Một đứa trẻ học nói và những phản ứng cảm xúc nguyên thủy thông qua tương tác với cha mẹ trẻ; khi đứa trẻ nói ra những từ mà cha mẹ trẻ sử dụng, hành vi này của trẻ sẽ được củng cố và có
Trang 1THAM VẤN NHÓM THEO CÁCH TIẾP CẬN HÀNH VI Tham vấn hành vi trong nhóm thường phức tạp bởi vì thực tế là nó bao gồm một loạt các phương pháp nhóm chứ không chỉ là một hệ thống cố kết Dựa theo định hướng lí thuyết, việc trình bày các vấn đề của khách hàng, và môi trường tham vấn nhóm thì những phương pháp này rất đa dạng Do đó, trước hết chúng ta sẽ đi thảo luận những đóng góp lí thuyết chính trong tham vấn hành vi được xem như nền tảng cho các kỹ thuật tham vấn nhóm mà chúng ta sẽ giải thích trong những phần sau
Liệu pháp nhóm hành vi là hướng tiếp cận mới có liên quan đến lĩnh vực giúp
đỡ y tế Nó xuất hiện từ tâm lí học thực nghiệm, mà trước hết có một tác động giới hạn lên lĩnh vực tham vấn và trị liệu tâm lí Liệu pháp hành vi có nguồn gốc từ các công việc thực nghiệm trong phòng thí nghiệm của Sechenov và Pavlov, đã chứng minh làm thế nào mà động vật phản ứng với sự kích thích có hệ thống kết hợp với phần thưởng Những phản ứng có điều kiện đã được xem như là yếu tố trung tâm trong học tập của cả động vật và con người
John B Watson đã đưa ra thuyết học tập bằng việc xây dựng hướng tiếp cận hành vi để hiểu về hành vi của người và con vật Kể từ những năm 1920, các nhà trị liệu và tham vấn hành vi đã sử dụng những khái niệm “tác nhân kích thích”, “phần thưởng”, “củng cố”, và “sự dập tắt” để hiểu một cách hệ thống và thay đổi hành vi của khách hàng Họ tin rằng hành vi có thể được tập nhiễm, và do đó hành vi của con người hoặc các vấn đề có thể được hiểu như là kết quả của tất cả những trải nghiệm trong quá khứ Về phương diện này, những nhà hành vi học giống với các nhà phân tâm học; quan điểm quyết định của họ rằng quá khứ là nguyên nhân dẫn đến những hành vi trong hiện tại Nhà hành vi học khác với các học giả khác ở chỗ họ hình thành
ý nghĩ quá khứ và hiện tại như thế nào Con người từ khi sinh ra đều phải chịu tác động của những kích thích từ bên trong cơ thể và những kích thích đến từ môi trường bên ngoài, tri giác kích thích và phản ứng theo những đặc tính của kích thích, tình huống, trạng thái cá nhân Thông qua việc được đặt vào trong một loạt các kích
Trang 2thích và phản ứng của chúng ta với những kích thích này, học tập sẽ xuất hiện Một đứa trẻ học nói và những phản ứng cảm xúc nguyên thủy thông qua tương tác với cha
mẹ trẻ; khi đứa trẻ nói ra những từ mà cha mẹ trẻ sử dụng, hành vi này của trẻ sẽ được củng cố và có khả năng xuất hiện thường xuyên hơn Nếu trẻ bị phạt vì nói theo cái cách không được chấp nhận, trẻ có thể trở nên lo lắng và, trong tương lai, việc học ngôn ngữ có thể đi kèm với sự không thoải mái Điều này có lẽ sẽ gây cho trẻ những trở ngại về trường học hay học tập Bản thân nhà tham vấn hành vi sẽ có một vài chiến lược để xử lí tình huống này Một hướng tiếp cận giả định rằng một cá nhân tại cùng một thời điểm không thể vừa thư giãn vừa lo lắng trong những tình huống mà trước đây gây ra sự lo lắng; có nghĩa là, đòi hỏi phải học một phản ứng mới đối với kích thích Với trẻ em học cách làm thể nào để thả lỏng khi học nói được kỳ vọng là sẽ mang lại những khả năng tốt hơn ở trường khi các em được yêu cầu giải thích bằng khả năng ngôn ngữ
