Quỹ đầu tư dạng đóng: Quỹ đầu tư dạng đóng Closed – end fund là quỹ đầu tư có lượng chứng chỉ quỹ cố định và chứng chỉ quỹ đã phát hành không được mua lại theo yêu cầu của nhà đầ
Trang 1GVHD: TS.THÂN THỊ THU THỦY
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUỸ ĐẦU TƯ CHỈ SỐ 4
Quỹ đầu tư: 4
Khái niệm quỹ đầu tư: 4
Phân loại quỹ đầu tư: 4
Quỹ đầu tư chỉ số (index fund): 7
Định nghĩa quỹ đầu tư chỉ số: 7
Phân loại quỹ đầu tư chỉ số: 7
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ QUỸ ĐẦU TƯ ĐIỂN HÌNH TRÊN THẾ GIỚI 10
Quá trình hình thành quỹ đầu tư trên thế giới 10
Các quỹ đầu tư chỉ số tiêu biểu tại Mỹ 11
Quỹ đầu tư dạng mở tại Mỹ 11
Quỹ đầu tư dạng ETF tại Mỹ 12
Một số chỉ số nổi tiếng trên thế giới 14
CHƯƠNG 3: QUỸ ĐẦU TƯ CHỈ SỐ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 16
FTSE Vietnam Index ETF: 16
3.1.The Market Vector Vietnam ETF (ký hiệu: VNM): 18
Tác động của ETF đối với thị trường chứng khoán Việt Nam: 20
CHƯƠNG 4: Ý NGHĨA CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỈ SỐ 21
Vai trò của quỹ đầu tư chỉ số: 21
Ý nghĩa của quỹ đầu tư chỉ số: 24
Hạn chế của quỹ đầu tư chỉ số: 24
KẾT LUẬN 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
Đề tài: Quỹ đầu tư chỉ số tại Việt Nam Nhóm 4 – NH Đêm 6, K20 1/28
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
…………
Tp Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2012
Giáo viên hướng dẫn
TS THÂN THỊ THU THỦY
Trang 3DANH SÁCH NHÓM
1 VÕ THỊ NHƯ QUỲNH
2 TRƯƠNG THỊ TRANG THANH
3 NGUYỄN THỊ THU TRANG
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUỸ ĐẦU TƯ CHỈ SỐ
1.1 Quỹ đầu tư:
1.1.1 Khái niệm quỹ đầu tư:
Quỹ đầu tư là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư vào các tài sản (chứng khoán, bấtđộng sản, vàng, ngoại tệ và các công cụ phái sinh) nhằm mục đích lợi nhuận, trong đó nhàđầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định của quỹ đầu tư Cáccông ty quản lý quỹ gom tiền của nhà đầu tư và đầu tư theo các tiêu chí và mục tiêu của quỹ
1.1.2 Phân loại quỹ đầu tư:
Dưạ vào tiêu chí cách thức phát hành và giao dịch chứng chỉ quỹ đã phát hành thì quỹ đầu
tư được chia thành ba loại quỹ đầu tư: quỹ đầu tư dạng đóng, quỹ đầu tư dạng mở và quỹ đầu
tư dạng ETF
Dựa vào tiêu chí số lượng nhà đầu tư sở hữu chứng chỉ quỹ thì quỹ đầu tư được chiathành hai loại là quỹ đầu tư thành viên và quỹ đầu tư đại chúng
1.1.1.1 Quỹ đầu tư dạng đóng:
Quỹ đầu tư dạng đóng (Closed – end fund) là quỹ đầu tư có lượng chứng chỉ quỹ cố định
và chứng chỉ quỹ đã phát hành không được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư Chứng chỉquỹ đã phát hành được chuyển nhượng giữa các nhà đầu tư Khi quỹ đóng được niêm yết, nóđược giao dịch trong suốt thời gian mở cửa của thị trường tại các Sở giao dịch chứng khoán.Giá giao dịch của chứng chỉ quỹ đóng trên thị trường ảnh hưởng lớn bởi cung cầu chứng chỉquỹ trên thị trường và thường có sự khác biệt lớn với giá trị tài sản ròng một chứng chỉ quỹ.Vì lý do này, quỹ đóng dù có danh mục bám sát chỉ số thị trường chỉ có thể tạo tài sản ròng
Trang 5của một chứng chỉ quỹ diễn biến cùng nhịp điệu với chỉ số thị trường nhưng nhà đầu tưkhông thể hiện thực hóa lôi nhuận tại mức sinh lợi tương đương chỉ số (do nhà đầu tư thườngkhông thể giao dịch chứng chỉ quỹ trên thị trường với giá xấp xỉ tài sản ròng một chứng chỉquỹ) Vì vậy, trong thực tế quỹ đầu tư chỉ số hoạt động tại các nước trên thế giới không tồntại dưới dạng đóng mà chỉ dưới dạng quỹ mở hoặc quỹ ETF Quỹ dạng đóng có ưu thế là nhàđầu tư dễ dàng giao dịch liên tục trong ngày nhưng có hạn chế là chi phí hoa hồng lớn, giágiao dịch chứng chỉ quỹ chênh lệch khá nhiều so với giá trị tài sản ròng một chứng chỉ quỹ.
