Công tác thiết kếĐối với các công trình xây dựng trên nền đất yếu , cần chú trọng đến bài toán kiểm tra độ ổn định và độ biến dạng.. Sự hư hỏng công trình khi xây dựng trên nền đất yếu c
Trang 1NHÓM 2
1: Nguyễn Văn Tiệp
2: Trương Huỳnh Sáng 3: Vũ Quốc Thái
Trang 31.1 Các công tác khảo sát, lấy mẫu, thí
nghiệm
1 Phương pháp khảo sát tại hiện trường
- Phương pháp khoan khoan thổi rửa
Trang 4Thí nghiệm xuyên tĩnh Thí nghiệm cắt cánh CPU/CPTU VST
Trang 5Thí nghiệm xuyên động Thí nghiệm nén ngang SPT PMT
Trang 62 Phương pháp lấy mẫu
Phương pháp nén ống Phương pháp lấy trực tiếp
piston
Trang 73 Phương pháp thí nghiệm trong phòng
Thí nghiệm giới hạn dẻo Xác định dung trọng
Trang 8Thí nghiệm giới hạn chảy Thí nghiệm cắt trực tiếp
Trang 91.2 Công tác thiết kế
Đối với các công trình xây dựng trên nền đất yếu , cần chú trọng đến bài toán kiểm tra độ ổn định và độ biến dạng Đưa ra các biện pháp xử lí hợp lý để đảm bảo ổn định
Trang 10Phương pháp kết cấu công trình bên trên
Trang 11Giải pháp móng hợp lí
Trang 12Biện pháp xử lý nền đất
Trang 13BÀI 2: CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY HƯ HỎNG
CÔNG TRÌNH TRÊN NỀN ĐẤT YẾU
Trang 14Sự hư hỏng công trình khi xây dựng trên nền đất yếu chủ yếu do biến dạng lún của đất nền quá
lớn hay lún không đều dẫn đến sự mất ổn định của đất nền dưới đáy móng Nguyên nhân
thường gặp chủ yếu ở các giai đoạn sau:
- Giai đoạn khảo sát
- Giai đoạn thiết kế
- Giai đoạn thi công
Trang 152.1 Giai đoạn khảo sát
- Bỏ qua một số hạng mục thí nghiệm hiện
trường cần thiết cho nền đất yếu
- Thực hiện không đủ khối lượng khảo sát
- Lấy quá ít mẫu đất nguyên dạng
- Đặt độ biến thiên cấp tải trọng trong quá trình thí nghiệm nén cố kết quá lớn
- Thực hiện không đầy đủ các thí nghiệm cần thiết
Trang 162.2 Giai đoạn thiết kế
- Chiều cao đắp đất hoặc tải trọng công trình
quá lớn => nền đất bị phá hoại vì trượt
- Hệ số nén chặt đất đắp và đất nền nhỏ => tính thấm của đất cao, độ rỗng lớn dẫn đến cường độ nhỏ và biến dạng lớn
- Thiếu biện pháp cử lý nền để nâng cao khả
năng chịu tải trước khi thi công đắp đất
Trang 172.3 Giai đoạn thi công
- Trường hợp gia tải nén trước, nếu chiều dày khối
đất đắp mỗi giai đoạn quá lớn có thể gây phá hoại nền đất trước khi kịp cố kết.
- Công tác đào hố móng sâu hay thi công phần tầng hâm, nếu không có biện pháp chống đỡ, giữ ổn định và điều kiện thoát nước không đảm bảo, có khả năng gây sạt lở vách hố đào và phá hoại một phần hay toàn bộ đất nền khu vực lân cận.
- Biện pháp đầm chặt đất đắp và đất nền chưa đạt yêu cầu sẽ dẫn đến tính thấm của đất cao, độ rỗng lớn,
cường độ chịu tải nhỏ và biến dạng lớn.
Trang 18III Đánh giá khả năng xây dựng công trình
trên nền đất yếu.
• 1.1 Thế nào là nền đất yếu.
• Nền đất yếu là nền đất không đủ sức chịu tải,
không đủ độ bền và biến dạng nhiều, do vậy
không thể làm nền thiên nhiên cho công trình xây dựng.
