Tuy nhiên, do hạn chế tiềm tàng của cuộckiểm toán cũng như từ hệ thống kiểm soát nội bộ mà luôn luôn tồn tại rủi rokhông thể tránh khỏi đối với BCTC, theo VSA 400 – Đánh giá rủi ro và ki
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
BÀI THUYẾT TRÌNH
RỦI RO KIỂM TOÁN VÀ TRỌNG YẾU
Môn học: Lý thuyết kiểm toán Giảng viên hướng dẫn: Mai Thị Phương Thảo
Nhóm thực hiện : Nhóm 6
Trang 2Họ và tên MSSV
Trang 31. RỦI RO KIỂM TOÁN
1.1 Khái niệm rủi ro kiểm toán
Mục đích tổng quát của kiểm toán là cung cấp sự đảm bảo cho bên thứ ba lànhững người sử dụng các thông tin tài chính rằng các thông tin họ được cungcấp có trung thực, hợp lý hay không Tuy nhiên, do hạn chế tiềm tàng của cuộckiểm toán cũng như từ hệ thống kiểm soát nội bộ mà luôn luôn tồn tại rủi rokhông thể tránh khỏi đối với BCTC, theo VSA 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm
soát nội bộ: “Rủi ro kiểm toán là rủi ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán
đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu.”
Rủi ro kiểm toán xảy ra khi nào?
Rủi ro kiểm toán xảy ra khi trong báo cáo tài chính còn chứa đựng những sailệch trọng yếu nhưng kiểm toán viên đã nhận xét rằng chúng đã được trình bàymột cách trung thực và hợp lí Rủi ro này xuất phát từ các sai lệch tiềm ẩntrong báo cáo tài chính nhưng không được hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vịngăn chặn hay phát hiện và kiểm toán viên cũng không tìm ra
Trường hợp KTV đưa ra ý kiến không thích hợp rằng BCTC đã được kiểm toáncòn có sai sót trọng yếu trong khi thực tế các sai sót trọng yếu này không tồn tạithì không được xem là rủi ro kiểm toán Trong trường hợp này, các KTV thườngxem xét lại hoặc mở rộng các thủ tục kiểm toán và yêu cầu khách hàng thựchiện một số công việc cụ thể nhằm đánh giá lại sự thích hợp của BCTC Các thủtục này sẽ giúp KTV đưa ra nhận xét hợp lý hơn
Về mặt lý thuyết, phạm vi rủi ro kiểm toán đi từ 0 (hoàn toàn không có rủi rokiểm toán) đến 1 (chắc chắn tồn tại rủi ro kiểm toán) Tuy nhiên, trên thực tế rủi
ro kiểm toán luôn luôn lớn hơn 0, các sai sót tiềm tàng luôn luôn tồn tại vìnhững hạn chế tiềm tàng trong hệ thống kế toán và kiểm toán liên quan mậtthiết đến yếu tố môi trường và con người Thông thường, các nghiệp vụ chính
sẽ được giám sát chặt chẽ bởi hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp nên
ít có khả năng gia tăng các sai sót trọng yếu Ngược lại, các nghiệp vụ bất
Trang 4thường và các khoản ước tính kế toán của doanh nghiệp thường làm gia tăng saisót trọng yếu Do đó, KTV cần phải giới hạn rủi ro kiểm toán ở mức chấp nhậnđược bằng việc thiết kế các thủ tục kiểm toán hiệu quả nhằm thu thập đầy đủcác bằng chứng kiểm toán làm cơ sở cho việc ra ý kiến
1.2 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro kiểm toán
Rủi ro kiểm toán gắn liền với các sai sót trọng yếu trên BCTC Các nguyênnhân dẫn đến BCTC có sai sót trọng yếu bao gồm:
KTV thường chỉ có thể chọn mẫu để kiểm tra chứ không thể kiểm tra toàn
bộ tổng thể (Sự cần thiết phải thực hiện cuộc kiểm toán với thời gian và giáphí hợp lý Người sử dụng báo cáo tài chính mong muốn kiểm toán viênđưa ra báo cáo kiểm toán trong khoảng thời gian và giá phí hợp lý, do đókiểm toán viên không thể xem xét tất cả các thông tin, các vấn đề một cáchthấu đáo, tường tận mà chỉ có thể chọn mẫu để kiểm tra)
Bằng chứng KTV thu thập được chỉ mang tính thuyết phục, không phải làbằng chứng chứng minh tuyệt đối (Tuy có những văn bản quy định vềkhuôn khổ lập và trình bày BCTC nhằm hướng dẫn chung, nhưng tùy vàohoàn cảnh thực tế và xét đoán của BGĐ đơn vị mà báo cáo tài chính đượclập và trình bày khác nhau Nhiều khoản mục trên báo cáo tài chính mangtính chất không chắc chắn (ví dụ như lập dự phòng) phải dựa rất nhiều vàoxét đoán của người lập BCTC Hoặc Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toánhoặc đối tượng khác có thể cố ý hoặc vô ý không cung cấp đầy đủ thông tinliên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính hoặc thông tin màkiểm toán viên yêu cầu Kiểm toán viên không thể chắc chắn về tính đầy đủcủa thông tin, ngay cả khi kiểm toán viên đã thực hiện các thủ tục kiểm toán
để đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng các thông tin có liên quan đã được thuthập đầy đủ.)