Tiêu chuẩn kích thích – phản ứng, hoặc điều kiện cổ điển, làm mẫu được Skinner – người đề xuất hướng tiếp cận tạo tác hay tiếp cận công cụ đề hiểu về hành
vi - thách thức sau này Hướng tiếp cận này cần một hành động theo sau đó bởi một phần thưởng nào đó khi kích thích xuất hiện Tác nhân kích thích này không phải là nguyên nhân gây ra hành vi; nó chỉ đơn giản là ở đó, và một người học được rằng một hành vi đặc biệt sẽ tự tạo ra cho mình phần thưởng Một đứa trẻ có lẽ sẽ bắt đầu sử dụng những từ mà người lớn sử dụng mà không hề có sự dạy bảo trẻ, và thấy rằng khi trẻ sử dụng những từ này, người lớn sẽ đưa cho trẻ một cái bánh Trong trường hợp này, tự trẻ sẽ thực hiện hành động khi có sự xuất hiện của tác nhân kích thích, những
từ mà người lớn nói, và hành động của trẻ sẽ được thưởng một chiếc bánh Nếu đột nhiên trẻ bị chuyển đến một gia đình khác mà không chú í đến những gì trẻ nói, hoặc không thưởng cho trẻ, không lâu sau trẻ có thể sẽ không nói những từ nữa, do vậy, hành vi của trẻ có thể bị dập tắt
Mô hình của Skinner có thể được áp dụng trong công việc nhóm ở trường học hay trong các tổ chức bằng việc sử dụng các đơn vị thưởng quy đổi, với những hành vi
Trang 3mong muốn thì được thưởng tiền quy ước là cái có thể dùng để đổi những đặc quyền khác sau này
Trong số những hướng tiếp cận trị liệu, phương pháp hành vi được nghiên cứu
kỹ càng nhất để củng cố cho những kỹ thuật và quan điểm của các nhà hành vi Một mối quan hệ chặt chẽ với tâm lí học thực nghiệm đã tạo tiếng vang cho các nghiên cứu và xu hướng cho tính đặc thù và chi tiết của các kỹ thuật Các nhà hành vi học đánh giá tính đặc thù như là những triệu chứng và vấn đề, và lựa chọn những kỹ thuật trị liệu chính xác về mặt phương pháp Nhà tham vấn và khách hàng làm việc cùng với nhau để quyết định những mục tiêu tham vấn Khách hàng phải quyết định
họ muốn thay đổi điều gì trong cuộc sống của mình; trách nhiệm của nhà tham vấn là
sử dụng những phương pháp và kỹ thuật để mang lại sự thay đổi trong hành vi Một khi quá trình tham vấn bắt đầu, công việc hướng đến việc mang lại sự thay đổi trong hành vi Các nhà hành vi học thường bị buộc tội là lạnh lùng và máy móc trong quá trình trị liệu, nhưng dù sao đa số các nhà hành vi cho rằng mối quan hệ tốt đẹp với khách hàng là rất quan trọng Các buổi gặp gỡ đầu tiên tập trung vào việc thu thập thông tin và phát triển mối quan hệ tin tưởng
Tham vấn và trị liệu hành vi có một số điểm phân biệt với các hình thức trị liệu tâm lí khác, một trong số chúng là nguyên nhân của sự nhấn mạnh và một số là độc nhất:
Nghiên cứu hành vi có thể đo lường và quan sát được, mục tiêu của tham vấn
là giảm tần số xuất hiện hoặc thay đổi hành vi
