- Chính sách tài khóa có thể hiểu là các biện pháp can thiệp của chính phủ đến hệ thống thuế khóa và chi tiêu của chính phủ nhằm đạt được các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô như tăng trưở
Trang 1Phân tích tình trạng sử dụng chính sách tài khóa trong việc điều tiết chu kỳ kinh tế tại Việt Nam Việc sử dụng chính sách tài khóa có tác
động đến hoạt động đầu tư ở Việt Nam như thế nào?
I Một số vấn đề lý luận chung.
1 Chính sách tài khóa và phân loại chính sách tài khóa.
1.1 Chính sách tài khóa là gì?
Các nền kinh tế thị trường thường xuyên biến động, đều từng trải qua các thời kỳ tăng trưởng nóng, lạm phát cao và tỉ lệ thất nghiệp thấp hoặc chậm tăng trưởng, lạm phát thấp
và tỷ lệ thất nghiệp cao Một trong những chính sách ổn định nhất mà Chính phủ xây dựng là chính sách tài khóa.
- Chính sách tài khóa có thể hiểu là các biện pháp can thiệp của chính phủ đến hệ thống thuế khóa và chi tiêu của chính phủ nhằm đạt được các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm hoặc ổn định giá cả và lạm phát.
- Các công cụ của chính sách tài khóa bao gồm:
+ Thuế trực thu là thuế đánh trực tiếp lên giá trị tài sản hoặc thu nhập của người nộp thuế, ngược lại thuế gián thu là thuế đánh lên giá trị của hàng hóa, và dịch vụ trong quá trình lưu thông thông qua hành vi sản xuất, và tiêu dùng trong nền kinh tế.
+ Chính sách chi tiêu công rất đa dạng nhưng ta có thể phân chia thành hai nhóm chính bao gồm chi thường xuyên và chi tiêu cho đầu tư phát triển.
+ Các công cụ nhằm tài trợ cho thâm hụt ngân sách hay vay nợ của Chính phủ (tạm gọi là
nợ công) cũng được xem như là một phần của chính sách tài khóa.
1.2 Phân loại chính sách tài khóa.
Có 2 loại:
Chính sách tài khóa mở rộng.
Chính sách tài khóa mở rộng là chính sách mà Chính phủ sẽ
- Tăng chi mua hàng hóa và dịch vụ sẽ trực tiếp làm tăng tổng cầu.
- Giảm thuế sẽ làm tăng thu nhập khả dụng cho hộ gia đình Thu nhập khả dụng tăng sẽ kích thích tiêu dùng tăng theo và từ đó cũng sẽ làm tổng cầu tăng.
Trang 2 Khi tổng cầu tăng, đường cầu dịch chuyển lên trên, sẽ làm cho sản lượng tiến về sản lượng tiềm năng và thất nghiệp giảm xuống bằng thất nghiệp tư nhân.
Chính sách tài khóa thắt chặt.
Chính sách tài khóa thắt chặt là chính sách mà Chính phủ sẽ:
- Giảm chi mua hàng hóa và dịch vụ, sẽ trực tiếp làm giảm tổng cầu.
- Tăng thuế sẽ làm giảm thu nhập khả dụng cho hộ gia đình nên thu nhập khả dụng giảm Khi đó, hộ gia đình sẽ hạn chế tiêu dùng, dẫn đến tổng cầu giảm.
Khi tổng cầu giảm, đường tổng cầu dịch chuyển xuống dưới làm cho sản lượng tiến về sản lượng tiềm năng và lúc đó sẽ khắc phục được tình trạng lạm phát cao.
2.Chu kỳ kinh tế
1.1 Khái niệm
Chu kỳ kinh tế, còn gọi là chu kỳ kinh doanh, là sự biến động của GDP thực tế theo trình
tự ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh.
Các pha của chu kỳ kinh tế và đặc điểm.
Suy thoái là pha trong đó GDP thực tế giảm đi
Phục hồi là pha trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trước suy thoái Điểm ngoặt giữa hai pha này là đáy của chu kỳ kinh tế.
Khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay trước lúc suy thoái, nền kinh tế đang ở pha hưng thịnh Kết thúc pha hưng thịnh lại bắt đầu pha suy thoái mới.