1.1.1.2 Quỹ đầu tư dạng mở (open-end fund):
Quỹ tương hổ (mutual fund) là tên thông dụng của quỹ mở Quỹ mở là tên pháp lý củaquỹ tương hổ Quỹ đầu tư dạng mở là quỹ đầu tư mà chứng chỉ quỹ đã phát hành phải đượcmua lại hoặc bán ra theo yêu cầu của nhà đầu tư Quỹ đầu tư dạng mở giao dịch (bán ra hoặcmua lại) chứng chỉ quỹ với nhà đầu tư theo giá trị tài sản ròng một chứng chỉ quỹ căn cứ vàomức giá đóng cửa của ngày giao dịch Sau khi giá trị tài sản ròng một chứng chỉ quỹ đượctính toán cuối ngày, quỹ sẽ dùng mức giá này để mua chứng chỉ quỹ từ nhà đầu tư cần tiềnhoặc bán cho nhà đầu tư cần chứng chỉ quỹ Nếu có nhiểu người mua hơn người bán, quỹ sẽtạo ra chứng chỉ quỹ mới tại mức mua chứng chỉ quỹ tại mức giá tài sản ròng một chứng chỉquỹ Ưu điểm của quỹ đầu tư dạng mở là cho phép công ty quản lý quỹ tạo ra và thu hồichứng chỉ quỹ theo yêu cầu của nhà đầu tư Hạn chế của quỹ mở là nhà đầu tư và công tyquản lý quỹ khi giao dịch chứng chỉ quỹ một lần trong ngày căn cứ vào mức giá cuối ngàygiao dịch
1.1.1.3 Quỹ đầu tư dạng ETF (Exchange Traded Fund):
Trang 6Quỹ ETF là quỹ lai nhằm phát huy tất cả ưu điểm giữa quỹ đóng và quỹ mở Quỹ ETFxuất hiện từ những năm 1990 và ngày càng trở nên phổ biến
Quỹ ETF giống quỹ mở ở chỗ giá trị giao dịch xoay quanh giá trị tài sản ròng của quỹ docác nhà đầu tư kinh doanh chênh lệch không rủi ro (Arbitrade) Vì thế, quỹ ETF có mức sinhlợi bám sát theo danh mục tiêu chuẩn
Quỹ ETF giống quỹ đóng ở việc chúng được giao dịch thường xuyên trong suốt thời gianmở cửa của Sở giao dịch chứng khoán
Để thực hiện sự kết họp hoàn hảo này, quỹ ETF không bán trực tiếp cho nhà đầu tư màthông qua tổ chức tham gia được cho phép Nhà đầu tư giao dịch chứng chỉ quỹ với công tymội giới
Không những thế, quỹ ETF có thể được một công ty quản lý quỹ thành lập dưới dạng mộtđơn vị đầu tư (unit investment trust) hoặc quỹ ETF được tổ chức dưới dạng một công ty đầu
tư (investment company)
Quỹ đầu tư dạng ETF gồm bốn dạng: quỹ ETF chỉ số chứng khoán, quỹ ETF chủ động,quỹ ETF hàng hóa và quỹ ETF của quỹ
1.1.1.4 Quỹ đại chúng:
Quỹ đại chúng là quỹ phát hành chứng khoán rộng rãi ra công chúng Tùy theo nhữngquy định của từng quốc gia về tiêu chuẩn để trở thành quỹ đại chúng về quy mô nhà đầu tưmua chứng chỉ quỹ, số vốn ban đầu và một số tiêu chuẩn khác Để đảm bảo quyền lợi nhàđầu tư, luật và các quy định của các nước về chứng khoán và luật về quỹ đầu tư thường yêucầu quỹ đại chúng phải công bố thông tin đầy đủ và kịp thời
1.1.1.5 Quỹ thành viên:
Trang 7Quỹ thành viên là quỹ có số thành viên tham gia góp vốn là tổ chức có tư cách pháp nhânhoặc các nhân nhưng số lượng thành viên không vượt quá một con số tùy thuộc vào luật phápcủa từng nước Do số lượng thành viên có hạn, vấn đề về công bố thông tin về hoạt động củaquỹ thành viên theo luật pháp của các nước thường ít chặt chẻ hơn so với các quỹ đại chúng.