Việc chấp nhận rằng hành vi có thể học được cung cấp cho chúng ta quá trình của nghiên cứu Nếu chúng ta biết con người học như thế nào, chúng ta có thể dạy những hành vi mong muốn
Phương pháp khoa học được áp dụng khắt khe hơn trong tham vấn Nhà tham vấn và khách hàng nỗ lực để hiểu cái mà khách hàng đã học là có vấn đề, sau
đó sử dụng các bước và kỹ thuật có hệ thống để đạt được các mục tiêu đặc biệt và có thể đạt tới
Trang 4Rất nhiều kỹ thuật có cấu trúc sẵn có để giải quyết những hành vi không thích hợp
Chúng ta giả sử rằng hiểu biết có í thức về hành vi của một ai đó, khi đối lập với những động lực vô thức và nhu cầu dành cho “sự thấu suốt”
Không có học thuyết hành vi nào về nhân cách được xây dựng tốt
Những tài liệu nghiên cứu về kỹ thuật tham vấn xây dựng lên sự tinh tế của các phương pháp để sử dụng với các vấn đề của khách hàng
Những cấu trúc lý thuyết
Hành vi phản ứng và hành vi tạo tác
Hành vi của con người có hai loại Loại thứ nhất có thể được gọi là hành vi phản ứng hay hành vi phản xạ: một loại phản ứng đặc biệt được tạo bởi một kiểu tác nhân kích thích thường diễn ra trước phản ứng đó Những thực nghiệm của Pavlov đã chứng minh điều kiện của hành vi phản ứng Nếu như một người sợ chó (tác nhân kích thích không điều kiện) và con chó xuất hiện trước mặt người này tại cùng thời điểm bạn huýt sáo (tác nhân kích thích có điều kiện), thì người này sẽ học được phản ứng sợ hãi (phản ứng có điều kiện) khi nghe tiếng sáo mặc dù không có sự xuất hiện nào của con chó
Mặt khác hành vi tạo tác không có sự đi kèm của tác nhân kích thích Nếu một hành vi được theo sau bởi một tác nhân củng cố, thì khả năng xuất hiện của hành vi
có thể lại tăng lên
Sự củng cố
Bất kỳ một sự kiện nào mà kéo dài hành vi quan sát được thì được xem như là một tác nhân củng cố Phản ứng được kéo dài theo cách mà nó có thể lặp lại Trong tham vấn, chúng ta nỗ lực để củng cố những hành vi mong muốn bằng cách đánh dthời thơ
ấu điểm nào và như thế nào để đưa ra tác nhân củng cố
Trang 5Sự tăng cường
Khi một phản ứng xuất hiện thì những kết quả điều kiện sẽ xuất hiện cùng với một tác nhân kích thích mà củng cố hành vi này Gương mặt mỉm cười của người mẹ (tác nhân kích thích) xuất hiện khi đứa con trai của cô mỉm cười (phản ứng) Nếu như gương mặt của người mẹ đóng vai trò như một tác nhân củng cố, thì con trai của cô
có khả năng mỉm cười nhiều hơn mỗi khi có sự xuất hiện của mẹ mình trong tương lai
Trong hành vi tạo tác, sự gia tăng tỷ lệ của những hành vi được củng cố được gọi là sự tăng cường (conditioning) Khi một đứa trẻ đến lớp ngày càng chăm chỉ bởi mỗi một lần đến lớp trẻ nhận được kẹo (tác nhân củng cố), sau đó hành vi này của trẻ
sẽ được tăng cường
Sự dập tắt
Khi phản ứng có điều kiện giảm cường độ bởi tác nhân củng cố không còn, chúng ta thấy được sự dập tắt Hành vi sẽ quay trở lại mức được chờ đợi mà không có tác nhân củng cố Nếu như không có kẹo đứa trẻ sẽ quay trở lại với hành vi không đến lớp trừ khi có một tác nhân củng cố khác thay thế cho kẹo, như sự chú ý của các bạn học
Khái quát hóa
