1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ đh điều dưỡng đánh giá hiệu quả của chương trình giáo dục sức khỏe tới sự tự tin về cho con bú của bà mẹ tại bệnh viện trung ương thái nguyên năm 2016

72 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 613,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu của họ cho thấy sự tự tin về cho con bú của bà mẹ có tương quan có ý nghĩa thống kê với việc nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tuần sau đẻ.. Trong một nghiên cứu khác của D

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

NGUYỄN THỊ SƠN

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC SỨC KHỎE TỚI SỰ TỰ TIN VỀ CHO CON BÚ CỦA BÀ MẸ TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN NĂM 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NAM ĐỊNH - 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

NGUYỄN THỊ SƠN

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC SỨC KHỎE TỚI SỰ TỰ TIN VỀ CHO CON BÚ CỦA BÀ MẸ TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN NĂM 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

Mã số: 60.72.05.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: Tiến sĩ Vi Thị Thanh Thuỷ

NAM ĐỊNH - 2016

Trang 3

TÓM TẮT

Tên đề tài: Đánh giá hiệu quả của chương trình giáo dục sức khỏe tới sự tự tin về cho con bú của bà mẹ tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2016

Mục tiêu của nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả của chương trình giáo dục sức khỏe trước sinh tới sự tự tin cho con bú của bà mẹ

Đối tượng nghiên cứu: 60 bà mẹ mang thai ở tuổi thai từ 28 tuần đến 37 tuần Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu can thiệp có đối chứng Các đối tượng tham gia nghiên cứu ở nhóm chứng hay nhóm can thiệp được lựa chọn ngẫu nhiên bằng phương pháp chọn ngày chẵn, lẻ

Địa điểm nghiên cứu: Phòng khám Sản phụ khoa – khoa Khám bệnh - Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên

Kết quả: Chương trình can thiệp giáo dục sức khỏe tác động tích cực đến niềm tin của bà mẹ về cho con bú Cụ thể: Điểm trung bình về sự tự tin cho con bú trước can thiệp ở nhóm chứng và nhóm can thiệp lần lượt là 36,96 ± 5,69; 39,63 ± 6,79 với p > 0,05 Ở giai đoạn sau can thiệp, điểm trung bình về

sự tự tin cho con bú của bà mẹ nhóm can thiệp 58,07 ± 4,52 cao hơn nhóm chứng 41,13 ± 4,93 với p < 0,001 Hiệu quả can thiệp giáo dục sức khỏe đạt 35,6%

Kết luận: Chương trình can thiệp giáo dục sức khoẻ đã cải thiện sự tự tin của

bà mẹ về cho con bú, với hiệu quả can thiệp đạt 35,6%

Khuyến nghị: Tăng cường giáo dục sức khỏe để nâng cao mức độ tự tin của

bà mẹ cho con bú là cần thiết trong thực hành điều dưỡng

Từ khoá: Sự tự tin về cho con bú, Chương trình giáo dục sức khoẻ, Thái Nguyên, 2016

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bản luận văn này tôi xin trân trọng cảm ơn:

Đảng ủy - Ban giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học, các khoa phòng

bộ môn, trường Đại học Điều dưỡng Nam Định

Đảng ủy - Ban giám đốc, Phòng Kế hoạch tổng hợp, khoa Khám bệnh, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên

Đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới:

Tiến sĩ Vi Thị Thanh Thủy - người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, luôn tận tâm dạy dỗ, giúp đỡ tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong thời gian học tập

và tiến hành nghiên cứu, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và hoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới toàn thể cán bộ, nhân viên khoa Khám bệnh, Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên đã luôn giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân yêu trong gia đình, các bạn đồng nghiệp đã hết lòng giúp đỡ động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, ngày 05 tháng 04 năm 2017

Nguyễn Thị Sơn

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Đánh giá hiệu quả của chương trình giáo dục sức khỏe tới sự tự tin về cho con bú của bà mẹ tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2016” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất

kỳ một công trình nào khác

Tác giả

Nguyễn Thị Sơn

Trang 6

MỤC LỤC

TÓM TẮT

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Tổng quan về nuôi con bằng sữa mẹ 4

1.1.1 Khái niệm, lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ 4

1.1.2 Những bất lợi của việc không nuôi con bằng sữa mẹ 7

1.1.3 Cho con bú đúng cách 9

1.2 Thực trạng về vấn đề nghiên cứu trên thế giới, khu vực và Việt Nam 11 1.2.1 Thực trạng về vấn đề cho con bú 11

1.2.2 Sự tự tin về cho con bú 12

1.2.3 Hiệu quả của các can thiệp giáo dục sức khỏe 14

1.3 Học thuyết áp dụng trong nghiên cứu 15

1.4 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu 18

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng nghiên cứu 20

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20

2.3 Thiết kế nghiên cứu 21

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 22

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 23

2.6 Các biến số nghiên cứu 24

2.7 Khái niệm, thang đo, tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá 24

Trang 7

2.7.1 Khái niệm 24

2.7.2 Thang đo, tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá 24

2.7.3 Tính giá trị và độ tin cậy của bộ công cụ 26

2.8 Phương pháp phân tích số liệu 27

2.9 Đạo đức của nghiên cứu 27

2.10 Hạn chế của nghiên cứu 27

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29

3.1 Thực trạng sự tự tin về cho con bú của các bà mẹ 29

3.1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 29

3.1.2 Đặc điểm về sự tự tin cho con bú của bà mẹ trong nghiên cứu 33

3.2 Đánh giá hiệu quả của chương trình can thiệp nâng cao sự tự tin của bà mẹ về cho con bú 34

Chương 4: BÀN LUẬN 38

4.1 Thực trạng sự tự tin về cho con bú của các bà mẹ trong nghiên cứu 38

4.1.1 Thông tin về đối tượng nghiên cứu 38

4.1.2 Đặc điểm về sự tự tin cho con bú của bà mẹ trước can thiệp ở nhóm can thiệp và nhóm chứng 39

4.1.3 Đặc điểm về sự tự tin cho con bú của bà mẹ trước và sau can thiệp ở nhóm chứng 40

4.2 Đánh giá hiệu quả của chương trình can thiệp nâng cao sự tự tin về cho con bú của bà mẹ 42

KẾT LUẬN 49

KHUYẾN NGHỊ 50

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

PHỤ LỤC 1 56

PHỤ LỤC 2 60

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Khung lý thuyết của nghiên cứu 18

Sơ đồ 2.2 Thiết kế nghiên cứu 21

Biểu đồ 3.1 Phân bố dân tộc của bà mẹ ở hai nhóm 30

Biểu đồ 3.2 Phân bố trình độ học vấn của bà mẹ ở hai nhóm 30

Biểu đồ 3.3 Phân bố nghề nghiệp của bà mẹ ở hai nhóm 31

Bảng 3.1 Phân bố nhóm tuổi của bà mẹ ở hai nhóm 29

Bảng 3.2 Một số đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ ở hai nhóm 32

Bảng 3.3 Đặc điểm thai nghén của bà mẹ ở hai nhóm 33

Bảng 3.4 Đặc điểm về sự tự tin cho con bú của bà mẹ ở hai nhóm giai đoạn trước can thiệp 33

Bảng 3.5 Đặc điểm về sự tự tin cho con bú của bà mẹ ở hai nhóm giai đoạn sau can thiệp 34

Bảng 3.6 So sánh về sự tự tin cho con bú của bà mẹ giữa hai nhóm giai đoạn trước can thiệp 34

Bảng 3.7 So sánh về sự tự tin cho con bú của bà mẹ giữa hai nhóm giai đoạn sau can thiệp 35

Bảng 3.8 So sánh về sự tự tin cho con bú của bà mẹ ở nhóm chứng giai đoạn trước và sau can thiệp 35

Bảng 3.9 So sánh về sự tự tin cho con bú của bà mẹ ở nhóm can thiệp giai đoạn trước và sau can thiệp 36

Bảng 3.10 So sánh sự tự tin về cho con bú của bà mẹ ở giai đoạn trước và sau can thiệp giữa hai nhóm 36

