Phân tích chính sách giáo dục của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1.Khái niệm giáo dục, chính sách giáo dục và truyền thống giáo dục Việt Nam2. Chính sách giáo dục của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trước thời kì đổi mới3. Chính sách giáo dục của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kì đổi mới
Trang 1Phân tích chính sách giáo dục của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam
1 Khái niệm giáo dục, chính sách giáo dục và truyền thống giáo dục Việt Nam:
Giáo dục là quá trình hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến
sự phát triển tinh thần, thể chất của con người nhằm tạo ra những phẩm chất
và năng lực cần thiết của con người phù hợp với yêu cầu của xã hội Giáo dục là quá trình dạy, rèn luyện và học tập nhằm nâng cao tri thức khoa học
và kĩ năng nghe nghiệp
Chính sách giáo dục là những định hướng, những nguyên tắc cơ bản trong việc xác định mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, nội dung, phương pháp giáo dục và tổ chức hệ thống giáo dục, đào tạo
Việt Nam là một đất nước có truyền thống hiếu học và là một trong những quốc gia có trường đại học sớm nhất trên thế giới
-Vào năm 1075 (năm ất mão) vua Lý Nhân Tông đã xuống chiếu tuyển minh kinh bác học và thi Nho học tam trường tuyển nhân tài cho đất nước
-Năm 1076 vua Lý Nhân Tông cho mở Quốc Tự Giám ở ngay phía sau văn miếu tuyển chọn con em hoàng tộc và quan lại triều đình cho vào học Quốc Tự Giám là trường đại học đầu tiên ở nước ta
-Năm 1077, dưới thời vua Lý Nhân Tông đã có “kì thi lại viên bằng phép viết chữ, phép tính và hình luật”
-Đến triều Hậu Lê năm 1442 vua Lê Thái Tông đã cho khắc tên các tiến
sĩ vào bia đá dựng ở Quốc Tự Giám
Trang 2- Thời vua Lê Thánh Tông triều đình đã định rõ thể loại thi cử: thi Hương
ở các đạo, thi Hội, thi Đình ở kinh đô, cứ 3 năm tổ chức một kì thi
- Nhà Hậu Lê với 354 năm tồn tại (1428- 1788) gắn liền với tên tuổi của nhiều nhà khoa bảng nổi tiếng có công lao với đất nước như Nguyễn Trải, Nguyễn Trực, Ngô Sĩ Liên, Lê Qúy Đôn,
- Trong thời kì thực dân Pháp đô hộ nhà nước không còn độc lập nền giáo dục quốc gia theo đúng nghĩa của nó cũng không còn (90% dân số nước ta mù chữ)
2 Chính sách giáo dục của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trước thời kì đổi mới:
Sau cách mạng tháng tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, việc chống nạn mù chữ việc chống nạn mù chữ được chủ tịch Hồ Chí Minh coi là một trong những nhiệm vụ cấp bách hàng đầu Người đã nói “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” Vì vậy người đã đề nghị với Chính Phủ mở chiến dịch chống nạn mù chữ với phương châm
“những người biết chữ dạy cho người chưa biết chữ”
Ngày 8/9/1945 Chính Phủ đã ra sắc lệnh những người chưa biết chữ quốc ngữ phải học chữ quốc ngữ
Sắc lệnh nêu rõ trong khi chờ đợi lập được nền tiểu học cưỡng bách, việc học chữ quốc ngữ từ đây bắt buộc và không mất tiền cho mọi người Hạn trong một năm toàn thể dân chúng trên 8 tuổi ai chưa biết chũ phải học để biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ Quá hạn sẽ bị phạt tiền
Ngày 8/9/1945 chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí sắc lệnh số 17/SL thành lập Ban bình quân học vụ trên toàn cõi Việt Nam (do ông Nguyễn Công Mỹ làm giám đốc)
Ngày 10/10/1945 chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh số 44/SL thành lập Hội đồng cố vấn học chính gồm khoảng 30 thành viên lựa chọn trong
Trang 3giáo giới và các đoàn thể chính trị, văn hóa do Bộ trưởng Bộ quốc gia giáo dục làm chủ tịch
Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập, Chính phủ đã chú trọng phát triển giáo dục phổ thông thành một nền giáo dục đại chúng Vì thế, tháng 9/1945 các trường phổ thoonh từ tiểu học đến trung học được nhanh chóng thành lập
Trong thủ gửi các học sinh trong ngày khai trường đầu tiên của năm học khi nước nhà độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “ non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”