Sau một phản ứng đã được tăng cường bằng một tác nhân kích thích đặc biệt, sự kích thích giống vậy có thể gợi lên phản ứng khái quát tương tự Một người bị cha mình trừng phạt (tác nhân kích thích) có thể sẽ trải nghiệm nỗi sợ hãi (phản ứng) hướng đến người cha của mình, sau đó những người đàn ông trưởng thành khác cũng có thể gợi ra ở trẻ phản ứng sợ hãi Phản ứng sợ hãi hướng đến những người đàn ông trưởng thành này là sự khái quát hóa Tác nhân kích thích càng giống với kích thích ban đầu bao nhiêu thì phản ứng càng mạnh bấy nhiêu Sự khái quát hóa có một số sự chỉ định kèm theo; đối với một ai đó, con người có thể tránh những tình huống mà ở
đó sự khái quát hóa có thể mang lại sự không thoải mái Do đó, những người đàn ông
Trang 6trẻ tuổi có thể cố gắng tránh mối liên kết gần gũi với những người trưởng thành, phản ứng sợ hãi tiềm ẩn có thể gây trở ngại cho cuộc sống hằng ngày Thứ hai, khi một quy trình dập tắt được áp dụng với tác nhân kích thích khái quát, dập tắt sẽ xuất hiện nhanh hơn khi tác nhân kích thích ít giống với ban đầu Bởi vậy, những người đàn ông trưởng thành khác xa về tuổi tác cũng như hình dáng bên ngoài với cha của cậu bé, việc dập tắt phản ứng sợ hãi với những người đàn ông này có thể trở nên dễ dàng hơn Quy trình này là nền tảng cho một số kỹ thuật thay đổi hành vi
Sự khái quát hóa là cần thiết bởi vậy chúng ta không phải học một phản ứng mới trong tất cả các tình huống có tác nhân kích thích Mặt khác, chúng ta và phải thực hiện hoạt động học tập để phản ứng với các kích thích giống và khác nhau trong
một số trường hợp theo những cách khác nhau Sự phân biệt xuất hiện khi khi hành vi
(phản ứng) được củng cố khi có sự xuất hiện của một kích thích nhưng không có sự xuất hiện của một kích thích khác Phản ứng sợ hãi của đứa trẻ trai được củng cố khi đứa trẻ ở một mình cùng với cha mình, nhưng sẽ không được củng cố khi có sự xuất hiện của những người đàn ông khác; bởi vậy, đứa trẻ trai này được củng cố phân biệt
Quá trình củng cố phân biệt cuối cùng sẽ dẫn đến phản ứng khác nhau, bởi vậy khi
đứa trẻ trai phản ứng với cha mình là khác biệt với những người đàn ông khác, đứa trẻ này đang phân biệt giữa họ Rõ ràng là, tham vấn hành vi sẽ bao gồm cả việc dạy phân biệt sự khác nhau của môi trường
Điều kiện hóa ngược
Trong trường hợp một cậu bé bị cha mình trừng phạt nghiêm khắc (tác nhân kích thích có điều kiện), người ta có thể sẽ mong muốn mang đến một phản ứng khác hơn
là sự sợ hãi khi có sự xuất hiện của người đàn ông lớn tuổi Tất nhiên điều này rất có ích, người đàn ông lớn tuổi sẽ không trừng phạt cậu bé nữa (tác nhân kích thích không điều kiện) hoặc gây ra sự không thoải mái ở đứa trẻ và thậm chí điều này sẽ có ích hơn khi người đàn ông lớn tuổi cư xử theo cách nào đó có thể gợi ra phản ứng hài lòng ở đứa trẻ Họ có thể mời người đàn ông này một ly cà phê (tác nhân kích thích
Trang 7không điều kiện mới) Việc thay thế một tác nhân kích thích không điều kiện mới thay
vì một phản ứng cũ và hiệu quả (sự thoải mái) hoàn toàn không phù hợp với phản ứng có điều kiện ban đầu (sợ hãi) được gọi là điều kiện ngược Sự thao tác một kích thích mới của nhà tham vấn sẽ đẩy mạnh sự loại bỏ những phản ứng không mong muốn và có thể đạt hiệu quả khi những quy trình dập tắt đơn giản không hoạt động