Quỹ đầu tư chỉ số (index fund):
Định nghĩa quỹ đầu tư chỉ số:
Quỹ đầu tư chỉ số là quỹ đầu tư quản lý danh mục đầu tư bám sát chỉ số chứng khoán đãđược xác định trước Quỹ đầu tư chỉ số là một cách đa dạng hóa rủi ro trong đầu tư tài chínhbằng cách đầu tư vào nhiều chứng khoán khác nhau để loại trừ rủi ro khi đầu tư vào chứngkhoán riêng lẻ Rủi ro và mức sinh lợi của quỹ đầu tư chỉ số sẽ tương đương với mức sinh lợi
và rủi ro của chỉ số chứng khoán Quỹ đầu tư chỉ số mang tính ổn định do hầu như quỹ chỉ sốkhông điều chỉnh hoặc chỉ điều chỉnh danh mục đầu tư khi chỉ số chứng khoán có sự thay đổilớn
Việc xây dựng chỉ số chứng khoán làm tiêu chuẩn đóng vai trò không thể thiếu để đảmbảo cho sự thành công của quỹ đầu tư chỉ số Số lượng chứng khoán trong một chỉ số phải đủlớn và bao gồm các doanh nghiệp ở nhiều ngành công nghiệp để đảm bảo tính đa dạng, phântán rủi ro vào nhiều ngành nghề kinh doanh Mặt khác, số cổ phiếu sẵn sàng giao dịch (freefloat) phải đủ lớn về cả khối lượng và giao dịch hàng ngày Bởi vì, khi quỹ chỉ số mua vào vàbán ra cổ phiếu quá ít giao dịch để bám sát chỉ số thì sẽ bị thiệt hại do làm thay đổi cung cầucổ phiếu trên thị trường
Quỹ đầu tư chỉ số là một dạng của quỹ đầu tư Khác với các dạng quỹ đầu tư khác, quỹđầu tư chỉ số lấy mục tiêu bám sát chỉ số chuẩn làm phương châm hoạt động
Quỹ đầu tư chỉ số đăng ký kinh doanh tại cơ quan quản lý thị trường chứng khoán phảixác định rõ chỉ số lấy làm chuẩn Sai số giữa hoạt động của quỹ và chỉ số được khống chế bởimột tỷ lệ (chẳng hạn 5%)
Về mặt pháp lý: mục tiêu bám sát chỉ số chứng khoán và loại chỉ số chứng khoán phảiđược khẳng định tại điều lệ quỹ, tại các bản công bố thông tin, bản giới thiệu hoạt động quỹgửi đến các nhà đầu tư Quỹ chỉ số dạng mở do một công ty quản lý lập nên và một công tyquản lý quỹ có thể điều hành một hoặc nhiều quỹ đầu tư Quỹ chỉ số dạng ETF có thể do mộtcông ty quản lý quỹ lập nên hoặc được tổ chức dưới dạng một công ty đầu tư
Về cách thức vận hành: quỹ đầu tư chỉ số chỉ tồn tại dưới dạng quỹ mở hoặc quỹ ETF.Khác với việc quản lý danh mục đầu tư, quỹ đầu tư chỉ số ngoài việc thiết lập danh mụcđầu tư bám theo chỉ số chuẩn còn phải đáp ứng nhu cầu mua hoặc bán ra chứng chỉ quỹ củanhà đầu tư với giá tương tự giá trị tài sản ròng của quỹ
Phân loại quỹ đầu tư chỉ số:
Căn cứ theo tiêu chí cách thức phát hành và giao dịch chứng chỉ quỹ, quỹ đầu tư chỉ sốchỉ tồn tại dưới hai dạng: quỹ mở hoặc quỹ ETF Quỹ chỉ số không tồn tại ở dạng đóng chodù có thể niêm yết trên SGDCK vì nhược điểm giá giao dịch thường cách biệt với tài sảnròng một chứng chỉ quỹ nên không bám sát chỉ số thị trường
1.1.1.6 Quỹ đầu tư chỉ số dạng mở (open-end fund):
Quỹ đầu tư theo chỉ số dạng mở là quỹ đầu tư dạng mở quản lý danh mục đầu tư bám sátchỉ số chứng khoán đã được xác định trước Quỹ đầu tư dạng mở mua lại chứng chỉ quỹ đã
Trang 8phát hành với giá tương đương tài sản ròng đơn vị chứng chỉ quỹ với giá được xác định vàocuối ngày.