Gian lận thường khó phát hiện hơn sai sót
Hành vi không tuân thủ pháp luật (Hành vi gian lận có thể được thực hiệntinh vi và kỹ lưỡng để che dấu Các thủ tục kiểm toán để thu thập bằngchứng kiểm toán có thể không phát hiện hết sai sót cố ý như việc thôngđồng để làm giả chứng từ, làm cho kiểm toán viên tin rằng bằng chứng
Trang 5kiểm toán đó là hợp lệ Kiểm toán viên không được đào tạo để làm chuyêngia xác minh chứng từ giả mạo Mỗi cuộc kiểm toán không phải là mộtcuộc điều tra hoặc thanh tra về các sai phạm Kiểm toán viên không cóquyền điều tra, thanh tra, xét hỏi, khám xét như cuộc điều tra của cơ quanpháp luật)
Sự vi phạm giả thiết hoạt động liên tục
Việc hiểu rõ các nhân tố gây ra sai sót trọng yếu trên BCTC là vô cùng cần thiếttrong công tác đánh giá rủi ro Điều này giúp KTV dễ dàng theo dõi các dấu hiệu,điều kiện làm gia tăng rủi ro
1.3 Sự cần thiết của việc đánh giá rủi ro kiểm toán
Bất kì cuộc kiểm toán nào cũng có những hạn chế tiềm tàng dẫn đến khả năngKTV đưa ra ý kiến không thích hợp về BCTC Bên cạnh đó, các nghiệp vụ phátsinh trong doanh nghiệp ngày càng phức tạp làm cho rủi ro kiểm toán tăng lên, đặcbiệt khi doanh nghiệp cố tình gian lận Trong khi đó, KTV không thể kiểm tra hếttất cả mà chỉ tập trung vào những vùng có rủi ro cao Vì vậy, đánh giá rủi ro giúpKTV và công ty kiểm toán xác định được những số dư, nghiệp vụ có rủi ro cao, từ
đó xác định mục tiêu kiểm toán trọng tâm, lựa chọn phương án tiếp cận và các thủtục kiểm toán hữu hiệu và hiệu quả Vai trò đó được thể hiện cụ thể trong từng giaiđoạn của cuộc kiểm toán
Trong giai đoạn tiền kế hoạch, đánh giá rủi ro giúp KTV và công ty kiểm toán
quyết định nên tiếp nhận hay từ chối khách hàng, đồng thời ước lượng khối lượngcông việc thực hiện để tính phí kiểm toán, sắp xếp KTV và xác định thời gian củacuộc kiểm toán
Trong giai đoạn lập kế hoạch, đánh giá rủi ro giúp KTV giới hạn phạm vi công
việc ở mức độ cần thiết để vừa tiết kiệm thời gian vừa đảm bảo được chất lượngkiểm toán với một mức phí hợp lý và cạnh tranh, đồng thời xác định được cáckhoản mục chứa đựng rủi ro cao để sắp xếp và phân bổ nhân sự hợp lý Nội dung,thời gian và phạm vi của các thủ tục kiểm toán bao gồm phương hướng áp dụng các
kỹ thuật kiểm toán đối với những khoản mục chủ yếu của báo cáo tài chính, đượcxây dựng dựa trên mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán đã được xác định và đánh giá
Trang 6Nội dung này có thể được trình bày dưới dạng một bảng phác thảo vắn tắt về các
thủ tục kiểm toán chủ yếu hoặc một bảng kế hoạch sơ bộ cho kiểm toán các khoản
mục Các thông tin này là cơ sở cho việc thiết kế những thủ tục kiểm toán chi tiết
trong chương trình kiểm toán sau này
Ví dụ: Minh hoạ kế hoạch sơ bộ cho các khoản mục được kiểm toán
Khoản
mục
Các nhân tố làm tăng(giảm) rủi ro
Đánh giá rủi ro Phương hướng áp dụng
các kỹ thuật kiểm toánTiềm tàng Kiểm soát
Doanh
thu
Mục tiêu doanh thu gâysức ép bất thường lênGiám đốc kinh doanh
X
Tìm hiểu về mục tiêu,chiến lược và những rủi
ro kinh doanh của đơn vịHàng tồn
Khi xác lập các nội dung trên, kiểm toán viên cần xem xét những thay đổi quan
trọng trong các lĩnh vực kiểm toán so với năm trước, ảnh hưởng của hệ thống thông
tin và những ảnh hưởng của kiểm toán nội bộ (nếu có).” (Kiểm toán, Đại học Kinh
tế TP.HCM, 2011, tr.155)
Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, dựa vào rủi ro kiểm toán đã được đánh
giá, KTV sẽ tiến hành các thủ tục kiểm toán theo đúng trọng tâm, giảm thiểu được
các thủ tục kiểm toán không cần thiết, tiết kiệm thời gian và chi phí Trong giai
đoạn hoàn thành kiểm toán, rủi ro kiểm toán là cơ sở để KTV và công ty kiểm toán
soát xét lại hồ sơ kiểm toán và những công việc đã hoàn thành nhằm đảm bảo chất
lượng kiểm toán
1.4 Các bộ phận của rủi ro kiểm toán
Rủi ro kiểm toán và các bộ phận rủi ro cấu thành
Trang 7Rủi ro tiềm tàng
Có sai lầm cụ thể nào hay không
Rủi ro kiểm soát HTKSNB có phát hiện được hay
không
Rủi ro phát hiện KTV phát hiện được bằng các
thủ tục kiểm toán hay không?