Trang 3Một số đặc điểm thường gặp của suy thoái là:
Tiêu dùng giảm mạnh, hàng tồn kho của các loại hàng hóa lâu bên trong các doanh nghiệp tăng lên ngoài dự kiến Việc này dẫn đến nhà sản xuất cắt giảm sản lượng kéo theo đầu tư vào trang thiết bị, nhà xưởng cũng giảm và kết quả là GDP thực tế giảm sút.
Cầu về lao động giảm, đầu tiên là số ngày làm việc của người lao động giảm xuống tiếp theo là hiện tượng cắt giảm nhân công và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao.
Khi sản lượng giảm thì lạm phát sẽ chậm lại do giá đầu vào của sản xuất giảm bởi nguyên nhân cầu sút kém Giá cả dịch vụ khó giảm nhưng cũng tăng không nhanh trong giai đoạn kinh tế suy thoái.
Lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm mạnh và giá chứng khoán thường giảm theo khi các nhà đầu tư cảm nhận được pha đi xuống của chu kỳ kinh doanh
Còn khi nền kinh tế hưng thịnh thì các dấu hiệu trên biến thiên theo chiều ngược lại.
2.1 Ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế.
Khi có suy thoái, sản lượng giảm sút, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, các thị trường từ hàng hóa dịch vụ cho đến thị trường vốn thu hẹp dẫn đến những hậu quả tiêu cực về kinh tế, xã hội
3 Sự tác động của Chính sách tài khóa đến chu kỳ kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, nhược điểm lớn nhất là tự động tạo ra chu kì kinh tế, sản lượng thực tế dao động lên xuống xoay quanh sản lượng tiềm năng nên nền kinh tế có xu hướng bất ổn
Vì vậy,chính phủ cần sử dụng Chính sách tài khóa để điều hòa hoạt động của nền kinh tế
Chính sách tài khóa ngược chu kỳ
Theo học thuyết Keynes, chính sách tài khóa được sử dụng để chống lại chu kỳ kinh tế Khi các nước tiến hành chính sách tài khóa thu hẹp để kiềm chế lạm phát hay tiến hành chính sách tài khóa mở vào lúc có suy thoái thì người ta gọi các chính sách tài khóa đó là ngược chu kỳ Một nghiên cứu của Kaminsky, Reinhart và Vegh (2004) cho thấy, về các chính sách tài khóa,
đa số các nước phát triển thường là ngược chu kỳ do có các công cụ bình ổn tự động, bao gồm thuế lũy tiến và trợ cấp thất nghiệp và các khoản trợ cấp xã hội
Chính sách tài khóa thuận chu kỳ.
Khi các nước tiến hành chính sách tài khóa mở rộng vào lúc có lạm phát hay tiến hành chính sách tài khóa thu hẹp vào lúc có suy thoái thì người ta gọi các chính sách tài khóa đó là thuận chu kỳ
Trang 4Chính sách tài khóa ở các nước đang phát triển thường có xu hướng thuận chu kỳ do các nước đang phát triển thường ít có các công cụ bình ổn tự động Một lý do khác là các nước này có sự phụ thuộc lớn vào đầu tư nước ngoài
Một số tác động như:
Thứ nhất, chính sách tài khóa trên lí thuyết là một công cụ nhằm khắc phục thất bại của
thị trường, phân bổ có hiệu quả, sử dụng các nguồn lực trong nền kinh tế thông qua việc chi chính sách, chi tiêu và thuế khóa
Thứ hai, chính sách tài khóa có chức năng như một công cục phân phối và tái phân
phối tổng sản phẩm quốc dân.
Thứ ba, chính sách tài khóa hướng tới mục tiêu tăng trưởng và định hướng phát triển Thứ tư, chính sách tài khóa có thể được áp dụng nhằm ổn định tăng trưởng kinh tế.