Từ năm 1945 trở đi học sinh các trường phổ thông được tiếp tục học theo chương trình cải tạo của ông Hoàng Xuân Hãn (đã vạch ra trong thời kì chính phủ Trần Trọng Kim với một số điều chỉnh cho thích hợp với tình hình và yêu cầu mới)
Ngày 8/9/1945 Chính Phủ ban hành Sắc lệnh số 16/SL thành lập ngạch thanh tra học vụ
10/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh số 45/SL thành lập trường Đại học văn hóa ở Hà Nội và cử Đặng Thai Mai làm giám đốc
Ngày 9/11/1946 Quốc hội khóa I của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
đã thông qua bản Hiến pháp năm 1946 (Hiến pháp đầu tiên ở nước ta) Chính sách giáo dục đã được thể chế hóa trong Điều 15 của Hiến pháp
“Nền sơ học cưỡng bách và không học phí Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình Học trò nghèo được Chính phủ giúp Trường tư được mở tự do và dạy theo chương trình nhà nước”
Trang 4Tháng 7/1951 Đại hội giáo dục toàn quốc được triệu tập tại chiến khu Việt Bắc Đại hội xác định phương châm giáo dục là phục vụ kháng chiến, chủ yếu là tiền tuyến, phục vụ nhân dân, chủ yếu là công, nông, binh Đến năm 1952 có khoảng 14 triệu người đã thoát nạn mù chữ Đến tháng 9/1953 có 14450 lớp bổ túc văn hóa với 335946 học viên Những
nổ lực của Chính phủ và nhân dân ta đã làm cho nhiệm vụ chống nạn mù chữ đã đạt được thành tựu to lớn
Trong những năm đầu của thập kỉ 50, Chính phủ đã thực hiện chương trình cải cách giáo dục nhằm củng cố và phát triển hệ thống giáo dục quốc dân Chính phủ đã chỉ đạo Bộ quốc gia giáo dục ban hành một số văn bản pháp luật sau đây để điều chỉnh hệ thống giáo dục đào tạo:
- Nghị quyết số 234/NĐ ngày 1/10/1951 của Bộ giáo dục quốc gia thành lập Khu học xá trung ương gồm 3 trường: Trường khoa học cơ bản, Trường sư phạm cao cấp, Trường sư phạm trung cấp trung ương
- Nghị quyết số 276/NĐ ngày 11/10/1951 của Bộ quốc gia giáo dục về việc bãi bỏ Ban sư phạm Đại học khoa học và thành lập Trường sư phạm cao cấp để đào tạo giáo viên cấp III cho các trường phổ thông gồm 3 ban là toán, lí, hóa
- Nghị định số 277/NĐ ngày 11/10/1951 về việc mở các lớp dự bị đại học 1 năm vào đầu năm học 1952 tại Liên khu IV
- Thông qua số 49/TT- TKV ngày 30/10/1951 của Bộ quốc gia giáo dục quy định tổ chức trường phổ thông 9 năm
- Nghị định số 88/Nđngày 5/4/1952 của Bộ quốc gia giáo dục quy định việc tổ chức và chế độ các trường tư thục
- Nghị định số 201/NĐ ngày 19/6/1952 của Bộ quốc gia giáo dục quy định việc tổ chức và chế độ các trường chuyên nghiệp
Trang 5- Nghị định số 259/NĐ ngày 20/8/1952 của Bộ quốc gia giáo dục quy định tổ chức các trường phổ thông lao động
- Nghị định số 366/NĐ ngày 19/11/1952 của Bộ quốc gia giáo dục quy định tổ chức các trường sư phạm trung cấp
- Nghị định số 367/NĐ ngày 9/11/1952 của Bộ quốc gia giáo dục quy định việc tổ chức các trường sư phạm sơ cấp
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơ-ne- vơ được kí kế, hòa bình được lập lại ở Đông Dương, miền bắc hoàn toàn giải phóng, nhiệm vụ giáo dục được Chính phủ đặt ra một cách sát thực tế:
- Phát triển giáo dục phổ thông
- Phát triển giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp
- Thanh toán nạn mù chữ và tiếp tục phát triển bổ túc văn hóa
- Phát triển giáo dục miền núi
- Ổn định tình hình và phát triển giáo dục đối với học sinh miền Nam tập kết
Năm 1956 ba trường đại học lớn ở Hà Nội được Chính phủ thành lập: Đại học tổng hợp Hà Nội, Đại học bách khoa Hà Nội, Đại học nông lâm
Cuối năm 1959 do tình hình đất nước thay đổi, Quốc hội khóa I, kì hợp thứ 11, ngày 31/12/1959 đã thông qua hiến pháp năm 1959 thay thế hiến pháp năm 1946 Chính sách giáo dục thể hiện trong hiến pháp năm 1959 là sự tiếp tục chính sách giáo dục của hiến pháp năm 1946:
“Cộng dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền học tập Nhà nước thực hiện từng bước chế độ giáo dục cưỡng bách, phát triển dần các trường học và cơ quan văn hóa, phát triển các hình thức giáo dục
bổ túc văn hóa, kĩ thuật nghiệp vụ, tại các cơ quan xí nghiệp và các tổ