Rủi ro kiểm toán Ý kiến sai
1.4.1 Rủi ro tiềm tàng
a) Khái niệm
Theo đoạn 4 VSA 400: “Rủi ro tiềm tàng: là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả
năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng
Có
Không
Không
Trang 8yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ.”
Trên thực tế, rủi ro tiềm tàng đã hiện hữu trước khi KTV đến đơn vị để kiểmtoán Điều này đồng nghĩa với việc rủi ro tiềm tàng tồn tại độc lập với hoạt động kiểmtoán Do đó, KTV không có khả năng tạo ra hay ảnh hưởng hay kiểm soát nó Côngviệc của KTV là đánh giá nó ở mức độ cao hay thấp tùy vào tình hình thực tế tại mỗidoanh nghiệp
b) Các nhân tố tác động tạo nên rủi ro tiềm tàng
Ở cấp độ tổng thể BCTC
Tính chính trực, kinh nghiệm, trình độ năng lực của nhà quản lý: nhà quản lý
là người có quyền quyết định phần lớn các chính sách, hoạt động của doanhnghiệp Nếu doanh nghiệp được lãnh đạo bởi một người yếu kém về năng lực,không liêm khiết, ít kinh nghiệm thì báo cáo tài chính dễ có sai phạm và do đórủi ro tiềm tàng sẽ cao hơn
Áp lực bất thường đối với nhà quản lý: KTV cần xem xét, đánh giá liệu Ban
Giám đốc và Kế toán trưởng doanh nghiệp có bị áp lực phải công bố BCTC sai
sự thật Chẳng hạn, doanh nghiệp thực tế kinh doanh thua lỗ liên tục, mất khảnăng thanh toán không được các ngân hàng truyền thống tiếp tục cho vay nên
dự kiến phát hành trái phiếu để huy động vốn Với áp lực này thì có khả năngdẫn đến việc trình bày BCTC sai sự thật về các chỉ tiêu doanh thu, chi phí, lãi
lỗ và khả năng thanh toán các khoản nợ
Bản chất hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: quy trình công nghệ, số
lượng đơn vị phụ thuộc, sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp ra thịtrường, số lượng nhà cung cấp, giá cả có ảnh hưởng đến mức độ rủi ro tiềmtàng của doanh nghiệp Chẳng hạn như doanh nghiệp có nhiều nhà cung cấp vàgiá cả ổn định thì ít rủi ro hơn vì ít bị ảnh hưởng do thiếu nguyên vật liệu hoặcgiá cả đầu vào ổn định
Yếu tố về môi trường kinh doanh và ngành nghề kinh doanh như: các biến
động về kinh tế, cạnh tranh, sự thay đổi thị trường mua bán và sự thay đổi hệthống kế toán đối với lĩnh vực hoạt động của đơn vị
Trang 9 Tình trạng nền kinh tế: Chẳng hạn tình hình nền kinh tế suy thoái dẫn
đến các khách hàng của doanh nghiệp khó khăn hơn trong việc trả nợ và
do đó, việc lập dự phòng phải thu khó đòi trở thành một thách thức vớidoanh nghiệp Doanh nghiệp phải xem xét mức dự phòng phù hợp vớithực tế của doanh nghiệp vì khi trích lập dự phòng thì sẽ ảnh hưởng đếnlợi nhuận của doanh nghiệp, cụ thể như chi phí dự phòng có thể đẩy giávốn hàng bán lên cao, hay giảm xuống Điều này vô tình tạo nên rủi rotiềm tàng khi lập BCTC
Các chính sách của Nhà nước: Chẳng hạn giá xăng đang có xu hướng
giảm mạnh, nhà nước ra các văn bản yêu cầu các doanh nghiệp vận tảiphải thực hiện giảm giá cước của mình Vậy giảm bao nhiêu là phù hợp?Lúc này việc tính giá thành sẽ phụ thuộc vào xét đoán của từng doanhnghiệp Tùy vào việc đa phần các doanh nghiệp đó chạy xe bằng xănghay bằng dầu, chi phí xăng của họ chiếm bao nhiêu phần trăm trong giáthành,…
Sự thay đổi kỹ thuật: Các công nghệ mới có thể đe dọa đến chất lượng
hàng hóa tiêu thụ Việc này đặt ra thách thức về kiểm soát chi phí
Ở cấp độ cơ sở dẫn liệu
(Cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính là căn cứ của các khoản mục và thông tin trình bày trong báo cáo tài chính do Ban Giám đốc công ty khách hàng chịu trách nhiệm lập trên cơ sở các chuẩn mực và chế độ kế toán qui định
Đơn giản hơn thì nó là khẳng định của người quản lý bên công ty khách hàng là số liệu họ làm là đúng, đầy đủ, nợ đã phát sinh, tài sản có quyền sở hữu…
Ví dụ: công ty A ghi nguyên giá Tài sản cố định (xe hơi) $320m thì nghĩa là quản lý của A khẳng định họ có quyền sở hữu đối với chiếc xe đó Giá của nó đúng là $320,
và giá trị thu được trong tương lai từ việc sử dụng chiếc xe này sẽ không thấp hơn
$320m)
BCTC có thể chứa đựng những sai sót như: BCTC có những điều chỉnh liên
quan đến niên độ trước, BCTC chứa đựng nhiều ước tính kế toán (lập dự
Trang 10phòng, trích khấu hao, phân bổ chi phí trích trước) hoặc có sự thay đổi chínhsách kế toán trong năm tài chính (thay đổi phương pháp tính khấu hao)
Việc xác định số dư và số phát sinh của các tài khoản, nghiệp vụ kinh tế như:
số dư các tài khoản dự phòng, nghiệp vụ ghi nhận chi phí phát sinh sau ghinhận ban đầu tài sản cố định (đưa vào chi phí hay ghi tăng nguyên giá)
Mức độ dễ mất mát, biển thủ tài sản như: phát sinh nhiều nghiệp vụ thu chi tiền
mặt, tạm ứng với số lượng lớn, thời gian thanh toán dài
Mức phức tạp các nghiệp vụ hay sự kiện quan trọng đòi hỏi ý kiến của chuyên gia như kiện tụng, trộm cắp,…
Việc ghi chép các nghiệp vụ bất thường và phức tạp, đặc biệt là gần thời điểm kết thúc niên độ như: ở thời điểm cuối năm doanh nghiệp đang gấp rút để đạt
kế hoạch mà trong thực tế đang gặp rất nhiều khó khăn thì Ban Giám đốc sẽtìm mọi cách để làm sao tăng được doanh thu nhiều nhất, thủ thuật thườngdùng đó là học sẽ ghi nhận doanh thu của năm sau vào năm trước như vậy làmdoanh thu năm trước bị khai khống (cơ sở dẫn liệu hiện hữu)
c) Trách nhiệm của kiểm toán viên
KTV không tạo ra cũng như không kiểm soát được rủi ro tiềm tàng mà chỉđánh giá chúng dựa vào một số nguồn thông tin như kết quả của các cuộc kiểm toánnăm trước, chính sách kinh tế của khách hàng Để đánh giá rủi ro tiềm tàng, kiểmtoán viên có thể xem xét trên 2 góc độ: doanh nghiệp và các khoản mục, nghiệp vụ
Ở góc độ doanh nghiệp: rủi ro tiềm tàng nảy sinh từ đặc điểm kinh doanh của
doanh nghiệp và tiềm ẩn trong môi trường kinh doanh
Ở góc độ các khoản mục, nghiệp vụ: rủi ro tiềm tàng nằm trong bản chất của
các số dư tài khoản hoặc bản chất của nghiệp vụ Nói một cách khác, bản thâncác mục, nghiệp vụ này đã ẩn chứa trong nó những rủi ro làm cho chúng cókhả năng sai phạm cao hơn những khoản mục, nghiệp vụ khác
Khi phân tích đánh giá rủi ro tiềm tàng đòi hỏi KTV phải có một sự hiểu biếtsâu sắc, toàn diện, đầy đủ về thực trạng hoạt động của doanh nghiệp và các yếu tố tácđộng đến rủi ro tiềm tàng cũng như đòi hỏi KTV phải có một sự xét đoán nghề nghiệpvới những kinh nghiệm khá tốt mới có thể có được một kết quả chính xác
1.4.2 Rủi ro kiểm soát
a) Khái niệm
Trang 11Theo VSA 400 “Rủi ro kiểm soát: Là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng
nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà
hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời”
Như vậy, rủi ro kiểm soát là xác suất tồn tại các sai phạm trọng yếu trên báocáo tài chính mà hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị không phát hiện và ngăn chặnkịp thời