Bảng 3.11 Chỉ số hiệu quả can thiệp cải thiện sự tự tin về cho con bú của bà mẹ trước và sau can thiệp 37

Trang 10

Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ được biết đến rất rõ ràng nhưng

tỷ lệ phụ nữ cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu trên toàn thế giới chiếm

tỷ lệ tương đối thấp 38% và ở Đông Nam Á 47% [39] Tỷ lệ này rất khác nhau ở các nước trên thế giới được ước tính từ 1% đến 85% [44] Ở Việt Nam

tỷ lệ trẻ em từng được bú sữa mẹ khá cao 98 % tuy nhiên tỷ lệ trẻ được bú sữa

mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu tương đối thấp 17% [4] Ở thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ này rất thấp 4% vào năm 2014 [5]

Sự tự tin của bà mẹ về cho con bú đóng vai trò quan trọng trong việc bà

mẹ cho trẻ bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu [21], [30] Sự tự tin của bà mẹ về cho con bú được định nghĩa là sự nhận định của bà mẹ về khả năng thực hiện hành vi cho con bú của mình [14] Sự tự tin của bà mẹ có ảnh hưởng đến dự

Trang 11

định về thời gian cho bú Bà mẹ có sự tự tin về cho con bú sẽ tác động tích cực đến việc duy trì thời gian cho bú và quyết định cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu [21], [30] Niềm tin về khả năng thực hiện hành vi là rất quan trọng trong việc thúc đẩy các hành vi nhằm nâng cao sức khỏe, khi người ta có động lực và kiên trì để duy trì một hành vi sức khỏe, chứ không chỉ đơn giản là có kiến thức về các lợi ích của sức khỏe [7], [29] Sự tự tin của

bà mẹ về cho con bú góp phần làm nên thành công của việc nuôi con bằng sữa mẹ Chính vì vậy để đảm bảo trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, một số nghiên cứu đã chỉ ra việc cải thiện sự tự tin của bà mẹ về cho con bú là cần thiết [27]

Những năm gần đây, các nghiên cứu liên quan đến sự tự tin của bà mẹ

về cho con bú ở Việt Nam nói chung và Tỉnh Thái Nguyên nói riêng còn khá khiêm tốn Vì vậy, nghiên cứu này được tiến hành với mục đích là đánh giá

sự tự tin về cho con bú của bà mẹ sau can thiệp giáo dục sức khỏe tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên

Trang 12

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng sự tự tin về cho con bú của các bà mẹ mang thai từ 28 –

37 tuần tại Phòng Khám Sản – Khoa Khám bệnh - Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên năm 2016

2 Đánh giá hiệu quả của chương trình giáo dục sức khỏe trước sinh tới sự tự tin về cho con bú của bà mẹ

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan về nuôi con bằng sữa mẹ

1.1.1 Khái niệm, lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ

Nuôi con bằng sữa mẹ là cách để cung cấp cho trẻ nhỏ những dưỡng chất cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển của trẻ [45] Nuôi con bằng sữa

mẹ là một hành vi thúc đẩy sức khỏe hết sức quan trọng và mang đến rất nhiều lợi ích cho bà mẹ, trẻ sơ sinh, gia đình và cộng đồng Sữa mẹ là thức ăn phù hợp nhất cho trẻ sơ sinh [29], nó là nguồn dinh dưỡng tốt nhất và đầy đủ nhất cho sự tăng trưởng và phát triển của trẻ sơ sinh Vì vậy, nhiều tổ chức đã khuyến cáo nên bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu [40],[41],[45]

Theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc [40], nuôi con bằng sữa mẹ cũng được nói đến là mang lại những lợi ích to lớn cho cả mẹ và con Đối với lợi ích cho trẻ, nuôi con con bằng sữa mẹ tác động sâu sắc đến sức khỏe, dinh dưỡng và phát triển của trẻ Sữa mẹ cũng cung cấp tất cả các chất dinh dưỡng, vitamin và khoáng chất cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển của trẻ trong

6 tháng đầu và phòng chống suy dinh dưỡng Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng hoàn hảo, dễ tiêu hóa, hấp thu đối với trẻ Sữa mẹ có số lượng protein (đạm) ít hơn sữa động vật vì vậy rất phù hợp với chức năng đào thải khi thận của trẻ chưa trưởng thành Bên cạnh đó protein trong sữa mẹ chủ yếu là protein dạng lỏng hòa tan, còn gọi là protein sữa (Whey protein) nên phù hợp với khả năng tiêu hóa và hấp thu của trẻ; còn protein trong sữa bò chủ yếu là casein (85%) nên khi vào dạ dày của trẻ nhỏ sẽ tạo thành các cục đông vón làm trẻ khó tiêu hóa và hấp thu, trẻ hay bị rối loạn tiêu hóa Whey protein chứa các protein kháng khuẩn giúp trẻ có khả năng chống đỡ lại các bệnh nhiễm khuẩn Lipid (chất béo) trong sữa mẹ chiếm 50% năng lượng, thành phần acid béo không

Trang 14

no nhiều hơn acid béo no Sữa mẹ có đủ các acid béo cần thiết, giúp cho quá trình hoàn thiện não bộ, võng mạc và làm vững bền mạch máu, như: acid béo không no một nối đôi (acid oleic), acid béo không no đa nối đôi (acid α-linoleic, acid linoleic), tiền tố của DHA (Decosahexaenoic acid) và ARA (arachidonic acid) Trong sữa động vật không có các acid béo này Carbonhydrat (glucid và đường) trong sữa mẹ nhiều hơn sữa bò, cung cấp năng lượng, 85% là lactose tăng cường hấp thu calci và 15% là oligosaccharid

hỗ trợ cho sự phát triển vi khuẩn có lợi cho trẻ Sữa mẹ có đủ các vitamin (A, B1, B2, C …), khoáng chất (Calci, phospho …) và các nguyên tố vi lượng (sắt, kẽm, đồng, selen …) đáp ứng đủ nhu cầu trẻ nhỏ, giúp trẻ phòng chống thiếu vi chất và bảo vệ cơ thể chống quá trình oxy hóa [2]

Sữa mẹ còn mang kháng thể từ mẹ giúp trẻ chống đỡ với bệnh tật Sữa

mẹ chứa các tế bào bạch cầu (lympho bào, đại thực bào), globulin miễn dịch (IgA, IgG, IgM), một số yếu tố kích thích sự phát triển của vi khuẩn Lactobacillus Bifidus (Lactose, Oligosaccharid, yếu tố Bifidus), giúp trẻ chống lại các bệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp, viêm tai, viêm màng não và nhiễm khuẩn tiết niệu Sữa mẹ cũng chứa những kháng thể chống các bệnh nhiễm khuẩn mà bà mẹ đã từng mắc bệnh Khi bà mẹ bị nhiễm khuẩn, các tế bào bạch cầu hoạt động và sản xuất kháng thể để bảo vệ người mẹ, một số tế bào bạch cầu đi tới vú và sản xuất kháng thể tại đó, các kháng thể này được tiết vào sữa để bảo vệ trẻ chống nhiễm khuẩn Vì vậy khi

mẹ bị bệnh nhiễm khuẩn thì vẫn có thể cho con bú, không nên cách ly mẹ và con Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (2002), nhiều nghiên cứu ở các nước phát triển đã chứng minh tỷ lệ mắc tiêu chảy, hô hấp, viêm tai giữa và dị ứng ở trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 7 tháng đầu thấp hơn trẻ nuôi hỗn hợp Kết quả nghiên cứu điều tra ban đầu của dự án Alive & Thrive tiến hành năm 2010 tại 15 tỉnh ở Việt Nam cũng chỉ ra rằng: Trẻ được bú mẹ hoàn toàn

