Tác dụng và hiệu quả của sáng tạo Ngu Yên Về mặt nghệ thuật, chính yếu nhất là xét lại sự sáng tạo thể hiện trong tác phẩm.. Cho đến hôm nay, không một người sáng tác nào xa lạ với chữ
Trang 10 Tác dụng và hiệu quả
của sáng tạo
Trang 2Tác dụng và hiệu quả
của sáng tạo Ngu Yên
Về mặt nghệ thuật, chính yếu nhất là xét lại sự sáng tạo thể hiện trong tác phẩm
Cho đến hôm nay, không một ai có thể bác bỏ: Sáng tạo là tinh túy của văn chương Sáng tạo mang đến hai kết quả cho sáng tác: 1- ý nghĩa khác thường, 2- vẻ đẹp mới lạ Sáng tạo là khả năng duy nhất mang đến tính nguyên bản và độc đáo cho tác phẩm
Cho đến hôm nay, không một người sáng tác nào
xa lạ với chữ "sáng tạo." Nếu họ không hiểu rõ ý nghĩa, chắc chắn họ cũng có thể mường tượng uy lực và sự cần thiết của nó
Về mặt lý thuyết, sáng tạo có thể được định nghĩa
rõ ràng, được phân tích tỉ mỉ, được giải thích cặn kẽ; nhưng trong thực hành, không dễ áp dụng Không mấy ai có thể bảo đảm sự sáng tạo xuất
Trang 3hiện thường xuyên và hữu hiệu trong mỗi tác phẩm của mình, dù họ có thể là những nhà sáng tác tên tuổi bậc thầy
Mô tả và đối thoại: phương tiện sáng tạo
Thực tế, sáng tạo không cần phải hiểu theo nghĩa
lý thuyết Sáng tạo trong văn chương không phải
để kể lại cho độc giả, mà để đưa cho họ xem, chỉ cho họ những hình ảnh và sự biến hóa của các hình ảnh đó, tạo ra ý nghĩa Do đó, không phải giãi bày, không phải lý luận, mà chính là mô tả, phương tiện căn bản và hữu dụng của sáng tạo, tác dụng trên độc giả
Ví dụ: 1- Gương mặt ông biến sắc, tái nhợt Chân
tay run lẩy bẩy 2- Hơi thở ông gấp gáp, sự sợ hãi khiến ông không thể cử động Câu 2, câu kể
truyện, xác nhận sự sợ hãi Câu 1, câu mô tả, chỉ cho người đọc sự sinh hoạt của hình ảnh Nếu không có câu 2, câu 1 sẽ tạo cho người đọc sự suy đoán và sẽ nhận ra tâm trạng sợ hãi của nhân vật Câu 2, là câu thừa Từ phân tích này đưa đến một nhận định: khi mô tả, động từ đóng vai trò quan trọng Phải chọn động từ sắc sảo, đúng cường độ
để diễn tả trạng thái, thái độ, hoạt động hoặc cảm giác Sự sống động nằm nơi động từ
Tác dụng của sáng tạo là cần thiết Hiệu quả của
nó là giá trị Khi chỉ cho độc giả xem sinh hoạt của hình ảnh, ngoài trừ sức truyền đạt ý nghĩa do hình ảnh đại diện, đồng thời phải đánh động cảm giác
và cảm tưởng của họ Trong "the Silence of the
Lambs" c ủa Thomas Harris, 1988, ông mô tả: Con
bọ nhỏ bò ra khỏi bàn tay thứ hai là cảnh cuối cùng
mà cô nhìn thấy trước khi đèn tắt Đây là một câu
truyện kinh rợn, tả cảnh một người chết lâu ngày
Trang 4vừa được khám phá, ông dùng hình ảnh con bọ, bàn tay bất động, và tắt đèn
Mô tả chỉ có kết quả khi hình ảnh rõ rệt, được sắp xếp để mang theo ý nghĩa Ví dụ: Cô ta mặc đồ rất
đẹp, vừa hấp dẫn vừa khiêu gợi, đi dự dạ hội với ý định mua lòng ông thống đốc Câu này thuộc về kể
truyện Câu mô tả sẽ tạo hình ảnh sống động hơn:
Cô ta mặc áo sườn xám đỏ, đường xẻ cao hơn bình thường trên làn da đùi rám nắng Giữa buổi dạ hội, cô tiến dần về phía ông thống đốc với đôi mắt phát ánh cười thân mật
Sát cạnh mô tả, sống động hơn nữa, là đối thoại, một phương tiện trực tiếp của sáng tạo đi thẳng vào tâm trí độc giả, vì đó là lời nói quen thuộc, sử dụng hàng ngày Đối thoại tự nó có thể bao gồm giải thích, tranh luận, mô tả, ngụ ý, có thể vẽ ra
cá tính của người nói, có thể vẽ ra tình cảnh, tình tiết, có thể kể lại hoặc hướng dẫn diễn tiến của câu truyện
Ví dụ, thay vì phải kể lể dài dòng sự gặp gỡ giữa hai người quen sau 40 năm cách biệt, dùng đối thoại, ngắn ngủi và đầy đủ, tạo hình ảnh thăng trầm
và vật đổi sao dời:
- Anh Thành, th ật xin lỗi, tóc râu anh bạc trắng, nhìn không ra Trông anh vẫn còn phong độ
- Vâng, cảm ơn, đã bốn mươi năm rồi còn gì Lần cuối gặp nhau ở Huế, anh em mình còn trẻ măng Anh chống cây gậy này trông cũng mốt lắm
Mục đích sử dụng mô tả, đối thoại, độc thoại vì muốn thâu ngắn đoạn đường kể truyện và gia tăng máu sắc cũng như sự sống động Tuy nhiên, nếu