• Khi xây dựng các công trình dân dụng, cầu
đường, thường gặp các loại nền đất yếu, tùy thuộc vào tính chất của lớp đất yếu, đặc điểm cấu tạo
của công trình mà người ta dùng phương pháp xử
lý nền móng cho phù hợp để tăng sức chịu tải của nền đất, giảm độ lún, đảm bảo điều kiện khai thác bình thường cho công trình
Trang 19• Trong thực tế xây dựng, có rất nhiều công trình bị lún, sập hư hỏng khi xây dựng trên nền đất yếu do không có những biện pháp xử lý phù hợp, không đánh giá chính xác được các tính chất cơ lý của nền đất
• Do vậy việc đánh giá chính xác và chặt chẽ các
tính chất cơ lý của nền đất yếu (chủ yếu bằng các thí nghiệm trong phòng và hiện trường) để làm cơ
sở và đề ra các giải pháp xử lý nền móng phù hợp
là một vấn đề quan trọng qua đó giảm thiểuvđược tối đa các sự cố, hư hỏng công trình khi xây dựng trên nền đất yếu
Trang 20• 1.2 Một số đặc điểm của nền đất yếu
• Thuộc loại nền đất yếu thường là đất sét có lẫn nhiều hữu cơ;
• Hàm lượng nước trong đất cao, độ bão hòa nước G> 0,8, dung trọng bé
Trang 21• 1.3 Các loại nền đất yếu thường gặp
• + Đất sét mềm: gồm các loại đất sét hoặc á sét tương đối chặt, ở trạng thái bão hòa nước, có cường độ thấp; + Bùn: Các loại đất tạo thành trong môi trường nước, thành phần hạt rất mịn (<200μm) ở trạng thái luôn no nước, hệ số
rỗng rất lớn, rất yếu về mặt chịu lực;
• + Than bùn: Là loại đất yếu có nguồn gốc hữu cơ, được hình thành do kết quảphân hủy các chất hữu cơ có ở các đầm lầy (hàm lượng hữu cơ từ 20 – 80%);
• + Cát chảy: Gồm các loại cát mịn, kết cấu hạt rời rạc, có thể bị nén chặt hoặc pha loãng đáng kể Loại đất này khi chịu tải trọng động thì chuyển sang trạng thái chảy gọi là cát chảy
• + Đất bazan: Đây cũng là đất yếu với đặc diểm độ rỗng lớn, dung trọng khô bé, khả năng thấm nước cao, dễ bị lún sập.
Trang 22BÀI 3: PHÂN TÍCH KHẢ NĂNG XÂY DỰNG TRÊN
NỀN ĐẤT YẾU
3.1: Đánh giá khả năng xây dựng công trình trên nền đất yếu.
Khi thiết kế, cần tính toán sao cho:
- Biến dạng đất nền không vượt quá trị số cho phép
- Sức chịu tải phải đủ để không xảy ra sự cố như mất ổn định hoặc phá hoại nền
Trang 23-Kết cấu công trình có thể bị phá hỏng cục bộ hoặc hoàn toàn do các điều kiện biến dạng
không thỏa mãn: Lún hoặc lún lệch quá lớn
do nền đất yếu, sức chịu tải bé
- Các biện pháp về kết cấu công trình nhằm giảm áp lực tác dụng lên mặt nền hoặc làm
tăng khả năng chịu lực của kết cấu công trình Ngư ời ta thư ờng dùng các biện pháp sau:
Trang 24a Dùng vật liệu nhẹ kết cấu nhẹ:
- Mục đích: Làm giảm trọng lượng bản thân công trình, tức là giảm được tĩnh tải tác dụng lên móng
- Biện pháp: Có thể sử dụng các loại vật liệu nhẹ, kết cấu thanh mãnh, nhưng phải đảm bảo cường độ công trình
Trang 27b Làm tăng độ mềm của kết cấu công trình:
- Mục đích: Làm tăng độ mềm của kết cấu công trình kẻ cả móng để khử được ứng suất phụ thêm phát sinh trong kết cấu khi xả ra lúc lêch hoặc lúc không đều
- Biện pháp: Dùng kết cấu tĩnh định hoặc phân cắt các bộ phận của công trình bằng các khe lún
Trang 30c Tăng thêm cường độ cho kết cấu công
trình.