Trang 15

trong 6 tháng đầu ít bị tiêu chảy hơn (5,7%) so với trẻ có bú mẹ và ăn thêm các loại thức ăn, đồ uống khác [2] Bên cạnh đó, bà mẹ cho con bú sẽ tạo ra mối liên hệ đặc biệt giữa mẹ và con Bà mẹ thường xuyên tiếp xúc, gần gũi con sẽ giúp gắn bó tình cảm mẹ và con, bà mẹ cảm thấy thoải mái tinh thần, yên tâm và giảm được sự lo âu, trầm cảm sau sinh Trẻ được tiếp xúc gần gũi

mẹ, được âu yếm sẽ ít khóc hơn, cảm giác an toàn hơn, tinh thần, trí tuệ trẻ phát triển tốt hơn Sự tương tác giữa người mẹ và trẻ trong khi bú có ảnh hưởng tích cực đối với cuộc sống, sự kích thích hành vi, lời nói, hạnh phúc,

an toàn và giúp trẻ hiểu làm thế nào để tương tác với những người khác [2] Phụ nữ nuôi con bằng sữa mẹ sẽ làm giảm nguy cơ mắc bệnh và tử vong của

mẹ, cũng như giảm tỷ lệ ung thư vú trước khi mãn kinh và ung thư buồng trứng, loãng xương và bệnh mạch vành [25] Hành động cho con bú cũng giúp kích thích sự co bóp của tử cung giúp tử cung trở lại trạng thái bình thường như trước khi có thai Đồng thời nuôi con bằng sữa mẹ cũng làm giảm

và thay đổi quá trình phát triển nang noãn vì vậy nuôi con bằng sữa mẹ với những điều kiện cụ thể là một trong các biện pháp có thể ngăn ngừa sự thụ thai Đây được gọi là biện pháp cho bú vô kinh [2], [3] Ngoài ra, nuôi con bằng sữa mẹ còn góp phần bảo vệ sức khoẻ của trẻ trong quá trình trưởng thành: Sữa mẹ bảo vệ trẻ không tăng cân quá mức (thừa cân, béo phì)nhất là trong hai năm đầu đời và giảm nguy cơ mắc các bệnh mạn tính khi trưởng thành (tiểu đường, tim mạch, huyết áp …) Do sữa mẹ có các hormone Leptin, Ghrelin, IGF-1 (Insulin Growth Factor 1) tham gia điều chỉnh ăn uống và cân bằng năng lượng [2]

Nuôi con bằng sữa mẹ cũng mang lại những lợi ích rõ rệt cho cộng đồng như: Cho con bú sữa mẹ là hình thức tiết kiệm tiền bạc và thời gian [2] Trẻ em không được nuôi bằng sữa mẹ có nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhiều hơn Cho con bú sữa mẹ vừa tiện lợi vừa không tốn tiền, trong

Trang 16

khi mua sữa bột và những vật dụng cần thiết lại tốn kém Nuôi con bằng sữa

mẹ không gây ảnh hưởng xấu cho môi trường (không thải rác, không thải hóa chất) Chi phí y tế của bà mẹ không nuôi con bằng sữa mẹ sẽ cao hơn Người

mẹ không nuôi con bằng sữa mẹ sẽ có nguy cơ phải nghỉ làm thường xuyên hơn để chăm sóc cho con vì trẻ không bú mẹ nguy cơ mắc bệnh cao hơn với trẻ được bú mẹ đầy đủ Theo nghiên cứu của Bartick & Reinhold chỉ ra rằng trẻ sơ sinh bú mẹ sẽ có tác động ý nghĩa đến nền kinh tế Hoa Kỳ Dự kiến nếu 90% các gia đình ở Hoa Kỳ cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, điều này sẽ tiết kiệm được 13 tỷ USD chăm sóc sức khỏe hàng năm [8]

Chính vì những lợi ích rõ rệt của nuôi con bằng sữa mẹ mà tất cả quốc gia trên thế giới đều đặt mục tiêu nâng cao tỷ lệ cho con bú bằng sữa mẹ và cho con bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là một trong những mục tiêu quan trọng của chương trình y tế quốc gia Cụ thể là đảm bảo các cơ sở y tế thực hiện trách nhiệm bảo vệ, khuyến khích và hỗ trợ bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, tiếp tục cho trẻ bú mẹ đến 2 tuổi hoặc lâu hơn và hướng dẫn các bà mẹ đến các cơ sở y tế khi họ cần [2]

1.1.2 Những bất lợi của việc không nuôi con bằng sữa mẹ

Thức ăn thay thế sữa mẹ được chế biến từ nhiều loại sữa khác nhau (sữa động vật, sữa đậu nành và dầu thực vật) Các loại sữa này mặc dù đã được điều chỉnh, chế biến để giống với thành phần sữa mẹ nhưng vẫn không thể hoàn hảo như sữa mẹ Vì vậy nuôi trẻ bằng sản phẩm thay thế sữa mẹ, cho trẻ bú bình và vú ngậm nhân tạo sẽ có nhiều bất lợi Những bất lợi khi nuôi trẻ bằng sản phẩm thay thế sữa mẹ đó là hạn chế gắn bó mẹ và con, giảm mối quan hệ gần gũi yêu thương giữa mẹ và con; trẻ dễ bị tiêu chảy và tiêu chảy kéo dài, do đặc điểm protein trong sữa động vật không phù hợp với khả năng tiêu hóa và hấp thu của trẻ; trẻ dễ bị nhiễm khuẩn, nhất là nhiễm khuẩn hô hấp, vì thức ăn nhân tạo không có yếu tố kháng khuẩn; trẻ dễ bị dị ứng như

Trang 17

chàm, hen suyễn và không dung nạp sữa; trẻ dễ bi suy dinh dưỡng, thiếu vi chất, thiếu vitamin đặc biệt là vitamin A, do trẻ ăn quá ít hoặc sữa quá loãng; trẻ ăn quá nhiều sữa nhân tạo sẽ gây thừa cân, béo phì; trẻ sẽ tăng nguy cơ mắc các bệnh mạn tính khi trưởng thành (tiểu đường, tim mạch ); chỉ số thông minh của trẻ thường thấp hơn so với trẻ nuôi bằng sữa mẹ; bà mẹ không nuôi con bằng sữa mẹ dễ có thai sớm; dễ có nguy cơ bị thiếu máu sau sinh và tăng nguy cơ mắc ung thư vú, ung thư buồng trứng sau này [2] Những bất lợi khi cho trẻ bú bình và vú ngậm nhân tạo: bình bú và vú ngậm nhân tạo dễ bị nhiễm khuẩn vì khó vệ sinh làm cho trẻ có nhiều nguy cơ mắc nhiễm khuẩn đường tiêu hóa trẻ quen với núm vú cao su và vú ngậm nhân tạo nên sẽ từ chối vú mẹ khi cho trẻ bú mẹ Vì vậy trẻ sẽ bú ít đi, làm giảm khả năng tạo sữa, dẫn đến bà mẹ sẽ không đủ sữa nuôi trẻ [2]

Việc không nuôi con bằng sữa mẹ không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe

mà còn có thể ảnh hưởng tới sự sống của bà mẹ và trẻ sơ sinh Sữa non hay sữa đầu cung cấp cho trẻ những miễn dịch đầu tiên bằng cách mang những kháng thể cần thiết và các yếu tố phát triển truyền từ mẹ sang con, ngăn ngừa

tử vong sớm và bảo vệ trẻ sơ sinh chống lại các bệnh truyền nhiễm Tiếp xúc

da kề da và cho con bú sớm trong giờ đầu tiên sau đẻ có ý nghĩa làm giảm đáng kể tỷ lệ tử vong [13],[19],[32]

Thực hành cho con bú không hoàn toàn chiếm gần 12 % tất cả các trường hợp trẻ tử vong dưới 5 tuổi, tương đương khoảng 800.000 ca tử vong năm 2011 [9]

Trẻ sơ sinh không được bú mẹ có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng đã được xác định bởi một số nghiên cứu trước đó trên thế giới Trẻ không bú mẹ có nguy cơ cao mắc các bệnh như nhiễm khuẩn đường tiêu hóa hoặc tiêu chảy, hen phế quản và dị ứng [6], [25], [42] và các bệnh mạn tính như tăng huyết áp, tiểu đường khi trưởng thành [25], [42] Bà mẹ không cho

