1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề xuất các biện pháp quản lý và xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại cổ phần có trụ sở chính ở tphcm

103 782 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Xuất Các Biện Pháp Quản Lý Và Xử Lý Nợ Xấu Tại Các Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Có Trụ Sở Chính Ở TPHCM
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM
Chuyên ngành Khoa Học Kinh Tế
Thể loại Công Trình Dự Thi Giải Thưởng Nghiên Cứu Khoa Học Sinh Viên
Năm xuất bản 2012
Thành phố TPHCM
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Định nghĩa của Việt Nam Ở Việt Nam, Theo Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990: NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với tr

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VÀ

XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÓ TRỤ SỞ

CHÍNH Ở TPHCM

THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU vi

LỜI MỞ ĐẦU vii

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ NỢ XẤU……… 1

1.1 SƠ LƯỢC VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1

1.1.1 Khái niệm NHTM 1

1.1.2 Đặc điểm của NHTM 2

1.1.3 Vai trò của hệ thống NHTM 3

1.1.4 Các nghiệp vụ của NHTM 4

1.2 LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 8

1.2.1 Khái niệm 8

1.2.2 Tiêu chí phân loại nợ xấu 10

1.2.3 Tác động của nợ xấu đến hoạt động kinh doanh của NHTM 13

1.3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 13

1.3.1 Kinh nghiệm của Mỹ: 13

1.3.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc: 16

1.3.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc: 20

1.3.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ kinh nghiệm xử lý nợ xấu của các nước:………… 24

Trang 4

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỢ XẤU VÀ CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM 27

2.1 Những quy định pháp lý liên quan đến an toàn trong hoạt động tín dụng và xử lý nợ của NHTM 27

2.2 Tổng quan về hoạt động kinh doanh của NHTM Việt Nam trên địa bàn Tp.HCM 28

2.2.1 Sơ lược về hệ thống NHTM Việt Nam 28

2.2.2 Phân tích hoạt động kinh doanh của hệ thống NHTM Việt Nam 29

2.2.3 Phân tích hoạt động kinh doanh của các NHTM tại địa bàn Tp.HCM 33

2.3 Thực trạng nợ xấu của các NHTMCP tại địa bàn Tp.HCM 37

2.3.1 Thực trạng nợ xấu tại hệ thống NHTM VN 37

2.3.2 Thực trạng nợ xấu của các NHTMCP tại địa bàn Tp.HCM 38

2.4 Thực trạng các hoạt động xử lý nợ xấu tại Việt Nam 42

2.4.1 Công tác quản lý rủi ro tín dụng 42

2.4.2 Công tác xử lý nợ xấu 45

2.5 Đánh giá chung 55

2.5.1 Đánh giá chung về công tác xử lý nợ xấu tại Việt Nam 55

2.5.2 Những vấn đề đặt ra cho công tác xử lý nợ xấu tại Việt Nam 57

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 58

CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU CỦA CÁC NHTM CÓ TRỤ SỞ CHÍNH TẠI TP.HCM 59

3.1 Giới thiệu mô hình 59

3.2 Kiểm định mô hình 60

Trang 5

3.2.1 Phương pháp 60

3.2.2 Dữ liệu và mô tả 60

3.2.3 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy 61

3.2.4 Kiểm định sự có mặt của biến không cần thiết 62

3.2.5 Kiểm định bổ sung 64

3.3 Kết luận từ mô hình hồi quy 66

3.4 Hạn chế từ mô hình 68

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 69

CHƯƠNG 4: MỘT SỐ CÁC KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU 70

4.1 Kiến nghị dựa trên bài học kinh nghiệm của các nước trên thế giới 70

4.2 Kiến nghị đi từ thực trạng nợ xấu tại hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay……… 71

4.3 Kiến nghị hoàn thiện các phương pháp xử lý nợ xấu đang được các NHTM áp dụng 72

4.3.1 Nhóm giải pháp đối với Chính phủ và NHNN 72

4.3.2 Nhóm giải pháp đối với các NHTM 74

4.4 Kiếm nghị từ mô hình 76

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 77

KẾT LUẬN i

TÀI LIỆU THAM KHẢO ii

PHỤ LỤC v

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

có)

NHTM NN Ngân hàng thương mại Nhà nước

IAS Chuẩn mực kế toán quốc tế International Accounting

Standards RGDP Thu nhập quốc dân ròng Real Gross Dometic Product

ABS Chứng khoán bằng tài sản đảm bảo tài

NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần

WTO Tổ chức thương mại thế giới World Trade Organization

Trang 7

ABB NHTMCP An Bình

EIB NHTMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam

Sacombank NHTMCP Sài Gòn Thương Tín

VNTín Nghĩa NHTMCP Việt Nam Tín Nghĩa

DATC Công ty Mua bán nợ & Tài sản tồn đọng

của doanh nghiệp BIDV NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam

LienVietpostBank NHTMCP Bưu Điện Liên Việt

Vietcombank NHTMCP Ngoại thương Việt Nam

PG Bank NHTMCP Xăng Dầu Petrolimex

Trang 8

DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU

A Danh mục các bảng

Bảng 2.1: Diễn biến tình hình tăng vốn và tăng tổng tài sản của hệ thống NHTMCP

có Hội sở chính tại Tp.HCM từ năm 2006-2011 33

Bảng 2.2: Tăng trưởng tín dụng của hệ thống NHTM tại Tp.HCM 40

Bảng 2.3: Tăng trưởng tín dụng của hệ thống NHTMCP có Hội sở chính tại địa bàn Tp.HCM………… 40

B Danh mục các sơ đồ và đồ thị

Biểu đồ 2.1: Tăng trưởng huy động vốn của các TCTD Việt Nam qua các năm 2006-2010 (%)… 30

Biểu đồ 2.2: Tốc độ tăng trưởng tín dụng, GDP, và CPI (2006 – 2011) 31

Biểu đồ 2.3: Tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng Việt Nam theo từng thời điểm năm 2011 32

Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống NHTM Việt Nam qua các năm

Biểu đồ 2.7: Số lượng AMC thành lập qua các năm 51

Biểu đồ 2.8: Số lượng AMC theo quy mô vốn điều lệ 51

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nợ xấu là một trong những nhân tố tác động xấu đến thị trường tài chính và ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe nền kinh tế Trong những năm vừa qua do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng 2008 kéo theo sự suy giảm kinh tế toàn cầu, bong bóng bất động sản tan vỡ, hàng loạt doanh nghiệp phá sản làm cho nợ xấu của Việt Nam gia tăng nhanh chóng và thực sự trở thành một thách thức lớn của nền kinh tế

Ngoài việc phải đối mặt với tính thanh khoản kém, huy động vốn khó khăn,

sự cạnh tranh quyết liệt giữa các ngân hàng trong nước và ngoài nước các ngân hàng còn phải đối mặt với sức ép tăng trưởng tín dụng Yếu tố này tác động không nhỏ làm

nợ xấu không ngừng gia tăng và kết quả là làm suy giảm lợi nhuận của ngân hàng

Bên cạnh đó, công tác xử lý nợ xấu hiện nay vẫn chưa đạt được hiệu quả cao

Do đó, đây là vấn đề được Chính phủ và các ngân hàng đặc biệt quan tâm Thêm vào

đó, kinh nghiệm của các quốc gia đi trước sẽ là nguồn tham khảo vô cùng quý giá cho Việt Nam học tập và áp dụng Nhằm đánh giá tổng quát thực trạng, các phương pháp

xử lý nợ xấu trong NHTMCP cũng như tìm ra các nhân tố tác động mạnh đến nợ xấu,

nhóm nghiên cứu chọn đề tài: “ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VÀ XỬ

LÝ NỢ XẤU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÓ TRỤ SỞ CHÍNH Ở TPHCM” Nhóm mong rằng với nỗ lực tìm hiểu, nghiên cứu của nhóm

có thể đóng góp thêm một số kiến nghị để hoàn thiện công tác xử lý nợ xấu cho các ngân hàng

2 Câu hỏi nghiên cứu

Bài nghiên cứu nhằm mục đích giải đáp các câu hỏi:

- Việt Nam có thể học hỏi những kinh nghiệm xử lý nợ xấu nào từ các nước trên thế giới?

Trang 10

- Thực trạng nợ xấu tại các NHTMCP có trụ sở chính tại TPHCM như thế nào?

- Công tác xử lý nợ xấu hiện nay còn hạn chế nào cần khắc phục?

- Nhân tố nào tác động mạnh đến nợ xấu?

- Những đề xuất nào cho công tác xử lý nợ xấu hoàn thiện và hiệu quả hơn?

