cóthể làm cho người đi vay chi tiêu vượt quá mức cho phép làm giảm khả năng tiếtkiệm hoặc chi tiêu trong tương lai
Trang 30c.Vai trò của dịch vụ ngân hàng này với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
Một trong những khó khăn cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh là người tiêudùng muốn sử dụng hàng hoá nhưng họ không có khả năng thanh toán luôn một lúc.Để giúp khách hàng có thể mua được hàng hoá cần thiết, mà doanh nghiệp cũngbán được hàng, doanh nghiệp rất cần đến hình thức hỗ trợ mua sắm từ ngân hàng -cho vay tiêu dùng Lợi ích mà doanh nghiệp thu được là ngày càng có nhiều kháchhàng tiêu dùng sản phẩm dịch vụ của mình, tiền thu được mà không phải là bán chịu.Doanh nghiệp chỉ cần ngày càng đổi mới sản phẩm, mẫu mã sao cho phù hợp vớinhu cầu của khách hàng mà không cần phải lo nhiều đến đầu ra cho sản phẩm nhưtrước kia
d.Vai trò của cho vay tiêu dùng đối với nền kinh tế
Đối với nền kinh tế, CVTD giúp cho tiêu dùng tăng, kích thích sản xuất pháttriển Nhất là khi nền kinh tế cần có sự kích cầu, tăng tiêu dùng, bình ổn giá cả, ổnđịnh kinh tế xã hội
Sự tăng trưởng của dịch vụ CVTD đồng nghĩa với tăng trưởng sức mua sắm củanhân dân, tăng trưởng của khu vực sản xuất, nền kinh tế quốc gia được cải thiện rõrệt, tạo điều kiện thu hút đầu tư nước ngoài vào khu vực sản xuất hàng tiêu dùng,thu ngoại tệ về Cũng qua đó mà nhà nước đạt được mục tiêu ổn định xã hội, giảmthất nghiệp, cải thiện đời sống cho nhân dân, giảm tệ nạn xã hội…
III.Quy trình cho vay tiêu dùng
Quy trình thực hiện một khoản CVTD cũng giống như những khoản vay thôngthường của ngân hàng nhưng do CVTD liên quan đến một khối lượng khách hànglớn, mỗi món vay thường nhỏ lẻ nên ngân hàng phải có những phương pháp thẩmđịnh khác nhau đối với từng nhóm khách hàng
Những thủ tục xin vay
Trang 31a.Những thủ tục xin vay
Mỗi ngân hàng đều có những thủ tục cho vay nói chung và CVTD nói riêngkhác nhau Nếu khách hàng muốn vay tiền thì phải tuân thủ theo những quy địnhcủa ngân hàng đưa ra để ít nhất ngân hàng cũng nắm được những thông tin cần thiếtvề khách hàng của mình Các thủ tục do ngân hàng quy định thường bao gồm:
Đơn xin vay: khách hàng sẽ làm đơn trước khi vay tiền Đơn xin vay phải ghi rõvà đầy đủ mục đích vay, thời hạn vay, thời hạn hoàn trả cả gốc và lãi
Các tài liệu liên quan đến bản thân người vay như: quốc tịch, tuổi, nơi thườngtrú, chứng minh nhân dân, hộ khẩu Ngoài ra còn phải liệt kê một số thông tin nghềnghiệp, thu nhập, tình trạng gia đình, học vấn…
Các tài liệu thuyết minh khoản vay: mức vốn tự có, nhu cầu chi phí…Nếu ngânhàng thấy cần thiết phải có tài sản thế chấp, vật cầm cố hay cam kết bảo lãnh thìngân hàng sẽ thông báo với khách hàng
b.Trình tự xét duyệt cho vay
Sau khi hướng dẫn khách hàng các thủ tục cần thiết, cán bộ tín dụng sẽ thẩmđịnh các điều kiện cho vay và gửi hồ sơ cùng báo cáo thẩm định tới trưởng phòng tíndụng phê duyệt Nếu những thủ tục của người vay được ngân hàng chấp nhận thìngân hàng sẽ tiến hành lập hợp đồng tín dụng
Ngân hàng quyết định cho vay thì sẽ xem xét khách hàng có đủ các yếu tốpháp lý không VD: Người vị thành niên là một trong những đối tượng không đượcphép vay dưới bất kỳ hình thức nào vì mọi yêu cầu thanh toán nợ đối với họ đềukhông có giá trị
Trình tự xét duyệt cho vay
Theo dõi nợ và thu nợ