Đối với chứng chỉ quỹ mở, công ty quản lý quỹ mua vào hoặc phát hành chứng chỉ quỹtheo yêu cầu của nhà đầu tư với giá giao dịch là giá trị tài sản ròng của quỹ Tuy nhiên, điểmhạn chế đối với quỹ mở là không thể niêm yết trên các Sở giao dịch chứng khoán
1.1.1.7 Quỹ đầu tư chỉ số dạng ETF (exchange traded fund):
Quỹ đầu tư chỉ số dạng ETF là quỹ đầu tư được niêm yết có danh mục đầu tư tương tựnhư danh mục đầu tư của danh mục chứng khoán được chọn để xác định chỉ số chứng khoánthị trường, trong đó quỹ chỉ giao dịch chứng chỉ quỹ theo khối lượng lớn với nhà phân phối,trong khi chứng chỉ quỹ theo lô lẻ được giao dịch hàng ngày trên các Sở giao dịch chứngkhoán
Về mặt pháp lý: quỹ ETF hình thành dưới dạng quỹ mở hoặc quỹ UIT (unit investmenttrust) UIT là dạng công ty mua và nắm giữ lượng chứng chỉ quỹ cho đến khi ngừng hoạtđộng UIT thường phát hành một lần tất cả các chứng chỉ quỹ ra công chúng Khi quỹ UITđược thành lập, nó cũng định trước ngày giải thể UIT không có giao dịch danh mục đầu tưmặc dù cho phép thay đổi danh mục trong điều kiện bất thường Chứng chỉ UIT có thể đượcmua lại vào bất kỳ ngày giao dịch nào, tương tự như quỹ mở UIT chào danh mục cố định,chi phí thấp và thời gian hoạt động bị giới hạn
Cơ chế hoạt động của quỹ ETF và tác động đối với giá giao dịch:
Đối với quỹ ETF, việc cho phép các nhà phân phối mua và bán “đơn vị khởi tạo” (thường
là 50.000 chứng chỉ quỹ) cho quỹ ETF và chi nhỏ “đơn vị khởi tạo” để giao dịch trên sàngiao dịch chứng khoán làm cho giá giao dịch chứng chỉ quỹ gần sát với giá trị tài sản ròngđơn vị chứng chỉ quỹ ETF
Quá trình tạo ra đơn vị khởi tạo và phân phối chứng chỉ quỹ ETF
Nếu giá giao dịch tại sàn giao dịch chứng khoán thấp hơn giá trị tài sản ròng đơn vị quỹ,nhà phân phối mua gom chứng chỉ ETF trên sàn giao dịch để đủ “đơn vị khởi tạo” và đủ “đơnvị khởi tạo” lấy chứng khoán trong danh mục nhằm kinh doanh chênh lệch giá (arbitrade) đểkiếm lời Hoạt động này làm tăng cầu chứng chỉ ETF và đẩy giá giao dịch tiến gần giá trị tàisản đơn vị quỹ
Ngược lại, giá giao dịch chứng chỉ ETF cao hơn giá trị tài sản ròng đơn vị quỹ, nhà phânphối mua “đơn vị khởi tạo” từ quỹ ETF và chia nhỏ “đơn vị khởi tạo” thành nhiều chứng chỉETF bán lẻ cho các nhà đầu tư riêng lẻ thông qua thị trường thứ cấp để thu lợi Hoạt động nàylàm tăng cung chứng chỉ ETF và đẩy giá ETF rớt xuống gần giá trị tài sản ròng đơn vị quỹ
Trang 9Nhờ cơ chế này mà quỹ ETF có thể được niêm yết trên các Sở giao dịch mà giá giao dịchtrên thị trường sẽ luôn xấp xỉ với giá trị tài sản ròng của quỹ (NAV) Quỹ ETF thừa hưởng lợithế của quỹ mở (giá giao dịch gần giá trị tài sản ròng đơn vị quỹ) và lợi thế của quỹ đóng (cóthể niêm yết trên sàn giao dịch)
1.1.1.8 So sánh giữa quỹ đầu tư chỉ số dạng mở và dạng ETF:
Quỹ đầu tư chỉ số ETF có nhiều ưu điểm hơn so với quỹ đầu tư dạng mở về tính linh hoạttrong việc giao dịch, phí giao dịch và phí quản lý quỹ, lợi thế về thuế
Lợi thế đầu tiên của quỹ ETF cho nhà đầu tư là tạo tính linh hoạt trong giao dịch chứngchỉ quỹ Nhà đầu tư co thể giao dịch chứng chỉ quỹ ETF bằng cách đặt lệnh tại các công tymôi giới chứng khoán để chuyển lệnh vào Sở giao dịch chứng khoán tương tự như cách thứcgiao dịch cổ phiếu niêm yết Đối với quỹ đầu tư dạng mở, nhà đầu tư mua và bán lại chứngchỉ quỹ trực tiếp với quỹ Đối với quỹ ETF, nhà đầu tư cá nhân không thể bán lại chứng chỉquỹ mà chỉ có thể giao dịch trên thị trường Chỉ những tổ chức phân phối mới có thể mua vàbán lại từng đơn vị khởi tạo với quỹ ETF
Đối với quỹ đầu tư dạng mở, nhà đầu tư chỉ có thể giao dịch vào cuối ngày Khi thịtrường đảo chiều và đi xuống, nhà đẩu tư không thể thoát ra cho đến cuối ngày Đối với ETF,nhà đầu tư có thể giao dịch bất kỳ thời điểm nào trong ngày
Thứ hai, giá thực hiện giao dịch là điểm khác biệt giữa quỹ chỉ số mở và ETF Giá thựchiện giao dịch của quỹ mở là giá tương lai “ forward priced”, nghĩa là dù nhà đầu tư có đặtlệnh mua bán chứng chỉ quỹ trong ngày, nhưng tất cả lệnh nhận được trong ngày sẽ thực hiệncùng một giá – giá trị tài sản ròng đơn vị quỹ vào lúc 4 giờ chiều lúc SGDCK đóng cửa Cácnhà đầu tư mua bán chứng chỉ quỹ ETF tại thời điểm khác nhau của một ngày có thể nhậnđược giá khác nhau và giá này có thể đôi chút khác biệt với giá trị tài sản ròng đơn vị quỹETF vào cuối ngày giao dịch Quỹ ETF thừa hưởng lợi thế của quỹ mở (giá giao dịch gần giátrị tài sản ròng đơn vị quỹ) và lợi thế của quỹ đóng (có thể niêm yết trên SGDCK)
Lợi thế thứ ba của quỹ chỉ số ETF là lợi thế về thuế Nhiều quỹ ETF hoãn và giảm thuế từlợi nhuận do chênh lệch giá chuyển nhượng từ việc mua lại (redeemption) bằng cách cho cổphiếu giá thấp được mua lại trước
Lợi thế thứ tư của quỹ ETF là công khai thông tin nhiều hơn quỹ mở Quỹ ETF phải cóđiểu lệ và bản công bố thông tin, bản giới thiệu tóm tắt thông tin chính về quỹ ETF Phí hoạtđộng và phí thường niên cũng phải được công khai trong bản công bố thông tin Khôngnhững thế, quỹ ETF phải cung cấp danh mục chứng khoán trong danh mục quỹ, chỉ số làmchuẩn và cách tính chỉ số liên tục nhiều lần trong ngày Đối với quỹ mở, danh mục đầu tưđược công bố 6 tháng/lần
Lợi thế thứ năm của quỹ chỉ số ETF so với quỹ chỉ số mở là tiết kiệm chi phi giao dịch vàchi phí quản lý do chỉ tập trung vào việc điều hành quỹ, giảm chi phí liên quan đến việc mua
và bán chứng chỉ quỹ với nhà đầu tư Quỹ ETF đơn giản hóa các loại phí chỉ còn phí quản lý
và hoa hồng Trong khi đó, quỹ mở tính nhiều loại phí đối với nhà đầu tư (xem bảng 1.2 vàphụ lục 3)
Lợi thế thứ sáu của quỹ ETF là bán khống chứng chỉ quỹ: Nhà quản lý quỹ mở và nhàđầu tư vào quỹ mở không thể bán khống danh mục nắm giữ của quỹ Ngược lại, nhà đầu tư
