1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ý nghĩa,nội dung của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo phápluật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc này

10 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 334,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là những tư tưởng chỉ đạo có tính bắt buộc thể hiện quy định của Nhà nước trong hoạt động xét xử, the

Trang 1

A NÊU VẤN ĐỀ

Xét xử là một chức năng chủ yếu của Tòa án Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền xét xử và chỉ có Tòa án mới có quyền phán quyết một người có tội hay không có tội

và áp dụng hình phạt đối với họ Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Hoạt động xét xử của Tòa

án có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân, liên quan đến chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của một quốc gia Nếu không thận trọng, Hội đồng xét xử có thể sẽ tước bỏ những quyền thiết thân nhất của con người trong đó có quyền được sống một cách vô căn cứ Bản án, quyết định của Hội đồng xét xử cũng sẽ làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm và các quyền khác của công dân nếu bản án trái các quy định của pháp luật Vì vậy, để bảo đảm cho Tòa án thực hiện chức năng xét xử

có hiệu quả, Nhà nước đưa ra những quy định chặt chẽ nhằm điều chỉnh hoạt động xét

xử của Tòa án bằng việc ghi nhận các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Để làm

rõ một trong số những nguyên tắc này nhóm chúng em đi tìm hiểu đề tài: “ Ý nghĩa, nội dung của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc này”

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”

1 Cơ sở pháp lý:

Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là một trong những nguyên tắc bất di bất dịch đối với hoạt động xét xử Nguyên tắc này không chỉ được ghi nhận trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (sau đây viết tắt là BLTTHS), trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 mà cao hơn là được ghi nhận trong các bản Hiến pháp nước ta qua các thời kỳ Cụ thể: Điều 16 BLTTHS và Điều 5 Luật tổ

chức Tòa án nhân dân năm 2002 đều quy định : “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm

độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.” Điều 69 Hiến pháp năm 1946 quy định: “Trong

khi xét xử, các viên Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được

can thiệp” Điều 130 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định:

“Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.

2 Khái niệm

Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là những tư tưởng chỉ đạo có tính bắt buộc thể hiện quy định của Nhà nước trong hoạt động xét xử, theo đó chỉ có Thẩm phán và Hội thẩm mới có quyền đưa ra phán quyết quyết đoán trên cơ sở quy định của pháp luật để giải quyết vụ án một cách khách quan, chính xác

3 Nội dung của nguyên tắc

Trang 2

Nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” bắt nguồn từ nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, nó bảo đảm cho tòa án nhân dân xét

xử khách quan, đúng pháp luật để bảo vệ trật tự xã hội chủ nghĩa Nội dung của nguyên tắc này được thể hiện:

a, Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập:

Hội đồng xét xử bao gồm Thẩm phán là đại biểu cho quyền lực Nhà nước và Hội thẩm là đại biểu cho nhân dân Mục tiêu của tố tụng hình sự đặt ra là biết kết hợp tính chuyên nghiệp của Thẩm phán với tính quần chúng của Hội thẩm để phán xét giải quyết vụ án hình sự cho đúng pháp luật mà lại hợp lòng dân

Khi xét xử tất cả các vụ án ở tất cả các trình tự tố tụng, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân chỉ căn cử vào chứng cứ và các quy phạm pháp luật cần áp dụng để giải quyết các vụ việc và ra các bản án, quyết định cụ thể, không phụ thuộc vào bất cứ sự can thiệp của bất kì ai

Khi xét xử, các thành viên trong HĐXX cũng độc lập với nhau trong việc xác định chứng cứ, lựa chọn các quy phạm pháp luật cần được áp dụng để định tội và lượng hình đối với các vụ án hình sự, quyết định quyền và nghĩa vụ của đương sự trong các

vụ án

Đối với một bản án có thể phải xét xử nhiều lần theo các thủ tục sơ thẩm phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Đối với các bản án xét xử sơ thẩm thì không phải xin ý kiến chỉ đạo của các tòa án cấp trên Ngược lại, khi xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm không lệ thuộc vào chứng cứ kết luận và quyết định của tòa án đã xét xử sơ thẩm mà phải tự mình xác định chứng cứ, quy phạm pháp luật cần được áp dụng để có quyết định cụ thể

b, Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm chỉ tuân theo pháp luật:

Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm hoàn toàn độc lập mà không chịu bất kì sự chi phối nào từ bên ngoài Tuy nhiên, sự độc lập ở đây không có nghĩa là Thẩm phán và Hội thẩm tùy tiên đưa ra phán quyết không có căn cứ, trách nhiệm của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân là phải tuân theo pháp luật

Yêu cầu tối cao của việc xét xử là đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Ở đây, việc xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm cũng bắt buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt tất cả các quy định về trình tự, thủ tục xét xử và các quy định khác có liên quan mà BLTTHS đã quy định Sự tuân thủ ở đây là tuân thủ toàn bộ những quy định có liên quan đến việc xét xử đó như tuân thủ về các quy định các nguyên tắc, về việc xác định đúng tư cách pháp lí của những người tiến hành và tham gia tố tụng, về việc xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa hay các quy định về nghị án,… Thẩm phán và Hội thẩm khi giải quyết vụ án không được bỏ qua bất kì một thủ tục nào có liên quan

vì điều đó sẽ dẫn đến sai lầm khi ra những quyết định quan trọng

Thẩm phán và Hội thẩm khi xem xét tất cả các vấn đề có liên quan đến vụ án đều phải lấy quy định của Pháp luật hình sự và văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật hình

Trang 3

sự để làm căn cứ đối chiếu Khi xem xét trách nhiệm hình sự của bị cáo, Thẩm phán

và Hội thẩm pải xem xét đầy đủ yếu tố cấu thành tội phạm đã xảy ra trên thực tế thông qua việc đánh giá tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa một cách khách quan, toàn diện Sau

đó, đối chiếu với BLHS xem bị cáo đó phạm tội gì, khung hình phạt bao nhiêu, có tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ hay không Để làm được điều đó, Thẩm phán và Hội thẩm phải nắm vững, hiểu đúng tinh thần và nội dung của những quy định đó để

áp dụng cho đúng pháp luật

Ngoài ra, khi giải quyết vụ án, có nhiều sự việc, lĩnh vực khác cũng có liên quan,

vì vậy, đòi hỏi Thẩm phán và Hội thẩm phải có những hiểu biết về các lĩnh vực liên quan và có kiến thức pháp luật về các lĩnh vực liên quan đó để khi xét xử sẽ có căn cứ pháp lý áp dụng

c, Mối quan hệ biện chứng giữa tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử:

Độc lập xét xử và tuân theo pháp luật có mối quan hệ mật thiết với nhau, thống nhất với nhau không thể tách rời Thẩm phán và Hội thẩm độc lập khi xét xử là tuân theo các quy định của pháp luật Và chỉ tuân theo pháp luật có thể coi là giới hạn cho

sự độc lập và Thẩm phán và Hội thẩm Điều này có nghĩa là, ngoài pháp luật họ không phải tuân theo một ai, một cái gì khác, họ không chịu bất kì sự can thiệp nào từ bên

ngoài “Tuân theo pháp luật” vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân Họ có quyền độc lập xét xử khi họ “tuân theo pháp luật”.

Tuy Thẩm phán và Hội thẩm có quyền xét xử độc lập nhưng không có nghĩa họ được xét xử tùy tiện mà phải tuân theo pháp luật Nếu không tuân theo pháp luật thì sự độc lập của họ cũng chỉ là chủ quan duy ý chí, không có căn cứ pháp lí nên kết luận cũng bị coi là không đúng, không khách quan, dễ gây hậu quả khôn lường

Như vậy, “Độc lập xét xử” và “chỉ tuân theo pháp luật” luôn có mối quan hệ gắn

bó, bổ sung cho nhau Trong đó, “độc lập” là điều kiện cần thiết để Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử chỉ tuân theo pháp luật, còn “ chỉ tuân theo pháp luật” là cơ sở cần

thiết để Thẩm phán và Hội thẩm độc lập khi xét xử Chính vì mối quan hệ này mà

Thẩm phán và Hội thẩm phải tuân thủ cả hai nội dung “độc lập” và “chỉ tuân theo pháp luật” như đã nêu