Trang 18

con bú không những ảnh hưởng tới sức khỏe của con mà còn ảnh hưởng tới sức khỏe của mẹ như làm tăng nguy cơ mắc trầm cảm sau sinh, làm chậm sự trở lại về cân nặng của bà mẹ như lúc trước khi mang thai [6], [25]

Kết quả nghiên cứu điều tra ban đầu của dự án Alive & Thrive tiến hành năm 2010 tại 15 tỉnh ở Việt Nam cũng chỉ ra rằng: Trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu ít bị tiêu chảy hơn so với trẻ có bú mẹ và ăn thêm các loại thức ăn, đồ uống khác [2]

* Bà mẹ bế trẻ ở tư thế thông thường:

- Bà mẹ ngồi thoải mái, bế trẻ sát vào người mình, mặt trẻ đối diện với

vú và bà mẹ đỡ toàn thân trẻ Bà mẹ nhìn vào trẻ và biểu lộ tình yêu thương

- Bà mẹ nên tránh các lỗi sau: Bà mẹ ngồi không thoải mái, không ôm trẻ sát vào lòng và để cổ trẻ bị vẹo Không đỡ toàn thân trẻ [2]

* Bà mẹ nằm cho con bú

- Bà mẹ nằm cho con bú trong các trường hợp sau: Khi bà mẹ muốn ngủ vẫn có thể cho con bú mà không cần ngồi dậy; Sau khi mới mổ đẻ, nằm ngửa hoặc nằm nghiêng có thể giúp bà mẹ cho con bú thoải mái hơn

Trang 19

- Kỹ thuật đặt trẻ vào vú mẹ khi bà mẹ nằm cho con bú như sau: Bà mẹ nằm nghiêng, ở tư thế có thể ngủ được để cho trẻ bú bà mẹ sẽ cảm thấy thư giãn, thoải mái Nếu bà mẹ nằm gối đầu lên khuỷu tay để cho trẻ bú thì đa số thấy không được thoải mái; Nếu có gối, bà mẹ nên sử dụng một gối kê dưới đầu và một gối kê dưới cánh tay bà mẹ để cho trẻ bú; Thực hiện chính xác 4 điểm then chốt về cách đặt trẻ vào vú là rất quan trọng đối với bà mẹ nằm cho con bú; Bà mẹ có thể giữ trẻ bằng cẳng tay ở dưới Nếu cần thiết bà mẹ có thể nâng bằng cẳng tay ở trên; Nếu bà mẹ không cần nâng vú thì có thể ôm trẻ bằng cẳng tay phía trên; Khi bà mẹ nằm cho con bú mà trẻ ngậm bắt vú khó thi nguyên nhân thường là do để trẻ nằm quá cao, sát với vai bà mẹ và đầu của trẻ phải cúi về trước để với đến núm vú [2]

1.1.3.2 Kỹ thuật cho trẻ ngậm bắt vú

Kỹ thuật đưa miệng trẻ ngậm bắt vú mẹ:

- Bà mẹ để núm vú chạm vào môi trẻ, khi miệng trẻ mở rộng, nhanh chóng đưa miệng trẻ vào vú sao cho hướng môi dưới của trẻ ở dưới núm vú;

- Quan sát cách đáp ứng của bà mẹ và hỏi cảm giác của bà mẹ khi cho trẻ bú Tìm các dấu hiệu ngậm bắt vú đúng, nếu trẻ ngậm bắt vú sai thì bà mẹ cần cố gắng làm lại [2]

- Môi dưới của trẻ hướng ra ngoài;

- Quầng vú ở phía trên miệng trẻ còn nhiều hơn ở phía dưới;

Trang 20

- Lưỡi của trẻ đưa ra qua lợi dưới và ở dưới các xoang sữa, lưỡi của trẻ

sẽ chụm quanh đầu vú, khi đó lưỡi sẽ ép sữa ra từ các xoang sữa và chảy vào miệng của trẻ (điều này có thể nhìn thấy khi quan sát trẻ bú);

- Nếu trẻ ngậm bắt vú đúng thì miệng và lưỡi của trẻ không cọ xát vào

da vú và núm vú, không gây tổn thương da và núm vú bà mẹ; trẻ sẽ dễ dàng nhận được nhiều sữa và trẻ bú có hiệu quả [2]

1.1.3.3 Kỹ thuật giữ bầu vú khi cho trẻ bú

- Bà mẹ đặt 4 ngón tay áp vào thành ngực ở dưới vú

- Ngón tay trỏ nâng vú

- Ngón tay cái để ở phía trên

- Các ngón tay của bà mẹ không nên để quá gần núm vú

- Lưu ý: Các ngón tay bà mẹ không nên khum lại như chiếc gọng kìm

Trang 21

thấp chỉ 17% và trong đó cao nhất là ở Trung du và miền núi phía Bắc chiếm 37,6% và thời gian duy trì bú sữa mẹ trung bình16,7% [4] Ở thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ này rất thấp 4% vào năm 2014 [5]

Nhằm cải thiện thời gian nuôi con bằng sữa mẹ và bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, việc nâng cao sự tự tin của bà mẹ về cho con bú là một giải pháp quan trọng Hiện nay, ở Việt Nam các nghiên cứu nhằm thúc đẩy sự tự tin về cho con bú còn hạn chế Vì vậy, mục đích của nghiên cứu này là cải thiện sự tự tin về cho con bú thông qua chương trình can thiệp giáo dục sức khỏe tại phòng khám Sản phụ khoa, khoa Khám bệnh, Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên

1.2.2 Sự tự tin về cho con bú

Sự tự tin về cho con bú được biết là một trong các yếu tố quan trọng có thể thay đổi được thực trạng về tỷ lệ cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu ở trên thế giới cũng như Việt Nam Sự tự tin được định nghĩa là sự nhận định của một người về khả năng thực hiện một hành vi cụ thể [7] Người mẹ có sự tự tin

về cho con bú sẽ tác động tích cực đến thời gian cho bú và bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đã được tìm thấy trong rất nhiều nghiên cứu điều dưỡng Meedya, Fahy, and Kable (2010) [30] đã tìm ra yếu tố có tác động tích cực trong đó sự tự tin là yếu tố thay đổi đáng kể tới hành vi nuôi con bằng sữa

mẹ trong 6 tháng đầu

Hathamleh (2012) [21] tiến hành nghiên cứu trên 37 phụ nữ đo lường độ

tự tin về cho con bú của bà mẹ ở ba giai đoạn (trước sinh, sau sinh 2 tuần, và sau sinh 6 tuần) Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra sự tự tin về cho con bú của

bà mẹ có mối tương quan thuận với thời gian cho bú sau đẻ ở giai đoạn 2 và giai đoạn 3 với kết quả lần lượt như sau (r = 0.531, p = 0.01; r = 0.370, p = 0.05)

Trang 22

Blyth và cộng sự (2004) [11] đã cho biết sự tự tin về cho con bú của bà

mẹ thấp liên quan tới việc cai sữa sớm cũng tương tự như một số nghiên cứu trước đó[17], [20], [34] Nghiên cứu mô tả của O’campo trên198 phụ nữ mang thai, cho thấy người phụ nữ có sự tự tin về cho con bú thấp có nguy cơ ngừng cho con bú trước 6 tháng sau đẻ cao hơn 3,1 lần so với người phụ nữ

có độ tự tin về cho con bú cao [34]

Dennis và Faux (1999) [14] đã xây dựn và sử dụng bộ công cụ Breastfeeding Self efficacy (BSES) để đo lường độ tự tin về cho con bú của

bà mẹ Kết quả nghiên cứu của họ cho thấy sự tự tin về cho con bú của bà mẹ

có tương quan có ý nghĩa thống kê với việc nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tuần sau đẻ Tương tự, Forster và cộng sự năm 2006 [20] đã chỉ ra mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa điểm số về sự tự tin về cho con bú của bà mẹ

và thời gian cho con bú trong 4 tháng Trong một nghiên cứu khác của Dykes

& Williams (1999) [18], tác giả cũng cho biết bà mẹ không có sự tự tin về cho con bú trong suốt thời kỳ hậu sản là yếu tố chính trong việc quyết định ngừng nuôi con bằng sữa mẹ