3 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thống kê mô tả dựa trên số liệu thu thập từ Internet, báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của các NHTMCP trụ sở chính tại TPHCM

- Phương pháp định lượng với số liệu thứ cấp, từ mô hình này tìm ra các nhân tố tác động mạnh đến tình hình nợ xấu hiện nay

4 Mục tiêu nghiên cứu

Bài nghiên cứu đi sâu tìm hiểu kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số nước trên thế giới, học hỏi từ những thành quả mà họ đạt được Sau đó, tiếp tục phân tích thực trạng nợ xấu hiện nay cũng như những phương pháp xử lý đang được các ngân hàng

áp dụng để tìm ra các mặt còn hạn chế Tiếp theo, dựa vào phân tích định lượng các nhân tố được tiến hành nhằm tìm ra các nhân tố nào có tác động mạnh Từ đó đề xuất một số kiến nghị góp phần tăng cường công tác xử lý nợ xấu cho hệ thống NHTM Việt Nam

5 Kết cấu

Chương 1: Cơ sở lý luận về NHTM và nợ xấu

Trong chương này khái quát về khái niệm của NHTM và nợ xấu, nên bật các đặc trưng cũng như ảnh hưởng của nợ xấu đến hoạt động của các ngân hàng Các bài học kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số nước như Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc được tìm hiểu rõ với mục đích tìm ra những kinh nghiệm quý báu áp dụng cho Việt Nam

Trang 11

Chương 2: Thực trạng nợ xấu và công tác xử lý nợ xấu của các NHTM trên địa bàn Tp.HCM.

Chương 2 đi vào phân tích tình hình thực trạng nợ xấu của các NHTMCP có trụ sở chính tại TPHCM cũng như các phương pháp xử lý nợ xấu đang được áp dụng hiện nay Qua đó đưa ra những tồn tại, hạn chế cần phải hoàn thiện hơn trong công tác xử lý nợ xấu

Chương 3: Phân tích các nhân tố tác động đến nợ xấu của các NHTM có trụ sở chính tại Tp.HCM

Sử dụng mô hình kiểm định một số nhân tố tác động đến nợ xấu theo nghiên cứu của Xiaofen Chen, xác định các nhân tố nào thực sự tác động đến nợ xấu của các NHTMCP tại Tp.HCM và tính mạnh yếu của các tác động đó

Chương 4: Một số kiến nghị đối với công tác xử lý nợ xấu

Dựa trên kinh nghiệm các nước trên thế giới, thực trạng nợ xấu cũng như công tác xử lý hiện nay và qua mô hình tìm ra ảnh hưởng của các nhân tố nhóm nghiên cứu đưa ra một số đề xuất biện pháp quản lý vả xử lý nợ xấu cho các NHTMCP

6 Ý nghĩa của đề tài

Đề tài đạt được mục tiêu tìm hiểu thực trạng nợ xấu và công tác xử lý nợ xấu tại các NHTMCP có trụ sở chính tại TPCHM hiện nay, đánh giá những tồn tại cần phải khắc phục Và đề tài cũng đã rút ra được một số bài học xử lý nợ cho Việt Nam

từ các nước trên thế giới Qua đó đề xuất một số phương pháp quản lý và xử lý nợ xấu cho Chính phủ, NHNN và các NHTMCP Việt Nam

Trang 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ NỢ XẤU

Ngân hàng thương mại (NHTM) hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với

sự phát triển của kinh tế hàng hoá Sự phát triển của hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại nền kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao của nó – kinh tế thị trường –

sẽ làm cho hệ thống NHTM càng hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được

1.1.1.1 Định nghĩa của các nước trên thế giới

Ở Mỹ, NHTM được định nghĩa là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính

Theo Ðạo luật ngân hàng Pháp (1941): NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở

mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính

Ở Ấn Độ, NHTM là nơi nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ đầu tư

1.1.1.2 Định nghĩa của Việt Nam

Ở Việt Nam, Theo Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990: NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, chiết khấu và làm phương tiện thanh toán

Theo điều 20 Luật các TCTD (luật số 02/1997/QH 10), NHTM được định nghĩa là loại ngân hàng trực tiếp giao dịch với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế,

cơ quan đoàn thể và các cá nhân bằng việc nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm… cho vay và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên

Trang 14

Nghị định của Chính phủ số 49/2001NĐ-CP ngày 12/09/2000 định nghĩa:

“NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước"

Theo Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009: NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các TCTD và các quy định khác của pháp luật

Như vậy, NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường Nhờ hệ thống này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế

1.1.2 Đặc điểm của NHTM

NHTM là một dạng định chế tài chính trung gian và là một dạng ngân hàng NHTM giao dịch với các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế lớn về tín dụng và các khoản vay NHTM là một tổ chức với những đặc điểm sau:

- NHTM là một định chế tài chính trung gian đặc biệt, quan trọng trong nền kinh tế thị trường

- Chấp nhận tiền gửi, cho vay vốn kinh doanh, và cung cấp dịch vụ liên quan NHTM tạo lập và cung ứng vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện và thúc đẩy nền kinh tế phát triển

- Tài khoản tiền gửi đa dạng như: tài khoản séc, tiết kiệm, và tài khoản tiền gửi

có kỳ hạn

- Kinh doanh để tạo ra lợi nhuận bằng cách thu phí của khách hàng sử dụng dịch

vụ của ngân hàng, cũng như vay vốn của họ để tạo lợi nhuận

- Chúng được quản lý bởi Chính phủ và phải tuân theo pháp luật có liên quan Các NHTM thường chịu trách nhiệm về các quyết định lớn

- NHTM cung cấp các sản phẩm và dịch vụ cá nhân, doanh nghiệp

Có thể nói hệ thống NHTM đóng vai trò trung tâm trong nền kinh tế quốc gia

Trang 15

1.1.3 Vai trò của hệ thống NHTM

- Là trung gian thanh toán

 NHTM là trung gian thanh toán giữa các khách hàng với nhau, là cầu nối giữa những chủ thể thừa vốn và thiếu vốn thông qua nghiệp vụ cấp tín dụng, trung gian giữa người trả tiền và người nhận tiền thông qua nghiệp

vụ thanh toán…

 NHTM giúp cho NHTW thực hiện nghiệp vụ phát hành tiền của mình thông qua kênh tín dụng cho nền kinh tế vì NHTW chỉ giao dịch với NHTM và các TCTD, không giao dịch với công chúng

- Tạo ra sản phẩm và dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế với các sản phẩm

nhƣ: sản phẩm huy động vốn, sản phẩm tín dụng cho doanh nghiệp, các sản

phẩm kinh doanh ngoại tệ… và các dịch vụ: dịch vụ chuyển tiền, thanh toán quốc tế… Đây là những sản phẩm và dịch vụ không thể thiếu trong nền kinh tế hiện đại Qua các sản phẩm này NHTM đóng vai trò trung gian thanh toán, thực hiện các giao dịch thanh toán cho khách hàng Các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, sử dụng các phương tiện thanh toán hiện đại qua ngân hàng cho dù các đối tác giao dịch ở bất cứ quốc gia nào Do vậy, các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được chi phí, thời gian, và đảm bảo an toàn khi giao dịch Chức năng này đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế

- Tạo tiền cho nền kinh tế, sáng tạo ra bút tệ làm gia tăng khối tiền tệ cho

nền kinh tế bằng số nhân tiền tệ Đây là vai trò quan trọng của NHTM

Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng

để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM

đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội

Trang 16

1.1.4 Các nghiệp vụ của NHTM

1.1.4.1 Nghiệp vụ huy động vốn

Đây là nghiệp vụ rất quan trọng của NHTM tạo nguồn vốn cho NHTM thực hiện câc hoạt động kinh doanh như cung cấp tín dụng và các dịch vụ khác Trong nhóm nghiệp vụ này có các nghiệp vụ như:

- Nghiệp vụ huy động tiền gửi:

Là hình thức huy động vốn cổ điển và mang đặc thù riêng có của NHTM Với nghiệp vụ này NHTM có các sản phẩm như: huy động vốn qua tài khoản tiền gửi thanh toán, huy động vốn qua tài khoản tiền gửi cá nhân, qua tài khoản tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiết kiệm tiện ích,…

- Nghiệp vụ huy động vốn qua phát hành giấy tờ có giá:

Bằng cách huy động vốn ngắn hạn thông qua phát hành kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi; huy động vốn dải hạn bằng phát hành cổ phiếu, trái phiếu

1.1.4.2 Nghiệp vụ tín dụng doanh nghiệp

Nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ NHTM chuyển nhượng quyền sử dụng vốn sang cho khách hàng trong thời hạn nhất định với chi phí xác định trước Trong nhóm này có các nghiệp vụ:

- Nghiệp vụ cho vay khách hàng doanh nghiệp:

Cung cấp các nguồn vốn ngắn, trung và dài hạn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trên cơ sở phân tích tín dụng, đánh giá và xếp hạng doanh nghiệp

- Nghiệp vụ cho thuê tài sản (cho thuê hoạt động, cho thuê tài chính):

Được thực hiện thông qua công tác tư vấn cho khách hàng về các lợi ích của thuê tài sản; tư vấn cho khách hàng, phân tích ngân lưu khi quyết định thuê hay mua tài sản

- Nghiệp vụ bao thanh toán:

NHTM sẽ tài trợ cho những khoản thanh toán chưa đến hạn phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng hàng hóa, dịch vụ Nhờ sự chuyên môn hóa

Trang 17

nên việc thu hồi nợ của NHTM sẽ đạt hiệu suất cao và giảm chi phí Gồm có bao thanh toán trong nước và bao thanh toán xuất-nhập khẩu

- Nghiệp vụ chiết khấu chứng từ có giá (thương phiếu, trái phiếu, tín phiếu

kho bạc Nhà nước):

Ngân hàng sẽ cấp tín dụng cho khách hàng bằng cách nhận chứng từ có giá và trao cho khách hàng một số tiền bằng mệnh giá của chứng từ trừ đi phần lợi nhuận và chi phí mà ngân hàng được hưởng

- Nghiệp vụ tài trợ nhập khẩu-xuất khẩu:

Ngân hàng hỗ trợ về tài chính cùng với thủ tục liên quan để doanh nghiệp nhập khẩu, xuất khẩu có thể thực hiện nghĩa vụ của mình trong hợp đồng mua bán hàng hóa Giá trị khoản tài trợ thường vừa và lớn

- Nghiệp vụ thấu chi:

Là một hình thức cấp tín dụng khác bên cạnh cho vay NHTM thỏa thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản Số tiền này sẽ do ngân hàng bù đắp hay ứng trước cho khách hàng

- Nghiệp vụ cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng:

Ngân hàng sẽ cho khách hàng vay thêm trong một hạn mức tín dụng nhất định ngoài hạn mức tín dụng đã ký ban đầu Áp dụng trong trường hợp khách hàng muốn đảm bảo đầy đủ số vốn đầu tư cho dự án do mức vốn đầu tư cho dự án có khả năng tăng lên hoặc do nhu cầu tài chính trong tương lai khách hàng không dự kiến chính xác được

- Nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng:

NHTM cam kết bằng văn bản với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh

1.1.4.3 Nghiệp vụ đầu tư và kinh doanh chứng khoán

Trang 18

- Nghiệp vụ đầu tƣ vào các doanh nghiệp:

NHTM dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ góp vốn và mua cổ phần của các doanh nghiệp và các TCTD trong nước, cũng có thể mua cổ phần, liên doanh với NHNNg

để thành lập ngân hàng liên doanh

- Nghiệp vụ đầu tƣ tài chính:

NHTM mua và bán các loại tài sản tài chính trên thị trường tài chính nhằm mục tiêu sinh lời, đây là hoạt động đầu tư gián tiếp, ngân hàng không trực tiếp tham gia vào hoạt động quản lý, điều hành doanh nghiệp NHTM sẽ tiến hành đầu tư vảo chứng khoán phi rủi ro hay tín phiếu kho bạc, chứng khoán có thu nhập cố định hay trái phiếu, chứng khoán có thu nhập không cố định hay cổ phiếu…

- Nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán:

Ngân hàng gián tiếp kinh doanh chứng khoán bằng cách lập công ty chứng khoán hạch toán độc lập như công ty con của ngân hàng để tránh rủi ro cho người gửi tiền, tránh ngân hàng mất khả năng chi trả và sụp đổ ngân hàng

- Nghiệp vụ kinh doanh tài chính phái sinh:

NHTM thực hiện giao dịch các công cụ tài chính phái sinh (chứng khoán phái sinh) trên thị trường chứng khoán như: hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn và hợp đồng hoán đổi

1.1.4.4 Nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối

- Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ:

Đây là một trong những nghiệp vụ chủ yếu của NHTM NHTM mua bán ngoại

tệ nhằm đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp xuất nhập khẩu và đem lại một khoản thu nhập cho ngân hàng Ngân hàng thực hiện nghiệp vụ này với khách hàng nội địa và trên thị trường thế giới

- Nghiệp vụ kinh doanh vàng:

Ngân hàng thực hiện nghiệp vụ nhằm phục vụ nhu cầu của khách hàng và góp phần mang lại thu nhập NHTM thực hiện các hoạt động: mua bán vàng miếng, kinh doanh tài khoản vàng, kinh doanh quyền chọn vàng…

Trang 19

1.1.4.5 Nghiệp vụ quản lý rủi ro của NHTM

- Nghiệp vụ quản lý rủi ro tín dụng:

Ngân hàng sẽ hỗ trợ cho khách hàng trong việc quản lý rủi ro tín dụng gián tiếp thông qua hoạt động tư vấn và cung cấp công cụ phòng ngừa rủi ro tín dụng cho doanh nghiệp Bên cạnh đó ngân hàng cũng tiến hành quản lý rủi ro tín dụng cho chính mình để hạn chế tối đa thiệt hại khi khách hàng không trả được nợ, tối đa hóa lợi nhuận và giá trị cho cổ đông Ngân hàng tiến hành phân tích và thẩm định tín dụng, xếp hạng tín dụng, chấm điểm tín dụng, mua bảo hiểm tín dụng và lập dự phòng rủi ro tín dụng

- Nghiệp vụ quản lý rủi ro lãi suất:

Ngân hàng tư vấn quản lý rủi ro lãi suất cho khách hàng và quản lý rủi ro lãi suất của chính ngân hàng thông qua các giao dịch hoán đổi lãi suất

- Nghiệp vụ quản lý rủi ro tỷ giá:

Ngân hàng cung cấp các giao dịch phái sinh ngoại tệ như là giải pháp giúp doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro ngoại hối, phòng ngừa tổn thất nếu nội tệ xuống giá

1.1.4.6 Nghiệp vụ thanh toán và chuyển tiền

- Nghiệp vụ thanh toán và chuyển tiền trong nước:

Thanh toán bằng ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thẻ ngân hàng, thư tín dụng vả nghiệp vụ chuyển tiền trong nước

- Nghiệp vụ thanh toán và chuyển tiền quốc tế:

Ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến hối phiếu (chấp nhận, bảo lãnh), phương thức thanh toán chuyển tiền, thanh toán nhờ thu, thanh toán tín dụng chứng từ và chuyển tiền quốc tế

1.1.4.7 Các nghiệp vụ khác của NHTM

- Nghiệp vụ ngân hàng dành cho khách hàng cá nhân hay nghiệp vụ ngân

hàng bán lẻ: NHTM sẽ tiến hành huy động vốn đối với khách hàng cá nhân

thông qua các sản phẩm tiền gửi, tiết kiệm, cho vay

Trang 20

- Nghiệp vụ ngân hàng điện tử:

NHTM sẽ cung cấp cho khách hàng các sản phẩm và dịch vụ qua phương tiện thông tin, truyền thông, tận dụng sức mạnh của mạng toàn cầu để phục vụ khách hàng tốt nhất Các sản phẩm cung cấp qua nghiệp vụ này như: tiền điện tử, séc điện tử, thẻ thông minh và các dịch vụ : call center, phone banking, internet banking

- Nghiệp vụ kinh doanh bất động sản:

NHTM tiến hành cho vay mua bất động sản, tài trợ cho các dự án phát triển nhà ở, thanh toán giao dịch mua bán bất động sản Bên cạnh đó, cùng với lợi thế về chuyên môn, vốn, thông tin và nguồn nhân lực, NHTM liên kết với công ty khác thành lập công ty chuyên kinh doanh bất động sản cung cấp các dịch vụ tư vấn thiết

kế, thi công, cung cấp vật liệu xây dựng, môi giới giao dịch và quảng cáo mua bán bất động sản Ngân hàng cũng có thể trực tiếp tham gia vào hoạt động kinh doanh các

dự án bất động sản

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.2.1 Khái niệm

Theo Oxford dictionary for the Business World, Nợ xấu (bad debt) là nợ khó

có thể thu hồi Chẳng hạn như một khoản tiền có thể được xử lý như là một khoản thiệt hại và được xóa sổ trong phần lợi nhuận và tài khoản nợ phải thu Những khoản

nợ khó đòi có thể xuất hiện trong các tài khoản của một tổ chức như một khoản dự phòng cho nợ xấu

Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng Thống kê - Liên hợp quốc: “về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý

do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”

Theo IMF: “Một khoản vay là nợ xấu khi lãi và vốn gốc bị trả quá hạn 90 ngày trở lên hoặc ít nhất 90 ngày của việc trả lãi vay đã được thỏa thuận vốn hóa, tái cấp

Trang 21

vốn hoặc trì hoãn, hoặc việc hoàn trả ít hơn 90 ngày quá hạn nhưng có những lý do khác tốt hơn để nghi ngờ về sự hoàn trả đầy đủ.”