II Thực trạng sử dụng chính sách tài khóa trong điều kiện chu kỳ kinh tế nước ta giai đoạn 2008-2018
1 Tình hình chung của kinh tế Việt Nam
Đến năm 2017 - 2018, nhiều chuyên gia kinh tế dự báo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
có thể rơi vào chu kỳ 10 năm Tuy nhiên, kết thúc năm 2018, GDP của Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng ấn tượng, vượt kế hoạch đề ra đầu năm là 6,7% và đạt mức 7,08%
Giai đoạn năm 2008 – 2018, nền kinh tế Việt Nam đạt mức tăng trưởng khá cao so với nhiều nước trên thế giới, đạt mức bình quân 6,1%, nhưng tăng thấp hơn so với giai đoạn
1986-2006 trước đó, GDP bình quân tăng 6,8%
Tăng trưởng GDP của Việt Nam vẫn còn nhờ nhiều vào tín dụng ngân hàng nhưng giảm dần phụ thuộc Nếu những năm 2008 – 2010, mức bơm tín dụng của ngân hàng vào nền kinh tế luôn trên 30% (năm 2009 là 37,7%) nhưng GDP tăng trưởng chưa tương xứng, chỉ ở mức 5,66 -6,42% Từ năm 2013 trở đi, mức "bơm" tín dụng đã chậm lại nhưng vẫn ở hai con số 13-18%, tăng trưởng GDP cũng tăng mạnh mẽ trở lại luôn trên mức 6,2% (trừ năm 2014 là 5,98%), đạt cao nhất trong 10 năm qua ở mức 7,08% cho năm 2018
Tín dụng hỗ trợ tăng trưởng GDP nhưng cũng làm lạm phát tăng cao Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) rất cao 22,97% năm 2008, giảm dần nhưng tăng trở lại mức hai con số 18,58% vào năm
2011 do tín dụng vẫn tăng mạnh năm 2009 (37,7%) và năm 2010 (27,6%)
Mức "bơm" tín dụng giảm mạnh từ năm 2011 còn 10,9% và 8,85% năm 2012 khiến lạm phát những năm sau đó lao dốc và về mức rất thấp 0,63% năm 2015 khiến nhiều chuyên gia kinh
tế lo ngại giảm phát xuất hiện Tuy nhiên, điều này đã không xảy ra khi lạm phát được kiểm soát dưới 4% cho đến năm 2018 nhờ tiền được "bơm" ở mức 14-18%
Trang 5Sau giai đoạn mấp mô giữa tăng trưởng tín dụng, tăng lạm phát và tăng GDP, các yếu tố này đã tăng trưởng hài hoà trở lại từ năm 2016 – 2018 với mức GDP luôn tăng trên 6% và lạm phát dưới 4%
Với việc bơm vốn nhiều vào nền kinh tế đã giúp GDP tăng trưởng, nhưng cũng khiến cho quy mô tín dụng luôn cao hơn quy mô GDP Tỷ lệ tín dụng trên GDP ở mức 125% đạt được vào năm 2010 với quy mô GDP là 116 tỷ USD, năm 2011 là 124% với quy mô GDP là 135,5 tỷ USD
Đặc biệt, năm 2017 và 2018 quy mô tín dụng đã lên đến 130% - 134% GDP, tương ứng với quy mô GDP ở mức 223,9 tỷ USD và 240 tỷ USD
Ngoài ra, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên GDP cũng khá cao, mức trên 40% cho những năm 2008 – 2010 Từ năm 2011 đến 2018, tỷ lệ này đã giảm về mức 30%, thấp nhất là năm 2013 chỉ ở mức 30,4% GDP (tương ứng 1,091 triệu tỷ đồng) và năm 2014 là 31% GDP (tương ứng 1,22 triệu tỷ đồng)
Từ năm 2016 – 2018, tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội trong khoảng 33% GDP, tương ứng với mức 1,5 – 1,8 triệu tỷ đồng
Quy mô GDP của Việt Nam năm 2018 khoảng 240 tỷ USD, gấp 2,4 lần quy mô GDP năm
2008 là 99,13 tỷ USD
Trong khoảng 10 năm qua, dân số Việt Nam cũng tăng thêm 9,55 triệu người, tính bình quân mỗi năm tăng thêm gần 01 triệu người từ mức 85,12 triệu dân năm 2008 tăng lên 94,67 triệu dân năm 2018
Theo ước tính của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đến năm 2025, dân số Việt Nam sẽ đạt mức 101 triệu người và ở mức 110 triệu người vào năm 2035
Song song đó, thu nhập bình quân đầu người cũng tăng 3,3 lần từ mức 17,3 triệu đồng/người/năm của năm 2008 và đưa Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp, đến năm 2018 mức thu nhập bình quân tăng lên mức 58,5 triệu đồng/người/năm Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng Việt Nam cần nhiều nỗ lực để thoát “bẫy thu nhập trung bình”