Nguyên tắc này đòi hỏi các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải luôn luôn đề cao ý thức cá nhân với tư cách là người nhân danh nhà nước thực hiện chức năng xét

xử để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Các thẩm phán và hội thẩm nhân dân phải thật sự chí công vô tư, kiên quyết bảo

vệ pháp luật

II Ý nghĩa của nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”

Nguyên tắc “khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” có ý nghĩa rất quan trọng đối với lý luận cũng như thực tiễn áp dụng

Trang 4

Độc lập xét xử là một trong những nguyên tắc đặc thù, mang tính chất riêng trong hoạt động tố tụng Trong TTHS, nguyên tắc độc lập xét xử và mang tính chất tuyệt đối Xét xử - hoạt động tố tụng của tòa án được coi là hoạt động trung tâm của toàn bộ hoạt động TTHS nên các nguyên tắc về xét xử được các nhà làm luật quan tâm hơn cả,

trong đó, trước tiên và quan trọng nhất là nguyên tắc “khi xét xử thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” Khi xét xử, HĐXX (thẩm phán và hội thẩm)

sẽ dựa vào những căn cứ hợp lý để đưa ra quyết định hoặc bản án mà không phụ thuộc vào ý kiến của CQĐT, VKS hay yêu cầu của người bị hại, của bị can, bị cáo Chỉ có Tòa án mới có quyền quyết định một người nào đó có tội hay không có tội mà không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của họ Như vậy, sự độc lập xét xử trong TTHS là bắt buộc Sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật này có ý nghĩa:

1 Về ý nghĩa chính trị xã hội

Nguyên tắc xác định vai trò, vị trí của cơ quan tòa án trong hệ thống các cơ quan nhà nước và cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng Chỉ có Tòa án mới có quyền xét xử

và khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Không một

cá nhân, cơ quan, tổ chức nào được phép can thiệp vào hoạt động xét xử của Tòa án và hoạt động xét xử của Tòa án (cụ thể là Thẩm phán và Hội thẩm) phải đảm bảo sự độc lập trên cơ sở chỉ tuân theo pháp luật, không tuân theo bất cứ sự chỉ đạo khác ngoài pháp luật, trái pháp luật Nguyên tắc đảm bảo cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật “Quan chức” cũng như “thường dân” khi phạm tội đều bị đưa ra xét xử bởi Tòa án trên cơ sở những quy định của pháp luật mà không có một đặc ân nào Tư pháp độc lập là một trong những yếu tố để thực hiện công bằng xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi công dân đều sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, pháp luật sẽ được chấp hành nghiêm chỉnh “Độc lập xét xử có ý nghĩa quan trọng để đảm bảo cho môi trường đầu tư kinh doanh lành mạnh và khi đó các nhà đầu

tư trong và ngoài nước sẽ yên tâm rằng những tranh chấp về đầu tư và hoạt động kinh doanh của họ sẽ được bảo vệ bởi một cơ chế tài phán xét xử độc lập, vô tư khách quan Các quyền cơ bản của mỗi con người trong xã hội cũng sẽ được đảm bảo cùng với sự thành công của việc phòng chống tham nhũng, bởi lẽ những kẻ tham nhũng sẽ không có cơ hội được bao che bởi sự can thiệp hoặc tác động vào quá trình xét xử của Tòa án”1 Hoạt động xét xử không phải là hoạt động của một cá nhân mà là hoạt động của tập thể, không chỉ là hoạt động của “quan tòa” mà còn có sự tham gia giám sát, tham gia xét xử của nhân dân thông qua những người đại diện của họ, đó là Hội thẩm Nguyên tắc gián tiếp thể hiện bản chất Nhà nước xã hội chủ nghĩa là Nhà nước do nhân dân làm chủ, nhân dân tham gia giám sát các hoạt động của Nhà nước, trong đó