có thể bán khống chứng chỉ quỹ ETF
Thứ bảy, về quyền chọn: Đối với quỹ mở, không có quyền chọn nhưng đối với ETF thì cóthể sử dụng quyền chọn
Thứ tám, về việc sử dụng đòn bẩy tài chính: quỹ mở thì không sử dụng đòn bẩy Ngượclại, ETF giao dịch tương tự như cổ phiếu, nhà đâu tư có thể sử dụng đòn bẩy theo mức độ mànhà môi giới chứng khoán cho phép
Trang 10Nhược điểm của quỹ ETF là phải có nhà phân phối luôn phối hợp để tạo thị trường vàđiều chỉnh giá giao dịch quỹ trên SGDCK sao cho gần sát giá trị tài sản ròng chứng chỉ quỹ.Nhìn chung, các nước đang phát triển cũng vận dụng khung lý thuyết về quỹ đầu tư chỉ sốcủa Mỹ
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ QUỸ ĐẦU TƯ ĐIỂN HÌNH TRÊN THẾ GIỚI
2.1 Quá trình hình thành quỹ đầu tư trên thế giới
Quỹ đầu tư có nguồn gốc từ châu Âu, khởi thủy ở Hà Lan từ khoảng giữa thế kỷ 19, đếnnửa cuối thế kỷ 19 thì được du nhập sang Anh.Mặc dù có gốc gác từ châu Âu, nhưng Mỹ mới
là nơi các quỹ đầu tư phát triển mạnh mẽ nhất Quỹ đầu tư chính thức đầu tiên xuất hiện ở
Mỹ vào năm 1924, có tên gọi là Massachusetts Investor Trust, với quy mô ban đầu là50.000USD Sau một năm, quy mô của quỹ này đã tăng lên 392.000USD với sự tham gia củatrên 200 nhà đầu tư
Cuối những năm 1920, trên thế giới mới chỉ có khoảng 10 quỹ đầu tư, đến năm 1951 sốquỹ đầu tư đã vượt qua ngưỡng 100 và đến cuối năm 2003, đã có khoảng trên 54.000 quỹđang hoạt động với tổng số vốn quản lý gần 14 ngàn tỷ USD Đó là sự minh họa đơn giảnnhưng rất thuyết phục về tính hấp dẫn cũng như xu hướng phát triển tất yếu của quỹ đầu tư
Bảng 1: Giá trị vốn quản lý của các quỹ đầu tư
Vai trò của quỹ đầu tư đối với sự phát triển của nền kinh tế
Trang 11Quỹ đầu tư là một công cụ đầu tư rất phổ biến ở các nước có thị trường chứng khoán pháttriển Theo thống kê của Viện nghiên cứu công ty đầu tư (Investment Company Institute –ICI) của Mỹ, trên một nửa dân số Mỹ có tài khoản đầu tư vào chứng chỉ các quỹ đầu tư Điều
đó cho thấy rằng quỹ đầu tư là một công cụ đầu tư rất được ưa chuộng
Mặc dù có trình độ phát triển khác nhau giữa các nước, quỹ đầu tư đã và đang trở thànhmột kênh huy động vốn đầu tư quan trọng cho nền kinh tế Bảng 3 dưới đây cho thấy mức độhuy động của quỹ đầu tư tính theo phần trăm GDP của một số quốc gia tiêu biểu có ngànhquản lý quỹ phát triển
Bảng 3: Thị trường quỹ đầu tư của một số quốc gia trên thế giới – 2003
2.2 Các quỹ đầu tư chỉ số tiêu biểu tại Mỹ
2.2.1 Quỹ đầu tư dạng mở tại Mỹ
Quỹ đầu tư dạng mở ngày càng phổ biến tại Mỹ và đóng vai trò quan trọng trong việc thuhút vốn phát triển kinh tế Trong số gia đình sở hữu chứng chỉ quỹ, quỹ chỉ số dạng mởchiếm 31% vào năm 2010
Trang 12Chỉ số S & P 500 là chỉ số quan trọng nhất đối với quỹ đầu tư dạng mở tại Mỹ, chiếm37% tổng số vốn đầu tư