- Mục đích: Làm tăng cường độ cho kết cấu
công trình để đủ sức chịu các ứng lực sinh ra do lúc lệch và lúc không đều
- Biện pháp: Người ta dùng các đai bê tông cốt thép để tăng khả năng chịu ứng suất kéo khi
chịu uốn, đồng thời có thể gia cố tại các vị trí
dự đoán xuất hiện ứng suất cục bộ lớn
Trang 313.2 Giải pháp móng hợp lý
1 Thay đổi kích thước và hình dáng móng
2 Thay đổi kích thước và hình dạng móng
3 Thay đổi loại móng và độ cứng của móng cho phù hợp
với điều kiện địa chất công trình
Trang 321 Thay đổi chiều sâu chôn móng
- Giảm thành phần ứng suất gây lún:
Trang 331 Thay đổi chiều sâu chôn móng
- Tăng sức chiệu tải của nền đất dưới đáy móng ( tải trọng giới hạn ):
các giai đoạn làm việc của nền
Trang 341 Thay đổi chiều sâu chôn móng
Một số dạng phá hoại
Trang 352 Thay đổi kích thước và hình dáng móng
- Thay đổi trực tiếp thành phần áp lực truyền từ công trình bên trên qua diện tích đáy móng
xuống nền
Trang 363 Thay đổi loại móng và độ cứng của móng cho phù hợp với điều kiện địa chất công trình
- Có thể thay móng đơn bằng móng băng, móng băng giao thoa, móng bè hoặc móng hộp:
móng đơn móng hộp móng băng giao thoa
Trang 373 Thay đổi loại móng và độ cứng của móng cho phù hợp với điều kiện địa chất công trình
- Có thể sử dụng biệp pháp tăng chiều dày
móng, tăng cốt thép chịu lực, bố trí các sườn tăng cường cho móng bản để tăng độ cứng móng
Trang 38* Khi chọn giải pháp móng, người thiết kế cần cân nhắc các yếu tố:
+ Kinh tế
+ Kỹ thuật
+ Vị trí các lớp đất tốt theo độ sâu trong khu vực xây dựng
Trang 393.3 GIẢI PHÁP XỬ LÝ NỀN ĐẤT
Bên cạnh việc chọn kết cấu công trình hợp lý, giải pháp móng hợp
lý, công tác thiết kế nhất thiết cần xem xét và tính toán một số
phương án gia cố nền nhằm nâng cao khả năng chịu lực của đất nền Việc đánh giá độ ổn định của nền đất yếu dưới móng công trình không đầy đủ sẽ dẫn đến sự thiếu sót trong công tác xử lý nền
Việc xử lý nền đất yếu phụ thuộc vào điều kiện:
+> Quy mô công trình.
+> Đặc điểm phân bố và đặc trương cơ lý các lớp đất.
+> Điều kiện và biện pháp thi công.
+> Hạn mức đầu tư.
+> Các yêu cầu đặc biệt khác.
Trang 40Một số biện pháp gia cố nền hiện nay:
Trang 41Phương pháp này đòi hỏi chi phí đầu tư và thời gian thi công lâu dài => phương pháp ít được sử dụng
Phương pháp cơ học
-Gia tải nén trước bằng tải trọng tĩnh để giảm đọ rỗng của đất nền
Trang 42-Sử dụng tải trọng động đầm chặt nền đất bằng máy đầm rung, đầm lăn để tăng độ chặt của đất nền
-Nén chặt nền đất
bằng các loại cọc
Sử dụng đàm lăn
Trang 43-Phương pháp làm chặt bằng giếng cát, bấc thấm-Sử dụng vải địa kỹ thuật
để tăng cường khả năng
chịu kéo của nền đất
-Phương pháp đệm cát
Bức thấm
Vải kỹ thuật
Trang 44Phương pháp vật lý
-Phương pháp hạ mực nước ngầm bằng giếng
cát,bấc thấm
-Phương pháp điện thấm
Trang 46Phương pháp sinh học
Là một phương pháp mới,sử dụng hoạt đọng của
vi sinh vật để làm thay đổi đặc tính của đất
yếu,rút bớt nước úng trong vùng địa chất công trình
Các phương pháp thủy lực
-Phương pháp kéo dài đường thấm bằng hệ cọc bằng vật liệu composite
Trang 47-Phương pháp bơm chân không
-Phương pháp điện thấm