có thể kể tóm gọn mà đầy đủ, thì nên kể Rốt ráo,
Trang 5tất cả kiểu cách sử dụng chữ nghĩa đều là phương tiện của sáng tạo văn chương
Tóm lại, truyện ngắn cần cô đọng, vì vậy sử dụng
mô tả, đối thoại, độc thoại như sự thay thế cho kể truyện với ý định thay đổi khỏi nhàm chán và sống động, văn vẻ hơn Bao gồm kỹ thuật, R Michael Burns đề nghị:
1- Dùng động từ có cường lực, có độ chính xác Tránh dùng trạng từ và tính từ, nếu không cần thiết
2- Khơi động tình cảm người đọc qua hành động, phản ứng, và cảm nghĩ của nhân vật và cách mô tả mang sinh khí Đừng đơn giản nói với độc giả họ phải cảm giác và cảm tưởng như thế nào
3- Hoàn cảnh và tình tiết phải được mô tả sống động
4- Dùng kinh nghiệm sống vào đối thoại, ngắn gọn
mà thể hiện được tình cảm và cá tính
Sáng tạo văn chương
Bắt đầu trên một khoảng không trắng tinh như trang giấy hoặc màn ảnh vi tính, những tưởng tượng theo dòng ý nghĩa từ tâm trí tác giả xuất hiện lên khoảng trắng, ghi lại bằng ngôn ngữ Từ ngôn ngữ những hình ảnh sinh hoạt được tổ chức hoàn tất trong một tập hợp, tạo ra ý nghĩa có giá trị thẩm
mỹ và phong thái truyền đạt mang tính đẹp riêng
tư
Sáng tạo là nguồn gốc và động cơ thể hiện kết quả vào tác phẩm, có tên gọi là "nguyên bản" Danh từ này không tương đương với từ "the original" theo
Trang 6nghĩa sáng tạo "Nguyên bản" trong nghĩa này không phải là bản gốc, bản nguyên thủy, mà có nghĩa là bản "không giống những bản trước đó," để phân biệt với bản sao, bản bắt chước, bản tương tựa, bản trích dẫn Như vậy, vẫn chưa đầy đủ, vì
"nguyên bản" mà không có ý nghĩa, không có giá trị, sẽ không được liệt kê vào bảo tàng sáng tạo Vì vậy, "nguyên bản" văn chương bao gồm tính đặc thù, độc đáo và ý nghĩa Tác phẩm của sáng tạo là tác phẩm giá trị không giống những tác phẩm khác
và nổi bật bởi sự độc đáo mang sắc thái thẩm mỹ Sáng tạo tuy dễ hiểu nhưng nguyên bản lại khó thực hành Tác phẩm là bằng chứng của thực hành Thực hành là bằng chứng nội lực và bản lãnh của tác giả Hơn nữa, theo triết gia Maurice Blanchot (1907-2003), thực hành là hành động từ bức xúc của cô đơn, vốn dĩ là nguồn nuôi nấng sáng tạo Trong văn chương, tác phẩm quan trọng hơn lịch sử, nhật ký, phỏng vấn, đời sống của tác giả, nhất là những tác phẩm nguyên bản, không chỉ
là bằng chứng cá nhân, còn là bằng chứng của một thời đại
Tái xét sáng tạo trong tác phẩm là tái xét sự nguyên bản Trong thực tế, tái xét nguyên bản trên diện nghệ thuật văn chương, phải đối diện với những câu hỏi, không dễ trả lời chính xác, ví dụ: Nguyên bản tính trên toàn bộ hoặc trên từng thành
tố cấu tạo tác phẩm? Ở mức độ nguyên bản nào, tác phẩm được xem là nguyên bản?
Càng khó khăn hơn khi nhận xét của Roland
Barthes trong The Death of the Autor, cái ch ết của tác giả, khiến cho văn học Hậu Hiện Đại đặt lại vấn
đề: Có hay không có nguyên bản? Cần hay không cần nguyên bản? Ông Barthes viết: Chúng ta đều
Trang 7biết, một văn bản không chỉ là dòng chữ, phát ra một ý nghĩa "thiên ngôn" duy nhất ("thông điệp của Thượng Đế,) nhưng là một không gian có nhiều chiều, trong đó những thể loại viết tương tranh và quấn quít vào nhau, nhưng không văn bản nào là nguyên bản: văn bản chỉ là mô văn (tissue) được trích lại, kết tinh từ hàng ngàn nguồn văn hóa khác nhau [ ]
Tác giả không còn cưu mang niềm đam mê, khiếu khôi hài, khả năng truyền cảm và gây cảm kích, mà chỉ là một cuốn từ điển khổng lồ, từ đó ông chuyển hóa thành một bài viết, có thể không kết thúc, không ngừng nghỉ: đời sống chỉ có thể bắt chước cuốn sách và chính cuốn sách chỉ là mô văn của ký hiệu, một mô phỏng từ nguồn xa xưa đã thất lạc
Barthes nằm trong dòng tư tưởng của Hậu Hiện Đại, phủ nhận giá trị truyền thống "nguyên bản" của sáng tạo và cho sáng tạo một vai trò khác, đó
là sự "độc đáo"
Như vậy, tái xét sáng tạo trong tác phẩm là tái xét tính nguyên bản hoặc sự độc đáo Một tác phẩm văn chương có giá trị luôn luôn phải có tính nguyên bản hoặc sự độc đáo, hoặc cả hai
Ngu Yên