có hoạt động xét xử

2 Về ý nghĩa pháp lý

1 Lưu Tiến Dũng, 2007, “Tòa án phải xét xử độc lập”, http://www vnlawfind.com.vn

Trang 5

Nguyên tắc “ Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” là

nền tảng của tư pháp trong nhà nước pháp quyền Đây là công thức pháp lý chứa đựng các giá trị được thừa nhận chung trong nhà nước pháp quyền đối với hoạt động điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự Tư pháp có độc lập thì mới bảo đảm được tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật, mới có khả năng kiểm soát và giới hạn quyền lực, cũng như bảo đảm quyền con người Sự độc lập xét xử của tòa án là một nhân tố thiết yết trong việc kiềm chế những hoạt động tùy tiện của cơ quan nhà nước Do vậy,nguyên tắc này sẽ là cơ sở để đảm bảo cho Hiến pháp và pháp luật được thực thi một cách nghiêm túc trong đời sống bởi những người thi hành pháp luật và những người xét xử hành vi vi phạm pháp luật

3 Về ý nghĩa đối với hoạt động thực tiễn

Tuân theo nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” một mặt góp phần bảo đảm cho hoạt động xét xử của Tòa án được khách

quan, đúng đắn, tăng thêm lòng tin của quần chúng vào sự ngay thẳng, chí công, vô tư của các cơ quan tư pháp, nâng cao chất lượng xét xử các vụ án hình sự mặt khác, còn nhằm ngăn chặn sự tác động của cá nhân hay của các tổ chức vào hoạt động tư pháp Nguyên tắc này còn xác định trách nhiệm của những người làm công tác xét xử trong các hoạt động của mình là phải độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, không bị tác động can thiệp từ bên ngoài, Thực hiên nguyên tắc này đòi hỏi mỗi Thẩm phán và Hội thẩm cũng như những cán bộ làm trong các cơ quan tư pháp phải tuân theo pháp luật một cách nghiêm chỉnh, chí công, vô tư, không được để tình cảm của cá nhân, quyền lợi riêng tư ảnh hưởng đến việc xét xử Những người có thẩm quyền trong quá trình tố tụng phải có lòng trung thực, dám chịu trách nhiệm, dồng thời, chống khuynh hướng phủ nhận tính độc lập trong hoạt động tư pháp, lợi dụng nguyên tắc Đảng lãnh đạo để một số cá nhân có chức, có quyền trong tổ chức Đảng hoặc cơ quan nhà nước tác động hoặc gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động xét xử của tòa án

Việc nghiên cứu và tìm hiểu nội dung của nguyên tắc này cho thấy nó không chỉ xác định được nhiệm vụ và nâng cao tinh thần trách nhiệm của HĐXX, buộc thẩm phán và hội thẩm phải khách quan, vô tư, xét xử đúng người đúng tội, đúng pháp luật, không xử oan người vô tội, đồng thời tạo tiền đề quan trong cho việc thực hiện hàng loạt các nguyên tắc khác, bảo đảm quá trình tố tụng hình sự diễn ra theo đúng pháp luật

II

Thực tiễn áp dụng nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

Thứ nhất, HĐXX chủ yếu là hoạt động của Thẩm phán, Hội thẩm chưa phát

huy hết quyền năng được giao khi thực hiện nhiệm vụ xét xử Thông thường đối với những vụ án không phức tạp, Hội thẩm chỉ đến nghiên cứu hồ sơ một buổi trước sát ngày mở phiên tòa Thậm chí có những vị Hội thẩm chỉ đến nghiên cứu cáo trạng hoặc

là không nghiên cứu hồ sơ nhưng vẫn tiến hành hoạt động xét xử tại phiên tòa Khi

Trang 6

tham gia xét hỏi, do nắm chắc nội dung vụ án nên Thẩm phán chủ tọa là người “độc diễn” hỏi hết các vấn đề, Hội thẩm không có gì để hỏi Có nhiều vụ án Hội thẩm không hề tham gia xét hỏi Khi nghị án, Thẩm phán cũng là người đưa ra ý kiến gợi ý

là nên giải quyết theo hướng này hướng khác, Hội thẩm là người biểu quyết theo Sau