Xét theo tiêu chuẩn của hệ thống kế toán quốc tế-IAS thì “ một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả

từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc trả chậm theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”

Theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS và IAS 39 thì việc xét đâu là một khoản nợ xấu chỉ chú trọng đến khả năng hoàn trả của người đi vay thông qua phương pháp chiết khấu dòng cổ tức hoặc xếp hạng tín dụng bất luận thời gian quá hạn đã trên 90 ngày hay chưa

Một cách định nghĩa khác về nợ xấu, theo giáo trình Quản trị NHTM hiện đại PGS.TS Nguyễn Đăng Dờn: nợ xấu là những khoàn nợ quá hạn1, nhưng ở cấp độ nghiêm trọng hơn, do đó được gọi là nợ xấu

Còn theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của NHNN quy định về việc phân loại nợ, trích lập, sử dụng dự phòng và xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD, định nghĩa: Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3 (nợ dưới chuẩn), nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn)

Như vậy, nợ xấu là các khoản tiền cho khách hàng vay, mà không thể thu hồi lại được do khách hàng làm ăn thua lỗ hoặc phá sản…, là một khoản tiền cho vay đã quá hạn mà xác định không thể thu hồi lại được và bị xóa sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu

Tóm lại, nợ xấu có các đặc trƣng:

- Khả năng thu hồi thấp, khả năng mất vốn cao, gây thiệt hại cho ngân hàng

- Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam kết hết hạn

Trang 22

- Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫn đến có khả năng ngân hàng không thu hồi được cả vốn lẫn lãi

- Tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) có giá trị được đánh giá không đủ trang trải nợ gốc và lãi

1.2.2 Tiêu chí phân loại nợ xấu

1.2.2.1 Theo các nước trên thế giới

Theo định nghĩa của IAS, nợ xấu được xác định dựa trên 2 yếu tố chính:

(i) Quá hạn trên 90 ngày,

(ii) Khả năng trả được nợ của khách hàng

Về cơ bản, đa số các nước cũng xác định nợ xấu dựa trên 2 yếu tố này

Tuy nhiên, tiêu chí phân loại nợ là không hoàn toàn đồng nhất giữa các quốc gia trên thế giới Theo cuộc khảo sát thực tiễn tại các nước đại diện trong nhóm liên kết các nguyên tắc cơ bản Basel (the Basel Core Principles Liaison Group2) thì ở một

số quốc gia có thêm các tiêu chuẩn khác như:

- Tại Mexico, các ngân hàng còn dựa trên giá trị có thể thu hồi của tài sản thế chấp

- Hệ thống phân loại của Mỹ dựa trên một số tiêu chí như: kinh nghiệm thanh toán, môi trường khách nợ hoạt động

- Tại một số quốc gia như Anh và Hà Lan không có yêu cầu cụ thể cho việc phân loại nợ vì thế các ngân hàng tự xây dựng quy tắc cho mình

Bên cạnh đó, tiêu chí phân loại các khoản nợ khác nhau (trong đó có một khoản nợ xấu) của một khách hàng cũng có sự khác biệt giữa các quốc gia như:

- Ở Brazil, Cộng hòa Séc, Pháp, Ấn Độ, và Nam Phi: khi có một khoản nợ phân loại là xấu, tất cả các khoản nợ khác của cùng một khách hàng cũng được phân loại là xấu

2 Nhóm liên kết các nguyên tắc cơ bản Basel (Basel Core Principles Liaison Group) được thành lập như một sợi dây liên kết trực tiếp giữa Ủy ban Basel- BIS và WB/IMF để đánh giá các mảng khác nhau của lĩnh vực tài chính và để đưa ra các tiêu chuẩn an toàn mới về vốn

Trang 23

- Ở Hàn Quốc, Mexico, Ả Rập Saudi có cách tiếp cận linh hoạt hơn: quyết định của các ngân hàng dựa trên sự xem xét lại của họ về việc hình thành của từng khoản nợ, bất kể những khoản nợ khác được xếp hạng như thế nào

- Ở Mỹ: các khoản vay khác nên được đánh giá lại để xác định liệu một hoặc nhiều các khoản vay nên được đánh giá tương tự Việc xác định này nên dựa trên việc đánh giá khả năng thu hồi độc lập của mỗi khoản vay, khả năng thanh toán của khách nợ

1.2.2.2 Theo Việt Nam

 Căn cứ trên thời gian quá hạn hoàn trả

Với tiêu chí này nợ xấu được phân làm 3 loại theo quyết định NHNN của quốc hội:

493/2005/QĐ-* Nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại

- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 điều này

* Nhóm 4 (nợ nghi ngờ) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thời hạn cơ cấu lại

- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 3

và khoản 4 điều này

Trang 24

- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại khoản 3

và khoản 4 điều này

 Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng:

Theo điều 7 quyết định 493/2005/QĐ-NHNN nợ xấu thuộc các nhóm:

* Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: các khoản nợ được TCTD đánh giá là không có khả năng thu hồi cả vốn gốc và lãi khi đến hạn, có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi

* Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được TCTD đánh giá là có khả năng tổn thất cao

* Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được TCTD đánh giá là không có khả năng thu hồi, mất vốn

Ngoài ra còn có các trường hợp sau:

* Trường hợp một khách hàng có nhiều hơn một khoản nợ với TCTD mà có bất kỳ khoản nợ bị chuyển sang nhóm nợ rủi ro cao hơn thì TCTD bắt buộc phải phân loại các khoản nợ còn lại của khách hàng đó vào các nhóm

nợ rủi ro cao hơn tương ứng với mức độ rủi ro (Theo khoản 3-Điều 6 QĐ 493/2005/QĐ-NHNN)

* Trường hợp các khoản nợ (kể cả các khoản nợ trong hạn và các khoản nợ

cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại) mà TCTD có đủ cơ sở để đánh giá là khả năng trả nợ của khách hàng bị suy giảm thì TCTD chủ động tự quyết định phân loại các khoản nợ đó vào các nhóm nợ rủi ro cao hơn tương ứng với mức độ rủi ro

* Khi khả năng trả nợ của khách hàng bị suy giảm thì TCTD dụng chủ động

tự quyết định phân loại các khoản nợ đó vào các nhóm nợ rủi ro cao hơn tương ứng với mức độ rủi ro (Theo khoản 4-Điều 6 QĐ 493/2005/QĐ-NHNN)

Trang 25

1.2.3 Tác động của nợ xấu đến hoạt động kinh doanh của NHTM

Nợ xấu có thể gây ảnh hưởng rất nặng nề đến kết quả kinh doanh của các NHTM nếu như ngân hàng không kiểm soát được Sau đây là một số tác động của

nợ xấu:

Thứ nhất, Ngân hàng không thu hồi được vốn và lãi cho vay trong khi vẫn phải

hoàn trả cho các khoản vốn huy động dẫn đến mất cân đối thu chi, rơi vào vòng quay vốn tín dụng giảm, chi phí của ngân hàng sẽ tăng lên → Ngân hàng hoạt động không hiệu quả

Thứ hai, Ngân hàng có thể rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản, rủi ro

thanh khoản vì phải sử dụng nguồn vốn của mình để trả cho người gửi tiền thay cho khoản thu hồi từ khách nợ Do đó ngân hàng phải thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chính giảm sút, uy tín và sức cạnh tranh giảm, kết quả kinh doanh xấu Điều này dễ dẫn đến nguy cơ thua lỗ hoặc phá sản

Kinh nghiệm xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Mỹ

Cuộc đại suy thoái kinh tế năm 1932

Nhằm giảm nợ xấu trong các ngân hàng, Chính phủ thành lập Tổng công ty tái thiết tài chính vào năm1932 với số vốn ban đầu Quốc hội cung cấp 500 triệu USD, được quyền vay đến 2 tỷ USD Công ty này tiến hành chuyển các khoản nợ xấu của các ngân hàng thành cổ tức ưu đãi Việc làm này nhằm có hiệu quả nhưng cũng còn hạn chế vì yêu cầu công khai số lượng vay và tên tổ chức đi vay nên gây ảnh hưởng

Trang 26

đến uy tín của tổ chức đi vay Bên cạnh đó Chính phủ cũng tiến hành quốc hữu hóa một số ngân hàng và để các ngân hàng yếu kém phá sản