Những hạn chế vốn có của hệ thống kiểm soát nội bộ:
Phạm vi của KSNB bị giới hạn bởi vấn đề chi phí Bởi vì các nhà quản lý luônđòi hỏi chi phí cho cuộc kiểm tra phải hiệu quả, nghĩa là phải ít hơn tổn thất dosai phạm và gian lận gây ra
Hầu hết các biện pháp kiểm tra đều tập trung vào các sai phạm thông thườnghoặc có thể dự kiển được, vì thế khó phát hiện được các sai phạm đột xuất haybất thường
Sai phạm của nhân viên xảy ra do sự thiếu thận trọng, xao nhãng, sai lầm trongxét đoán hoặc hiểu sai các hướng dẫn của cấp trên
Việc điều hành và kiểm tra có thể bị vô hiệu hóa do có sự thông đồng với bênngoài hoặc giữa các nhân viên trong đơn vị
Các thủ tục kiểm soát có thể không còn phù hợp vì điều kiện thực tế đã thayđổi
Tóm lại, hệ thống KSNB hữu hiệu sẽ hạn chế bớt những sai sót và gian lận nhưng
không thể loại trừ hoàn toàn các sai phạm có thể xảy ra KTV chỉ có thể dựa vàoKSNB của đơn vị để giảm bớt một phần công việc kiểm tra của mình nhưng khôngthể dựa hoàn toàn vào hệ thống này Chính vì vậy, KTV vẫn phải tiến hành các thửnghiệm cơ bản ngay cả khi hệ thống KSNB của đơn vị được đánh giá là rất hữu hiệu
b) Các nhân tố tác động tạo nên rủi ro kiểm soát
Môi trường kiểm soát:
Hoạt động kiểm soát: Phân chia trách nhiệm, kiểm soát vật chất,…
c) Các nhân tố phổ biến ảnh hưởng đến rủi ro kiểm soát
Trang 12Vì rủi ro kiểm soát phát sinh từ hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộnên các thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ tại đơn vị cũng chính là các nhân tốảnh hưởng đến rủi ro kiểm soát Do vậy, để đánh giá rủi ro kiểm soát KTV phải dựavào sự hiểu biết về hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ, cụ thể là các thànhphần của hệ thống kiểm soát nội bộ:
Môi trường kiểm soát: đó là sự trung thực và các giá trị đạo đức, năng lực của
nhân viên trong đơn vị, triết lí và cách điều hành của nhà quản lí Môi trườngkiểm soát được xem như lớp nền của hệ thống KSNB, nền chắc thì hệ thốngmới hoạt động hiệu quả Khi tìm hiểu về môi trường kiểm soát KTV cần thuthập thông tin về: các đặc thù về quản lý, cơ cấu tổ chức, chính sách nhân sự,công tác kế hoạch, các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng tới việc thiết kế và thực
hiện hệ thống KSNB (Ví dụ một doanh nghiệp có ban hành các văn bản các
quy tắc, chuẩn mực phòng ngừa ban lãnh đạo và các nhân viên rơi vào xung đột quyền lợi với doanh nghiệp, kể cả các quy định xử phạt thích hợp khi các quy tắc chuẩn mực này bị vi phạm Ngoài ra họ còn phổ biến rộng rãi các quy tắc, chuẩn mực đó, yêu cầu tất cả các nhân viên kí bản cam kết tuân thủ những quy tắc, chuẩn mực được thiết lập.)
Đánh giá rủi ro của đơn vị: xem xét việc cụ thể hóa mục tiêu của đơn vị, nhận
dạng và phân tích rủi ro (Ví dụ một DN có hoạt động kinh doanh ở nước ngoài
dễ gặp phải rủi ro thị trường, rủi ro tỷ giá hối đoái HTKSNB tốt có thể đề xuất nhiều phương án cho doanh nghiệp chẳng hạn như sau: Một là: giảm rủi ro bằng cách thuê các chuyên gia về ngoại tệ; đa dạng hóa các hoạt động SXKD
và thực hiện hợp đồng nhập khẩu song song với hợp đồng xuất khẩu để lấy lãi hoạt động này bù lỗ hoạt động kia; Hai là: tránh rủi ro bằng cách ngừng hoạt động kinh doanh ở nước ngoài Ba là: chấp nhận rủi ro và không tiến hành bất
kỳ hoạt động nào.)