Dù thu nhập bình quân đầu người tăng lên, nhưng tỷ giá USD/VND cũng đã tăng trên 30% trong 10 năm qua từ mức 17.000 - 18.000 USD/VND cuối năm 2008 đầu năm 2009 lên mức 23.200 USD/VND cuối năm 2018, tức VND đã mất giá trên 30% so với USD
Trong giai đoạn 2008 - 2018, Việt Nam đã nỗ lực giảm tỷ lệ thất nghiệp Nếu như năm
2008, tỷ lệ này tới 4,65% thì những năm tiếp theo về mức quanh 2% - 2,4%
Năng suất lao động của người dân Việt 10 năm qua đã liên tục tăng tịnh tiến Nếu như năm
2008, năng suất lao động trung bình của người dân Việt chỉ ở mức 35 triệu đồng/người, đến năm
2018 đã tăng lên 102 triệu đồng/người, gấp 3 lần
Trang 6Tuy nhiên, theo Giáo sư Nguyễn Thiện Nhân, Bí thư Thành uỷ TP.HCM, năng suất lao động của người Việt đang thấp hơn Singapore 15 lần, thấp hơn Nhật Bản 11 lần, thấp hơn Hàn Quốc 10 lần, thấp hơn Malaysia 5 lần và thấp hơn Thái Lan 2,5 lần
Theo ông Nhân, một trong những nguyên nhân chính là công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp Việt đã quá lạc hậu vì không chịu đầu tư khi có tới gần 60% doanh nghiệp sử dụng công nghệ lỗi thời, 28% sử dụng công nghệ trung bình, 10% trên trung bình và chỉ có 2% doanh nghiệp sử dụng công nghệ tiên tiến Do đó, sản phẩm của các doanh nghiệp có giá trị thấp
2 Sự tác động của chính sách tài khóa đến chu kì kinh tế ở Việt Nam
2.1 Biểu đồ tăng trưởng GDP
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Qua biểu đồ, từ năm 2007 cho đến nay, Nước ta trải qua 3 giai đoạn:
a) 2007-2008: Giai đoạn hậu tăng trưởng
b) 2009-2012: Giai đoạn suy thoái
c) 2013-2018: Giai đoạn phục hồi và tăng trưởng Từ năm 2017 cho đến nay, Việt Nam có thể đang ở đỉnh của chu kỳ kinh tế
Như vậy, nước ta đã trải qua một thời kỳ khủng hoảng kéo dài tận 4 năm và do đó Chính phủ đã sử dụng nhiều công cụ đề giảm thiểu được rủi ro mà từ cuộc khủng hoảng kinh tế đem lại Một trong chính sách hay được sử dụng nhất là chính sách tài khóa năng động khác nhau để kích thích kinh tế, như cải cách thể chế kinh tế vận hành theo kinh tế thị trường, mở cửa thu hút vốn đấu tư và thúc đẩy thương mại quốc tế; đẩy mạnh tự do hóa hệ thống tài chính và phát triển thị trường tài chính năng động… Để hiểu một cách cụ thể, sâu sắc hơn chúng ta sẽ đi vào từng giai đoạn
Trang 72.2 Tác động chính sách tài khóa và kinh tế Việt Nam giai đoạn 2007-2008
Năm 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn giữ ổn định ở mức 8,44% Do nền kinh tế tăng trưởng cao nên thu chi ngân sách nhà nước cân đối, bội chi ngân sách trong phạm vi cho phép Tổng thu ngân sách năm 2007 đạt 287.900 tỷ đồng, tổng chi ngân sách nhà nước cả năm là 56.500 tỷ đồng, chiếm 5% GDP
Cuối năm 2007 và đầu năm 2008, kinh tế thế giới biến động mạnh và bước vào thời kỳ suy thoái, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế Việt Nam Thị trường tài chính trong nước không ổn định, lãi suất và tỷ giá biến động mạnh, lạm phát liên tục leo thang lên tới xấp xỉ 13% Tuy nhiên, để chống lạm phát, Bộ Tài chính đã thực hiện chính sách tài khóa nới lỏng (6/2007 đến 9/2008), duy trì mức bội chi Chính vì điều này đã tạo ra áp lực lạm phát và làm lãi suất ngày càng tăng Năm 2008, tỷ lệ lạm phát lên tới 23%
Về chính sách thuế, hầu hết đều được sửa đổi, điều chỉnh, bổ sung theo hướng miễn giảm các loại thuế như: giảm thuế TNDN từ 28% xuồng 25%, điều chỉnh, bổ sung thuế GTGT, thuế TTĐB Tăng cường các chính sách ưu đãi thuế đối với các nhà đầu tư vào các khu công nghiệp,khu chế xuất, khu công nghệ cao Nhờ đó, đã khuyến khích chính sách sản xuất kinh doanh phát triển, khuyến khích đầu tư, khuyến khích xuất khẩu và đảm bảo an sinh xã hội