Blyth và cộng sự (2002) [10], Dennis (1999) [15] đã chỉ ra những bà

mẹ có kinh nghiệm nuôi con bằng sữa mẹ có tác động tốt đến sự tự tin Bà mẹ

có tinh thần và thể chất tốt có sự tự tin về cho con bú Nghiên cứu cũng cho thấy những bà mẹ có nhận thức tốt về việc cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu có độ tự tin cao hơn Hector và cộng sự (2004) [22] chỉ ra trong nghiên cứu của ông là những bà mẹ có mức thu nhập thấp, ít được tiếp cận với giáo dục về nuôi con bằng sữa mẹ thì mức độ tự tin và cam kết nuôi con bằng sữa

mẹ trong 6 tháng đầu ít đạt được kết quả Các ảnh hưởng tích cực trong việc

hỗ trợ sự tự tin về cho con bú cũng được báo cáo trong nhiều nghiên cứu [11],[12],[23],[24],[43] Những kinh nghiệm về nuôi con bằng sữa mẹ trong quá khứ là chủ đề của nghiên cứu mô tả 300 phụ nữ ở thành phố Brisbane bởi

Trang 23

Blyth và cộng sự (2002) Họ tìm ra sự khác nhau có ý nghĩa về điểm số về độ

tự tin cho con bú ở tuần đầu và 4 tháng sau đẻ giữa người phụ nữ không có kinh nghiệm về nuôi con bằng sữa mẹ và người phụ nữ có kinh nghiệm nuôi con bằng sữa mẹ trước đó [10]

Loke & Chan (2013) [28] nghiên cứu trên 199 phụ nữ ở thời kỳ hậu sản

sử dụng bộ công cụ đo lường sự tự tin về cho con bú (MBSES-SF) kết quả chỉ

ra người phụ nữ có điểm số cao hơn về sự tự tin cho con bú sẽ có dự định cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu nhiều hơn (OR = 7.77, 95% CI = 2.54, 23.74, < 0.001)

Tóm lại, các nghiên cứu trước đây đều chỉ ra rằng sự tự tin về cho con

bú của bà mẹ ảnh hưởng đến dự định về thời gian cho bú và sự thành công về nuôi con bằng sữa mẹ Những can thiệp điều dưỡng nhằm nâng cao sự tự tin

về cho con bú là giải pháp cấp thiết

1.2.3 Hiệu quả của các can thiệp giáo dục sức khỏe

Trên thế giới các can thiệp nhằm nâng cao sự tự tin về cho con bú đã được thực hiện và mang lại những hiệu quả nhất định Otsuka và cộng sự năm

2014 [35] nghiên cứu can thiệp trên 781 phụ nữ mang thai được tuyển chọn từ

2 bệnh viện của Nhật Bản Trong đó nhóm can thiệp được nhận sách bài tập

về sự tự tin cho con bú ở 3 tháng cuối của thời kỳ thai nghén, họ được khuyến khích để hoàn thành sách bài tập trước khi sinh Kết quả chỉ ra rằng chương trình can thiệp giúp cải thiện cả sự tự tin về cho con bú và bú mẹ hoàn toàn trong 4 tuần sau đẻ

Kingston, Dennis, & Sword năm 2007 [27] thực hiện nghiên cứu mô tả trên 63 phụ nữ Canada thu được kết quả cho thấy việc quan sát thực hành cho con bú thông qua các băng video và tranh ảnh có ý nghĩa làm tăng sự tự tin về

Trang 24

cho con bú của bà mẹ hơn những bà mẹ không xem các băng video và hình ảnh

Tác giả Somayeh, Parvin, Shirin và Soheila năm 2014 [37] nghiên cứu

về hiệu quả của chương trình can thiệp giáo dục sức khỏe tới sự tự tin về cho con bú và thời gian cho bú mẹ hoàn toàn ở phụ nữ mang thai ở Ahvaz, Iran chỉ ra rằng sự tự tin của người phụ nữ về cho con bú ở nhóm can thiệp cao hơn những người phụ nữ ở nhóm chứng Đồng thời họ cũng chỉ ra mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa sự tự tin về cho con bú và thời gian bú mẹ hoàn toàn

Mục tiêu của nghiên cứu này là kiểm tra sự tự tin về cho con bú của bà

mẹ bằng chương trình can thiệp nhằm nâng cao sự tự tin về cho con bú Chương trình này được xây dựng dựa trên học thuyết sự tự tin về cho con bú của Dennis năm 1999 [15] Chương trình can thiệp bao gồm giáo dục sức khỏe về nuôi con bằng sữa mẹ ở giai đoạn trước sinh và đo lường sự tăng lên

về sự tự tin về cho con bú của bà mẹ Hiệu quả của can thiệp trên sự tự tin về cho con bú của người phụ nữ mang thai, người đang nhận chăm sóc trước sinh tại phòng khám Sản – phụ khoa, khoa Khám bệnh, Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên Can thiệp bao gồm các hoạt động của điều dưỡng ở giai đoạn trước sinh Can thiệp này không chỉ cung cấp các kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ mà còn tập trung vào việc nâng cao sự tự tin về cho con bú của

bà mẹ

1.3 Học thuyết áp dụng trong nghiên cứu

Theo học thuyết sự tự tin về cho con bú, khi bà mẹ có niềm tin về việc cho con bú sữa mẹ hoàn toàn là cơ sở để người mẹ cho con bú đủ theo thời gian quy định Những bà mẹ có sự tự tin cao về cho con bú có thể sẽ đặt ra mục tiêu về nuôi con bằng sữa mẹ và suy nghĩ một cách hợp lý khi gặp phải

Trang 25

các vấn đề trong quá trình cho con bú để từ đó tìm ra cách giải quyết thích hợp Họ sẽ thấy được kết quả khi họ nỗ lực cho con bú bất kể những khó chịu hoặc những bất tiện cá nhân [15] Những bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ sẽ tiêu tốn một lượng năng lượng lớn để duy trì việc nuôi con bằng sữa mẹ và sẽ có khả năng thành công trong việc nuôi con bằng sữa mẹ bất chấp những khó khăn gặp phải Những bà mẹ có sự tự tin về cho con bú cao sẽ có khả năng thư giãn trong việc nuôi con bằng sữa mẹ hơn, điều này sẽ thúc đẩy phản xạ xuống sữa và tăng tạo sữa Bà mẹ sẽ đối phó một cách bình tĩnh với những vấn đề phát sinh và sử dụng các nguồn lực thích hợp khi họ cần giúp đỡ và cố gắng nuôi con bằng sữa mẹ bởi vì họ biết nuôi con bằng sữa mẹ là lựa chọn tốt nhất trong việc nuôi dưỡng trẻ Các nghiên cứu trước cũng cho thấy bà mẹ

có sự tự tin thấp có mối tương quan nghịch đến sự thành công trong nuôi con bằng sữa mẹ Những bà mẹ có quan điểm “Tôi sẽ cố gắng” thì họ có nỗ lực nuôi con bằng sữa mẹ thấp hơn so với những bà mẹ có quan điểm tin chắc rằng “Tôi sẽ thành công” Điều đó chứng tỏ rằng những bà mẹ có sự tự tin thấp sẽ không cố gắng tìm ra giải pháp để giải quyết khó khăn trong quá trình nuôi con bằng sữa mẹ Từ đó, bà mẹ có thể chọn phương án là ngừng cho con

bú thay vì đối mặt với những khó khăn Sự mong đợi về sự tự tin cho con bú chịu ảnh hưởng bởi 4 nguồn thông tin: thành tựu của việc tự thực hiện, những kinh nghiệm do người khác làm, thuyết phục bằng lời nói, và phản ứng tâm sinh lý [15]