Ví dụ, không có sự trải nghiệm hành vi tích cực từ những người đàn ông trưởng thành, đứa trẻ có thể sẽ tiếp tục sợ hãi thậm chí dù là những người đàn ông này chưa bao giờ làm hại đứa trẻ
Sự củng cố từng phần
Các bài kiểm tra thử nghiệm đã chứng minh rằng những phản ứng bắt đầu trở nên mạnh hơn với những tác nhân củng cố không thích hợp hơn là với những tác nhân củng cố liên tiếp Nếu một đứa trẻ nhận được kẹo vì tham gia trên lớp học, nó sẽ tham gia thường xuyên hơn nếu như trẻ nhận được kẹo một cách gián đoạn hơn là mỗi khi trẻ tham gia Con người thường phản ứng thích hợp hơn đối với những người chỉ thỉnh thoảng chú ý tới họ hơn là thường xuyên Sau đó, sự củng cố từng phần có tác dụng ngăn cản tác nhân củng cố ở thời điểm này và đòi hỏi nó ở một thời điểm khác
Định hình
Định hình xuất hiện khi ai đó về phương diện cá nhân mong muốn một phản ứng đặc biệt nhưng lại quyết định củng cố những hành vi khác, những hành vi được củng cố dần dần sẽ gần giống với phản ứng mong muốn Người ta củng cố “vùng gần đúng” (successive approximations) của hành vi mong muốn Issacs, Thomas, và Golddiamond (1960) đã sử dụng kỹ thuật để khiến cho những bệnh nhân căng trương lực ở viện có hành vi ngôn ngữ Trong trị liệu nhóm, đầu tiên hai bệnh nhân căng trương lực không nói bất cứ điều gì Người lãnh đạo nhóm chú ý đến một bệnh nhân hướng ánh mắt đến một cái bã kẹo cao su; sau đó, nhà trị liệu giơ bã kẹo cao su lên
Trang 8Khi bệnh nhân này phản ứng lại bằng cách di chuyển ánh mắt theo bã kẹo cao su, nhà trị liệu đã đưa cho bệnh nhân cái bã kẹo như một tác nhân củng cố Trong những buổi gặp gỡ tiếp theo, từng bước một, mấp máy môi, phát ra âm thanh, và cuối cùng
là sự thể hiện của ngôn ngữ được củng cố Nhà trị liệu phải rất thận trọng trong việc lựa chọn những hành vi đúng và những tác nhân củng cố quan trọng
vi gây khó chịu của trẻ được củng cố Mặc dù cha mẹ trẻ có thể tin rằng họ đã và đang thay đổi hành vi của con mình, nhưng sự thật thì họ đơn giản là thoát khỏi hành
vi gây khó chịu của trẻ tạm thời và bị đứa trẻ kiểm soát Đầu tiên, khi cha mẹ trẻ không nhượng bộ nhưng sau này họ lại nhượng bộ trẻ hoặc ngay tại thời điểm đó, hành vi gây khó chịu của trẻ sẽ được củng cố mạnh mẽ hơn
Hành vi tránh né khác với hành vi trốn thoát Hành vi trốn thoát, người ta phản ứng để chấm dứt tình huống gây khó chịu đang diễn ra; khi chúng ta phản ứng để trì hoãn hoặc ngăn cản một tình huống diễn ra, chúng ta tạo ra hành vi tránh né Thông qua việc khám phá những hoàn cảnh mà người bệnh muốn tránh né, Ayllon và Michael (1959) đã làm cho các bệnh nhân tâm thần có thể tự ăn uống Họ muốn những bộ quần áo sạch sẽ, bởi vậy những người hộ lý được yêu cầu làm đổ thức ăn lên người bệnh khi họ cho bệnh nhân ăn Để “trốn khỏi” tình huống gây khó chịu này, cuối cùng những người bệnh đã tự ăn uống để “tránh” thức ăn đổ lên người lần nữa Lovaas, Schaeffer và Simmon (1965) đã sử dụng những cú sốc điện gây đau như là một tác nhân kích thích gây khó chịu để ép những đứa trẻ mơ mộng thực hiện các hành vi xã hội Trong cuộc sống hàng ngày, rất nhiều người chỉ làm việc để tránh xa