Khủng hoảng kinh tế năm 1980

Khủng hoảng nợ và tiết kiệm (Saving & Loan) tại Mỹ trong thập kỷ 1980 có nguyên nhân từ các khoản vay được định giá thấp và chứa nhiều rủi ro tiềm ẩn Nếu khoản tín dụng rủi ro trở thành nợ xấu, phần lỗ sẽ nhận được bảo lãnh từ Chính phủ

Sau khi khủng khoảng xảy ra, để xử lý số nợ khó đòi liên quan đến các khoản vay thế chấp mua nhà, công ty xử lý nợ (RTC) mua các khoản nợ khó đòi, thực hiện nghiệp vụ chứng khoán hóa với các sản phẩm chứng khoán được đảm bảo bởi tài sản cầm cố và bán lại cho các nhà đầu tư RTC cũng đã tiến hành mua lại các ngân hàng nhỏ, các khoản nợ xấu, các tài sản thiếu thanh khoản với tổng chi phí là 400 tỷ $

Khủng hoảng kinh tế năm 2008

Chính sách tiền tệ nới lỏng của Mỹ đã tạo ra bong bóng bất động sản và thị trường chứng khoán Sự bùng nổ cho vay dưới chuẩn, các công cụ tài chính mới và

sự bãi bỏ các quy định liên quan đến hoạt động của ngân hàng làm gia tăng nợ xấu, làm xói mòn niềm tin của các nhà đầu tư, từ đó dẫn đến vấn đề thanh khoản trong lĩnh vực ngân hàng Cuộc khủng hoảng bắt đầu với sự sụp đổ của Lehman Brothers

và một số ngân hàng, tổ chức tài chính khác, sau đó nhanh chóng lan rộng ra nền kinh

tế toàn cầu

Cách xử lý nợ xấu của Mỹ trong cuộc khủng hoảng kinh tế 2008

Để phục hồi nền kinh tế, giải quyết hậu quả nặng khủng hoảng Chính phủ Mỹ

nỗ lực điều tiết nền kinh tế vĩ mô và kết hợp các chương trình như: Chương trình mua vốn (PPP), Chương trình hỗ trợ vốn (CAP), Kế hoạch Ổn định Tài chính, Quỹ công –

tư cho việc mua lại tài sản ( PPIP)

Những hành động của Chính phủ:

NHTW Mỹ cắt giảm lãi suất để khơi thông dòng vốn, giảm lãi suất cơ bản từ 5% xuống 0.25%, tiếp quản một số TCTD lớn như Freddie Mac và Fannie nhằm giúp những tổ chức này tránh khỏi nguy cơ phá sản, nỗ lực bảo lãnh cho các TCTD với con số lên đến 1 300 tỷ $ đầu tư vào nhiều tài sản rủi ro khác nhau Chính phủ bơm

Trang 27

tiền hỗ trợ thanh khoản cho các tập đoàn tài chính, cũng như kích thích tiêu dùng và cho vay Tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới AIG đã được chính phủ Mỹ bơm vào

85 tỷ $ FED quyết định dùng 700 tỷ đôla để mua lại nợ xấu của các Ngân hàng

Một loạt các chương trình được triển khai đồng thời với các chính sách vĩ

mô để đưa nền kinh tế Mỹ vượt qua khủng hoảng như:

Đầu tiên, chương trình mua vốn CPP (Capital Purchase Program) thực hiện

vào tháng 10/2008 trong khuôn khổ Chương trình Cứu trợ Tài sản có vấn đề TARP: CPP được phân bổ hơn 250 tỷ $ để mua những cổ phiếu ưu đãi của các ngân hàng như Citigroup, JP Morgan Chase, Wells… Các cổ phiếu ưu đãi của ngân hàng sẽ được trả 5%/cổ phần trong 5 năm đầu, và 9%/cổ phần những năm sau đó Các cổ phiếu có kỳ hạn thanh toán không giới hạn và dễ bị mua lại trong vòng 3 năm (hoặc sớm hơn) Và để mua cổ phần ưu đãi, Chính phủ Mỹ đã đạt được một quyền chọn trong việc mua cổ phần phổ thông có trị giá không quá 15% cổ phần ưu đãi

Tiếp sau chương trình mua vốn, vào tháng 2/2009, chương trình hỗ trợ vốn và

kế hoạch ổn định tài chính được thực hiện đồng thời nhằm tăng cường hiệu quả

Chương trình hỗ trợ vốn (CAP): là giai đoạn thứ hai của chương trình tái cơ

cấu vốn ngân hàng (sau CPP) Trong giai đoạn đầu tiên, tài chính sẽ được cung cấp thông qua các cổ phiếu ưu đãi Cổ tức là 9% mỗi cổ phần, cổ phiếu ưu đãi có thể được chuyển đổi thành cổ phần thường ở mức giá được thiết lập (90% giá trị đóng cửa trung bình cho thời kỳ từ ngày 20/01 đến ngày 09/02) Khi cổ phiếu ưu đãi không được chuyển đổi hoặc mua lại, 7 năm sau nó sẽ được tự động chuyển đổi thành cổ phần thường

Cùng với CAP đầu tháng 2/2009, một gói các biện pháp tài chính để hỗ trợ

nền kinh tế Mỹ đã được phê duyệt Chương trình được đề ra nhằm giúp giảm nợ xấu trong lĩnh vực bất động sản Kế hoạch này gồm cuộc kiểm tra đầy căng thẳng tất cả các ngân từng ngân hàng (mở rộng của chương trình CPP) Thiết lập quỹ đầu tư tư nhân để mua lại những tài sản có vấn đề Mở rộng chương trình cho vay TALF3

3

TALF (Term Asset-Backed Securities Loan Facility) là Chương trình Tài trợ Bảo chứng định kỳ TALF được thiết kế để tạo tín dụng sẵn có đến khách hàng và doanh nghiệp với những điều kiện dễ dàng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hành chứng khoán dựa trên tài sản tài chính (ABS) và cải thiện thị trường ABS

Trang 28

Bên cạnh đó 3/2009 với mục đích thu hút đầu tư 500-1000 tỷ$ để mua tài sản

có vấn đề từ các ngân hàng và khôi phục lại thị trường trong các khoản vay và chứng

khoán tài sản tài chính, Quỹ công – tư cho việc mua lại tài sản (PPIP) được thành lập, vốn 75 – 100 tỷ USD của quỹ TARF và các quỹ bổ sung từ các nhà đầu tư tư nhân

Trong lĩnh vực cho vay, một số ngân hàng lớn của Mỹ (JPMorgan, Bank of American) tiến hành hoãn các vụ tịch thu tài sản, nỗ lực làm việc với người đi vay nhằm tạo điều kiện cho họ có thể trả nợ với các biện pháp như giảm lãi suất, giảm giá trị các khoản chi trả

Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Qua tìm hiểu về công tác xử lý nợ xấu của Mỹ, một số giải pháp được rút ra cho Việt Nam như sau:

- Chính phủ hỗ trợ và cung cấp tiềm lực vốn đủ lớn thành lập công ty xử lý nợ xấu tiến hành xử lý nợ xấu tại các ngân hàng trong toàn bộ nền kinh tế, tạo dựng một tiềm lực vững mạnh về tài chính cũng như pháp lý cho công ty này

- Cũng có thể xử lý nợ bằng cáchtiến hành mua lại các khoản nợ khó đòi, thực hiện nghiệp vụ chứng khoán hóa với các sản phẩm chứng khoán được đảm bảo bởi tài sản cầm cố và bán lại cho các nhà đầu tư

- Thêm vào đó, cần hạ lãi suất và hỗ trợ thanh khoản cho các tập đoàn tài chính, cũng như kích thích tiêu dùng và cho vay

- Các ngân hàng cần có các biện pháp hỗ trợ khách hàng như gia hạn nợ, giảm lãi suất, giảm giá trị các khoản cho vay giúp khách hàng có khả năng trả nợ

1.3.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc:

Năm 1948, Ngân hàng nhân dân Trung Hoa với vai trò là NHTW được thành lập Đến năm 2011, tổng tài sản của các tổ chức tài chính-ngân hàng Trung Quốc năm 2011 lên tới 113,28 nghìn tỷ nhân dân tệ Hiện nay, Trung Quốc có 4 NHTM lớn nhất là: Ngân hàng Trung Quốc, Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc, Ngân hàng Công thương Trung Quốc và Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc Trong năm 2011,

Trang 29

4 đại ngân hàng này chiếm 55% tổng dư nợ cho vay của toàn hệ thống ngân hàng Trung Quốc và ảnh hưởng lớn đến hoạt động của toàn bộ nền kinh tế

Kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc xử lý nợ xấu

Từ cuối thập kỷ trước, nợ khó đòi hay còn gọi là nợ xấu trong các NHTM quốc doanh Trung Quốc đã trở thành một quả bom hẹn giờ đặt trong lòng ngành tài chính nước này, với ước tính mức nợ khó đòi lên tới khoảng 10-25% tổng dư nợ cho vay, mà chủ yếu là các khoản vay của các DNNN Điều này đã ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh tại các ngân hàng Tuy vậy NHTW và các NHTM đã có những

quy định và cải tổ nhằm giảm bớt số nợ xấu trong hệ thống:

 Ban hành các quy trình thẩm định tín dụng sát sao, chặt chẽ ngay từ

đầu nhằm hạn chế nợ xấu:

Theo quy định của Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa (với tư cách là NHTW),

bộ phận tín dụng của NHTM cần phải có các quy trình kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay, kịp thời thu thập thông tin để phân loại, kịp thời đề xuất kiến nghị kiểm tra và hoàn chỉnh hồ sơ phân loại, kịp thời đề xuất kiến nghị kiểm tra lại, chịu trách nhiệm về tính chân thực, tính chuẩn xác, tính hoàn chỉnh của các dữ liệu phân loại

đã cung cấp, tiến hành phân loại sơ bộ tài sản theo tiêu chuẩn phân loại đề xuất ý kiến và lý do phân loại, định kỳ báo cáo cho bộ phận quản lý rủi ro tín dụng những thông tin phân loại tiến hành quản lý các khoản tín dụng, căn cứ vào kết quả phân loại tiến hành quản lý các khoản tín dụng có sự phân biệt trong quản lý đối với từng khoản tín dụng, thực hiện các biện pháp cải tiến, loại trừ và xử lý rủi ro

 Ban hành những quy định chặt chẽ về phân loại nợ xấu và trích lập dự

phòng để phòng ngừa đƣợc các tổn thất:

Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa đã ban hành các Hướng dẫn trích lập dự phòng tổn thất cho vay và Công văn liên quan, yêu cầu các NHTM kiểm tra định kỳ đối với các loại tài sản dựa trên nguyên tắc thận trọng dự kiến một cách hợp lý các khoản tài sản có khả năng phát sinh tổn thất và trích lập dự phòng giảm giá tài sản đối với các tài sản có khả năng phát sinh tổn thất như dự phòng tổn thất cho vay… Đồng thời, phân loại tín dụng thành 5 nhóm: nợ đủ tiêu chuẩn (nhóm 1), nợ cần chú ý

Trang 30

(nhóm 2), nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3), nợ nghi ngờ (nhóm 4), nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5), trong đó nợ nhóm 3, 4, 5 được gọi là nợ xấu Việc trích lập dự phòng tổn thất cho vay bao gồm: dự phòng chung và dự phòng cụ thể:

- Dự phòng chung được trích hàng tháng và được xác định bằng 1% số dư cuối

kỳ của các khoản tín dụng

- Dự phòng cụ thể: Vào cuối tháng, dựa theo kết quả phân loại nợ và sau khi khấu trừ giá trị tài sản thế chấp, NHTM trích lập dự phòng cụ thể theo số dư các khoản tín dụng với tỷ lệ như sau: nhóm 1: 0%; nhóm 2: 2%; nhóm 3: 25%; nhóm 4: 50%; nhóm 5: 100%

Thành lập các AMC để xử lý nợ xấu tại các Ngân hàng

Năm 1999 Trung Quốc đã thành lập 04 công ty quản lý tài sản với vốn điều lệ khoảng 05 tỷ USD (tương đương 1% tổng số nợ xấu của hệ thống ngân hàng Trung Quốc hiện nay) Bốn công ty quản lý tài sản được thành lập để xử lý toàn bộ số nợ dưới chuẩn ước tính lên đến 670 tỷ nhân dân tệ (NDT), những công ty này được được thành lập theo mô hình của tổ chức Resolution Trust and Corporation của Mỹ, được trao quyền ngoại lệ đặc biệt để xử lý, mua lại nợ xấu, thậm chí đầu tư và sinh lời từ

đó Các tổ chức này có một nhiệm vụ lớn: “dọn dẹp” các khoản nợ khó đòi làm trong sạch bảng cân đối tài sản của các NHTM

Về nhân lực, đội ngũ nhân viên của các tổ chức AMC chủ yếu là từ các ngân hàng mẹ chuyển sang Về vốn, chúng được chính phủ cấp cho một khoản vốn ban đầu để hoạt động (Bộ Tài chính cấp 10 tỷ NDT, tương đương 1,2 tỷ đôla, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc cấp 500 tỷ NDT), còn lại là phát hành 800 tỷ NDT trái phiếu cho các ngân hàng để thu hút vốn hoạt động Các tổ chức này có thể khởi xướng thanh lý tài sản, hoán đổi nợ sang cổ phần, tổ chức đấu giá các khoản nợ, và kể cả tham gia trực tiếp vào quản lý các doanh nghiệp có nợ của họ Tuy nhiên, chỉ có các khoản nợ trước năm 1996 mới thuộc phạm vi quản lý của họ

Tái cấu trúc PBC nhằm tăng cường tính tự chủ và khả năng giám sát

Năm 1998, Chính phủ Trung Quốc tiến hành tổ chức lại Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa (PBC) nhằm tăng cường khả năng giám sát và tính độc lập, tự chủ trong

Trang 31

quản lý, điều hành các chính sách tiền tệ của NHTW này Tiếp theo là củng cố và tăng cường hệ thống giám sát tài chính bằng việc thành lập Ủy ban Giám sát Ngân hàng Trung Hoa, tập trung vào công tác quản trị rủi ro ở các ngân hàng Ban hành hàng loạt văn bản và quy định mới, áp dụng những chuẩn mực kế toán và kiểm toán độc lập khắt khe hơn và những thông lệ quản trị công ty hiện đại nhằm nâng cao tính minh bạch, khôi phục, duy trì niềm tin của khách hàng, nhận diện những ngân hàng

có vấn đề để kịp thời có biện pháp hỗ trợ, xử lý PBC đã tiến hành áp dụng các quy tắc, quy định, định mức và tỷ lệ an toàn theo chuẩn mực của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS), tỷ lệ an toàn vốn (CAR) được nâng lên mức 8%; những quy định mới

về phân loại khoản vay Nhờ đó, bức tranh toàn cảnh về số nợ dưới chuẩn trở nên rõ ràng hơn và hình thành kế hoạch làm sạch bảng cân đối kế toán của các NHTM nhà nước

Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, khuyến khích các ngân hàng niêm yết

Đối với vấn đề thanh khoản, kế hoạch tái cấp vốn cho các NHTM nhà nước được triển khai song song Số vốn yêu cầu được huy động theo cơ chế ngoài ngân sách, nghĩa là bằng công cụ trái phiếu chính phủ được phát hành với thời hạn 30 năm

Trong khi đó, Chính phủ Trung Quốc khuyến khích các NHTM nhà nước xúc tiến kế hoạch niêm yết trên TTCK Điều này buộc các ngân hàng phải xây dựng cơ chế quản trị theo chuẩn quốc tế, kinh doanh theo định hướng thương mại nhiều hơn, nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành, tăng cường tính minh bạch trong hoạt động,

kế hoạch đầu tư và trên sổ sách kế toán Nhằm tạo ra môi trường lành mạnh để tránh cho các ngân hàng rơi vào vòng luẩn quẩn của làn sóng nợ dưới chuẩn mới phát sinh, PBC kiên quyết yêu cầu các ngân hàng cải thiện chất lượng công tác quản trị doanh nghiệp, vì đó là bước đầu tiên trong việc quản trị rủi ro ngân hàng Từng ngân hàng được yêu cầu lập kế hoạch với những chỉ tiêu cụ thể về chuyển đổi mô hình kinh doanh, giới thiệu dịch vụ khác biệt, kế hoạch quản trị rủi ro tổng thể, ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển nguồn nhân lực…

Trung Quốc đã vạch ra được kế hoạch tổng thể và đồng bộ, gắn việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng với tiến trình tái cấu trúc hệ thống các DNNN, tái cơ cấu các

Trang 32

khoản nợ của những doanh nghiệp này, chuyển đổi mô hình kinh doanh ngân hàng, tăng cường chất lượng quản trị, giám sát tổng thể thị trường tài chính, tiếp thu, áp

dụng kinh nghiệm của nước khác một cách có chọn lọc

Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Để cải thiện tình hình nợ xấu trong khu vực ngân hàng, PBC đã ban hành nhiều quy định chặt chẽ về quy trình thẩm định tín dụng sát sao để qua đó nhằm kiểm soát nợ xấu trước, trong và sau khi cho vay Việc làm này là kinh nghiệm rất hay để Việt Nam học tập khi mà công tác thẩm định tín dụng của nước ta chỉ dừng lại ở khâu đầu tiên