Hoạt động kiểm soát: KTV cần kiểm tra việc thực hiện các nguyên tắc kiểm
soát cơ bản được đề ra trong doanh nghiệp như: phê duyệt và ủy quyền, phâncông phân nhiệm, bất kiêm nhiệm và hoạt động của bộ phận kiểm soát nội bộ
trong đơn vị (Ví dụ: kiểm soát phòng ngừa và phát hiện sự mất mát, thiệt hại
Trang 13của tài sản, kiểm soát xem tổ chức có hoạt động theo đúng chuẩn mực mà tổ chức đã quy định, theo đúng các yêu cầu của pháp luật hiện hành…)
Thông tin truyền thông: Việc nhận thông tin của bên ngoài, cấp trên hay phản
hồi của cấp dưới có được thực hiện hữu hiệu không (Ví dụ Hệ thống truyền
thông của một doanh nghiệp đảm bảo cho nhân viên ở mọi cấp độ đều có thể hiểu và nắm rõ các nội quy, chuẩn mực của tổ chức, đảm bảo thông tin được cung cấp kịp thời, chính xác đến các cấp có thẩm quyền theo quy định Doanh nghiệp thiết lập các kênh thông tin nóng (một ủy ban hay một cá nhân nào đó
có trách nhiệm tiếp nhận thông tin tố giác, hoặc lắp đặt hộp thư góp ý) cho phép nhân viên báo cáo về các hành vi, sự kiện bất thường có khả năng gây thiệt hại cho doanh nghiệp.)
Giám sát: Nhà quản lí có thực hiện giám sát thường xuyên và giám sát định kỳ (Ví dụ Việc kiểm toán nội bộ được thực hiện bởi kiểm toán nội bộ gồm những người có trình độ chuyên môn thích hợp và người này có quyền báo cáo trực tiếp cho cấp phụ trách cao hơn và cho ban lãnh đạo khi phát hiện các sai lệch
so với chỉ tiêu, kế hoạch đã định để triển khai các biện pháp điều chỉnh thích hợp )
Cũng giống như rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát cũng là rủi ro có sai sót trọngyếu đến BCTC
Việc đánh giá rủi ro kiểm soát cho từng cơ sở dẫn liệu của BCTC phải dựa trênnhững bằng chứng thu thập được thông qua tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ
Do đó, nếu KTV càng tin tưởng vào tính hữu hiệu, hiệu quả trong việc vậnhành các thủ tục kiểm soát thì càng phải thu thập bằng chứng kiểm toán thích hợp hơn
về hệ thống KSNB
d) Trách nhiệm của KTV
KTV không tạo ra và cũng không kiểm soát được rủi ro kiểm soát, KTV chỉ cóthể đánh giá hệ thống KSNB của đơn vị mạnh hay yếu sau khi tìm hiểu và đưa ra mứcrủi rokiểm soát (thấp, trung bình hoặc cao)
KTV có thể đánh giá rủi ro kiểm soát là cao trong trường hợp:
Trang 14Hệ thống KSNB không đầy đủ và hoạt động không hiệu quả
KTV không có được đầy đủ cơ sở để đánh giá sự thích hợp, đầy đủ và hiệu quảcủa hệ thống KSNB doanh nghiệp
KTV có thể đánh giá rủi ro kiểm soát là thấp khi:
KTV có đầy đủ điều kiện và có kế hoạch để thực hiện các thử nghiệm kiểmsoát nhằm khẳng định việc đánh giá rủi ro của mình
KTV có đầy đủ bằng chứng và cơ sở để kết luận hệ thống KSNB có hiệu quả.Tức là hệ thống này có khả năng ngăn ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời cácgian lận, sai sót trọng yếu trong doanh nghiệp
Sự đánh giá của KTV về rủi ro kiểm soát sẽ ảnh hưởng đến thời gian, nội dung
và phạm vi của các phương pháp kiểm toán
1.4.3 Rủi ro phát hiện
a) Định nghĩa
Theo VSA 400: “Rủi ro phát hiện là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp
vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán không phát hiện được.”