Trang 6chức khác ở thành thị và nông thôn để đảm bảo cho công dân có thể hưởng các quyền đó”
Năm 1965, trước tình hình đế quốc Mỹ tăng cường chiến tranh xâm lược miền Nam và mở rộng chiến tranh bằng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc, để quản lí tốt hơn cộng tác giáo dục trong điều kiện đất nước có chiến tranh, theo đề nghị của Hội đồng Chính phủ,
Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã quyết định tách Bộ giáo dục thành hai
bộ là Bộ giáo dục và Bộ đại học và trung học chuyên nghiệp Mặc dù trong điều kiện đất nước có chiến tranh và còn bị chia cắt nhưng giáo dục ở miền Bắc vẫn không ngừng phát triển, cụ thể: “về giáo dục phổ thông năm học 1970- 1971 toàn miền Bắc có 10897 trường, 132631 giáo viên và 4359700 thì năm học 1971-1972 tăng lên 11080 trường,
141550 giáo viên và 4585600 hoc sinh và đặc biết năm học
1972-1973 là năm học chiến tranh phá hoại rất khốc liệt thì số trường học vẫn tang lên đến 11226 trường, số giáo viên là 150531, số học sinh là
4680500 Năm học 1972-1973 ở miền Bắc đã có 36 trường Đại học với 7697 giáo viên, 53760 sinh viên”
Ngày 10/11/1979 Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định số 405-CP thành lập Trường đại học pháp lí Hà Nội Nay là trường Đại học Luật
Hà Nội Đây được coi là trung tâm giảng dạy, trung tâm nghiên cứu
và trung tâm truyền bá khoa học luật lớn nhất ở Việt Nam hiện nay Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng và thống nhất đất nước Hiến pháp năm 1980 xác định học tập không những là quyền mà còn là nghĩa vụ của công dân Hiến pháp năm 1980 qui định Nhà nước thực hiện chế độ học không phải trả tiền và chính sách cấp học bổng, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân học tập
Trang 7Hiến pháp năm 1992 chính sách giáo dục qui định từ năm học
1981-1982 các trường phổ thông trong cả nước thống nhất chuyển sang hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm
Để tôn vinh nghề giáo, ngày 28/9/1982 Hội đồng bộ trưởng đã ra Quyết định số 167-HĐBT lấy ngày 20-11 hằng năm làm ngày nhà giáo Việt Nam Ngày 20/11/1984 Hội đồng bộ trưởng đã ra Nghị định
số 133- HĐBT qui định các danh hiệu nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu
tú để phong tặng các giáo viên từ cấp mầm non đến đại học có nhiều cống hiến cho sự nghiệp giáo dục
3 Chính sách giáo dục của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kì đổi mới:
Hiến pháp năm 1992 xác định mục tiêu của chính sách giáo dục là: “Nhà nước và xã hội phát triển chính sách giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân; đào tạo những người lao động có nghề, năng động và sang tạo, có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giàu, nước mạnh, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 đã xác định nguyên tắc và nội dung cơ bản của chính sách giáo dục:
- Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu Điều 35
- Nhà nước quản lí hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn giáo viên, qui chế thi cử
và hệ thống văn bằng Điều 36
- Nhà nước phát triển cân đối hệ thống giáo dục gồm giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và sau đại học Điều 36
Trang 8- Thức hiện giáo dục phổ cập trung học cơ sở trước năm 2001 là phổ cập giáo dục bậc tiểu học điều 36
- Phát triển các hình thức trường quốc lập, dân lập và các hình thức giáo dục khác Điều36
- Nhà nước ưu tiên cho giáo dục và khuyến khích các nguồn đầu tư khác Điều 36
- Nhà nước thực hiện chính sách ưu tiên bảo đảm phát triển giáo dục miền núi, các vùng dân tộc thiểu số và các vùng đặc biệt khó khan Điều 36