Tiếp theo Trung Quốc tiến hành cải cách PBC, điều này nhằm tăng cường tính

tự chủ và khả năng giám sát của PBC Bên cạnh đó, PBC thành lập 4 AMC trực thuộc

4 NHTM lớn của Trung Quốc với sự hỗ trợ vốn từ Bộ tài chính Việc này không chỉ giúp các AMC có nguồn vốn lớn mà còn giúp hoạt động hiệu quả nhờ có sự giám sát

và trợ giúp của PBC Trong khi đó các mô hình AMC ở Việt Nam, nguồn vốn chủ yếu dựa vào nguồn vốn của NHTM mẹ, vốn điều lệ chỉ trong khoảng 50-100 tỷ đồng

Ở Việt Nam có khoảng 27 AMC hoạt động trực thuộc các NHTM, nhưng hoạt động của các AMC còn mờ nhạt, phần lớn là chỉ thành lập cho có nên chưa phát huy hết tác dụng trong công tác xử lý nợ xấu

PBC còn tiến hành tái cấu trúc hệ thống NHTM và khuyến khích các ngân hàng này niêm yết Việc làm này đang được Việt Nam học hỏi khi mà ngày càng nhiều NHTM Việt Nam tiến hành IPO ra TTCK

Việc cải cách các DNNN cũng được thực hiện, bởi vì phần lớn nợ xấu của NHTM là cho các DNNN vay Vì thế những việc làm này không chỉ giúp cải thiện triệt để tình hình nợ xấu của NHTM từ gốc mà còn giúp cho hệ thống ngân hàng phát triển khỏe mạnh hơn

1.3.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc:

Hàn Quốc là quốc gia có nền kinh tế phát triển mạnh Đầu năm 2011, Hàn Quốc được xếp thứ 11 trong bảng xếp hạng các nền kinh tế hàng đầu 2011 của HSBC

Trang 33

Hiện nay hệ thống ngân hàng của Hàn Quốc có 24 NHTM Trong đó 4 NHTM lớn nhất là: Kookmin Bank, Shinhan Bank, Hana Bank, và Korea Exchange Bank

Tình hình kinh tế Hàn Quốc năm 1997

Những năm 1990, Chính phủ Hàn Quốc đã tập trung đầu tư và hỗ trợ tài chính vào nhiều tập đoàn kinh tế lớn (chaebol) đóng vai trò then chốt trong nền kinh tế chẳng hạn như các NHTM Hàn Quốc phải cho các chaebol vay với lãi suất thấp, Chính phủ sẵn sàng đứng ra bảo lãnh cho những khoản vay này trong những trường hợp doanh nghiệp phá sản hay thua lỗ Vì thế, sự lớn mạnh của các chaebol lại phụ thuộc rất lớn vào Chính phủ

Sự sụp đổ của thị trường Thái Lan và Hồng Kông vào tháng 7 năm 1997 đã ảnh hưởng đến kinh tế Hàn Quốc dẫn đến cảnh thua lỗ và phá sản sản và của nhiều Chaebol lớn và tiếp đó ảnh hưởng đến toàn bộ khu vực ngân hàng Kết quả là, 7 trong

số 30 chaebol đã ra đi và nền kinh tế Hàn Quốc phải đối mặt với khủng hoảng tiền tệ

và kinh tế

Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính ở Hàn Quốc

Từ tình hình kinh tế Hàn Quốc đã cho thấy những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng tài chính trong những năm 90 đó là:

Thứ nhất, các chaebol được nhận nhiều chính sách cũng như sự bảo trợ của

chính phủ và sự hỗ trợ vốn từ hệ thống NHTM nên đã tạo sự ỷ lại rất lớn Hơn nữa,

hệ thống quản trị còn yếu và thiếu sự giám sát nhằm duy trì tính trách nhiệm và minh bạch đã làm cho các chaebol không thể đứng vững trước cuộc khủng hoảng kinh tế

Thứ hai, Chính phủ can thiệp quá sâu vào quá trình kinh doanh từ đó làm

giảm đi khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng cũng như hạn chế khả năng tự xây dựng chính sách tín dụng hợp lý Rủi ro đến với hệ thống ngân hàng là điều không thể tránh khỏi

Thứ ba, Cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á được lan truyền nhanh chóng đã

làm mất lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài Dòng vốn đầu tư nước ngoài đột

Trang 34

ngột rút khỏi Hàn Quốc trong khi dự trữ ngoại tệ của quốc gia đang bị thiếu hụt đã làm mất tính thanh khoản của hệ thống tài chính làm cho nền kinh tế càng khó hơn

Cách xử lý nợ xấu của Chính phủ và ngân hàng ở Hàn Quốc

Để giải quyết tình trạng trên, đầu tiên Chính phủ Hàn Quốc tiến hành tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Khi hệ thống ngân hàng được lành mạnh thì các ngân hàng

sẽ đi đầu trong việc tái cơ cấu các doanh nghiệp

Vào tháng 12/1997, Chính phủ Hàn Quốc quyết định chuyển sang chế độ tỷ giá thả nổi đồng thời tăng lãi suất ngắn hạn lên 30% để ổn định giá trị đồng Won và duy trì sự cân bằng trong dự trữ ngoại tệ

Vào đầu năm 1998, Chính phủ đã đình chỉ hoạt động của một số ngân hàng Sau đó, Chính phủ đã chỉ đạo 5 ngân hàng khác tiếp quản 5 ngân hàng nhỏ Nếu có

sự định giá quá cao của những tài sản có vấn đề, các ngân hàng thanh toán sẽ có 6 tháng để bán chúng cho Công ty xử lý tài sản KAMCO Các ngân hàng có thể tiếp tục hoạt động lên kế hoạch cải tổ phục hồi và được tái cấp vốn Chính phủ kích thích sáp nhập bằng cách hỗ trợ tài chính và lợi ích về thuế cho các ngân hàng Chính phủ yêu cầu hai ngân hàng lớn gặp khó khăn đánh giá lại vốn được ủy quyền gần bằng 80%

và quốc hữu hóa cả hai sau đó Bên cạnh đó, Chính phủ tham gia vào tái cơ cấu vốn ngân hàng bằng cách cung cấp những khoản vay lệ thuộc, mua cổ phiếu ưu đãi hoặc bán trái phiếu chính phủ Vào cuối năm 1998, Chính phủ Hàn Quốc đã nắm giữ 75% vốn trong khu vực ngân hàng

NPLs đã trở thành vấn đề nghiêm trọng nhất trong suốt cuộc khủng hoảng 1997-1998 ở Hàn Quốc Cuối năm 1998, chúng được ước tính vào khoảng 27% GDP Chính phủ đã thành lập công ty quản lý tài sản KAMCO để xử lý những khoản nợ này; và cả công ty quản lý nguồn vốn Chính phủ cũng quyết định các ngân hàng nên làm sạch 85% tổng nợ xấu (NPLs) trong bản cân đối kế toán của họ ngay lập tức Điều này đã được thực hiện bằng những cách sau:

1) Ngân hàng phải tống khứ 50% NPLs của họ bằng cả việc bán các tài sản thế chấp và cả việc đòi nợ

Trang 35

2) 50% còn lại phải được bán cho KAMCO Theo đó, KAMCO mua các khoản nợ xấu từ những ngân hàng với giá thị trường (36% mệnh giá NPLs) KAMCO

sẽ thanh toán bằng trái phiếu do công ty phát hành được đảm bảo bởi Chính phủ nhằm giảm thiểu việc ghi bằng tiền mặt Bằng cách này, các khoản nợ xấu của những ngân hàng được thay thế bằng tài sản an toàn, cụ thể là trái phiếu được đảm bảo bởi Chính phủ

Một số ngân hàng Hàn Quốc bán tài sản có vấn đề trực tiếp cho các nhà đầu tư quốc tế Cuối năm 2002, tỷ lệ NPLs trên tổng số nợ ngân hàng đã giảm 2.3% Tháng

11 năm 2002, KAMCO đã xử lý 2/3 khoản nợ mà nó đã mua

Cuối năm 1998, các ngân hàng và các tổ chức tài chính và phi ngân hàng Hàn Quốc đã ký Hiệp định Tái cơ cấu để theo đuổi các tiêu chuẩn về thủ tục thu hồi nợ và

để tạo sự bình đẳng thật sự cho tất cả chủ nợ trong quá trình tái cơ cấu

Các kết quả đạt đƣợc sau những nỗ lực của Chính phủ Hàn Quốc

Với những chính sách đúng đắn của Chính phủ Hàn Quốc, nợ xấu ở khu vực ngân hàng giảm xuống nhanh chóng, từ 8,3% từ cuối năm 1998 xuống còn 2,3% vào cuối năm 2002 và đến năm 2005 chỉ còn 1% Hai mươi ngân hàng vượt qua được cơn khủng hoảng đã có lợi nhuận, cung cấp dịch vụ ngân hàng tốt hơn (kinh doanh chứng khoán và bảo hiểm…), và mở rộng quy mô thông qua việc mở rộng và sáp nhập