đó chủ tọa thay mặt HĐXX tuyên án Như vậy, tính độc lập xét xử không được đảm bảo Hội thẩm tham gia xét xử chỉ là hình thức, mọi phán quyết đều phụ thuộc vào ý chí của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa

Thứ hai, Thẩm phán và Hội thẩm quá lệ thuộc vào kết quả điều tra ban đầu, tức

là lệ thuộc vào các thông tin, tài liệu có trong hồ sơ vụ án Tại phiên tòa, nhiệm vụ của HĐXX là phải kiểm tra, đánh giá các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án để xem các kết luận trước đó có cơ sở hay không Nhiều vụ án, HĐXX tin vào kết quả điều tra

có trong hồ sơ nên có thành kiến bị cáo có tội, từ đó đặt những câu hỏi mang tính áp đặt buộc bị cáo khai đúng với những lời khai trước đó

Thứ ba, có sự thống nhất chứng cứ và định hướng trước việc xét xử Đó là việc

họp án 3 ngành, họp bàn án trong nội bộ cơ quan, thỉnh thị án cấp trên trước khi xét

xử Qua việc họp bàn án, Thẩm phán sẽ khó tránh khỏi việc định kiến bị cáo có tội Và như vậy, hoạt động xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa chỉ mang tính hình thức, xét xử theo kiểu “án bỏ túi” vẫn là hiện tượng phổ biến, đi ngược lại với mục tiêu cải cách Tư pháp của Chính phủ

Thứ tư, có sự tác động từ các nhân tố bên ngoài đến hoạt động xét xử của

Thẩm phán và Hội thẩm như: sự tác động của Chánh án; sự tác động của cấp ủy Đảng (Vụ đất đai Đồ Sơn năm 2005); sự tác động của các cá nhân, tổ chức khác (Ông Vũ Văn Lương – nguyên thẩm phán TAND quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội, hứa sẽ giúp đương sự được thắng kiện nếu đưa 150 triệu đồng); sự tác động của cơ quan báo chí,

dư luận (ví dụ điển hình là tại phiên tòa xét xử bị cáo Lê Văn Luyện đầu năm nay, dư luận rất bức xúc trước mức hình phạt 18 năm tù dành cho bị cáo và cho rằng mức hình phạt đó là quá nhẹ, tuy nhiên HĐXX không thể theo ý kiến của dư luận mà phải căn

cứ vào quy định của pháp luật để quyết định mức hình phạt của bị cáo)

II Nguyên nhân những vướng mắc, tồn tại và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của nguyên tắc

1 Nguyên nhân và những vướng mắc tồn tại khi thực hiện nguyên tắc

Nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” là

một trong những đặc trưng của hoạt động xét xử Nhưng trên thực tế nó chưa được phát huy đầy đủ do nhiều nguyên nhân khác nhau như sau:

Thứ nhất, là do cấp ủy Đảng nhận thức không đúng đắn về vai trò lãnh đạo của

Đảng đối với công tác xét xử của Tòa án nên đã can thiệp, gây ảnh hưởng tiêu cực đến

sự độc lập của Hội đồng xét xử

Trang 7

Thứ hai, là do hệ thống văn bản pháp luật tố tụng còn nhiều chỗ chưa chặt chẽ

thiếu thống nhất làm ảnh hưởng đến sự xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội thẩm Cụ thể:

Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) ngoài điều luật quy định về chức

năng xét xử của Tòa án: “Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Điều 127) thì không có một điều luật nào

quy định chức năng khác đối với Tòa án Thế nhưng tại Điều 10 BLTTHS năm 2003

quy đinh nguyên tắc “xác định sự thật của vụ án” thì Tòa án cũng có trách nhiệm

chứng minh tội phạm

Hay về trách nhiệm khởi tố vụ án hình sự, Điều 13 BLTTHS quy định: “Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp

do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội” Cụ thể hóa nguyên tắc này, Điều 104 BLTTHS quy định: “Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra” Như vậy, việc

quy định những chức năng khác như trách nhiệm thu thập chứng cứ để chứng minh tội phạm (Điều 10) và trách nhiệm khởi tố vụ án hình sự (Điều 13) không thuộc về xét xử

là không phù hợp với bản chất, vị trí, chức năng của Tòa án và không phù hợp với Hiến pháp Bên cạnh đó, quy định tại Điều 10 và Điều 13 BLTTHS trên cũng làm cho chức năng xét xử bị chi phối bởi chức năng khác cũng như sẽ gây ảnh hưởng đến sự độc lập khi xét xử và tính khách quan đối với quá trình giải quyết vụ án của Tòa án

Về giới hạn xét xử, Điều 196 BLTTHS quy định: “Tòa án chỉ xét xử những bị cáo

và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa

ra xét xử”

Theo nguyên tắc, VKS chỉ truy tố hành vi phạm tội của bị cáo ra Tòa án còn việc kết án bị cáo về tội gì là do HĐXX quyết định sau khi đã xem xét các tình tiết vụ án một cách công khai tại phiên tòa Nhưng Điều 196 BLTTHS đã nêu thì Tòa án không được xét xử người và hành vi theo tội danh mà VKS không truy tố hoặc theo tội danh khác nặng hơn tội danh mà VKS truy tố Quy định này đã hạn chế chức năng xét xử của Tòa án Việc xét xử của Tòa án bắt buộc phải phụ thuộc vào các điều, khoản mà VKS đã đưa ra

Thứ ba, là cơ chế tuyển chọn thẩm phán còn nhiều bất cập dẫn đến tình trạng

Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập thiếu khách quan Cụ thể như: Tại khoản 1 Điều 26 và khoản 1 Điều 27 Pháp lệnh về Thẩm phản và Hội thẩm nhân dân năm 2002

đã quy định việc bổ nhiệm Thẩm phán TANDTC, Thẩm phán TAQSTW, Thẩm phán Tòa án cấp tỉnh và Thẩm phán Tòa án cấp huyện đều phải thông qua Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Điều này tạo nên mối liên hệ phụ thuộc giữa Thẩm phán với từng

Trang 8

thành viên của Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán nên đã có không ít trường hợp do nể nang hoặc do bị gây sức ép mà Thẩm phán đã làm theo đề nghị hoặc yêu cầu của ai đó trong số những người nêu trên Mặt khác, nhiệm kì của Thẩm phán được quy định là 5 năm, sau 5 năm Thẩm phán được xem xét để tái bổ nhiệm Việc quy định nhiệm kì như vậy phần nào đòi hỏi Thẩm phán phải cố gắng phấn đấu học tập về chuyên môn nghiệp vụ, gìn giữ phẩm chất đạo đức để có thể được bổ nhiệm lại nhưng đây cũng là điểm làm hạn chế tính độc lập của Thẩm phán khi xét xử: Với nhiệm kì quá ngắn như hiện nay sẽ không đủ thời gian cho các Thẩm phán trau dồi kiến thức nghiệp vụ, trình

độ chuyên môn,… Đồng thời, sẽ gây tâm lý thiếu yên tâm khi xét xử, thậm chí còn lo

sợ mỗi khi xét xử không theo ý người nọ, cấp kia,…

Về Hội thẩm nhân dân, Tại khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm năm 2002 quy định: “ Hội thẩm là người được bầu hoặc được cử theo quy định của pháp luật đê làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án” Việc quy định như vậy là rất hợp lý, nó đảm bảo được tính dân chủ trong xét xử Tuy nhiên, trên thực tế nó vẫn còn một số tồn tại thiếu sót, điều này được thể hiện qua việc bầu cử hội thẩm