Tuy nhiên, để hỗ trợ cho việc phát triển kinh tế, Chính phủ đã tăng chi tiêu đầu tư công dẫn đến bội chi ngân sách, điều này là cần thiết nhưng việc chi đầu tư không minh bạch dẫn dến tình trạng tham nhũng gia tăng, nhiều công trình đầu tư không hiệu quả, đầu tư còn dàn trải Năm 2007,2008 một số hàng hóa là yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất như : điện, xăng, dầu, than tăng giá là nguyên nhân gây ra lạm phát
2.3 Tác động chính sách tài khóa đến kinh tế Việt Nam giai đoạn 2009-2012
Kinh tế Việt Nam cũng hứng chịu những tác động mạnh từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, đặc biệt là tại thời điểm đầu năm 2009 Tăng trưởng sụt giảm thể hiện ở hầu hết tất cả các ngành kinh tế chủ lực như công nghiệp chế biến, điện, ga và nông nghiệp
Ý thức được tính chất nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng, Chính phủ Việt Nam đã nhanh chóng ban hành những chính sách kích thích kinh tế quy mô lớn Chính phủ đã ban hành Nghị
Trang 8quyết 30/2008/NQ-CP, đề ra các giải pháp hỗ trợ kinh tế, trong đó chính sách Tài khóa được nới lỏng
Sang đến quý I/2009, Chính phủ ban hành hai gói kích thích kinh tế quy mô lớn: Gói kích cầu đầu tiên trị giá khoảng 1 tỷ USD hỗ trợ lãi suất; Gói kích cầu thứ hai trị giá khoảng 8 tỷ USD gồm các nội dung: tăng chi đầu tư, tăng chi an sinh xã hội, giảm thuế
Chính sách cắt giảm thuế: giảm thuế VAT cho một loạt các mặt hàng, giảm 30% cho thuế thu nhập doanh nghiệp vừa và nhỏ, miễn trừ thuế thu nhập cá nhân trong nửa đầu năm
2009 Tổng số thuế miễn giảm khoảng 20.000 tỷ đồng
Sang đến năm 2010-2011, nền kinh tế đã có những bước hồi phục tương đối rõ nét, chính sách của Bộ Tài chính tập trung thực hiện các chính sách kích thích kinh tế trong năm 2009 và kéo dài sang năm 2010-2011 Đồng thời chú trọng vào các giải pháp bảo đảm ổn định kinh tế vĩ
mô, kiềm chế lạm phát
Chính sách kinh tế trong năm 2009 đều năm 2010 đã thu được thành công nhất định Sau quý I/2009, nền kinh tế đã trải qua 4 quý tăng trưởng liên tiếp và quý sau cao hơn quý trước, nền kinh tế có khả năng bước ra khỏi giai đoạn thu hẹo của một chu kỳ kinh tế
2.4 Tác động chính sách tài khóa đến kinh tế Việt Nam giai đoạn 2013-2019
Từ năm 2016, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 06/NQ-TW về chủ trương, giái pháp cơ cấu lại NSNN, quản lý nợ công để đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững, trong đó đề ra hàng loạt các chủ trương, giải pháp quan trọng thực hiện đến năm 2020
Với những biện pháp cụ thể triển khai trong thời gian qua, Chính phủ đã thành công trong việc giảm tốc độ tăng nợ công, cùng với duy trì tốt tốc độ tăng trưởng, kiểm soát và giảm dần bội chi ngân sách Tỷ lệ nợ công/GDP tính đến cuối năm 2017 đã giảm Dư nợ công đến năm
2017 ở mức 61,4% GDP (năm 2016 là 63,8% GDP), nợ chính phủ ở mức 51,8%GDP (năm 2016
là 52,8% GDP), trong giới hạn được Quốc hội cho phép
Năm 2018, Bộ Tài chính tiếp tục tổ chức điều hành dự toán chi NSNN tích cực, chủ động, chặt chẽ, tiết kiệm, hạn chế mua sắm ô tô công và trang thiết bị đắt tiền, hạn chế chi ứng trước
và chuyển nguồn dự toán sang năm sau đồng thời tăng cường công tác thu, tạo sự chuyển biến rõ nét trong việc quản lý thu, nhất là khu vực kinh tế phi chính thức, mở rộng cơ sở thuế, quản lý chặt chẽ giá tính thuế; chống thất thu, chống buôn lậu; giảm tỷ lệ nơ đọng thuế xuống dưới 5% tổng thu NSNN
Năm 2019, mục tiêu của chính sách tài khóa sẽ là huy động nguồn lực, cần duy trì ổn định