Việc tái cơ cấu ngành ngân hàng và tư nhân hóa các ngân hàng thuộc sở hữu Chính phủ làm cho vai trò của Chính phủ trong ngành Ngân hàng giảm dần Giới hạn sở hữu vốn của người nước ngoài đối với các ngân hàng trong nước đã được dỡ

bỏ giúp cho các ngân hàng có nguồn vốn dồi dào và tạo điều kiện phát triển mạnh

mẽ hơn

Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:

Dựa theo cách xử lý nợ xấu ở Hàn Quốc, ta có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xử lý nợ xấu trong khu vực NHTM:

Trang 36

- Xác định được hướng đi đúng trong việc xử lý nợ xấu: phải kết hợp tái cấu trúc khu vực ngân hàng và tái cấu trúc khu vực doanh nghiệp Một khi khu vực

ngân hàng khỏe mạnh sẽ giúp cho việc cơ khu vực doanh nghiệp dễ dàng hơn

- Chính phủ đã đề nghị các ngân hàng lớn, có tiềm lực tài chính mua lại các ngân hàng yếu kém, mạnh tay giải thể hoặc quốc hữu hóa các ngân hàng sắp

thành các tài sản an toàn (trái phiếu được đảm bảo bởi Chính phủ)

1.3.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ kinh nghiệm xử lý nợ xấu của

chắn sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống tài chính của quốc gia

- Hệ thống ngân hàng cần được giám sát chặt chẽ hơn, cần được nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành và tăng cường tính minh bạch trong các hoạt động kinh

doanh

Trang 37

- Chính phủ phải kết hợp tái cấu trúc khu vực ngân hàng và tái cấu trúc khu vực doanh nghiệp Theo kinh nghiệm của Hàn Quốc thì khi khu vực ngân hàng khỏe mạnh sau khi đã được cơ cấu lại sẽ giúp cho việc cơ cấu khu vực doanh

bảo bởi Chính phủ) Mà điều này Việt Nam có thể học tập

Trang 38

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Như vậy, trong chương đầu tiên của bài nghiên cứu, những khái niệm cơ bản, chức năng, đặc điểm, và vai trò của hệ thống ngân hàng trên Thế giới và Việt Nam đã được làm rõ Đặc biệt trong chương này nhóm chúng tôi cũng làm rõ khái niệm mợ xấu, nhấn mạnh vào cách phân loại nợ xấu của các quốc gia trên thế giới, từ đó cho thấy sự khác nhau giữa cách phân loại nợ của họ và của nước ta

Với những thành công nhất định trong việc xử lý nợ xấu của hệ thống tài chính một số nước trên thế giới (Mỹ, Trung Quốc, và Hàn Quốc) khi khủng hoảng kinh tế xảy ra ở những năm trước đây, nhóm chúng tôi cũng đã rút ra được một số bài học kinh nghiệm quý báu trong việc xử lý nợ xấu cho Việt Nam

Sau khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra vào năm 2008, Việt Nam là một quốc gia đang phải đối mặt với tình trạng nợ xấu đang gia tăng nhanh chóng trong hệ thống ngân hàng, đặc biệt là các NHTM Vì vậy, vấn đề nợ xấu trở thành đề tài nóng hổi và thật sự đáng quan tâm Để hiểu rõ điều này, chúng tôi tiếp tục tìm hiểu thực trạng dư nợ tín dụng và nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam nói chung

và NHTM trên địa bàn Tp.HCM nói riêng trong chương 2

Trang 39

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỢ XẤU VÀ CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU

CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM

2.1 Những quy định pháp lý liên quan đến an toàn trong hoạt động tín dụng

và xử lý nợ của NHTM

Quy định về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của các TCTD

Luật các TCTD số 47/2010/QH12 quy định về việc thành lập, tổ chức, hoạt động của các TCTD ngày hiệu lực 1/1/2011

Nghị định 141/2006/NĐ-CP ban hành ngày 21/11/2006 quy định mức vốn pháp định của TCTD tùy theo loại hình khác nhau, trong đó NHTM phải có mức vốn pháp định ít nhất 3 000 tỷ đồng tại thời điểm 31/12/2010

Quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu ở các NHTM

Theo Luật các TCTD 2010, thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010 và thông tư số 19/2010/TT-NHNN sửa đổi và bổ sung một số điều của thông tư 13 quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các TCTD Theo đó tỷ lệ đảm bảo

an toàn trong hoạt động của các tín dụng (CAR: 9%, cho vay/huy động: tối đa 80%)

Ban hành các quy định về việc trích lập dự phòng các khoản cho vay

Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ban hành quy định về phân loại nợ trích lập

và sử dụng dự phòng để xử ý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD

Trong vấn đề xử lý nợ, NHNN ban hành quy định về công tác gia hạn nợ,

điều chỉnh kỳ hạn trả nợ cho các đối tượng

Theo điều 22 quyết định số1627/2001/QĐ-NHNN và Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN sửa đổi bổ sung Quyết định 1627 về việc gia hạn nợ vay, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ cho khách hàng

NHNN ban hành dự thảo thông tư thay thế quyết định 59/2006/QĐ-NHNN về

quy chế mua, bán nợ của các TCTD

Trang 40

Thông tư số 15/2010/TT-NHNN quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro cho vay trong hoạt động của các tổ chức tài chính quy

mô nhỏ

2.2 Tổng quan về hoạt động kinh doanh của NHTM Việt Nam trên địa bàn

Tp.HCM

2.2.1 Sơ lƣợc về hệ thống NHTM Việt Nam

Hệ thống NHTM Việt Nam được thành lập vào ngày 06/05/1951 với tên Ngân hàng quốc gia Việt Nam, đến năm 1961 đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho đến nay Từ khi thành lập đến 26/03/1988, hệ thống NHTM Việt Nam là mô hình ngân hàng một cấp, vừa thực hiện chức năng, nhiệm vụ điều tiết kinh tế vĩ mô của NHTW vừa thực hiện hoạt động kinh doanh của NHTM Từ tháng 04/1988 đến nay,

hệ thống này chuyển đổi thành hệ thống ngân hàng hai cấp, cấp một là NHNN Việt Nam thực hiện chức năng NHTW, cấp hai là các NHTM, TCTD kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng

Hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay (số liệu của NHNN Việt Nam đến ngày 31/12/2011) bao gồm các loại hình:

- NHTM nhà nước: thành lập bằng 100% vốn ngân sách nhà nước hiện nay có 5 ngân hàng thuộc loại hình này Trong đó Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam là ngân hàng lớn nhất với vốn điều lệ 20 708 tỷ đồng

- NHTM cổ phần: là NHTM được thành lập dưới hình thức cổ phần giữa nhà nước và nhân dân Một cá nhân hay pháp nhân được sở hữu một số cổ phần nhất định theo quy định của NHNN Việt Nam Có 35 ngân hàng thuộc loại hình này

- Ngân hàng liên doanh: hoạt động theo hợp đồng liên doanh giữa một bên là NHTM Việt Nam và một bên là NHTM nước ngoài có trụ sở tại Việt Nam Hiện có 4 ngân hàng liên doanh

- Chi nhánh NHNNg: có 50 chi nhánh

Ngày đăng: 22/12/2013, 16:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1:  Diễn biến tình hình tăng vốn và tăng tổng tài sản của hệ thống  NHTMCP có Hội sở chính tại Tp.HCM từ năm 2006-2011 - Đề xuất các biện pháp quản lý và xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại cổ phần có trụ sở chính ở tphcm
Bảng 2.1 Diễn biến tình hình tăng vốn và tăng tổng tài sản của hệ thống NHTMCP có Hội sở chính tại Tp.HCM từ năm 2006-2011 (Trang 45)
Bảng 2.2:  Tăng trưởng tín dụng của hệ thống NHTM tại Tp.HCM - Đề xuất các biện pháp quản lý và xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại cổ phần có trụ sở chính ở tphcm
Bảng 2.2 Tăng trưởng tín dụng của hệ thống NHTM tại Tp.HCM (Trang 52)
Bảng 2.3:  Tăng trưởng tín dụng của hệ thống NHTMCP có Hội sở chính tại địa bàn Tp.HCM - Đề xuất các biện pháp quản lý và xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại cổ phần có trụ sở chính ở tphcm
Bảng 2.3 Tăng trưởng tín dụng của hệ thống NHTMCP có Hội sở chính tại địa bàn Tp.HCM (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w