Thành tựu của việc tự thực hiện

Thành tựu của việc tự thực hiện liên quan đến việc học tập, đặc biệt là nhấn mạnh đến làm chủ hành vi của bà mẹ được đúc rút từ kinh nghiệm cá nhân Khái niệm này được coi là hình thức thành công nhất góp phần trong việc nâng cao sự tự tin về cho con bú Chính sự thành công này phụ thuộc vào việc làm chủ và việc tự định hướng của bà mẹ Khi được định hướng đúng sẽ

Trang 26

cho phép bà mẹ có đủ kỹ năng đối phó, điều chỉnh được trạng thái cảm xúc giúp làm giảm căng thẳng.Từ đó, bà mẹ có thể được củng cố niềm tin về sự tự thực hiện[15]

Kinh nghiệm do người khác làm

Kinh nghiệm do người khác làm liên quan đến quan sát những người khác thực hiện các hoạt động và tự so sánh với họ Nguồn thông tin này có thể có một tác động mạnh mẽ về nhận thức sự tự tin đặc biệt trong những trường hợp không có kinh nghiệm trước đó [15] "Hiệu quả của việc học tập quan sát còn tùy thuộc vào các thuộc tính của mô hình đóng vai, cũng như cách thức được thực hiện" [15] Mô hình vai trò xảy ra khi một người phụ nữ quan sát hoặc đọc hoặc nghe về nuôi con bằng sữa mẹ [15]

Sự thuyết phục bằng lời nói

Dennis chỉ ra rằng con người có thể bị thuyết phục để tin rằng họ có kỹ năng và năng lực để thành công Có được những khuyến khích bằng lời nói từ những người khác giúp con người vượt qua sự do dự và thay vào đó là tập trung vào việc nỗ lực hết sức cho thực hiện nhiệm vụ [15]

Phản ứng tâm sinh lý

Phản ứng và đáp ứng tâm sinh lý với tình huống cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc cải thiện sự tự tin về cho con bú Các yếu tố như khí sắc, trạng thái tâm lý, phản ứng sinh lý và mức độ căng thẳng có thể tác động đến họ cảm giác như thế nào về năng lực cá nhân của mình trong tình huống

cụ thể Vì vậy, thoải mái về tinh thần là cần thiết cho việc học diễn ra Đặc biệt, trong việc nuôi con bằng sữa mẹ phản ứng tâm lý là rất quan trọng bởi vì tăng sự lo lắng có ảnh hưởng trực tiếp đến phản xạ tiết sữa và có thể làm giảm lượng sữa mẹ [26], [31] Bốn nguồn thông tin chủ yếu được mô tả ở trên tác động cùng nhau để phát triển và đánh giá sự tự tin của cá nhân ảnh hưởng đến một nhiệm vụ, hành vi, hoặc thực hiện cụ thể

Trang 27

Sơ đồ 1.1 Khung lý thuyết của nghiên cứu

1.4 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu

Nghiên cứu này sẽ được thực hiện tại phòng khám Sản phụ khoa bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên Phòng khám Sản phụ khoa bao gồm các hoạt động như: khám thai, khám phụ khoa, đặt dụng cụ tử cung và các xét nghiệm, siêu âm và thăm dò chức năng Theo báo cáo của bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên, hàng năm phòng khám Sản phụ khoa có khoảng 1000 – 1200 lượt phụ nữ và thai phụ được khám, chăm sóc và điều trị về những vấn đề liên quan đến sản-phụ khoa Cụ thể, hàng tháng có khoảng 200 - 250 phụ nữ đến khám thai tại đây mà trong đó có khoảng 20% là bà mẹ mang thai với tuổi thai từ 28 đến 37 tuần Thời gian khám chữa bệnh của phòng khám Sản phụ khoa bắt đầu từ 7h30 đến 12h và từ 13h30 đến 17h các ngày làm việc trong tuần Quy trình chăm sóc cho thai phụ đến khám thai định kỳ tại phòng khám Sản phụ khoa Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên được thực hiện như sau:

Thành tựu của việc

Trang 28

chuẩn bị (phòng, dụng cụ, nhân viên y tế, thai phụ), hỏi bệnh, khám toàn thân, khám sản khoa, xét nghiệm, giáo dục sức khỏe, ghi chép và thông báo kết quả khám Quy trình khám thai được thực hiện theo đúng các quy định về khám chữa bệnh

Trang 29

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các bà mẹ mang thai ở tuổi thai từ 28 tuần đến 37 tuần đến khám thai tại phòng khám Sản phụ khoa – Khoa Khám bệnh

- Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên Mẫu của nghiên cứu là 60 bà mẹ được chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện dựa trên những tiêu chuẩn như sau:

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Bà mẹ từ 18 tuổi trở lên

Bà mẹ có ý định cho con bú

Bà mẹ sinh con lần đầu

Bà mẹ không mắc bệnh tật nghiêm trọng

Có khả năng giao tiếp, đọc tiếng Việt

Sẵn sàng và cam kết tham gia vào nghiên cứu đến giai đoạn sau sinh 2 tuần

Có thể liên hệ bằng điện thoại sau khi xuất viện

Tiêu chuẩn loại trừ

Bà mẹ mang đa thai

Bà mẹ đẻ ra trẻ non tháng

Bà mẹ đẻ ra trẻ tử vong

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian thực hiện nghiên cứu từ tháng 02 năm 2016 đến tháng 10 năm 2016 tại phòng khám Sản phụ khoa Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên

Trang 30

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu là nghiên cứu thực nghiệm có một nhóm chứng Theo thiết kế nghiên cứu này, bà mẹ tham gia nghiên cứu được chia làm hai nhóm bao gồm nhóm chứng và nhóm can thiệp bà mẹ tham gia nghiên cứu trong nhóm can thiệp được nhận chương trình can thiệp nhằm nâng cao độ tự tin về cho con bú được thiết kế bởi nhóm nghiên cứu và can thiệp điều dưỡng thường quy, trong khi nhóm chứng chỉ nhận những can thiệp điều dưỡng thường quy Bà mẹ tham gia nghiên cứu được yêu cầu trả lời bộ câu hỏi bao gồm các thông tin về nhân khẩu học, lịch sử thai nghén và sự tự tin về cho con bú tại thời điểm trước và sau can thiệp Số liệu của nghiên cứu được thu thập tại hai thời điểm trước và sau can thiệp như trong biểu đồ dưới đây

Nhóm can thiệp Trước can thiệp T + S Sau can thiệp

Phân nhóm ngẫu nhiên

Nhóm chứng Trước can thiệp S Sau can thiệp

Sơ đồ 2.2 Thiết kế nghiên cứu

O1 đại diện cho việc thu thập số liệu về các thông tin liên quan đến nhân khẩu học, lịch sử thai nghén và sự tự tin về cho con bú ở giai đoạn trước khi thực hiện can thiệp

O2 đại diện cho việc thu thập số liệu về các thông tin liên quan đến nhân khẩu học, lịch sử thai nghén và sự tự tin về cho con bú ở giai đoạn sau khi thực hiện can thiệp

T đại diện cho chương trình can thiệp nhằm nâng cao sự tự tin về cho con bú

Trang 31

S đại diện cho chương trình can thiệp thường quy cho bà mẹ sau sinh 2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu

a) Cỡ mẫu

Cỡ mẫu trong nghiên cứu này là 60 bà mẹ mang thai ở tuổi thai

28 đến 37 tuần Cỡ mẫu trong nghiên cứu thực nghiệm có một nhóm chứng sẽ bao gồm 30 đối tượng ở mỗi nhóm [36] dựa vào công thức tính cỡ mẫu như sau:

2

1 2

) Z + (

Trong đó:

 Zα= 1,96( α=0.05) và Zβ = 0.84 (β =0.20); Zα + Zβ = 2,8

 ϻ2 - ϻ1: chênh lệch điểm trung bình STTVCCB mong muốn sau

và trước can thiệp (ước tính 6,4)

 δ: độ lệch chuẩn trước và sau can thiệp (lấy bằng 8,9) [33]