tỷ trọng thu thuế, phí; Đơn giản hóa các chính sách, đơn giản mục tiêu, có thể hiểu là mỗi chính sách thuế chỉ cần đạt được một mục tiêu; Thu ngân sách nên bình đẳng, công bằng, còn hỗ trợ nên chuyển sang phần chi ngân sách.Bên cạnh đó, cần đánh giá lại thị trường trái phiếu chính phủ; Huy động mạnh mẽ nguồn lực tài chính nhà nước; Tiếp tục có chính sách huy động nguồn vốn FDI, ODA có chọn lọc kỹ càng hơn; cơ cấu lại chi NSNN; phân bổ nguồn lực tài chính rõ ràng, hiệu quả hơn…
Trang 93 Nhận xét về chính sách tài khóa giai đoạn 2008-2018
Từ phân tích trên đây, có thể đánh giá một số các thành công của chính sách tài khóa như sau:
Hệ thống các chính sách tài khoá (thu - chi NSNN) trong đã không ngừng được hoàn thiện theo hướng đảm bảo tính pháp lý ngày càng được nâng cao Những văn bản quan trọng như Luật NSNN, các Luật thuế đều được nghiên cứu ban hành và hoàn thiện dưới hình thức văn bản Luật Các chính sách thu - chi NSNN đã liên tục được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu của cải cách nền kinh tế cũng như đổi mới công tác quản lý kinh tế theo hướng thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt nam hiện nay
Các chính sách thu - chi NSNN được ban hành đã thực hiện tốt vai trò động viên tốt nguồn thu cho NSNN và thực hiện điều tiết kinh tế vĩ mô Thể hiện rất rõ là, trong giai đoạn 2001
-2007, chính sách thu đã động viên được nguồn lực tài chính lớn để đảm bảo nhiệm vụ chi thực hiện được mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh Còn trong giai đoạn 2008 - 2012, chính sách tài khoá đã trở thành công cụ có hiệu quả trong thực hiện các mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, vượt qua suy thoái và những khó khăn do tác động của khủng hoảng tài chính thế giới tác động tới Các điều hành chính sách tài khoá lúc thắt chặt, lúc mở rộng và những chính sách thiết thực hỗ trợ các doanh nghiệp để giải quyết những vấn đề về thiếu vốn, thiếu thị trường, giải quyết công nợ tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh Những chính sách tài khóa giai đoạn 2012 - 2017 đã đem lại thành tựu đáng kể: Nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực gắn với quá trình tái cơ cấu đầu tư công Vốn đầu tư công, nhất là đầu tư
từ nguồn ngân sách nhà nước và trái phiếu chính phủ được bố trí tập trung hơn, ưu tiên tập trung cho các công trình dự án quan trọng, cấp thiết, sớm hoàn thành, đưa nhanh vào sử dụng để phát huy hiệu quả, khắc phục một bước tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán, thất thoát, lãng phí; đã tập trung xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản và thanh toán vốn ứng trước; tăng cường quyền tự chủ, chủ động đi đôi với tăng cường trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc phê duyệt dự án đầu
tư, lựa chọn danh mục và phân bổ vốn cho từng dự án cụ thể theo đúng các mục tiêu, định hướng phát triển; phân bổ vốn đầu tư bảo đảm tính công khai, minh bạch
Thực hiện tích cực những cải cách, đổi mới theo hướng đơn giản hoá các thủ tục hành chính (quy chế một cửa, tự kê khai nộp thuế), đơn giản hoá chính sách quản lý, minh bạch chính sách mở rộng dân chủ tạo điều kiện cho các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh dễ dàng thực hiện, từng bước đáp ứng yêu cầu công tác quản lý
Không ngừng hiện đại hoá công tác quản lý thu - chi, tiết giảm chi phí và thời gian cho các đối tượng được quản lý thực hiện thuận lới các nghĩa vụ và quyền lợi của mình (đăng ký thuế, kê khai thuế điện tử, tuyên truyền chính sách thuế qua các phương tiện thông tin đại chúng ) Chính sách thu - chi NSNN được ban hành, hoàn thiện không ngừng đã đảm bảo và phục