- Các đoàn thể nhân dân trước hết là đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế, gia đình cùng nhà trường có trách nhiệm giáo dục thanh thiếu niên và nhi đồng Điều 36 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 kế thừa những qui định hợp lí của Hiến pháp năm 1980 như học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân, Nhà nước có chính sách học bỗng đồng thời qui định rõ hơn, cụ thể hơn chính sách giáo dục của nhà nước như công dân có quyền học văn hóa và học nghề bằng nhiều hình thức; học sinh có năng thiếu được nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập để phát triển tài năng; nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ e khuyết tật, trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác được học văn hóa và học nghề phù hợp Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 đã chỉnh sửu lại những qui định không phù hợp như: “Chế độ học không phải trả tiền” và “nhà nước từng bước thực hiện chế độ phổ thông bắt buộc” bằng qui định chỉ có “ bậc tiểu học là bắt buộc và không phải trả tiền còn các cấp bậc học khác điều có chế độ học phí”
Sau khi Hiến pháp năm 1992 ban hành, Quốc hội khóa IX, kì họp thứ nhất từ ngày 20/9/1992 đến 8/10/1992 đã phê chuẩn tổ chức bộ máy
Trang 9của Chính phủ theo hướng làm cho bộ máy nhà nước gọn nhẹ hơn, do
đó Bộ giáo dục và Bộ đại học & trung học chuyên nghiệp được nhập lại thành Bộ giáo dục và đào tạo
Trong giai đoạn 1992-1997 thực hiện Nghị quyết lần thứ IV của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VII về văn hóa, giáo dục đào tạo, chính phủ đã quyết định thành lập hai trung tâm đào tạo đại học và sau đại học lớn của quốc gia là Đại học quốc gia Hà Nội và Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, một số trường Đại học dân lập, đại học mở; thành lập Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia, nâng cấp một số trường trung học thành cao đẳng và xây dựng ba trưởng phổ thông trung học chất lượng cao ở Hà Nội, Huế, thành phố Hồ Chí Minh Theo Nghị quyết của Thủ tướng Chính phủ ngày 17/11/1997 về chế
độ phụ cấp ưu đãi đối với giáo viên đang trức tiếp giảng dạy trong các trường công lập; quyết định của của Thủ tướng Chính phủ ngày 23/12/1997 về học bỗng và trợ cấp xã hội đối với học sinh, sinh viên các trường đào tạo công lập; Quyết định ngày 14/1/1998 của Thủ tướng Chính phủ về thành lập Hội đồng quốc gia giáo dục; Nghị quyết của Chính phủ ngày 9/12/2000 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
Bước sang thế kỉ XXI,chính sách giáo dục của Việt Nam phải hướng đến mục tiêu tạo ra những tạo ra những chuyển biến cơ bản để không tụt hậu so với các nước trên thế giới và trong khu vực Và để đạt được mục tiêu trên chính sách giáo dục phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản mà Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (Năm 2006) đã chỉ ra:
- Đổi mới giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức, cơ chế quản lí để
Trang 10tạo ra được chuyển biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nước nhà, tiếp cận với trình độ giáo dục của khu vực và thế giới; khắc phục cách đổi mới chấp vá, thiếu tầm nhìn tổng thể, thiếu kế hoạch, thiếu
sự đồng bộ
- Phấn đấu xây dựng nền gióa dục hiện đại của dân, do dân và vì dân, bảo đảm công bằng về cơ hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội có thể học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Ưu tiên hàng đầu cho công việc nâng cao chất lượng dạy và học
- Coi trọng bồi dưỡng cho học sinh, sinh viên khát vọng mãnh liệt xây dựng đất nước giàu mạnh, gắn liền lập nghiệp của bản thân với tương lai của cộng đồng, của dân tộc, trao dồi cho học sinh, sinh viên bản lĩnh, phẩm chất, lối sống của thế hệ trẻ Vệt Nam hiện đại
- Triển khai thực hiện hệ thống kiểm định khách quan, trung thực chất lượng giáo dục đạo tạo
- Hoàn thành và ổn định lâu dài hệ thống giáo dục quốc dân; chú trọng phân luồng đào tạo sau trung học cơ sở, đảm bảo liên thông giữa các cấp đào tạo Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học, tạo chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng đào tạo Xúc tiến xây dựng một số trường đại học của Việt Nam đạt đẳng cấp quốc tế, đào tạo nhân tài cho đất nước
- Mở rộng qui mô dạy nghề và trung học chuyên nghiệp, đảm bảo tốc
độ tăng nhanh hơn đào tạo đại học, cao đẳng
- Phát triển rộng khắp và nâng cao chất lượng các trung tâm giáo dục cộng đồng
- Tích cực triển khai các hình thức đào tạo từ xa