Từ đó, tính được cỡ mẫu cho mỗi nhóm là 30 bà mẹ

- Vào tuần thu thập số liệu đầu tiên, người nghiên cứu xác định ngày chẵn thu thập số liệu của nhóm chứng và ngày lẻ thu thập số liệu của nhóm can thiệp

Trang 32

- Ở tuần kế tiếp, việc hoán đổi ngày chẵn lẻ và nhóm chứng, nhóm can thiệp được thực hiện

- Quy trình như vậy được lặp lại cho đến khi thu thập đủ cỡ mẫu nghiên cứu

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

Việc thu thập số liệu được tiến hành từ 7h30 đến 12h và từ 13h30 đến 17h các ngày làm việc trong tuần Các bước tiến hành cụ thể như sau:

- Với từng bà mẹ đến khám bệnh, nghiên cứu viên tiến hành sàng lọc

để lựa chọn những bà mẹ phù hợp với tiêu chuẩn chọn mẫu

- Những bà mẹ đáp ứng được tiêu chuẩn chọn mẫu được mời tham gia nghiên cứu

- Bà mẹ đồng ý tham gia nghiên cứu được giới thiệu chung về nghiên cứu và yêu cầu ký vào bản đồng ý tham gia nghiên cứu

- Phỏng vấn trước can thiệp được tiến hành bởi nghiên cứu viên dựa trên bộ câu hỏi Đối với bà mẹ tham gia nghiên cứu ở nhóm can thiệp, nghiên cứu viên tiến hành can thiệp sau khi hoàn thành việc phỏng vấn

- Sau khi hoàn thành việc phỏng vấn, nghiên cứu viên hỏi bà mẹ tham gia nghiên cứu số điện thoại và địa chỉ liên lạc và hẹn ngày liên lạc lại sau sinh qua điện thoại (ngày liên lạc sau sinh dự kiến được tính bằng ngày sinh

dự kiến cộng thêm 2 tuần)

- Vào ngày hẹn, nghiên cứu viên chủ động liên lạc với bà mẹ tham gia nghiên cứu để tiến hành phỏng vấn dựa trên bộ câu hỏi về sự tự tin cho con

bú Trong trường hợp, nghiên cứu viên không thể liên lạc được với bà mẹ tham gia qua điện thoại thì phỏng vấn tại nhà theo địa chỉ liên hệ được áp dụng

Trang 33

2.6 Các biến số nghiên cứu

Biến phụ thuộc: Sự tự tin về cho con bú của bà mẹ

Biến độc lập: Gồm các biến về nhân khẩu học của bà mẹ (tuổi, dân tộc, tôn giáo, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, hiện tại sống cùng ai, và thu nhập trung bình hàng tháng) và lịch sử thái nghén của bà mẹ (tuổi thai trước can thiệp, tuổi thai lúc sinh, số lần khám thai định kì lần mang thai này)

2.7 Khái niệm, thang đo, tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá

2.7.1 Khái niệm

Sự tự tin là sự nhận định của bà mẹ về khả năng thực hiện hành vi nào

đó của mình thông qua việc học tập, quan sát và kinh nghiệm

Trong nghiên cứu này sự tự tin về cho con bú liên quan đến khả năng của bà mẹ trong việc thực hiện hành vi cho con bú trong việc học tập kinh nghiệm từ người khác, quan sát và tự thực hiện hành vi cho con bú cũng như

tự điều chỉnh cảm xúc tâm sinh lý của mình để thực hiện hành vi cho con bú một cách tốt nhất

2.7.2 Thang đo, tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá

Nghiên cứu này sử dụng 3 bộ công cụ để thu thập số liệu phục vụ cho nghiên cứu bao gồm: Bộ câu hỏi nhân khẩu học, độ tự tin về cho con bú, và chương trình can thiệp nhằm cải thiện sự tự tin về cho con bú cho bà mẹ 2.7.2.1 Bộ câu hỏi nhân khẩu học (Phụ lục 1)

Bộ câu hỏi nhân khẩu học được nhóm nghiên cứu xây dựng Bộ công

cụ bao gồm các câu hỏi khai thác các thông tin về bà mẹ như: Tuổi, dân tộc, nghề nghiệp, trình độ học vấn, thu nhập cá nhân và lịch sử sản khoa (tuổi thai trước can thiệp, tuổi thai lúc sinh, số lần khám thai định kì lần mang thai này)

Trang 34

2.7.2.2 Bộ câu hỏi sự tự tin về cho con bú (Phụ lục 1)

Bộ công cụ đánh giá sự tự tin về cho con bú (BSES-SF) được Dennis xây dựng, bao gồm 14 câu hỏi được sử dụng trong nghiên cứu này để đo lường sự tự tin của bà mẹ về cho con bú Tất cả những câu hỏi đều được bắt đầu bằng cụm từ “Tôi có thể” Mỗi câu hỏi có 5 phương án trả lời từ 1: Không

tự tin chút nào cho đến 5: Luôn luôn tự tin

Các phương án trả lời của bà mẹ tham gia nghiên cứu được cộng tổng lại để đưa ra một kết quả cuối cùng Kết quả này có thể từ 14 đến 70 Điểm số càng cao chỉ ra người tham gia có sự tự tin về cho con bú càng cao

Độ tin cậy của bộ công cụ đã được kiểm tra qua nhiều nghiên cứu và chỉ ra độ tin cậy của bộ công cụ tương đối cao Cụ thể như sau, chỉ số Cronbach-alpha của bộ công cụ này trong nghiên cứu của Tokay, Okumus và Dennis năm 2010 là 0,87 [38]; Của Nursan và cộng sự năm 2014 là 0,86 [33] 2.7.2.3 Chương trình can thiệp (Phụ lục 2)

Chương trình can thiệp cho nghiên cứu này dựa vào 4 nguồn chính có tác động phát triển và làm tăng cường độ tự tin của con người theo học thuyết của Bandura và Dennis bao gồm: Thành tựu của việc tự thực hiện, kinh nghiệm do người khác làm, sự thuyết phục bằng lời nói, và phản ứng tâm sinh

lý Do vậy can thiệp điều dưỡng của nghiên cứu này được xây dựng để tác động vào các yếu tố này nhằm nâng cao sự tự tin về cho con bú cho các bà

mẹ Ngoài ra, xây dựng chương trình can thiệp còn dựa vào tham khảo các chương trình can thiệp của các nghiên cứu được thực hiện trước đó trên thế giới [21], [23], [24], [37]

Nhằm đánh giá tính giá trị và khả thi của chương trình can thiệp, nội dung của chương trình đã được thông qua các chuyên gia sản khoa tại trường Đại Học Y Dược Thái Nguyên

Chương trình can thiệp về độ tự tin cho con bú gồm các bước như sau:

Trang 35

1 Bà mẹ tham gia nghiên cứu đọc tài liệu về nuôi con bằng sữa mẹ trong khoảng 10 phút

2 Bà mẹ tham gia nghiên cứu xem 1 video hướng dẫn nuôi con bằng sữa

mẹ trong khoảng 5 phút

3 Bà mẹ tham gia nghiên cứu thực hiện hành vi cho con bú bằng cách sử dụng gối và 1 búp bê thay cho trẻ sơ sinh Bà mẹ tham gia nghiên cứu thực hiện dưới sự hướng dẫn của nhà nghiên cứu trong khoảng 10 phút

4 Bà mẹ tham gia nghiên cứu tự thực hiện hành vi cho con bú bằng cách

sử dụng gối và 1 búp bê thay cho trẻ sơ sinh

5 Sau khi thực hiện, nhà nghiên cứu sẽ thảo luận về kết quả thực hiện đồng thời kết hợp với khuyến khích bà mẹ tham gia nghiên cứu Thời gian thực hiện trong khoảng 10 phút

2.7.2.4 Chương trình can thiệp thường quy

Thông thường các bà mẹ sau đẻ sẽ nhận được tư vấn về cách cho con

bú, lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ cũng như những bất lợi khi không nuôi con bằng sữa mẹ Những can thiệp này thường được thực hiện ngay sau sinh bởi các điều dưỡng, nữ hộ sinh