vụ tốt cho công tác hợp tác quốc tế về tài chính Việc bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện không ngừng chính sách thu - chi, quản lý vay, trả nợ nước ngoài đã thúc đẩy phát triển có hiệu quả các hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế, đặc biệt là hoạt động tự do hoá đầu tư và thương mại
Trang 10Tuy nhiên, bên cạnh những thành công nói trên, hệ thống các chính sách tài khoá NSNN cũng còn một số các hạn chế là:
Hệ thống các chính sách thường xuyên có biến động và chưa thật sự ổn định trong trung và dài hạn, vì thế cho nên các doanh nghiệp thường gặp khó khăn khi chính sách thay đổi
Các chính sách chạy theo việc xử lý thực tiễn quá nhiều; tính bền vững thấp và hiệu lực, hiệu quả không cao
Chính sách vẫn còn mang đặc thù của việc can thiệp hành chính vào nền kinh tế mà chưa phải hoàn toàn là dựa trên các cơ sở lý thuyết để gián tiếp điều tiết nền kinh tế
Kinh tế Việt Nam vẫn chưa là nền kinh tế thị trường hoàn thiện nên cơ chế dẫn truyền chính sách tài khoá chưa hoàn thiện và làm hiệu quả can thiệp chính sách không cao
4 Kết luận chung
CSTK thời gian qua đã góp phần không nhỏ cho việc điều tiết tăng trưởng kinh tế và lạm phát Hệ thống chính sách thu chi ngân sách nhà nước không ngừng được hoàn thiện Quy mô thu chi ngân sách ngày càng tăng nhưng tổng chi luôn lớn hơn tổng thu làm cho thâm hụt ngân sách tăng Chi NSNN được điều chỉnh theo hướng giảm chi tiêu đầu tư công và tăng chi thường xuyên Đây là xu hướng điều chỉnh cơ cấu chi nhằm làm tăng hiệu quả đầu tư của nền kinh tế và tạo cơ sở để quá trình tái cơ cấu đầu tư Tuy nhiên, xu hướng này nếu tiếp tục mở rộng thì sẽ không tốt cho nền kinh tế do tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam vẫn chủ yếu phụ thuộc vào tăng trưởng theo chiều rộng Tuy nhiên, để CSTK có hiệu quả ngày càng cao trong điều tiết kinh tế vĩ
mô thì rất cần phải có một sự minh bạch cao trong thu chi ngân sách và quản lý ngân sách Chỉ
có như vậy, CSTK mới chặt chẽ, hiệu quả và triệt để tiết kiệm như định hướng về thực hiện CSTK nhằm duy trì môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi và ổn định như trong Đề án tổng thể về tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng mà Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt
Kết quả cho thấy chính sách tài khóa của Việt Nam trong việc ổn định chu kỳ kinh tế khá tương đồng với các nước đang phát triển khác là mang tính thuận chu kỳ, và tiềm ẩn nhiều bất
ổn vĩ mô Chính sách phản chu kỳ trong giai đoạn suy thoái thường có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế Cũng lưu ý rằng, chính sách phản chu kỳ cũng có độ trễ, nghĩa là thường không có phản ứng tích cực tức thời Do đó việc triển khai chính sách tài khóa cần được thực hiện khẩn trương nhằm phát huy tối đa tác dụng kích thích của chính sách tài khóa với các công
cụ tài khóa được sử dụng linh hoạt theo mức độ ảnh hưởng Nên sử dụng chính sách tài khóa mở rộng khi nền kinh tế đang ở dưới mức sản lượng tiềm năng Tuy nhiên việc áp dụng chính sách tài khóa mở rộng liên tục trong thời gian dài dễ gây ra bất ổn, dẫn đến suy thoái.Tuy nhiên thực tiễn và nghiên cứu cho thấy tính phức tạp trong vai trò của chính sách tài khóa đối với ổn định chu kỳ kinh tế vĩ mô, do bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi môi trường kinh tế trong nước, khu vực và quốc tế Ngoài ra, vai trò này cũng bị ảnh hưởng bởi mạng lưới ảnh hưởng đan xen của các biến
số kinh tế vĩ mô khác Mục tiêu tăng trưởng thay đổi ảnh hưởng đến vai trò của chính sách tài