Trang 9tình huống gây khó chịu hơn, như không có đủ tiền cho các chi phí về lương thực, chỗ
ở, bị gia đình từ bỏ, hay phạm tội Miễn là những tình huống không mong muốn khác được né tránh, hành vi làm việc sẽ được củng cố
Những lợi thế của tham vấn hành vi nhóm
Người ta đã buộc tội những nhà tham vấn hành vi một cách sai lầm rằng họ sử dụng nhóm một cách đơn giản bởi vì nó mang tính kinh tế và ít khi sử dụng từng kỹ thuật một trong môi trường của một nhóm Tuy nhiên, nhóm có thể tạo ra những ưu điểm cho từng tình huống một Trong nhóm, người lãnh đạo không phải là người duy nhất đưa ra những gợi ý các hành vi lựa chọn hoặc củng cố những hành vi mong muốn; trên thực tế các thành viên khác trong nhóm cũng có thể đóng vai trò như là những tác nhân củng cố tiềm năng
Nhóm cũng tạo ra những cơ hội cho các thành viên mà trong tham vấn cá nhân không có được Người tham gia có thể cảm thấy tự do hơn để thử những hành vi gây
Trang 10khó chịu hoặc hành vi xã hội hóa với một số những thành viên khác và những lợi ích
từ việc có nhiều mô hình mẫu để bắt chước Tại cùng một thời điểm, mỗi một thành viên đều có cơ hội để cư xử với vai trò như một người làm mẫu hoặc dạy các kỹ năng,
cả hai vai trò này đều có thể được thưởng
Những tương tác xã hội giữa các thành viên trong nhóm tạo cơ hội cho người lãnh đạo nhóm quan sát hành vi và đánh giá các kỹ năng và những thiếu hụt Các thành viên tham gia tạo ra các phản ứng hướng tới các thành viên khác điều mà sẽ không có khả năng xuất hiện trong tham vấn cá nhân Khi mỗi một thành viên thử những hành vi khác nhau, hoặc học kỹ năng, người lãnh đạo nhóm có thể quan sát và đánh giá sự tiến bộ của họ Mỗi thành viên sẽ nhận được phản hồi về hành vi tại thời điểm xuất hiện Nhà tham vấn cần lưu ý rằng thay đổi hành vi ở bên ngoài môi trường nhóm thường không được gia đình, bạn bè và những người cùng công tác chấp nhận, bởi vậy nhóm sẽ tạo ra sự ủng hộ bằng việc tiếp tục củng cố những thay đổi hành vi tích cực
Những ưu điểm này có thể áp dụng trước hết đối với nhóm cần giải quyết các vấn đề tương tác xã hội Nhóm này thường có số thành viên hỗn tạp và cấu trúc kém hơn những nhóm cần giải quyết hành vi cá biệt như ám ảnh sợ Goldsten và Wolpe (1971) tin rằng những nhóm cấu trúc kém sẽ tạo ra được những khả năng độc đáo cho cả phân tích hành vi và can thiệp trị liệu Tuy nhiên, Lazarus (1968) cho rằng công việc nhóm hiệu quả với những nhóm đồng nhất, tức là những nhóm đang phải đối mặt với các vấn đề về sự bất lực, lãnh đạm, ám ảnh sợ, và nhu cầu được khẳng định
Các phương pháp và quy trình nhóm
Các kỹ thuật là nền tảng trong công việc của các nhà tham vấn hay trị liệu hành vi Một học thuyết nhân cách có lẽ là không cần thiết và người ta không cần biết nguyên nhân của những hành vi hiện tại Người ta đơn giản chỉ cần hiểu những vấn đề hiện tại – liệu đó là những hành vi không mong muốn, hành vi mới, hay là những hành vi