Công ty Vangular là công ty quản lý quỹ lớn nhất tại Mỹ về quỹ chỉ số dạng mở và sảnphẩm đa dạng: quỹ giao dịch, môi giới, quản lý tài sản với các loại chỉ số theo ngành, chỉ sốnội địa, chỉ số quốc tế
2.2.2 Quỹ đầu tư dạng ETF tại Mỹ
Các quỹ ETF trên chỉ số cổ phiếu của các thị trường mới nổi rất được các NĐT trên thếgiới ưa chuộng do nó đã đem lại mức sinh lợi rất cao cho các NĐT từ các năm 1990
Từ cuối thập niên 80, khi quỹ ETF đầu tiên được hình thành tại Bắc Mỹ (được biết đếnnhiều nhất là quỹ ETF trên chỉ số S&P 500, giao dịch trên thị trường NYSE dưới mãSPY).Các quỹ này rất được nhà đầu tư tổ chức ưa chuộng Sau đó, các nhà đầu tư cá nhânmới quan tâm, khi các quỹ ETF xuất hiện trên thị trường Những quỹ ETF đã bùng nổ rấtmạnh mẽ, với nhiều chủng loại bao gồm các quỹ ETF mô phỏng chỉ số của các ngành côngnghiệp (như quỹ ETF công nghệ cao QQQ theo sát chỉ số NASDAQ), các quỹ ETF trên chỉ
Trang 13số các công cụ nợ, các quỹ ETF trên diễn biến chỉ số chứng khoán ở các thị trường phát triển(châu Âu, Nhật Bản, Australia…), các thị trường mới nổi (Braxin, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ),các thị trường biên - Frontier markets (Sri Lanka, Nigêria, Việt Nam…), các quỹ ETF IPO vàchỉ số hàng hóa (các chỉ số trên các hàng hóa kim loại như quỹ ETF vàng).
Việc hình thành quỹ ETF được khởi điểm khi những công ty quản lý quỹ ETF (thườnggọi là các sponsor) nộp đơn lên Ủy ban Chứng khoán Mỹ (SEC) để tạo nên một quỹ ETF.Khi kế hoạch được SEC thông qua, công ty quản lý quỹ thỏa thuận với một ngân hàng thanhtoán,
Hai quỹ ETF tại thị trường mới nổi khá nổi tiếng là Vanguard MSCI Emerging MarketsETF và iShare MSCI Emerging Markets Index Fund, hai quỹ ETF lớn thứ 2 và thứ 3 xét theovốn hóa thị trường, đã ghi nhận mức tăng hơn 100% từ mức đáy sau khủng hoảng đối vớichứng khoán Mỹ vào hồi tháng 3.2009 tới giai đoạn đỉnh của chứng khoán Mỹ vào tháng5/2011 Chỉ số S&P 500 đã tăng hơn 80% trong giai đoạn này
Tài sản ròng quỹ đầu tư ETF tại Mỹ
Tỷ trọng các dạng đầu tư chỉ số ETF tại Mỹ năm 2010
Đa số các quỹ đầu tư chỉ số tại Mỹ đầu tư vào cổ phiếu nội địa chiếm 42% trong tổngdanh mục đầu tư
Trang 142.3 Một số chỉ số nổi tiếng trên thế giới
Thị trường chứng khoán Mỹ cũng có nhiều chỉ số như Nasdaq (nhóm cổ phiếu công nghệtrên thị trường OTC), Dow Jones (nhóm 30 công ty đại chúng lớn nhất ở Mỹ) hay S&P500(nhóm cổ phiếu của 500 công ty có mức vốn hóa thị trường lớn nhất của Mỹ) Và mỗi chỉ số
là một kênh tham chiếu hiệu quả
Chỉ số Dow Jone
Lần đầu tiên ra mắt vào ngày 26 tháng 5 năm 1896, chỉ số trung bình Dow Jones giớithiệu giá trị trung bình của 12 loại cổ phiếu từ các ngành công nghiệp quan trọng của Mỹ.Trong số 12 công ty đó, chỉ còn General Electric đến ngày nay là vẫn nằm trong nhóm 30công ty được tính Chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones còn được gọi là DJIA hoặc Dow