Ví dụ:
- Để xác minh mục tiêu kiểm toán về quyền và nghĩa vụ đối với hàng tồnkho, kiểm toán viên chỉ thực hiện phương pháp kiểm kê rồi cho rằng hàngtồn kho thực sự tồn tại và đều là tài sản thuộc quyền sở hữu của đơn vị màkhông làm thêm bất cứ thủ tục kiểm toán nào bổ sung
- Kiểm toán viên thiếu kiểm tra thông tin do các trợ lí kiểm toán thu thập, nêntổng hợp và nhận định sai, hoặc kiểm toán viên thực hiện các thủ tục kiểmtoán không thích hợp
Mục đích của việc xác định mức độ rủi ro phát hiện là nhằm xác lập mức độthực hiện các thử nghiệm cơ bản, nếu mức độ rủi ro phát hiện được xác định ở mứccao nhất thì KTV có thể thực hiện các thử nghiệm cơ bản với số lượng ít nhất có thể
và do đó tiết kiệm được chi phí kiểm toán nhưng vẫn đảm bảo giảm thiểu được rủi rokiểm toán đến mức có thể chấp nhận được
Trang 15b) Các nhân tố ảnh hưởng rủi ro phát hiện
Rủi ro phát hiện có nguyên nhân bắt nguồn trực tiếp từ các thử nghiệm do KTV
thực hiện Kiểm toán viên phải dựa vào đánh giá mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi
ro kiểm soát để xác định nội dung, lịch trình và phạm vi thử nghiệm cơ bản để giảm rủi ro phát hiện và giảm rủi ro kiểm toán xuống thấp đến mức có thể chấp nhận được Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát dù được đánh giá ở mức độ thấp nhất thì kiểm toán viên vẫn phải thực hiện thử nghiệm cơ bản đối với các loại nghiệp vụ và số dư các tài khoản trọng yếu Mức rủi ro phát hiện sẽ giảm
xuống nếu KTV tăng các thử nghiệm chi tiết trên số dư hoặc nghiệp vụ, mở rộngphạm vi kiểm tra hoặc tăng cường cỡ mẫu của các thử nghiệm Do đó, ngược lại vớirủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, KTV phải có trách nhiệm thực hiện các thủ tụcthu thập bằng chứng kiểm toàn nhằm quản lí rủi ro phát hiện Một số rủi ro phát hiện
sẽ thường xảy ra cho dù có kiểm tra 100% các số dư và các loại nghiệp vụ vì KTV cóthể lựa chọn và áp dụng các phương pháp kiểm toán không phù hợp, áp dụng sai cácphương pháp kiểm toán thích hợp, hoặc giải thích sai hay nhận định sai các kết quảkiểm toán
Các nguyên nhân làm gia tăng rủi ro này ở các công ty kiểm toán là:
- Phạm vi kiểm toán bị giới hạn do khách hàng thiếu hợp tác hoặc hợp táckhông tích cực;
- Do khoảng cách địa lý và khó khăn trong việc gửi thư xác nhận đối với cácđối tác liên quan đến khách hàng;
- Chương trình kiểm toán, thủ tục kiểm toán áp dụng chưa phù hợp;
- Việc xây dựng và lựa chọn nhân sự cho đoàn kiểm toán chưa tốt;
- Thời gian kiểm toán ngắn và chi phí cho cuộc kiểm toán thấp;
- Bằng chứng thu thập được chưa đầy đủ và đảm bảo độ tin cậy;
- Sai lệch trong chọn mẫu đối tượng kiểm toán
- Năng lực và đạo đức nghề nghiệp của nhiều KTV cũng là vấn đề cần quantâm Nhiều công ty thường quá chú trọng phát triển khách hàng mà khôngquan tâm chất lượng hồ sơ và báo cáo kiểm toán
Để giảm rủi ro phát hiện và rủi ro kiểm toán, kiểm toán viên cần xem xét:
Trang 16- Nội dung thử nghiệm cơ bản: ví dụ thủ tục thu thập tài liệu, hoặc xác nhận thông tin từbên ngoài độc lập với đơn vị có giá trị cao hơn là thu thập tài liệu trong nội bộ đơn vị;hoặc kết hợp kết quả kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ và số dư với thủ tục phân tích.
- Lịch trình của thử nghiệm cơ bản: ví dụ thủ tục kiểm tra số dư hàng tồn kho cuối nămđược thực hiện vào cuối niên độ kế toán có giá trị cao hơn là thực hiện kiểm tra vàomột thời điểm khác và phải điều chỉnh
- Phạm vi thử nghiệm cơ bản, ví dụ xác định cỡ mẫu kiểm tra rộng hơn là hẹp
Tuy nhiên, khó có thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro phát hiện ngay cả khi kiểm toán viên kiểm tra chi tiết toàn bộ các nghiệp vụ và số dư tài khoản
c) Trách nhiệm của kiểm toán viên
Ngược với rủi ro kiểm soát và rủi ro tiềm tàng, kiểm toán viên có trách nhiệmthực hiện các các thủ tục thu thập bằng chứng kiểm toán để quản lý và kiểm soát đốivới rủi ro phát hiện
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán thì mức rủi ro phát hiện được đánh giá saucùng khi việc đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát đã được thực hiện xong.Cách rủi ro phát hiện được xác định sẽ được tìm hiểu ở phần sau “Mối quan hệ củacác loại rủi ro”