2.7.3 Tính giá trị và độ tin cậy của bộ công cụ

Tính giá trị của bộ công cụ

Nội dung của chương trình can thiệp được gửi cho 3 chuyên gia về lĩnh vực sản phụ khoa để kiểm tra tính giá trị về nội dung, cũng như tính chính xác

về từ ngữ chuyên môn được sử dụng

Độ tin cậy

Chúng tôi đã tiến hành một nghiên cứu thí điểm được thực hiện trên 30

bà mẹ tham gia có cùng đặc điểm với quần thể của nghiên cứu nhằm đánh giá

độ tin cậy của bộ công cụ (chỉ số Cronbach’s alpha) Kết quả của nghiên cứu thí điểm cho thấy, chỉ số Cronbach’s alpha của bộ công cụ 0,838 (> 0,8) Điều

Trang 36

này chỉ ra rằng, bộ công cụ có độ tin cậy cao và có khả năng áp dụng cho nghiên cứu

2.8 Phương pháp phân tích số liệu

Sử dụng phần mềm SPSS 18.0 để nhập liệu, phân tích và quản lý số liệu trong suốt quá trình nghiên cứu

2.9 Đạo đức của nghiên cứu

Nghiên cứu được xem xét và thông qua bởi hội đồng đạo đức của Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên

Đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ ràng về mục đích, quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia nghiên cứu

Bà mẹ tham gia nghiên cứu không bị bất cứ ảnh hưởng xấu gì

Bà mẹ tham gia có quyền rút khỏi nghiên cứu bất cứ lúc nào

Tất cả những thông tin về bà mẹ nghiên cứu được mã hóa, giữ bí mật

và chỉ được sử dụng duy nhất cho mục đích của nghiên cứu này

Tất cả các thông tin sẽ được hủy sau 1 năm khi nghiên cứu kết thúc Kết quả nghiên cứu chỉ sử dụng cho sức khỏe cộng đồng và bệnh nhân ngoài ra không nhằm mục đích nào khác

2.10 Hạn chế của nghiên cứu

Do hạn chế trong việc tiếp cận danh sách bà mẹ đủ điều kiện tham gia nghiên cứu vì vậy việc sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện để lấy mẫu trong nghiên cứu này là phù hợp Tuy nhiên, đây cũng là điểm hạn chế trong nghiên cứu Nhằm khắc phục, nhóm nghiên cứu đã chia số lượng các bà mẹ tham gia nghiên cứu vào nhóm chứng cũng như nhóm can thiệp một cách ngẫu nhiên

Ngày đăng: 01/09/2021, 10:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Phân bố nhóm tuổi của bà mẹ ở hai nhóm - Luận văn thạc sĩ đh điều dưỡng đánh giá hiệu quả của chương trình giáo dục sức khỏe tới sự tự tin về cho con bú của bà mẹ tại bệnh viện trung ương thái nguyên năm 2016
Bảng 3.1. Phân bố nhóm tuổi của bà mẹ ở hai nhóm (Trang 38)
Bảng 3.2. Một số đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ ở hai nhóm - Luận văn thạc sĩ đh điều dưỡng đánh giá hiệu quả của chương trình giáo dục sức khỏe tới sự tự tin về cho con bú của bà mẹ tại bệnh viện trung ương thái nguyên năm 2016
Bảng 3.2. Một số đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ ở hai nhóm (Trang 41)
Bảng 3.4. Đặc điểm về sự tự tin cho con bú của bà mẹ ở hai nhóm giai đoạn trước can thiệp  - Luận văn thạc sĩ đh điều dưỡng đánh giá hiệu quả của chương trình giáo dục sức khỏe tới sự tự tin về cho con bú của bà mẹ tại bệnh viện trung ương thái nguyên năm 2016
Bảng 3.4. Đặc điểm về sự tự tin cho con bú của bà mẹ ở hai nhóm giai đoạn trước can thiệp (Trang 42)
Bảng 3.3. Đặc điểm thai nghén của bà mẹ ở hai nhóm - Luận văn thạc sĩ đh điều dưỡng đánh giá hiệu quả của chương trình giáo dục sức khỏe tới sự tự tin về cho con bú của bà mẹ tại bệnh viện trung ương thái nguyên năm 2016
Bảng 3.3. Đặc điểm thai nghén của bà mẹ ở hai nhóm (Trang 42)
Bảng 3.5. Đặc điểm về sự tự tin cho con bú của bà mẹ ở hai nhóm giai đoạn sau can thiệp  - Luận văn thạc sĩ đh điều dưỡng đánh giá hiệu quả của chương trình giáo dục sức khỏe tới sự tự tin về cho con bú của bà mẹ tại bệnh viện trung ương thái nguyên năm 2016
Bảng 3.5. Đặc điểm về sự tự tin cho con bú của bà mẹ ở hai nhóm giai đoạn sau can thiệp (Trang 43)
Bảng 3.6. So sánh về sự tự tin cho con bú của bà mẹ giữa hai nhóm giai đoạn trước can thiệp   - Luận văn thạc sĩ đh điều dưỡng đánh giá hiệu quả của chương trình giáo dục sức khỏe tới sự tự tin về cho con bú của bà mẹ tại bệnh viện trung ương thái nguyên năm 2016
Bảng 3.6. So sánh về sự tự tin cho con bú của bà mẹ giữa hai nhóm giai đoạn trước can thiệp (Trang 43)
Bảng 3.8. So sánh về sự tự tin cho con bú của bà mẹ ở nhóm chứng giai đoạn trước và sau can thiệp  - Luận văn thạc sĩ đh điều dưỡng đánh giá hiệu quả của chương trình giáo dục sức khỏe tới sự tự tin về cho con bú của bà mẹ tại bệnh viện trung ương thái nguyên năm 2016
Bảng 3.8. So sánh về sự tự tin cho con bú của bà mẹ ở nhóm chứng giai đoạn trước và sau can thiệp (Trang 44)
Bảng 3.7. So sánh về sự tự tin cho con bú của bà mẹ giữa hai nhóm giai đoạn sau can thiệp   - Luận văn thạc sĩ đh điều dưỡng đánh giá hiệu quả của chương trình giáo dục sức khỏe tới sự tự tin về cho con bú của bà mẹ tại bệnh viện trung ương thái nguyên năm 2016
Bảng 3.7. So sánh về sự tự tin cho con bú của bà mẹ giữa hai nhóm giai đoạn sau can thiệp (Trang 44)
Bảng 3.9. So sánh về sự tự tin cho con bú của bà mẹ ở nhóm can thiệp giai đoạn trước và sau can thiệp  - Luận văn thạc sĩ đh điều dưỡng đánh giá hiệu quả của chương trình giáo dục sức khỏe tới sự tự tin về cho con bú của bà mẹ tại bệnh viện trung ương thái nguyên năm 2016
Bảng 3.9. So sánh về sự tự tin cho con bú của bà mẹ ở nhóm can thiệp giai đoạn trước và sau can thiệp (Trang 45)
Bảng 3.10. So sánh sự tự tin về cho con bú của bà mẹ ở giai đoạn trước và sau can thiệp giữa hai nhóm  - Luận văn thạc sĩ đh điều dưỡng đánh giá hiệu quả của chương trình giáo dục sức khỏe tới sự tự tin về cho con bú của bà mẹ tại bệnh viện trung ương thái nguyên năm 2016
Bảng 3.10. So sánh sự tự tin về cho con bú của bà mẹ ở giai đoạn trước và sau can thiệp giữa hai nhóm (Trang 45)
Bảng 3.11. Chỉ số hiệu quả can thiệp cải thiện sự tự tin về cho con bú của bà mẹ trước và sau can thiệp  - Luận văn thạc sĩ đh điều dưỡng đánh giá hiệu quả của chương trình giáo dục sức khỏe tới sự tự tin về cho con bú của bà mẹ tại bệnh viện trung ương thái nguyên năm 2016
Bảng 3.11. Chỉ số hiệu quả can thiệp cải thiện sự tự tin về cho con bú của bà mẹ trước và sau can thiệp (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w