Trang 11thích ứng – và lựa chọn một kỹ thuật để thay đổi hành vi Những nhà hành vi học vẫn chưa phát triển đầy đủ những kỹ thuật để giải quyết tất cả các vấn đề của con người, nhưng trong vòng hai mươi năm qua một loạt các kỹ thuật hữu dụng đã phát triển mạnh
Người đóng góp lớn cho kỹ thuật hành vi là Joseph Wolpe (1958), ông đã gợi ý rằng hành vi nhiễu tâm bị tập nhiễm khi có sự xuất hiện của kích thích tạo ra sợ hãi Mục đích của liệu pháp hành vi là để đảo ngược phản ứng sợ hãi bằng việc tạo ra những phản ứng cảm xúc mới với kích thích Từ giả định của ông, tại cùng một thời điểm người ta không thể vừa cảm thấy sợ hãi vừa thả lỏng cơ thể, Wolpe đã phát triển giải mẫn cảm có hệ thống Ông đã dạy cho khách hàng thư giãn, sau đó khuyến khích họ tiếp tục thả lỏng khi đối mặt với kích thích tạo ra sợ hãi trước đây
Liệu pháp gây khó chịu (xem thêm Rachman và Teasdale, 1969) sử dụng một cách thức kỹ thuật khác để thay đổi hành vi, bao gồm một số trải nghiệm khó chịu Những nghiên cứu trước đây đã sử dụng tác nhân kích thích điện cực mạnh lên những người nghiện rượu để giúp họ từ bỏ rượu (Kantorovich, 1929), và những cú sốc mạnh lên những người đồng tính để xua đi suy nghĩ mù quáng của họ (Max, 1935) Sốc điện là lựa chọn gây khó chịu cho đến khi Cautel (1966) phát triển kỹ thuật
“nhạy cảm bên trong” Với kỹ thuật này, khách hàng tưởng tượng ra hình ảnh cực kỳ khó chịu phù hợp với thời điểm phải chịu sốc điện những hành vi không mong muốn Những kỹ thuật gây khó chịu đã được áp dụng cho những hành vi không được xã hội mong đợi như nghiện rượu và lệch lạch về giới tính
Một hướng tiếp cận khác nữa là hướng tiếp cận của nhà học thuyết học tập xã hội (Bandura, 1969) Thuyết học tập được áp dụng cho những tình huống liên nhân cách xã hội (social – interpersonal situations) để hiểu về những thành quả của những hành vi mong muốn và không mong muốn về mặt xã hội Đóng góp nổi bật nhất của những nhà học thuyết này nằm ở chỗ nhận thức hành vi “làm mẫu” như là một cách
để học tập các kỹ năng xã hội Học tập có thể nảy sinh từ những trải nghiệm trực tiếp,
Trang 12củng cố đại diện, hoặc từ việc bắt chước, và nhóm tham vấn là một nơi lý tưởng cho khuôn mẫu hành vi diễn ra
Giải mẫn cảm có hệ thống
Arnold Lazarus (1961) đã áp dụng gây tê có hệ thống của Wolpe trong môi trường nhóm Hãy nhớ rằng người ta không thể cùng một lúc vừa sợ hãi vừa thả lỏng; về mặt sinh học chúng ta không thể cùng tồn tại ở hai trạng thái Sợ hãi “bị ức chế qua lại bởi
sự thả lỏng dẫn đến điều kiện ngược (counterconditioning) hoặc sự dập tắt” Nhà trị liệu đưa ra tác nhân kích thích gây sợ hãi, như rắn, và ở cùng thời điểm đó dạy khách hàng quy trình thả lỏng cơ thể mang đến trạng thái sinh lí học tích cực Đối với kích thích khó chịu sự xuất hiện phải từ từ; ví dụ, nhà trị liệu dạy cách thả lỏng các cơ, và nếu tác nhân kích thích gây khó chịu là một con rắn, nhà trị liệu phải tạo ra một loạt