1.5 Mối quan hệ của các loại rủi ro
Do tồn tại độc lập với các thử nghiệm cơ bản của kiểm toán viên, nên rủi rotiềm tàng và rủi ro kiểm soát khác với rủi ro phát hiện Bởi lẽ, dù có tiến hành kiểmtoán hay không, rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát vẫn tồn tại trong hoạt động và môitrường kinh doanh của đơn vị, cũng như nằm trong bản chất của những số dư tàikhoản, hay các loại nghiệp vụ, nó thuộc về chính bản thân khách hàng
Ví dụ:
Trang 17Rủi ro tiềm tàng: một công ty hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch
vụ, thì khi đó khoản mục doanh thu của công ty này sẽ luôn có rủi rotiềm tàng là doanh thu bị ghi nhận sai kì, vì đặc điểm của việc cung cấpdịch vụ thời điểm xđ dịch vụ đã hoàn thành nhiều khi khá là khó, nhữngdịch vụ đã được hoàn thành đã được khách hàng chứng nhận rồi nhưngchưa ghi nhân doanh thu, và ngược lại đã ghi nhận doanh thu nhưngdịch vụ chưa hoàn thành thì đó chính là rủi ro tiềm tàng của công ty này,
do chính bản chất hoạt động của nó
Rủi ro kiểm soát: một công ty sản xuất bán thành phẩm cho khách hàng,
thì cái quá trình kiểm soát hàng tồn kho đã thiết lập rất nhiều các hoạtđộng kiểm soát, tuy nhiên các hệ thống, các hoạt động kiểm soát nàyhoạt động không hiệu quả dẫn đến xảy ra mất mát trong hàng tồn khotuy nhiên không được phát hiện kịp thời, dẫn đến số dư hàng tồn khotrong sổ sách và trên sổ sách chênh lệch nhau, thì đấy chính là rủi ro do
sự yếu kém của hệ thống kiểm soát nội bộ không phát hiện sai sót đểsữa chữa kịp thời
Ngược lại, rủi ro phát hiện là rủi ro phát sinh do sự yếu kém của kiểm toánviên, bởi vì đây là rủi ro do các thủ tục của kiểm toán viên thực hiện lại không pháthiện lỗi, chính vì vậy đây là loại rủi ro duy nhất mà kiểm toán viên có thể kiểm soátđược thông qua việc điều chỉnh nội dung, thời gian và phạm vi của các thử nghiệm cơbản Tùy theo tình hình của đơn vị, kiểm toán viên sẽ tăng giảm công việc kiểm toáncủa mình để đạt được mục đích cuối cùng là rủi ro kiểm toán được giảm xuống thấpđến mức chấp nhận được với chi phí hợp lý
Thí dụ khi rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát cao, mức độ rủi ro phát hiện cóthể chấp nhận được cần phải ở mức thấp, để khống chế rủi ro kiểm toán vẫn ở mứcchấp nhận được Còn ngược lại, khi rủi ro kiểm soát và rủi ro tiềm tàng thấp, kiểmtoán viên có thể chấp nhận rủi ro phát hiện ở mức cao, nhưng vẫn giới hạn được rủi rokiểm toán ở mức mong muốn
Trang 18Để trợ giúp cho mối quan hiện giữa các loại rủi ro, các chuẩn mực kiểm toánđưa ra những mô hình rủi ro Vào đầu thập niêm 1980, chuẩn mực kiểm toán xỉa một
số quốc qia đã thiết lập mô hình rủi ro kiểm toán và biểu thị bởi công thức sau đây:
AR = IR x CR x DR (đơn vị % ) hoặc DR = AR / (IR x CR) (đơn vị % )
Với: AR: rủi ro kiểm toán
kế các thủ tục và điều hành cuộc kiểm toán Thí dụ sau sẽ minh họa cho ý kiến trên:
Thí dụ 1: Sau khi tiềm hiểu về rủi ro kinh doanh và hệ thống kiểm soát nội bộcủa doanh nghiệp, kiểm toán viên đánh giá dự kiến IR = 25%, CR = 50%, chính sáchkiểm toán (nơi kiểm toán viên công tác) chấp nhận rủi ro kiểm toán là 5%, khi đó DR
= 5%/(25%x50%) = 40% Kiểm toán viên đánh giá rủi ro phát hiện là 40% từ đó sẽlập kế hoạch và sắp xếp lịch trình phù hợp
Thí dụ 2: Ban đầu, kiểm toán viên đánh giá CR = 50%, nhưng sau quá trình thuthập bằng chứng kiểm toán, kiểm toán viên có niềm tin hơn về hệ thống kiểm soát nội
bộ của doanh nghiệp do đó mức rủi ro kiểm soát giảm xuống CR = 35%, khi đó DR =5%/(25%x35%) = 57% Lúc này rủi ro phát hiện tăng cao do kiểm toán viên tin tưởnghơn vào kiểm soát nội bộ, khi đó số lượng bằng chứng cần kiểm toán viên thu thập sẽgiảm đi
Thí dụ 3: Mặt khác, sau khi thực hiện thử nghiệm kiểm soát, kiểm toán viênthu thập được bằng chứng thấy kiểm soát nội bộ không hữu hiệu như đánh giá banđầu, nên kiểm toán viên đánh giá lại rủi ro kiểm toán cao hơn, thí dụ như CR = 60%
Vì thế rủi ro phát hiện được tính lại như sau: DR = 5%/(25%x60%) = 33% Nói cáchkhác, do kiểm soát nội bộ yếu kém hơn ước tính ban đầu, nên kiểm toán viên phải