Thứ tư, là do số lượng ít, trình độ Thẩm phán và Hội thẩm còn yếu kém, đạo đức

nghề nghiệp giảm sút làm cho công tác xét xử đạt hiệu quả thấp

Tính đến nay số lượng Thẩm phán của nước ta vấn còn thiếu khá nhiều Việc phân

bổ biên chế cho Tòa án địa phương đến nay vấn còn không đúng về cơ cấu chức danh cán bộ Tòa án theo yêu cầu, dẫn đến một số bất hợp lý về biên chế và Thẩm phán giữa các tòa

Thứ năm, là do chế độ đãi ngộ về kinh tế - xã hội chưa thực sự hợp lý Hiện nay,

mức lương của cán bộ, công chức nghành Tòa án nước ta còn thấp, còn khá khó khăn Tuy có thang bậc lương riêng nhưng thang bậc lương của Thẩm phán chưa co gì khác

so với nghạch công chức hành chính

2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của nguyên tắc

Qua việc tìm hiểu về những nguyên nhân và vướng mắc tồn tại khi thực hiện nguyên tắc nhóm em xin đưa ra một số giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế và nâng cao hiệu quả của nguyên tắc như sau:

a Đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng

Đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng đối với các cơ quan Tư pháp nói chung

và đối với Tòa án nói riêng là một nội dung rất quan trọng và cần thiết trong công cuộc đổi mới hiện nay Trước thực trạng còn tồn tại, cần tăng cường toàn diện và chặt chẽ hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng, xác định rõ phạm vi lãnh đạo của Đảng, tránh bao biện làm thay Các cấp ủy Đảng phải thưởng xuyên kiểm tra việc chấp hành quan điểm, đường lối, kiểm tra công tác chuyên môn của cán bộ Đảng viên, cán bộ tư pháp, giáo dục để giúp họ nắm vững kiến thức về vai trò lãnh đạo của Đảng, tránh sự hiểu

Trang 9

sai, hiểu lầm về vai trò đó Và đối với những vấn đề chuyên môn, lãnh đạo Đảng không được can thiệp và làm ảnh hưởng đến quyền hạn, thẩm quyền của cơ quan Tư pháp theo pháp luật

b Về hoàn thiện pháp luật.

Để nâng cao hiệu quả của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật thì cần hoàn thiện pháp luật nói chung cũng như các quy định có liên quan trực tiếp đến việc thực hiện nguyên tắc

Trước hết, BLTTHS cần có sự qui định cụ thể, rõ ràng hơn về các vấn đề như nghị

án, giới hạn xét xử nhằm tránh trường hợp áp dụng không đúng trong thực tế Cụ thể,

khoản 1 Điều 222 BLTTHS cần qui định rõ ràng hơn như sau: “Chỉ Thẩm phán và Hội thẩm mới có quyền nghị án Các thành viên của Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả

các vấn đề của vụ án như định tội danh, quyết định hình phạt, xử lý vật chứng và các vấn đề khác nếu có bằng cách biếu quyết theo đa số về từng vấn đề một” Hay

Điều 196 BLTTHS cần sửa đổi, bổ sung theo hướng: Cho phép Tòa án có quyền xét

xử theo tội danh nặng hơn tội danh mà VKS đã truy tố (nếu có căn cứ) và khi Tòa án quyết định đưa bị cáo ra xét xử với tội danh nặng hơn đó sẽ có trách nhiệm thông báo trước cho bị cáo biết để bị cáo chuẩn bị thực hiện quyền bào chữa Và nên loại bỏ một

số quy định không phù hợp với chức năng xét xử của Tòa án như loại bỏ Điều 10 và Điều 13 BLTTHS Bên cạnh đó, cần có những qui định pháp luật cụ thể để bảo đảm độc lập xét xử, tức là cần phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo đảm cho sự độc lập của ngành tòa án Điều quan trọng hơn cả là phải có được một cơ chế để bảo đảm sự độc lập của từng cá nhân thẩm phán trước sự tác động trong nội bộ cũng như ngoài cơ quan tòa án Với cơ chế coi Tòa án như là một cơ quan hành chính như hiện nay thì thẩm phán khó có thể có đủ bản lĩnh để độc lập Do vậy, pháp luật cần quy định cụ thể nhằm đảm bảo ngành tòa án là một ngành độc lập, từ đó bảo đảm nguyên tắc độc lập xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm

c Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ

Trình độ nghiệp vụ của Thẩm phán: Cần đảm bảo số lượng Thẩm phán có trình độ

cử nhân luật đạt tỉ lệ 100% Cần có sự thay đổi về cơ chế bổ nhiệm và nhiệm kỳ thẩm phán Quy trình tuyển chọn và bổ nhiệm, tái nhiệm của Thẩm phán hiện nay phụ thuộc khá nhiều vào lãnh đạo của Tòa án nơi thư ký, thẩm tra viên và người thẩm phán công tác và của Tòa án cấp trên, trong khi đó, Thẩm phán lại là người nhân danh đất nước khi ra phán quyết Do vậy, cần có quy trình tuyển chọn Thẩm phán chặt chẽ hơn Công tác bồi dưỡng thẩm phán cần được tiến hành thường xuyên hơn

Trình độ nghiệp vụ của Hội thẩm: Hội thẩm cần trang bị những kiến thức pháp lí nhất định, và có sự kết hợp giữa tập huấn luật nội dung và kĩ năng xét xử Hội thẩm cũng cần được cung cấp những thông tin về kiến thức xét xử

Trang 10

Đạo đức Thẩm phán và Hội thẩm phải được xem xét một cách nghiêm túc Họ phải

là những người vừa giỏi về kiến thức chuyên môn, vừa có đạo đức và bản lĩnh, tận tụy với công việc và có uy tín trước quần chúng nhân dân

d Về cơ chế tổ chức và hoạt động của Tòa án

Cần tổ chức hệ thống Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị

hành chính theo hình thức “cấp trên – cấp dưới” Để đảm bảo nguyên tắc này thì hệ

thống Tòa án phải được tổ chức theo thẩm quyền vụ việc, không có sự phụ thuộc nhau giữa tòa án các cấp

Nhiệm kỳ thẩm phán cũng là một trong những yếu tố quan trọng nhằm bảo đảm độc lập xét xử Nhiệm kì bổ nhiệm Thẩm phán 5 năm một lần sẽ tạo sự không an tâm cho thẩm phán khi xét xử Do vậy nên thay đổi nhiệm kì bổ nhiệm Thẩm phán là vĩnh viễn Bên cạnh đó, Hội thẩm phải do nhân dân bầu chọn công khai, dân chủ trên cơ sở lựa chọn những người có đủ tiêu chuẩn, năng lực tham gia xét xử

Mặt khác cần quan tâm hơn nữa tới một số vấn đề như: Chế độ đãi ngộ vật chất đối với thẩm phán Có thể nói xã hội cần đầu tư cho họ bởi đó là sự đầu tư công khai và minh bạch cho việc duy trì nền công lý Cần quan tâm tới cơ chế giám sát hữu hiệu vừa bảo đảm độc lập xét xử vừa tăng cường tính chịu trách nhiệm của người thẩm phán, bao gồm cả những quy định về kỷ luật, bãi nhiệm thẩm phán khi họ lạm dụng quyền lực của mình Đồng thời cần qui định trách nhiệm của Hội thẩm ngang bằng với Thẩm phán khi họ có oan sai hoặc tiêu cực

C KẾT THÚC VẤN ĐỀ

Nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” là một

nguyên tắc có tầm quan trọng hết sức đặc biệt Là một nguyên tắc của tố tụng hình sự

“độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của Thẩm phán và Hội Thẩm khi xét xử hình sự Chỉ khi thực hiện triệt để nguyên tắc này thì hoạt động

tố tụng hình sự mới đạt được mục đích tối cao của mình là phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Nguyên tắc này cũng đặt ra yêu cầu cho mọi cơ quan, tổ chức xã hội và cá nhân khác phải có nhiệm vụ tôn trọng và tạo điều kiện cho Thẩm phán và Hội Thẩm độc lập xét xử

Ngày đăng: 01/09/2021, 10:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w