sự xuất hiện theo mức độ, đầu tiên phải dạy khách hàng thả lỏng với kích thích gây khó chịu nhỏ nhất Khách hàng sẽ được đưa đến trước bức tranh rắn cho đến khi sự thả lỏng xuất hiện, sau đó sẽ được đưa đến chỗ con rắn qua cửa sổ xa mười tám mét Các bước sẽ được tiếp tục cho đến khi khách hàng có thể đứng gần hoặc thậm chí là
sờ vào con rắn mà không sợ hãi Tất nhiên, khách hàng phải muốn vượt qua nỗi sợ hãi này Phương pháp này rất có hệ thống, ở đó nhà tham vấn quyết định tác nhân kích thích gây khó chịu, lập kế hoạch xuất hiện theo mức độ cho các kích thích, và hướng dẫn khách hàng thả lỏng cơ thể; do vậy, nó không tạo ra phản ứng sợ hãi nữa
Lazarus đã thành lập ra các nhóm khách hàng bất lực về tình dục, nhóm khách hàng sợ chỗ kín, sợ độ cao cho giải mẫn cảm có hệ thống Hệ thống phân cấp thứ bậc của kích thích gây khó chịu sẽ bắt đầu khi tất cả các thành viên trong nhóm đều sẵn sàng cho điều này Đầu tiên, mỗi nhóm được thành lập bởi các thành viên có cùng một vấn đề Sau đó, Lazarus sẽ tham vấn với nhóm các thành viên có những ám ảnh
sợ rất khác nhau Sau khi dạy thao tác thả lỏng, ông đã đưa cho mỗi người một danh sách những thứ có liên quan đến hệ thống thứ bậc sợ hãi của họ Họ được yêu cầu phải đọc bản mô tả và tưởng tượng khi nhắm mắt lại và thả lỏng hết sức có thể Mỗi
Trang 13thành viên có thể tiếp tục nhịp chân trong lúc tưởng tượng So sánh kỹ thuật này với một nhóm định hướng sáng suốt (insight – oriented group) và đóng vai về kiểm soát Lazarus chỉ ra rằng không thay đổi triệu chứng của nhóm kiểm soát, trong khí đó 2/3 nhóm hành vi có thay đổi
Một nhóm khác bao gồm những người đàn ông bất lực có nỗi sợ hãi về thất bại trong tình dục đoán trước được Các buổi trị liệu bắt đầu bằng việc cung cấp thông tin cho họ và đối tác của họ một cách riêng rẽ, những bài tập thư giãn và giải mẫn cảm nhóm bắt đầu ở buổi gặp thứ ba Hệ thống cấp bậc các điều kiện bắt đầu bằng việc hôn và kết thúc trong việc thay đổi vị trí trong quá trình giao hợp Mười ngày sau, từng thành viên của ba nhóm báo cáo trải nghiệm tình dục thành công của họ Sau một buổi trị liệu nữa, các thành viên cho biết đã có những thành công thích hợp trong hoạt động tình dục của họ Quy trình tương tự cũng được sử dụng với những phụ nữ lãnh cảm Mười buổi trị liệu là cần thiết để hoàn thành hệ thống mô hình tháp này Sau mười bốn buổi trị liệu, một phụ nữ cho biết đã có những khoái cảm thỏa mãn thích hợp, trong khi hai người khác đã đạt được điều này trong hơn một nửa số lần quan hệ
Những báo cáo khác của liệu pháp giải mẫn cảm bao gồm ứng dụng của Paul (1966) Ông đã chọn những người sợ nói trước đám đông và đưa họ vào 5 kiểu nhóm: giải mẫn cảm hệ thống, liệu pháp tâm lí định hướng sáng suốt, nhóm thuốc chấn an (giả) chú ý, kiểm soát danh sách chờ đợi, và một nhóm kiểm soát không liên kết Kỹ thuật giải mẫn cảm là đạt hiệu quả nhất, và giải mẫn cảm nhóm có được hiệu quả chung tích cực hơn liệu pháp giải mẫn cảm cá nhân Thời gian trị liệu trung bình của mỗi một khách hàng ít hơn 2 giờ Những áp dụng thành công khác cũng được tiến hành bởi McManus (1971), Di Loreto (1971), và Sloane, Staples, Cristal, Yorston và Whipple (1975)
Làm mẫu