30 hoặc Dow Jones hoặc The Dow, là một trong những chỉ số của thị trường chứng khoánđược tạo ra bởi người biên tập tờ Wall Street Journal và đồng sáng lập công ty Dow Jones &Company vào thế kỉ thứ 19 Chỉ số trung bình Dow Jones được tính toán từ 30 công ty đạichúng lớn nhất ở Mỹ Cái tên "industrial" chỉ mang ý nghĩa lịch sử bởi vì rất nhiều công tythời nay trong số 30 công ty này không liên quan gì mấy tới ngành công nghiệp nặng
Chỉ số Dow Jones nói chung được hiểu là chỉ số giá chứng khoán bình quân của thịtrường chứng khoán New York, 1 thị trường lớn nhất thế giới hiện nay, là chỉ số giá chungcủa 65 chứng khoán đại diện, thuộc nhóm hàng đầu (Blue chip) trong các chứng khoán đượcniêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán New York Chỉ số Dow Jones bao hàm 3 chỉ số thuộc
3 nhóm ngành: công nghiệp DJIA (Dow JonesIndustrial Average), vận tải DJTA (Dow JonesTransportation Average) và dịch vụ DJUA (Dow Jones Utilities Average)
S & P 500 (Standard and Poor)
Chỉ số S&P 500 là chỉ số vốn hóa thị trường ra đời từ năm 1957, chỉ số giá của 500 cổphiếu lớn nhất được giao dịch ở Mỹ Cổ phiếu trên thị trường S&P 500 là cổ phiếu do cáccông ty lơn nắm giữ trên hai thị trường chứng khoán lớn nhất là Thị trường chứng khoánNew York và NASDAQ Hầu hết các cổ phiếu trên thị trường này là của 500 cổ phiếu có giátrị vốn hóa thị trường lớn nhất
Chỉ số S&P 500 là chỉ số chứng khóan Mỹ lớn nhất đứng sau Chỉ số Công nghiệp DowJones Chỉ số này được xem như là chỉ số dẫn đầu nền Kinh tế Mỹ, và được coi là Chỉ dẫnkinh tế hàng đầu Một vài quỹ tương hỗ, Qũy giao dịch chứng khoán ETF, và các quỹ điềuhành khác, như quỹ phúc lợi, ra đời mô phỏng hoạt động của chỉ số S&P 500 Hàng tỷ Đô la
Mỹ đã được đầu tư theo cách này
Chỉ số này nổi tiếng bởi các chỉ số khác mà Standard & Poor's sở hữu, ví dụ như Hill Chỉ số S&P 500 không chỉ được nhắc đến như là một chỉ số kinh tế, mà còn chỉ 500công ty có cổ phiếu phổ thông trên thị trường Mã của chỉ số S&P 500 rất đa dạng Một số vídụ là ^GSPC, INX, và $SPX Cổ phiếu của Chỉ số S&P 500 là một phần của chỉ số S&P
McGaw-1500 và Chỉ số chứng khoán S&P Global 1200
Những chỉ số phổ biến khác của Standard & Poor là S&P 600, một chỉ số của những công
ty có giá trị vốn hóa thị trường nhỏ từ 300 triệu - 2 tỉ đôla, và S&P 400, một chỉ số của cáccông ty có mức vốn hóa thị trường trung bình từ 2 - 10 tỉ đôla
Một số các sản phẩm dựa trên chỉ số S&P 500 có sẵn trên thị trường dành cho các nhàđầu tư, bao gồm các quỹ chỉ số và ETFs Tuy nhiên, việc các nhà đầu tư cá nhân mua đượcchỉ số là rất khó , bởi vì để làm điều này buộc phải mua cả 500 cổ phiếu của các công ty khácnhau